Trong môn Tiếng Việt ở tiểu học, phân môn Luyện từ và câu giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho học sinh các kiến thức về từ ngữ và ngữ pháp.. Học sinh nắm vững kiến thức về các
Trang 1Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 phân định danh từ, động từ, tính từ
Thực trạng khả năng phân định danh từ, động từ, tính
từ của học sinh giỏi lớp 4
Trang 2Phần 1 Đặt vấn đề
1 Lý do chọn đề tài
Trẻ em là tương lai của đất nước Các em được dành những điều kiện giáo dục và chăm sóc tốt nhất Chương trình giáo dục cần phù hợp với chiến lược phát triển đất nước Do đó, năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức ban hành Chương trình tiểu học mới – bộ chương trình của giáo dục tiểu học trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Cùng với chương trình các môn học khác, chương trình môn Tiếng Việt được biên soạn mới nhấn mạnh chủ trương: “Hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt
động của lứa tuổi” Đây cũng chính là mục tiêu cơ bản của môn Tiếng Việt
Mục tiêu đó coi trọng tính thực hành, thực hành các kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong những môi trường giao tiếp cụ thể
Trong môn Tiếng Việt ở tiểu học, phân môn Luyện từ và câu giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho học sinh các kiến thức về từ ngữ và ngữ pháp Dạy học danh từ, động từ, tính từ là một hoạt động không thể thiếu trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học nói riêng và chương trình Tiếng Việt ở phổ thông nói chung Học sinh nắm vững kiến thức về các từ loại đó sẽ là một trong những cơ sở định hướng cho các em nói, viết tiếng Việt đúng chuẩn ngữ pháp, hình thành nơi các em năng lực hoạt động ngôn ngữ Qua dạy học, tôi nhận thấy hiện nay học sinh lớp 4 nắm kiến thức về từ danh từ, động từ, tính từ chưa chắc, việc phân định của các em khá khó khăn và có nhiều lỗi sai Là giáo viên chủ nhiệm lớp 4, tôi đã trực tiếp bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi nhận thấy tầm quan trọng của việc bồi dưỡng kiến thức tiếng Việt cho học sinh, tôi đã lựa chọn đề
tài: “Một số biện pháp giúp học sinh giỏi lớp 4 phân định từ danh từ, động từ, tính từ” Đây là vấn đề mà phần nhiều giáo viên dạy dạy đội tuyển môn Tiếng
Việt 4 quan tâm và cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình giảng dạy Trên đây là những cơ sở giúp tôi mạnh dạn đi vào tìm hiểu phương pháp để dạy tốt các kiến thức về ba loại từ kể trên cho học sinh giỏi lớp 4
Trang 32 Lịch sử vấn đề
Vấn đề về từ loại đã được các nhà nghiên cứu chuyên ngành ngôn ngữ đề
cập từ rất xa xưa với nhiều khía cạnh, góc độ nhìn nhận khác nhau
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về từ loại, liên quan đến từ loại tiếng Việt đã bộc lộ sự cố gắng không mệt mỏi trên con đường lĩnh hội và khám phá tri thức của những nhà nghiên cứu Tuy nhiên những tài liệu trên chỉ viết trên cơ sở lí luận mà không được thực nghiệm ở trường Tiểu học Nhận thức tầm quan trọng của việc gắn lí thuyết với thực tiễn, gắn việc tiếp thu tri thức và thực hành tri thức, tôi tiến hành điều tra thực nghiệm về khả năng phân định danh từ, động từ, tính từ của học sinh giỏi lớp 4 Từ đó, có cả cơ sở lí thuyết và cơ sỏ thực tế đưa ra một số biện pháp nhằm giúp học sinh phân định từ loại trên đạt hiệu quả tốt nhất
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày khái quát cơ sở lí thuyết về từ loại và dạy học từ loại trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học
- Thực trạng khả năng phân định danh từ, động từ, tính từ của học sinh giỏi lớp 4
- Đề xuất một số biện pháp giúp học sinh giỏi lớp 4 phân định chính xác danh
từ, động từ, tính từ
Trang 45 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nhiên cứu của đề tài là khả năng phân định danh từ, động từ, tính
từ của học sinh giỏi lớp 4
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu khả năng phân định từ loại của học sinh giỏi lớp 4A, trường Tiểu học Quế Nham năm học 2011-2012 và năm học 2012-2013
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp thống kê tổng hợp
- Phương pháp thực nghiệm
Trang 5Phần 2 Giải quyết vấn đề
1 Cơ sở lí luận của vấn đề
Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu Hệ thống từ loại có tính chất là cơ sở của cơ cấu ngữ pháp của một ngôn ngữ nhất định Mục đích chủ yếu của việc phân định từ loại là nhằm sử dụng các lớp từ cho đúng quy tắc, hợp với phong cách và chuẩn mực của tiếng Việt
Từ loại danh từ, động từ, tính từ là một nội dung khó trong chương trình Tiếng Việt 4, đây là một mảng kiến thức rất quan trọng Khi dạy người giáo viên phải nắm chắc nội dung cơ bản và phải có phương pháp giảng dạy tối ưu nhất để giúp các em nắm chắc được bản chất của vấn đề và hiểu sâu chắc được kiến thức cần biết Và vì nó là nội dung khó nên khi giảng dạy đòi hỏi giáo viên phải quan tâm đều tất cả mọi đối tượng học sinh Đây là một vấn đề mà giáo viên dạy Tiếng Việt 4 băn khoăn
2 Thực trạng của vấn đề
2.1 Nội dung chương trình từ loại trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4.
Phần kiến thức từ loại của học sinh được dần hình thành bắt đầu từ lớp 2
Ở lớp 2, các em có thể nhận biết các từ chỉ người, vật, hành động, trạng thái, từ chỉ đặc điểm, tính chất Sang lớp 3, các em ôn tập về từ chỉ sự vật, ôn tập về từ chỉ hoạt động, trạng thái; về từ chỉ đặc điểm, tính chất và nhận biết một số cách dùng cặp từ nối Đến lớp 4, các em mới được học chính thức khái niệm từ loại: hình thành các khái niệm sơ giản về danh từ, động từ, tính từ
Ở lớp 4, tuần thứ 5, học sinh được học từ loại cơ bản là danh từ: tìm các
từ chỉ sự vật trong đoạn thơ sau đó, sách giáo khoa yêu cầu chính học sinh xếp
Trang 6các từ mới tìm được vào nhóm thích hợp: từ chỉ người, từ chỉ vật, từ chỉ hiện tượng Hiện nay theo chương trình giảm tải, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giảm bớt yêu cầu học sinh tìm danh từ chỉ khái niệm, danh từ chỉ đơn vị.
Tuần 6: học sinh được học hai tiểu loại danh từ: danh từ chung và danh từ riêng.Danh từ chung là tên của một loại sự vật Danh từ riêng là tên riêng của một sự vật Danh từ riêng luôn luôn được viết hoa
Tuần 7: trong Luyện từ và câu (tiết 1), học sinh được học cách viết tên người, tên địa lí Việt Nam Khi viết tên người, tên địa lí Việt Nam cần viết hoa chữ cái đầu của mỗi tiếng tạo thành tên đó Sang tiết 2, các em vẫn được luyện tập cách viết tên người, tên địa lí Việt Nam nhưng bằng cách sửa lỗi viết hoa danh từ riêng qua ngữ liệu là bài ca dao về rất nhiều địa danh ở Hà Nội Đặc biệt, trong tiết Luyện từ và câu phần từ loại xuất hiện kiểu bài tập trò chơi: du lịch trên bản đồ Việt Nam
Tuần 8: Cách viết hoa tên người, tên địa lí nước ngoài Học sinh ghi nhớ
hi viết tên người, tên địa lí nước ngoài, ta viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên đó Nếu bộ phận nào thành tên gồm nhiều tiếng thì giữa các tiếng cần có gạch nối Có một số tên người, tên địa lí nước ngoài viết giống như cách viết tên người, tên địa lí Việt Nam Đó là những tên riêng được phiên âm theo
âm Hán Việt Luyện tập bằng cách chữa lỗi viết các tên riêng và trò chơi du lịch: thi ghép đúng tên nước với tên thủ đô của nước ấy
Tuần 9: học sinh được học khái niệm về một từ loại cơ bản nữa đó là động
từ Từ ngữ liệu đoạn văn, yêu cầu các em tìm các từ chỉ hoạt động của các nhân vật trong đoạn, từ chỉ hoạt động trạng thái của các sự vật Sau đó đi tới phần Ghi nhớ: Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật Phần Luyện tập cho học sinh viết tên các hoạt động em thường làm ở nhà và ở trường, gạch dưới động từ trong các cụm từ chỉ những hoạt động ấy; tìm những động từ trong các đoạn văn và có bài tập dưới hình thức trò chơi: xem kịch câm, nói tên các hoạt động, trạng thái được bạn thể hiện bằng cử chỉ, động tác không lời
Tuần 11: Luyện từ và câu (tiết 1): Luyện tập về động từ học về ý nghĩa và
cách sử dụng của các từ (phụ từ) hay đứng trước động từ: đã, sẽ, đang.
Trang 7Ở tiết Luyện từ và câu thứ hai trong tuần, SGK cung cấp khái niệm sơ giản về tính từ cho học sinh: qua ngữ liệu là một chuyện kể danh nhân nước ngoài, yêu cầu học sinh tìm các từ chỉ tính tình, tư chất của nhân vật; màu sắc, hình dáng, kích thước và các đặc điểm khác của sự vật; tìm hiểu cả ý nghĩa của tính từ đối với một ngữ động từ; Ghi nhớ: Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm, tính chất của sự vật, hoạt động, trạng thái,…Phần luyện tập là bài nhận diện các tính từ và sử dụng tính từ để đặt câu nói về những sự vật quen thuộc.
Tuần 12: Tính từ (tiếp theo): so sánh sự khác nhau trong việc miêu tả các
sự vật, các thể hiện ý nghĩa mức độ sau đó cho học sinh ghi nhớ: có một số cách thể hiện mức độ của đặc điểm, tính chất như sau: tạo ra các từ ghép hoặc từ láy
với tính từ đã cho; thêm các từ rất, quá, lắm,…vào trước hoặc sau tính từ, tạo ra
phép so sánh Phần Luyện tập có các bài tập nhận diện các từ ngữ biểu thị mức
độ của tính từ; tìm những từ ngữ miêu tả mức độ khác nhau của các tính từ chỉ màu sắc, hình dạng, trạng thái cho trước; đặt câu với mỗi từ vừa tìm được
Tuần 17: Trong bài Vị ngữ trong câu kể Ai làm gì?, học sinh thấy rõ hơn
vai trò vị ngữ của động từ: vị ngữ có thể là: động từ hay động từ đi kèm theo một số từ ngữ phụ thuộc (cụm động từ)
Tuần 19: học sinh lại được nắm rõ hơn vai trò ngữ pháp của danh từ: chủ ngữ thường do danh từ (hoặc cụm danh từ) tạo thành
Tuần 21: Luyện từ và câu - tiết 2- Vị ngữ trong câu kể Ai thế nào? lại
cung cấp thêm chức năng của động từ và tính từ trong việc tạo câu: Vị ngữ trong
câu kể Ai thế nào? chỉ đặc điểm, tính chất, trang thái của sự vật được nói đến ở
chủ ngữ Vị ngữ thường do tính từ, động từ (hoặc cụm tính từ, cụm động từ) tạo thành
Nội dung kiến thức về từ loại trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4 tương đối đơn giản, cơ bản là phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học; phần thực hành nhiều, dung lượng lí thuyết ít và khái niệm được hình thành ở phần lí thuyết cũng ở dạng đơn giản nhất
Trang 82.2 Việc dạy từ loại danh từ, động từ, tính từ của giáo viên.
Mục tiêu quan trọng hàng đầu khi dạy Tiếng Việt cho học sinh tiểu học là rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong học tập và giao tiếp Thực tế cho thấy việc học các kiến thức Luyện từ và câu rất quan trọng đối với học sinh, bởi qua học tập giúp cho học sinh có hiểu biết về quy tắc cấu tạo từ, nắm quy tắc dùng từ, đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp Vì vậy, việc học Luyện từ và câu hiện nay được tiến hành một cách có kế hoạch mang tính chủ động Thông qua hệ thống các bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận diện, phân loại danh từ, động từ, tính từ trong hoạt động giao tiếp của mình
Dạy học các loại từ trên cũng được tiến hành tuần tự theo các bước nhận thức của học sinh Bắt đầu là việc phân tích ngữ liệu là các từ hoặc đoạn văn cho trước để tìm ra đặc điểm, hiện tượng của khái niệm để làm bài tập cụ thể Các bước này có thể chia làm hai hướng là dạy lí thuyết và dạy thực hành từ loại
Do Luyện từ và câu là một môn khó cho nên giáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức tiết dạy sao cho đúng yêu cầu của chuyên môn, đúng đặc trưng của phân môn và đạt hiệu quả cao Khi xét từ loại cho những từ cụ thể, giáo viên cũng gặp không ít khó khăn vì nói chung chưa nắm được hết các dấu hiệu hình thức từ loại Mà nghĩa của từ loại không phải lúc nào cũng dễ xác định Một từ cụ thể chỉ đối tượng hay trạng thái, hoạt động, tính chất không phải lúc nào cũng chỉ ra được Những điểm khó của môn học muốn trở thành dễ đối với học sinh thì giáo viên phải đổi mới phương pháp, hình thức dạy học
2.3 Thực trạng khả năng phân định danh từ, động từ, tính từ của học sinh giỏi lớp 4.
Học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 4 nói riêng được cung cấp kiến thức về từ danh từ, động từ, tính từ trong sách giáo khoa Tiếng Việt thông qua
sự truyền thụ của giáo viên Cùng với các bài học về lí thuyết, các em được thực hành luyện tập các bài tập về từ loại (xác định, nhận diện) dần dần hình thành khả năng phân biệt từ loại Tuy nhiên, việc học sinh nắm được kiến thức về từ
Trang 9loại và vận dụng những kiến thức đó như thế nào cho phù hợp, đúng chuẩn quy tắc ngữ pháp thì phải qua điều tra thực tế mới có thể đánh giá một cách chính xác Vì vậy, cần thiết phải điều tra tìm hiểu khả năng tiếp thu lí thuyết và vận dụng, thực hành luyện tập về từ loại của học sinh Từ đó, giáo viên lựa chọn học sinh vào đội tuyển bồi dưỡng học sinh giỏi huyện Dưới đây tôi đã điều tra kết quả học tập của các em.
Năm học 2011 – 2012, được sự phân công chủ nhiệm lớp 4A Cuối học kì
I, tôi đã tiến hành điều tra khảo sát học sinh giỏi của lớp mình Số lượng học sinh là 27 em
Đề khảo sát tiếng Việt 4
Thời gian: 40 phútCâu 1: Tìm danh từ, động từ, tính từ trong đoạn văn sau:
Mùa xuân đã đến Những buổi chiều hửng ấm từng đàn chim én từ dãy núi đằng xa bay tới lượn vòng trên những bến đò đuổi nhau xập xè quanh những mái nhà Những ngày mưa phùn người ta thấy trên mấy bãi soi dài nổi lên ở giữa sông, những con giang, con sếu cao gần bằng người theo nhau lững thững bước thấp thoáng trong bụi mưa trắng xoá…
Theo Nguyễn Đình Thi
- Danh từ: ………
- Động từ: ………
- Tính từ: ………Câu 2: Gạch một gạch dưới từ dùng sai trong các câu dưới đây và sửa lại cho đúng:
a) Bạn Vân đang nấu cơm nước
b) Bác nông dân đang cày ruộng nương
c) Mẹ cháu vừa đi chợ búa
Trang 10
d) Em có một người bạn bè rất thân
Câu 3: Xác định từ loại các từ gạch chân trong các câu dưới đây:
1 Bác nông dân vác cuốc ra đồng cuốc đất
2 Những hy vọng của bé An đã thành hiện thực
3 Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống
quý báu của ta
- Trên cơ sở làm bài của học sinh trong các phiếu khảo sát chúng tôi chấm điểm và rút ra bảng thống kê kết quả như sau:
Bảng thống kê kết quả khảo sát khả năng phân định từ loại: danh từ, động từ, tính từ của học sinh giỏi lớp 4A, năm học 2011 – 2012, trường Tiểu học Quế Nham
Lớp TS HS Điểm 0-4 Điểm 5-6 Điểm 7-8 Điểm 9-10
Kết quả điều tra cho thấy, học sinh đã biết xác định và sử dụng từ loại danh từ, động từ, tính từ song tỉ lệ trên chưa phải là cao Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên có cả nguyên nhân chủ quan từ phía học sinh đó là chưa đọc kĩ
đề, chưa thực sự chú ý vào bài làm của mình và nguyên nhân chủ yếu đó là học sinh chưa nắm chắc dấu hiệu nhận biết, đặc trưng của mỗi loại danh từ, động từ, tính từ Số ít học sinh biết và hiểu về hiện tượng chuyển loại của từ Hiện tượng
đa từ loại của từ nhiều nghĩa cũng gây cho học sinh khó khăn khi xác định danh
từ, động từ, tính từ Khi xác định danh từ, động từ, tính từ học sinh gặp khó khăn
và hay nhầm lẫn giữa những từ mà hình thức không tiêu biểu cho một từ loại Những từ có cùng yếu tố cấu tạo cũng hay bị học sinh xác định sai về từ loại,
Trang 11cho là cùng một từ loại Nhiều học sinh chưa phân định ranh giới của từ nên cũng dẫn đến xác định sai từ loại Hơn nữa, có những từ thuộc từ loại mà học sinh tiểu học không được học nên khi xác định các em xếp chúng thuộc những
cụ thể, thiết thực giúp học sinh giỏi nhận diện và phân định chính xác các từ loại
đó Giáo viên cần có những định hướng, giải pháp cụ thể giúp học sinh lĩnh hội tri thức và biết vận dụng chúng trong luyện tập thực hành
3.1 Phương pháp
3.1.1 Xây dựng hệ thống ngữ liệu gần gũi, dễ hiểu với học sinh
Muốn học sinh đạt hiệu quả cao trong việc xác định từ loại danh từ, động
từ, tính từ thì người giáo viên cần tổ chức tốt các bài học lí thuyết Dạy cho học sinh nắm được danh từ là những từ chỉ sự vật; động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái; tính từ là những từ chỉ đặc điểm,… Tôi đã vận dụng lồng ghép một số kiến thức mở rộng trong các tiết luyện tập thực hành để giúp học sinh nắm chắc kiến thức, nhận diện và phân định từ loại ít nhầm lẫn Để giúp học sinh nắm chắc kiến thức, tôi hết sức cẩn thận khi dạy loại bài hình thành khái niệm Việc truyền thụ những kiến thức về danh từ, động từ và tính từ với học sinh tiểu học là vấn đề không đơn giản Để dạy một khái niệm với từ loại, tôi đặt khái niệm đó trong hệ thống chương trình để thấy rõ vị trí của nó, mối quan hệ của khái niệm đó với những khái niệm khác trong hệ thống Tôi đã lựa chọn và tiến hành quy trình kiểu bài hình thành khái niệm về từ loại sao cho hiệu quả nhất Lựa chọn ngữ liệu gần gũi với học sinh Khi học sinh nắm vững khái niệm
về từ loại thì việc phân định từ loại sẽ không còn khó đối với học sinh nữa Dạy
Trang 12học phần kiến thức này tôi ứng dụng công nghệ thông tin một cách linh hoạt Khi dạy, tôi chú ý lấy học sinh làm trung tâm Dựa vào từng khả năng học sinh, tôi phân loại học sinh theo trình độ, phân học sinh theo nhóm để học sinh có thể chủ động lĩnh hội kiến thức Trình tự của một tiết dạy gồm 3 phần: Nhận xét, ghi nhớ, luyện tập Tôi đã mạnh dạn thay đổi ngữ liệu sao cho gần gũi, dễ hiểu nhất với học sinh.
Ví dụ: Bài “Tính từ”, trang 110, sách giáo khoa tiếng Việt 4, ở hoạt động 1: hình thành khái niệm tôi đã thiết kế giáo án điện tử dựa vào bài:
Chú mèo con Tác giả: Nguyễn Đức Toàn
Chú mèo con lông trắng tinh mắt tròn xoe và trông rất xinh meo meo
A con mèo nó rất ngoan bắt chuột đôi chân nhanh thoăn thoắt
A con mèo nó rất ngoan suốt ngày em đùa chơi với mèo mèo
Bốn bàn chân bé tí ti vểnh một tai như đang lắng nghe meo meo
A con mèo nó rất khôn nó vểnh râu ngồi nghe em hát
A con mèo nó rất ngoan suốt ngày chơi xung quanh cái vòng tròn
Hoạt động hình thành khái niệm diễn ra như sau:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
Hoạt động 1: Nhận xét
- Giáo viên bật máy chiếu, bật bài hát
“Chú mèo con”
- GV yêu cầu học sinh làm việc theo
nhóm, thảo luận trả lời câu hỏi GV
quan sát hướng dẫn nếu học sinh gặp
khó khăn:
+ Chú mèo được miêu tả như thế nào?
(Gợi ý: bộ lông, mắt, bàn chân)
+ Bộ lông: trắng tinh + Mắt: tròn xoe + Bàn chân: bé tí ti + Khôn, ngoan