1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số biện pháp xác định đúng từ loại tiếng việt cho học sinh lớp 5

26 130 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 454,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu học tốt phân môn này nó sẽ giúp các em học tốt hơn các phân môn của bộ môn Tiếng Việt bởi nó giúp học sinh pháttriển năng lực ngôn ngữ, dùng từ, đặt câu chính xác.. Trong phân môn Lu

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trang 3

1 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Thời đại CNH - HĐH đòi hỏi con người cần có tri thức và kĩ năng thực hành.Theo định hướng đó thì bậc tiểu học là nền tảng Mục tiêu giáo dục tiểu học nhằmgiúp cho học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn vàlâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẫm mĩ và các kĩ năng cơ bản để tiếp tục họctrung học cơ sở Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần hình thành và phát triển

nhân cách cho học sinh (HS) và cung cấp cho các em những tri thức cần thiết.

Nghị quyết số 29 - Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn

bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ghi rõ: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”.

Tại Văn bản hợp nhất 07/VBHN-VPQH năm 2015 hợp nhất Luật giáo dục doVăn phòng Quốc hội ban hành đã nêu rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người

Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng với yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Như vậy, giáo dục giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo và bồidưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước

Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hoàn thành năng lực hoạtđộng ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trongbốn dạng hoạt động, tương ứng với bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết Mỗi phânmôn đều có nhiệm vụ riêng song mục đích cuối cùng của chúng ta là cung cấp chohọc sinh những kiến thức phổ thông về ngôn ngữ, là cơ sở để hình thành vốn ngônngữ chuẩn, làm nền tảng cho các bậc học về sau Phân môn Luyện từ và câu rấtquan trọng đối với học sinh bậc tiểu học Nếu học tốt phân môn này nó sẽ giúp các

em học tốt hơn các phân môn của bộ môn Tiếng Việt bởi nó giúp học sinh pháttriển năng lực ngôn ngữ, dùng từ, đặt câu chính xác

Trong phân môn Luyện từ và câu, học sinh được học những kiến thức cơ bản

về từ, từ loại, câu,… Qua đó giúp học sinh có những hiểu biết ban đầu của nhữngkiến thức mới Trong đó, phần từ loại được trải đều trong nội dung bài học từ lớp 2cho đến lớp 5

Trang 4

Việc học từ loại là vấn đề quan trọng nhất bởi lẽ nó là từ loại cơ bản khôngthể thiếu được trong quá trình giao tiếp Ở tiểu học các em học các khái niệm danh

từ, động từ, tính từ… và kiến thức về các từ loại này cùng với kĩ năng xác địnhchúng được kiểm tra dưới dạng cho sẵn các từ rồi yêu cầu học sinh xác định từ loạicho những từ đó, hoặc yêu cầu các em tìm danh từ, động từ, tính từ trong đoạn thơ,đoạn văn Khi xác định các từ loại này, học sinh gặp khó khăn và hay nhầm lẫnnhững từ mà nghĩa và hình thức không tiêu biểu cho một từ loại, nhầm danh từ vớitính từ, danh từ với động từ, nhất là hay nhầm tính từ với động từ Từ việc nhầmlẫn dẫn đến các em xác định loại câu sai và viết câu sai

Năm học 2018 - 2019 tôi được nhà trường phân công dạy lớp 5C, qua mộtthời gian giảng dạy tôi thấy học sinh của mình rất cố gắng học tập tất cả các mônhọc đặc biệt là môn Tiếng Việt Nhưng trong thực tế khi học đến từ loại Tiếng Việtthì nhiều em còn lúng túng Với suy nghĩ: "Làm thế nào để học sinh nắm chắc kiến

thức này và tự tin hơn trong học tập ?" nên tôi đã quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp xác định đúng từ loại Tiếng Việt cho học sinh lớp 5”.

* Điểm mới của đề tài:

Điểm mới của đề tài là tập trung mô tả, đánh giá, phân tích thựctrạng việc dạy từ loại cho học sinh lớp 5 Từ đó, đề xuất cáchhướng dẫn học sinh xác định tốt từ loại, giúp HS nắm vững ngữpháp Tiếng Việt

1.2 Phạm vi áp dụng đề tài

Đề tài được nghiên cứu thực nghiệm tại lớp 5C năm học 2018 - 2019 ápdụng theo mô hình dạy học VNEN ở Trường Tiểu học nơi tôi công tác

2 PHẦN NỘI DUNG

2.1 Thực trạng của việc giảng dạy từ loại Tiếng Việt lớp 5 của nhà trường

Bắt đầu từ năm học 2015 - 2016 trường chúng tôi mở rộng mô hình VNENtoàn phần Cùng với đó là sự đổi mới về nội dung và phương pháp giảng dạy.Trong đó chú trọng nhất là việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của họcsinh Chính vì vậy đây là cơ hội giúp các em tự tin, mạnh dạn, năng động hơn tronggiao tiếp, học tập đồng thời đây cũng chính là cơ hội để các em tự rèn luyện vàchứng tỏ khả năng tự học, tư duy, sáng tạo của mình Với phương pháp và hình

thức dạy học mới này thì người giáo viên (GV) giữ vai trò là người quan sát, hướng

dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ học sinh khi các em vướng mắc

Đầu năm học 2018 - 2019 tôi được nhà trường phân công dạy lớp 5C Quaquá trình giảng dạy và qua việc dự giờ, để học tập chuyên môn ở các đồng nghiệp,

Trang 5

tôi nhận thấy việc xác định các từ loại Tiếng Việt của khối 5 nói chung và lớp 5Cnói riêng còn gặp một số ưu điểm và khuyết điểm như sau:

a) Ưu điểm:

- Nhà trường chú trọng công tác bồi dưỡng năng lực, kiến thức chuyên môn cho độingũ Giáo viên được học bồi dưỡng thường xuyên về phân môn Luyện từ và câuqua các đợt học chuyên môn, được dự giờ thăm lớp để học hỏi qua đồng nghiệp,được Ban giám hiệu nhà trường tổ chức thao giảng, chuyên đề để rút ra kinh

nghiệm cho bản thân.        

- Theo đặc điểm tâm sinh lí cũng như kinh nghiệm qua các năm giảng dạy, tôi nhậnthấy học sinh lớp 5 cũng đã lớn nên nhận thức tốt hơn, có khả năng tự học tốt hơn.Các em đã biết xác định từ loại trong những trường hợp đơn giản

b) Nhược điểm:

* Về phía giáo viên:

- Để HS nắm vững kiến thức về từ, tạo nền tảng cho việc phát triển và sử dụngngôn ngữ ngày một phong phú, thì việc giảng dạy nội dung từ loại là một vấn đềkhông thể xem nhẹ Nhưng trên thực tế, nhiều GV cứ theo hướng dẫn hoàn thànhđầy đủ các bài tập và coi như thế là xong, mà không quan tâm xem, sau bài học, cái

gì còn đọng lại trong HS và các em đã vận dụng bài học ấy như thế nào Đó là lí dokhiến nhiều HS khi học lên đến lớp 5 mà kiến thức về từ loại vẫn còn rất mới mẻ

 - Thực tế cũng cho thấy, GV cũng gặp nhiều khó khăn, lúng túng và đã có nhữngnhầm lẫn khi giảng dạy nội dung này Sở dĩ như vậy là do khi xét từ loại cho những

từ cụ thể, GV thường dựa vào nghĩa chứ không nắm được hết các dấu hiệu hìnhthức từ loại Mà nghĩa của từ loại không phải lúc nào cũng dễ xác định Một từ cụthể chỉ sự vật hay hoạt động, trạng thái hay đặc điểm, tính chất không phải lúc nàocũng có thể tìm ra ngay được Sự khác nhau về nghĩa hay có dấu hiệu hình thức đikèm như thế nào đôi khi GV cũng không nắm được

- Do thiếu kinh nghiệm cũng như chưa biết đầu tư đúng mức cho tiết dạy nên GVchưa tạo lập được cơ sở vững chắc cho thành công của tiết dạy: Chưa đầu tư thíchđáng cho việc thiết kế bài giảng, chưa có sự công phu rèn luyện của bản thân

- Nhiều GV còn rụt rè, e ngại, chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học theohướng tích cực hóa hoạt động của học sinh

* Về phía học sinh: Trong quá trình thực tế trực tiếp giảng dạy ở nhà trường tôithấy học sinh khối 5 nói chung, học sinh lớp 5C nói riêng, việc xác định từ loạiTiếng Việt và vận dụng từ loại Tiếng Việt vào các kỹ năng nói, viết vẫn còn nhiềuhạn chế do một số nguyên nhân sau:

Trang 6

- HS chưa tập trung, đầu tư chú trọng cho học tập.

- Thiếu mạnh dạn, tư tin trước những vấn đề thắc mắc nên không nắm được kiến thức

- Chất lượng học của học sinh chưa đồng đều

- Do không phân định đúng ranh giới của từ mà học sinh xác định từ loại sai

- Nhiều em không nắm được thuật ngữ "từ loại" nên không hiểu đúng yêu cầu củabài tập

- Khi xác định từ loại học sinh còn gặp khó khăn trong những trường hợp mà nghĩacủa từ hoặc dấu hiệu hình thức không rõ ràng

- Thời gian luyện tập, số tiết luyện tập về từ loại Tiếng Việt ở chương trình lớp 5còn chưa được nhiều

* Về phía phụ huynh:

- Đa số gia đình của các em đều làm nông thuần túy nên kiến thức và sự hiểu biết

về các môn học của phụ huynh không nhiều, không sâu Chính vì vậy, việc giúp đỡcác em trong học tập còn gặp nhiều khó khăn

- Nhiều em bố mẹ đi làm ăn xa, sống với ông bà nên một số bộ phận phụ huynh họcsinh còn mang nặng tư tưởng phó mặc con em mình cho giáo viên Do đó họ ítquan tâm và thậm chí không quan tâm đến việc học tập của con em mình, chính vìvậy dẫn đến nhiều em không có ý thức tự học Chính vì những khó khăn và hạn chếnêu trên nên sự ham học của học sinh chưa cao

Trước thực trạng trên, khi dạy các bài Luyện từ và câu liên quan đến từ loạiTiếng Việt, đầu năm tôi đã khảo sát chất lượng học của học sinh lớp tôi chủ nhiệm

Đề bài: Em hãy xác định danh từ, động từ, tính từ trong hai câu thơ sau:

“Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay Vượn hót chim kêu suốt cả ngày”

Ở bài tập này, học sinh cần phải xác định ranh giới các từ rồi xét ý nghĩa vàcác khả năng kết hợp của từ rồi xếp

Danh từ: cảnh, rừng, Việt Bắc, vượn, chim, ngày

Trang 7

Căn cứ vào khảo sát, theo dõi quá trình học trên lớp tôi tiến hành phân loạihọc sinh theo các nhóm:

Nhóm 1: Học sinh xác định được các dạng từ loại

Nhóm 2: Học sinh xác định được các dạng từ loại trong trường hợp đơn giản

Nhóm 3: Học sinh xác định các dạng từ loại chưa chắc chắn

Trước thực trạng xác định từ loại của học sinh, bản thân tôi không khỏi bănkhoăn, trăn trở Dựa trên kinh nghiệm giảng dạy trong những năm qua, tôi mạnhdạn đưa ra một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 xác định đúng từ loại tiếng Việt

2.2 Các biện pháp

Biện pháp 1: Giúp học sinh nắm chắc lí thuyết về từ loại

Để giúp các em nắm chắc về từ loại, tôi đã củng cố cho các em hiểu “Từ loại

là các loại từ phân chia về mặt ngữ pháp Nói cách khác, phân loại các từ về mặt

ngữ pháp, ta được các từ loại: Danh từ (DT), động từ (ĐT), tính từ (TT), quan hệ từ,

…”. 

Để phân chia từ Tiếng Việt thành các từ loại, ta dựa vào những tiêu chuẩn sau: 

- Ý nghĩa khái quát của từ. 

- Khả năng kết hợp của từ với các từ khác

- Khả năng đảm nhận các chức vụ ngữ pháp của từ trong câu

Muốn xác định được chính xác các từ loại trong câu, ta tiến hành theo các bước sau: 

+ Bước 1: Vạch ranh giới giữa các từ để xác định được từng từ trong câu.  Như

chúng ta đã biết, tiếng cấu tạo nên từ, từ dùng để tạo nên câu Từ là đơn vị nhỏ nhất

có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu Tiếng có thể có nghĩa

hoặc không có nghĩa, từ nào cũng có nghĩa Từ chỉ gồm một tiếng gọi là từ đơn Từgồm nhiều tiếng gọi là từ phức Có hai cách chính để tạo từ phức là: Ghép nhữngtiếng có nghĩa lại với nhau Đó là các từ ghép Phối hợp những tiếng có âm đầu hayvần (hoặc cả âm đầu và vần) giống nhau Đó là các từ láy Nắm cấu tạo từ sẽ giúp

HS chia từ theo cấu tạo một cách chính xác

Trong tiếng Việt, nhiều khi xác định một tổ hợp hai tiếng nào đó là một từhay hai từ là rất khó và đặc biệt là cũng không cần thiết

Tuy nhiên, với học sinh, cần lưu ý việc các em tách câu thành từ nhưng đểtìm được các từ đơn, từ ghép, từ láy, để tìm được các danh từ, động từ, tính từ, ởtrong câu, trước hết các em cần phải tách câu ra thành từ cho đúng Ví dụ, do

nhầm xoài biếc, cam vàng, dừa nghiêng, cau thẳng là một từ nên nhiều em đã tìm

Trang 8

thiếu các tính từ biếc, vàng, nghiêng, thẳng khi giải bài tập tìm các tính từ trong hai câu thơ Xum xuê xoài biếc, cam vàng / Dừa nghiêng, cau thẳng, hàng hàng nắng soi (Việt Nam − Lê Anh Xuân).

Để xác định được hai tiếng nào đó là một từ hay hai từ, tôi hướng dẫn học sinhthử hai mẹo sau:

- Thử thêm vào giữa hai tiếng đã cho một từ nào đó: Nếu giữa hai tiếng đã cho cóthể thêm một từ nào đó vào giữa mà nghĩa của chúng không thay đổi, tức là có thểthêm được, thì ta kết luận hai tiếng đã cho là một từ Ngược lại, nếu giữa hai tiếng

đã cho ta thêm một từ nào đó vào giữa sẽ làm cho nghĩa của chúng thay đổi hoặcmất nghĩa, tức là không thể thêm được, thì ta kết luận hai tiếng đã cho là hai từ

 - Xét xem trong kết hợp có yếu tố nào đã chuyển nghĩa hay mờ nghĩa gốc hay không

Ví dụ: HS sau khi vạch được ranh giới từ của các câu văn sau thì sẽ tìm được danh

từ, động từ, tính từ khá đơn giản

Một/ dải mây/ mỏng/ mềm mại/ như/ một/ dải lụa/ trắng/ dài/ vô tận/ ôm ấp/, quấn/ ngang/ các/ chỏm núi/ như/ quyến luyến/, bịn rịn./

Danh từ: dải mây, dải lụa, chỏm núi

Động từ: ôm ấp, quấn, quyến luyến, bịn rịn

Tính từ: mỏng, mềm mại, trắng, dài, vô tận, ngang

+ Bước 2: Đối chiếu từng từ với các tiêu chuẩn nêu trên để xác định giá trị từ loại của từ ấy: Danh từ, động từ, tính từ, đại từ, quan hệ từ

Bởi vậy để giúp học sinh của mình nhận định và phân chia từ loại một cách chính xác theo các nhóm từ loại (dựa vào khái niệm và dấu hiệu nhận biết),

tôi bắt đầu giúp cho các em nắm chắc, hiểu sâu, hiễu kĩ về từng từ loại thông quabài học lí thuyết và bài tập thực hành để từ đó các em có thể tự tin trong học tập vàlàm bài một cách chính xác trong các kì thi. 

Việc phân chia từ loại thành các nhóm từ loại sao cho thật chính xác cần chú

Trang 9

Bên cạnh việc giúp HS nắm vững kiến thức về từ (từ đơn, từ phức, từ ghép,

từ láy) đã được học trong lớp 4, GV cần cung cấp cho HS đầy đủ các kiến thức về

từ loại (phần danh từ, động từ, tính từ), yêu cầu HS nắm chắc khái niệm về danh từ,động từ, tính từ Để làm được vấn đề này, đòi hỏi GV phải nắm chắc các kiến thức

Dựa vào sự giống nhau về đặc điểm ngữ pháp, các từ được phân ra thànhtừng loại, gọi là từ loại

Từ loại là các loại từ có chung đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa khái quát

Các từ loại cơ bản của Tiếng Việt gồm: Danh từ, động từ, tính từ, đại từ,quan hệ từ

- Chỉ con vật: Chó, mèo, kiến, thỏ, gấu,

- Chỉ cây cối: Cau, sấu, phượng, bàng, dừa,

- Chỉ hiện tượng: Mưa, bão, gió, mây,

* Danh từ có nhiều loại:

- Danh từ chung: là tên gọi một loại sự vật

Các từ loại cơ bản của Tiếng Việt

Đại từ chỉ ngôi

Chỉ t/c chung không kèm mức độ

Chỉ t/c

ở mức

độ cao nhất

ĐT chỉ hoạt động

ĐT chỉ trạng thái

DT

chung DT riêng

Trang 10

Ví dụ: Áo quần, bàn ghế, nhà cửa, cây cối,

- Danh từ riêng: là tên riêng của một sự vật Danh từ riêng luôn luôn được viết hoa.

Ví dụ: Cửu Long, Trường Sơn, Thái Sơn, Ngô Quyền,

* Trong câu, danh từ (đứng một mình hoặc kèm theo các từ phụ thuộc) có thể làm nhiều chức vụ khác nhau: Làm chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ.

Ví dụ: Bài 15C (HDH Tiếng Việt 5, tập 1): Hoạt động 2 yêu cầu: Điền vào chỗ

Ví dụ: Bài 14A (HDH Tiếng Việt 5, tập 1)

Hoạt động thực hành 4 yêu cầu: Tìm và ghi vào vở danh từ chung có trongcâu văn thứ nhất và danh từ riêng có trong đoạn văn sau:

Chiều hôm ấy có một em gái nhỏ đứng áp trán vào tủ kính cửa hàng của

Pi-e, nhìn từng đồ vật như muốn kiếm thứ gì Bỗng em ngửng đầu lên:

- Cháu có thể xem chuỗi ngọc lam này không ạ ?

Pi-e lấy chuỗi ngọc, đưa cho cô bé Cô bé thốt lên:

- Đẹp quá ! Xin chú gói lại cho cháu !

Pi-e ngạc nhiên:

- Ai sai cháu đi mua ?

- Cháu mua tặng chị cháu nhân lễ Nô-en Chị đã nuôi cháu từ khi mẹ cháu mất.

Đối với bài tập này, để xác định danh từ chung có trong câu văn thứ nhất,trước hết HS cần xác định được ranh giới của từ:

Chiều/ hôm/ ấy/ có/ một/ em gái/ nhỏ/ đứng/ áp/ trán/ vào/ tủ kính/ cửa hàng/ của/ Pi-e/, nhìn/ từng/ đồ vật/ như/ muốn/ kiếm/ thứ gì/.

Trang 11

Sau đó, các em dựa vào khái niệm để xác định danh từ chung Đối với danh

từ riêng, HS chỉ cần dựa vào dấu hiệu nhận biết (Danh từ riêng luôn luôn được viết hoa) để xác định.

b Động từ:

* Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật.

Ví dụ:

- Chỉ hoạt động của người: Ăn, uống, đi, đứng, chạy, nhảy, nói, cười,…

- Chỉ trạng thái của sự vật: Bay, phi, đổ,…

Đặc điểm ngữ pháp nổi bật nhất của động từ chỉ trạng thái là: nếu như động

từ chỉ hoạt động, hành động có thể kết hợp với từ xong ở phía sau (tắm xong, học xong, ) thì động từ chỉ trạng thái không kết hợp với xong ở phía sau (không nói:

còn xong, hết xong, kính trọng xong, )

* Trong tiếng Việt có một số loại động từ chỉ trạng thái sau:

- ĐT chỉ trạng thái tồn tại (hoặc trạng thái không tồn tại): còn, hết, có,

- ĐT chỉ trạng thái biến hoá: thành, hoá,

- ĐT chỉ trạng thái tiếp thụ: được, bị, phải, chịu,

- ĐT chỉ trạng thái so sánh: bằng, thua, hơn, là,

Ví dụ: Bài 15C (HDH Tiếng Việt 5, tập 1), hoạt động 7 yêu cầu: Viết đoạn văn tả

hoạt động của bạn nhỏ hoặc em bé

Để viết được đoạn văn, trước hết HS cần tìm những từ chỉ hoạt động của bạn

nhỏ hoặc em bé: ăn, uống, nói, cười, đi, đứng, nhảy, múa, hát, Những từ này

chính là những động từ Sau đó, HS sử dụng những động từ này vào viết đoạn vănhoàn chỉnh theo yêu cầu

To, nhỏ,dài, ngắn (chỉ kích thước)

Nặng, nhẹ, nhiều, ít (chỉ khối lượng, dung lượng)

Tốt, xấu, thông minh (chỉ phẩm chất)

Ví dụ: Bài 15C (HDH Tiếng Việt 5, tập 1), hoạt động 4 yêu cầu: Viết vào vở các từ

ngữ miêu tả hình dáng của một người

a) Miêu tả mái tóc: (M: óng mượt )

b) Miêu tả đôi mắt: (M: đen láy )

Trang 12

c) Miêu tả khuôn mặt: (M: bầu bĩnh )

d) Miêu tả làn da: (M: trắng hồng )

e) Miêu tả dáng người: (M: dong dỏng )

Đối với bài tập này, HS xác định được những từ cần tìm là những tính từ

* Có hai loại tính từ:

- Tính từ chỉ tính chất chung, không có mức độ Ví dụ: Xanh, đỏ, dài, tốt

- Tính từ chỉ tính chất có xác định mức độ hoặc có tác dụng gợi tả hình ảnh, cảm

xúc Ví dụ: Xanh biếc, gầy nhom, chi chít

* Phân biệt từ chỉ đặc điểm, từ chỉ tính chất, từ chỉ trạng thái:

- Từ chỉ đặc điểm:

Ví dụ: Từ chỉ đặc điểm bên ngoài: cao, thấp, rộng , hẹp, xanh, đỏ,

Từ chỉ đặc điểm bên trong: tốt, ngoan, chăm chỉ, bền bỉ,

- Từ chỉ tính chất:

Ví dụ: Tốt, xấu, ngoan, hư, nặng, nhẹ, sâu sắc, nông cạn, suôn sẻ, hiệu quả, thiếtthực,

Như vậy, đối với HS tiểu học, khi phân biệt (một cách tương đối) từ chỉ đặc

điểm và từ chỉ tính chất, GV có thể tạm thời cho rằng: Từ chỉ đặc điểm thiên về nêu các đặc điểm bên ngoài, còn từ chỉ tính chất thiên về nêu các đặc điểm bên

trong của sự vật, hiện tượng Một quy ước mang tính sư phạm như vậy được coi làhợp lí và giúp HS tránh được những thắc mắc không cần thiết trong quá trình học tập

d Đại từ:

* Đại từ dùng để thay thế cho danh từ, động từ hoặc tính từ trong câu.

Ví dụ: Đến sáng, chuột tìm đường trở về ổ, nhưng bụng to quá, nó không sao lách

qua khe hở được

* Trong giao tiếp người ta có thể dùng đại từ để xưng hô Đó là đại từ chỉ ngôi Cácđại từ chỉ ngôi thường dùng là:

- Ngôi thứ nhất: tôi, chúng tôi, tao, chúng tao

- Ngôi thứ hai: mày , chúng mày…

- Ngôi thứ ba: nó, chúng nó…

* Danh từ chỉ người cùng thường được dùng trong xưng hô như đại từ chỉ ngôi

Ví dụ: anh, chị, ông, bà,

Ví dụ: Bài 14A (HDH Tiếng Việt 5, tập 1)

Hoạt động thực hành 6: Tìm và viết vào bảng nhóm các đại từ xưng hô cótrong đoạn văn sau:

Trang 13

- Chị ! - Nguyên quay sang nhìn tôi, giọng nghẹn ngào - Chị Chị là chị gái của em nhé !

Tôi nhìn em cười trong hai hàng nước mắt kéo vệt trên má:

- Chị sẽ là chị của em mãi mãi !

Nguyên cười rồi đưa tay lên quệt má Tôi chẳng buồn lau mặt nữa Chúng tôi đứng như vậy nhìn ra phía xa sáng rực ánh đèn màu, xung quanh là tiếng đàn, tiếng hát khi xa khi gần chào mừng mùa xuân Một năm mới bắt đầu.

(Theo Thùy Linh)

Đối với bài tập này, HS dựa vào khái niệm đại từ và danh từ để xác địnhđúng đại từ xưng hô (kết hợp văn cảnh), tránh sự nhầm lẫn

Lưu ý: Các từ chị, chị gái in đậm sau đây là danh từ, còn các từ chị, em được

in nghiêng là đại từ xưng hô:

- Chị ! - Nguyên quay sang nhìn tôi, giọng nghẹn ngào - Chị Chị là chị

gái của em nhé !

Tôi nhìn em cười trong hai hàng nước mắt kéo vệt trên má:

- Chị sẽ là chị của em mãi mãi !

e Quan hệ từ

* Quan hệ từ là từ nối các từ ngữ hoặc các câu, nhằm thể hiện mối quan hệ

giữa những từ ngữ hoặc các câu ấy với nhau: và, với, hay, hoặc, nhưng, mà, thì, của, ở, tại, bằng,

Ví dụ: Bài 11C (HDH Tiếng Việt 5, tập 1): HS xác định được các từ in đậm là quan

hệ từ vì chúng nối các từ ngữ và các câu với nhau

a) Rừng say ngây và ấm nóng (Ma Văn Kháng)

b) Tiếng hót dìu dặt của Hoạ Mi giục các loài chim dạo lên những khúc nhạc tưng

bừng ca ngợi núi sông đang đổi mới (Võ Quảng)

c) Hoa mai trổ từng chùm thưa thớt, không đơm đặc như hoa đào. Nhưng cành mai

uyển chuyển hơn cành đào

Biện pháp 2: Tập thói quen nhận biết ý nghĩa của từ loại

Mục đích của dạy từ loại là giúp học sinh phân loại, nhận diện được từ theo

từ loại và sử dụng từ đúng với từ loại của chúng Vậy cần có thói quen nhận biết ýnghĩa của từ loại, đó là luôn đặt ra trong tư duy của mình từ loại đó chỉ đối tượng,chỉ hành động hay chỉ tính chất

Trong quá trình tìm kiếm, các em cần tập đặt câu hỏi trong đầu, tự mình tìm

để khi đọc lên “nghe nó” chỉ về ai, cái gì ? hay nghe nó biểu thị “động đậy”không ? hoặc cảm thấy nó chỉ đặc điểm gì ? Nếu nó chỉ về ai, cái gì tức là có đối

Ngày đăng: 22/06/2020, 19:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w