Với chiến công ở Khu Cháy, quân và dân Hà Đông đã được Chủtịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi, động viên.-Trận đánh sân bay Gia Lâm: Sân bay Gia Lâm là một sân bay lớn của miềnBắc Đông Dư
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO QUẬN
TRƯỜNG THCS
====*****====
BÀI DỰ THI
“EM YÊU LỊCH SỬ VIỆT NAM”
Họ và tên:
Lớp: .
Năm học 2016 - 2017
Trang 2Câu 1: Trong cuốn Việt Nam thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm ghi lại bài ca dao về 36 phố Hà Nội, có câu như sau:
Rủ nhau đi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai Đóng vai một hướng dẫn viên du lịch em hãy giới thiệu (khoảng 2 đến 3 trang A4 về lịch sử 36 phố phường của Thăng Long –Hà Nội.
Đặc điểm chung của các phố cổ Hà Nội là nhiều tên phố bắt đầu bằng từ
“Hàng” Tiếp đó là một từ chỉ nghề nghiệp nào đó như Hàng Đào, Hàng Bạc,Hàng Thiếc, Hàng Mã… Mà muốn biết được nguồn gốc ý nghĩa của tên gọi 36phố phường Hà Nội, trước hết phải nói về sự hình thành của phố
Vâng thưa quý khách, khu phố cổ Hà Nội được hình thành từ thời Lý – Trần,nằm ở phía đông Hoàng thành Thăng Long ra đến sát bờ sông Hồng Khu đô thịnày tập trung dân cư hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương,hình thành lên những phố nghề đặc trưng, mang những nét truyền thống của dân
cư thành thị, kinh đô Khu "Hà Nội 36 phố phường" là một cách gọi khôngchính xác của khu phố cổ, vì 36 phố phường là một cách gọi ước lệ khu vực đôthị cổ, nằm bên trong và bên ngoài cả khu phố cổ
Và trước mặt chúng ta đây là một con phố dài 932 mét, một con phố vừamang màu sắc rực rỡ bởi những bức tranh lộng lẫy lại vừa có nét cổ xưa củanhững ngôi đền, ngôi đình có từ xa xưa Vâng xin chào quý khách đã đến vớikhu phố cổ Hàng Bông của Hà Nội Chắc chắn với quý khách một điều là khu
Trang 3phố này sẽ gây ấn tượng cho quý khách rất sâu sắc Bây giờ mới quý khách cùngchúng tôi tìm hiểu và khám phá nhé!
Ngã tư Hàng Bông - Hàng Da Phố Hàng Bông xưa kia gồm nhiều đoạn ngắn:
- Đoạn từ phố Hàng Gai đến phố Hàng Mành ở trên đất thôn Cổ Vũ (từ giữathế kỷ 19 hợp nhất với thôn Kim Bát thượng thành thôn Kim Cổ), gọi là phốHàng Hài hay Hàng Bông Hài, nơi từng bán giày hài, nón, đồ thờ bằng giấy; vì
có đền Phúc Hậu thờ ông tổ nghề tráng gương nên còn gọi là phố Hàng Gương
Các cửa hàng trên phố bán giày, hài các loại
Trang 4- Đoạn từ đầu Hàng Mành đến phố Hàng Da ở trên đất thôn cũ Kim Bát hạ,gọi là Hàng Bông Đệm, từng có nhiều nhà làm nghề bật bông, bán mền bông,chăn đệm Cả hai thôn Kim Bát thượng và hạ đều thuộc tổng Tiền Túc, huyệnThọ Xương, tới giữa thế kỷ 19 đổi thành tổng Thuận Mỹ.
- Đoạn từ ngã tư Hàng Da - Quán Sứ đến ngõ Hội Vũ ở trên đất mấy thônĐông Mỹ, Thương Môn, Đông Hạ, gọi là Hàng Bông Cây Đa Cửa Quyền vìtừng có cây đa to ở cửa ngôi miếu thờ Cô Quyền
- Đoạn từ ngõ Hội Vũ đến ngã ba Phùng Hưng ở trên đất thôn cũ Yên Trung
hạ, tổng Tiền Nghiêm (sau là Vĩnh Xương), gọi là Hàng Bông Lờ, nơi từng báncác loại đó, đơm, lờ đánh cá Xưa hơn nữa thì nơi đây chuyên nhuộm vải xanhnên còn có tên là phố Hàng Lam
- Đoạn cuối phố Hàng Bông ở trên đất thôn cũ Đông Mỹ gọi là Hàng BôngThợ Nhuộm hay Hàng Bông Nhuộm, vì dân sở tại gốc làng Huê Cầu và Liêu Xá(huyện Yên Mỹ, Hải Hưng) vốn có nghề nhuộm thâm các loại vải lụa
Ngõ Hàng Bông chạy từ phố Tống Duy Tân đến vườn hoa Cửa Nam, thờiPháp tên là Rue Lhonde Từ 1945 đổi là phố Cấm Chỉ Đến năm 1964, đổi làngõ Hàng Bông Lờ, và hiện nay gọi là ngõ Hàng Bông
Phố Hàng Bông từng nằm trong khu vương phủ của chúa Trịnh Tùng, khởidựng vào năm 1595 Có 3 cửa phủ: cửa chính nam ở chỗ phố BàTriệu, cửa Tuyên Vũ ở chỗ Bưu điện Hà Nội, và cửa Diệu Đức thông raphố Cửa Nam
Khoảng năm 1781, Hải Thượng Lãn Ông lên kinh chữa bệnh cho Trịnh Sâm
và Trịnh Cán đã đi qua phố Hàng Bông Trong Thượng kinh ký sự, ông chéprằng "từ cửa cung Khánh Thụy qua đình Quảng Minh, rồi qua cửa ĐạiHưng,theo đường phía hữu (bên phải) đi hơn nửa dặm nữa thì đến dinh quan ChínhĐường"
Phố Hàng Bông đã từng có một số phòng trà ca nhạc và nhà in, nhà sách, nhàbáo Một tuyến tàu điện được xây dọc phố từ năm 1901, năm 1991 bị dỡ bỏ vàthay bằng xe buýt
Trang 5Phố Hàng Bông từ cuối thế kỷ 20 bắt đầu mọc lên nhiều quán ăn, cửa hàngthời trang và khách sạn.
Phố Hàng Bông hiện nay còn bảo tồn được nhiều di tích lịch sử văn hóa như: Đình Kim Cổ (đền Phúc Hậu) ở số 2 Hàng Bông thờ ông tổ nghề làm gươngsoi Bài vị tại đây ghi tên ông là Trần Nhuận Đình, đã từng đi sứ phương Bắcđời nhà Trần
Trường Hàng Hài ở số 12-14 do cử nhân làng Kim Cổ là Ngô Văn Dạng phụtrách, chuyên dạy Hán học Năm 1873, ông cử từng tổ chức một đội quân chốngPháp
Đình Yên Thái ở ngõ Tạm Thương thờ Nguyên phi Ỷ Lan (1044–1117) Đình Lương Ngọc ở số 68, do dân di cư về đây dựng lấy tên theo gốc làngLương Ngọc ở huyện Bình Giang, Hải Dương
Đình Kim Hội (Quy Long) ở góc đường Quán Sứ, do các nhà buôn bôngdựng lên ở ngõ 95, thờ Trần HưngĐạo
Đền Thiên Tiên ở số 120, thờ Lý Thường Kiệt Bên ngoài có đền thờ ChưVị
Quán Vọng Tiên hay Vọng Tiên Lâu ở số 120b, nơi Lê Thánh Tông gặp tiên Đình Đông Mỹ ở số 127, do lái buôn thôn Đông Mỹ lập ra
Ngoài ra, một trong những điều thu hút du khách đến với nơi đây chính là
ẩm thực đấy ạ Quý khách có thể thưởng thức món ngon tuyệt vời như món phởvỉa hè Phở ở đây được nhiều người biết đến bởi hương vị ngon, đậm đà, nướcdùng ngọt thanh, thơm phức, bánh phở dẻo còn thịt thì mềm Chưa kể đến mónquẩy lúc nào cũng giòn,dùng chấm ăn với nước phở thì “hết ý”.Có lẽ vì cái sự
“hết ý” ấy, thế nên người ta mới chẳng ngại khó, ngại khổ chỉ để ngồi ở ây xìxụp cho kỳ được bát phở rồi mới yên tâm làm gì thì làm Đặc biệt, một món ăn
vô cùng bình dân nhưng lại có sức thu hút lớn du khách ở nơi đây chính là mónbánh tráng trộn Cứ cuối giờ chiều, các quầy bánh tráng trộn trên phố HàngBông lại tấp nập khách Sự tấp nập của bánh tráng trộn là sự kết hợp giữa nhiềuhương vị, chút chua của xoài, thơm của bánh tráng trộn lạc, dầu, thịt bò khô,chút thơm của rau răm và ngon của mực khô xé, quả trứng cút béo ngậy Không
Trang 6gian ăn cũng bình dân như món ăn này, ngồi túm tụm 3 -4 người bên quầy hàng
và cùng thưởng thức vị thơm ngon, chua cay hòa quyện thì còn gì bằng Ngoài
ra quý khách còn được thưởng thức cả món bún chả vô cùng hấp dẫn va fvoo sómón ăn khác nữa Nếu có dịp quý khách hát bớt chút thời gian cùng gia đình đếnđây thưởng thức các món ăn nhé
Quý khách có thể đến đây vào ban đêm vì khu phố cổ Hà Nội về đêm trở nênrất sống động, nhất là vào ngày cuối tuần Quý vị có thể rảo bước đi bộ, ngắmnhìn khu phố với muôn vàn màu sắc như hình ảnh các gia đình cùng các em nhỏtung tăng, các nhóm bạn thi tài nháy múa,hay tấp nập du khách ta lẫn tây cùngnhau dạo phố, chuyện trò rôm rả… Quý khách có thể mua những món đồ mìnhthích và đặc biệt vào những ngày lễ Tết, chắc chắn quý khách sẽ được thưởngthức các tiết mục đường phố vô cùng đặc sắc
Chúng ta đã cùng khám phá rất nhiều về khu phố cổ Hà Nội Quý vị có thấy
nó vô cùng đa dạng và đa sắc đúng không? Bây giờ chúng ta sữ chuyển sangtham quan nơi khác nhé!
Câu 2: Hãy nêu tên những thắng lợi tiêu biểu của lực lượng vũ trang Thủ
đô từ ngày thành lập đến nay Cảm nhận của em về một trong những thắng lợi đó Hãy kể một câu chuyện (nhân vật hoặc sự kiện) em biết, có liên quan đến chiến thắng đó.
Những thắng lợi tiêu biểu của lực lượng vũ trang Thủ đô trong 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành:
- Ngày 19/8/1945 các đội tiền thân của lực lượng vũ trang Thủ đô đã làmnòng cốt cho các tầng lớp nhân dân hà Nội tiến hành Tổng khởi nghĩa giànhchính quyền về tay nhân dân ở Hà Nội
-Ngày 19/10/1946 chiến khu XI – Tổ chức hành chính quân sự thống nhấtcủa các lực lượng vũ trang Thủ đô Hà Nội được thành lập trên cơ sở Khu đặcbiệt Hà Nội
Ngày 19/12/1946, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chấphành quyết định của Thường vụ Trung ương Đảng, quân và dân chiến khu XIvới tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” đã nổ súng để mở đầu cho toàn
Trang 7quốc kháng chiến và từ đó kiên cường chiến đấu giam chân địch trong Thànhphố suốt 60 ngày đêm.
Một số chiến công tiêu biểu:
- Trận đánh sân bay Bạch Mai: Diễn ra vào đêm ngày 17 và dạng sáng ngày18/01/1950 Trong trận đánh này, ta tổ chức lực lượng tập kích vào sân bay củađịch, lực lượng gồm 32 chiến sỹ được lựa chọn từ Tiểu đoàn 108 Kết quả, taphá hủy 25 máy bay các loại, 60 vạn lít xăng dầu, 32 tấn vũ khí và nhiều trang bịcủa địch Đây là một trận đánh điển hình về việc dùng lực lượng nhỏ nhưng tinhnhuệ để đánh các mục tiêu lớn của địch Trận đánh để lại nhiều kinh nghiệm vàthiết thực góp phần vào việc hình thành lối đánh đặc công của quân đội ta saunày
- Trận đánh ở Khu Cháy (Ứng Hòa): Diễn ra vào hai ngày 18 và 19/6/1951.Lực lượng của ta gồm 2 Đại đội của Tỉnh đội Hà Đông phối hợp với lực lượngchủ lực của Tiểu đoàn 122/ Đại đoàn 320 và lực lượng du kích của địa phương.Lực lượng của địch khoảng 10 Tiểu đoàn với nhiều xe cơ giới và súng các loại.Sau 2 ngày chiến đấu ác liệt, ta tiêu diệt gần 3 Đại đội địch, bắt 200 tên và thu
Trang 8nhiều vũ khí Với chiến công ở Khu Cháy, quân và dân Hà Đông đã được Chủtịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi, động viên.
-Trận đánh sân bay Gia Lâm: Sân bay Gia Lâm là một sân bay lớn của miềnBắc Đông Dương, từ sân bay này, nhiều loại máy bay của địch đi ném bom bắnphá hậu phương của ta và tiếp tế cho các mặt trận của chúng Sân bay được bảo
vệ với lực lượng lên đến 2.000 tên cùng hệ thống đồn bốt, hàng rào thép gai, bãimìn dày đặc xung quanh Lực lượng ta tham gia trận đánh gồm 16 đồng chí cónhiều kinh nghiệm trong chiến đấu được tuyển chọn từ Đại đội 8 Trận đánhdiễn ra vào đêm ngày 3 và dạng sáng ngày 4/3/1954, với chiến thuật tập kích sau
đó nhanh chóng rút lui an toàn, ta đã phá hủy 18 máy bay địch, đốt phá một khoxăng, một nhà sửa chữa máy bay và tiêu diệt 16 tên Trận đánh sân bay Gia Lâm
là trận đánh tiêu biểu dùng lực lượng nhỏ, tinh nhuệ, với lối đánh táo bạo, bấtngờ thọc sâu, đánh hiểm, đạt hiệu suất chiến đấu cao Trận đánh cũng đã gópphần gây nhiều khó khăn cho địch trong việc tiếp tế, ứng cứu cho tập đoàn cứđiểm Điện Biên Phủ
Ngày 10/10/1954, lực lượng vũ trang Thủ đô đã góp phần tích cực cùng với
bộ đội chủ lực tiến hành tiếp quản Thủ đô bảo đảm tuyệt đối an toàn, nhanhchóng tiếp quản toàn bộ Thành phố Hà Nội
Ngày 5/3/1979 Bộ chính trị ra quyết định số 35/QDD-TW, Chủ tịch nướcCộng hòa XHCN Việt Nam ký sắc lệnh số 28/LCT thành lập Quân khu Thủ đô.Ngày 18/8/1999, Bộ Quốc Phòng ra Quyết định só1285/QDD-QP chuyểngiao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tây từ Quân khu III về trực thuộc quân khuThủ đô
Thực hiện Nghị quyết số 15/NQ-QH12 về mở rộng địa giới hành chính HàNội, ngày 16/7/2008, Chủ tịch nước ký Lệnh 16/2008/ L-CTN về tổ chức lạiQuân khu thủ đô Hà Nội thành Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội
Cảm nhận của em về trận đánh sân bay Bạch Mai:
Nói về trận đánh sân bay Bạch Mai, đánh giá về trận đánh này, trong tổng kếtlịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của Thủ đô Hà Nội viết : "Trận tậpkích của tiểu đoàn 108 vào sân bay Bạch Mai là một điển hình thắng lợi về sự
Trang 9phá hủy phương tiện chiến tranh của địch trên chiến trường Bắc Bộ thời kỳchúng còn đang thế mạnh Ta với vũ khí trang bị thô sơ, kỹ thuật, chiến thuậtcòn đang tìm tòi học tập Nhưng với ý chí quyết tâm cao, được sự chỉ đạo trựctiếp của BCH mặt trận Hà Nội tiểu đoàn 108 đã tìm được lối đánh phù hợp, đạthiệu xuất chiến đấu cao.
Trận đánh sân bay Bạch Mai là một trận thắng hoàn chỉnh cả về chiến thuật,
kỹ thuật, từ khâu lựa chọn mục tiêu, lựa chọn cách đánh, sử dụng lực lượng đếnquá trình luyện tập và nổ súng là những kinh nghiệm thiết thực, góp phần vàoviệc hình thành và vận dụng lối đánh đặc công của quân đội ta sau này"
Trận đánh sân bay Bạch Mai là một chiến công đặc sắc, là niềm tự hào củaquân dân Hà Nội đã góp phần xứng đáng vào chiến công oanh liệt của quân dân
cả nước đẩy nhanh sự suy yếu của địch
Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, giờ đây những dấu ấn lịch sử còn đọng lại trêncác trang sách và những lời ca của bài "Phí trường khói lửa" do đồng chí NgôHuy Biên sáng tác:
"Trời đông âm u, khuất trong sương mù; một đoàn chiến binh lên đường lậpcông"
Chiến công này không những được vang mãi trong lời ca ngợi truyền thốnghào hùng quân dân Thủ đô mà còn được biến vào tâm thức của các thế hệ concháu chúng ta luôn biết ơn các anh hùng liệt sỹ và nhân dân đã đổ bao xươngmáu trong 2 cuộc kháng chiến trường kỳ mới có ngày nay Ôn lại lịch sử hàohùng không chỉ để nhớ, để biết ơn mà phải hành động cho xứng đáng với mỗingười dân Việt Nam
Câu chuyện:
Ông già cũng sẵn sàng quyết tử
Tại Mặt trận Hà Nội một thời gian sau ngày 19-12-1946, địch chiếm cácnhà máy nước cắt luôn nước vào khu vực chiến đấu; đồng thời có tin tất cả cácgiếng nước đã bị chúng cho tay sai bỏ thuốc độc Tổ chiến đấu của bác sĩ
Trang 10Nguyễn Văn Thuyết nhận được chỉ thị phải khẩn trương lại nước uống Thật lànan giải, bởi vì việc khẩn trương nước phải có chuyên môn, phải có thuốc phảnứng, chí ít cũng phải có động vật như chó hoặc mèo để thử nghiệm nhưng lúcnày không thể tìm được Biết chuyện này, một ông già tìm đến và nói: “Các anhkhông phải lo nghĩ gì cả Các anh cần phải sống để đánh đuổi thằng Tây, còn tôi,tôi già rồi, tôi không cầm được súng nữa, nhưng tôi sẵn sàng quyết tử cho Tổquốc quyết sinh Tôi xin tình nguyện uống nước giếng trước xem lành dữ thếnào…” Không đợi anh em có ý kiến gì thêm, ông múc ngay một gầu nước lên,uống liền một hơi dài Ông già lại nói tiếp: “Nếu tôi có mệnh hệ nào, tôi cũnghết sức mãn nguyện…” Ông trở lại với tổ tự vệ hơn 24 giờ sau vẫn không cótriệu chứng ngộ độc Một đồng chí tự vệ đã ôm chầm lấy ông, nói với ông giọngcảm động: “Bố ơi, bố đã giúp chúng con yên tâm… Bố cho chúng con biết tên
và nhà để sau này, chúng con tìm thăm bố…” Ông già cười nói: “Các anhkhông mất công tìm gặp tôi làm gì, tôi ngụ ở đền Bạch Mã đấy Thỉnh thoảng tôi
sẽ đến thăm các anh Bây giờ các anh cũng phải chú ý cho người gác giếngnước, phải đề phòng bọn chúng làm điều ác thực sự đấy…”
Câu 3: Bằng những kiến thức lịch sử chọn lọc, hãy khẳng định quá trình xác lập và thực thi chủ quyền một cách liên tục của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Em cần làm gì để góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc?
Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam gồm nhiều đảo đá
san hô rất nhỏ ở giữa Biển Đông
Trang 11Hiện hai quần đảo đang là tâm điểm tranh chấp phức tạp giữa một số nướcven Biển Đông Về việc giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với lãnh thổ, phápluật quốc tế đã hình thành nguyên tắc xác lập chủ quyền là nguyên tắc chiếmhữu thật sự và thực hiện quyền lực Nhà nước một cách thật sự, liên tục và hòabình Nguyên tắc này đã được các nước và các cơ quan tài phán quốc tế áp dụng
để giải quyết nhiều vụ tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên thế giới
Áp dụng nguyên tắc nói trên của pháp luật quốc tế vào trường hợp hai quầnđảo Hoàng Sa và Trường Sa, các bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lý đều chothấy rằng các Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo này hàngtrăm năm qua Nói chính xác là các Nhà nước Việt Nam trong lịch sử và cho tớinay đã thực thi chủ quyền ở đây ít ra từ thế kỷ XVII khi hai quần đảo chưa hềthuộc chủ quyền của bất cứ nước nào Từ đó Việt Nam đã thực hiện việc xác lập
và thực thi chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Samột cách liên tục và hòa bình
Các bằng chứng lịch sử mà Việt Nam đã thu thập được rất phong phú, mặc
dù như đã nói, do hoàn cảnh chiến tranh liên tục nên nhiều thư tịch cổ của ViệtNam đã bị mất mát, thất lạc Tuy nhiên, những tư liệu còn lại đến nay và chính
sử vẫn đủ để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa Một là, các bản đồ Việt Nam thế kỷ XVII đã gọi hai quần đảobằng cái tên Bãi Cát Vàng và ghi vào địa hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi.Hai là, nhiều tài liệu cổ của Việt Nam như Toàn Tập Thiên Nam Tứ chí Lộ ĐồThư (thế kỷ XVII), Phủ Biên Tạp Lục (1776), Đại Nam Thực Lục Tiền Biên vàChính Biên (1844 - 1848), Đại Nam Nhất Thống Chí (1865-1875), các Châu bảnnhà Nguyễn (1802-1945) đều nói về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như
là Bãi Cát Vàng vạn dặm trên Biển Đông và việc Nhà nước cử đội Hoàng Sa rakhai thác các quần đảo này Ba là, nhiều sách cổ, bản đồ cổ của nước ngoài cũngthể hiện các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam Đỉnhcao nhất của việc tuyên bố và xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảoHoàng Sa và Trường Sa là vào năm 1816 khi vua Gia Long sai quân lính ra quầnđảo Hoàng Sa cắm cờ Việt Nam và tuyên bố chủ quyền Cũng cần nói thêm là
Trang 12trong một thời gian khá dài, người Việt Nam luôn coi quần đảo Hoàng Sa vàquần đảo Trường Sa là một dải đảo dài hàng vạn dặm trên Biển Đông, nên gọi làVạn Lý Trường Sa, hay Đại Trường Sa, Bãi Cát Vàng Trên thực tế, các chúaNguyễn cũng như nhà Nguyễn sau này đều có nhiều hành động liên tục cửngười ra cai quản, khai thác các đảo trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải đểthực thi quyền chủ quyền và khai thác hai quần đảo Các thể lệ tuyển chọnngười, chế độ khen thưởng, đãi ngộ đối với các đội đều được Nhà nước quy định
rõ ràng Các đội này được duy trì và hoạt động liên tục từ thời chúa Nguyễn(1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn Triều đình NhàNguyễn đã cử các tướng Phạm Quang Ảnh (năm 1815), Trương Phúc Sĩ, PhạmVăn Nguyên, Phạm Hữu Nhật (các năm 1834, 1835, 1836) ra Hoàng Sa khảosát, đo đạc các đảo, khảo sát, vẽ bản đồ, xây miếu, dựng bia
Sau khi đô hộ Đông Dương, Pháp nhân danh Việt Nam tiếp tục quản lý haiquần đảo qua việc cử tàu chiến tuần tiễu để đảm bảo an ninh, ngăn chặn buônlậu, cho phép người Nhật khai thác phân chim trên đảo, cử tàu De Lanessan ranghiên cứu hải dương, địa chất, sinh vật Từ năm 1930 đến 1932, các tàu chiếnInconstant, Alerte, La Malicieuse và De Lanessan của hải quân Pháp liên tiếp raquần đảo Hoàng Sa Đầu những năm 30 của thế kỷ 20, Pháp cho quân trú đóng ởcác đảo chính thuộc quần đảo Trường Sa Các hoạt động này đã được công bốtrong Công báo của Cộng hòa Pháp ngày 26-7-1933 Năm 1933, Toàn quyềnĐông Dương ra Nghị định quy thuộc quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa Phápcũng tách quần đảo Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Nam Nghĩa và đặt vào tỉnh ThừaThiên và cho một đơn vị đóng quân ở đó Sau khi trở lại Đông Dương, Pháp đãyêu cầu quân Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi các đảo mà họ đã chiếm đóng tráiphép năm 1946 và Pháp đã cho quân thay thế quân Trung Quốc, xây dựng lạitrạm khí tượng, đài vô tuyến
Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco (Hoa Kỳ) có một đề nghị bổ sung bản
dự thảo Hòa ước yêu cầu trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa Nhưng Hội nghị đã bác bỏ đề nghị này với số phiếu áp đảo là 46
Trang 13phiếu thuận, 3 phiếu chống và 1 phiếu trắng Tại Hội nghị, Ngoại trưởng TrầnVăn Hữu dẫn đầu phái đoàn Chính phủ Quốc gia Việt Nam đã tuyên bố khẳngđịnh chủ quyền lâu đời của người Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa mà không gặp sự phản đối hay bảo lưu của nước nào.
Năm 1956 Pháp chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho Chính quyềnViệt Nam Cộng Hòa (VNCH) và chính quyền này đã cho quân ra tiếp quản, tổchức hai quần đảo về mặt hành chính (lập ở mỗi quần đảo một xã thuộc mộthuyện ở đất liền), xây các bia chủ quyền, duy trì các trạm khí tượng Từ nhữngnăm 50 của thế kỷ 20 tình hình hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trở nênphức tạp hơn Lợi dụng tình hình rối ren khi Pháp rút khỏi Đông Dương theoHiệp định Genève năm 1954, Trung Quốc đã bí mật chiếm đóng trái phép nhómđảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956 Chính quyền VNCH đãkịch liệt phản đối Năm 1959 quân Trung Quốc giả làm ngư dân đổ bộ lên nhómđảo phía tây quần đảo Hoàng Sa Quân đội VNCH đã phát hiện ngăn chặn và bắtgiữ 82 "ngư dân” Trung Quốc
Đối với nhóm đảo phía tây của quần đảo Hoàng Sa, chính quyền VNCH tiếptục quản lý cho đến năm 1974 Năm 1974, Trung Quốc dùng không quân, hảiquân chiếm luôn phần phía tây của quần đảo Hoàng Sa Chính quyền VNCH vàChính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã kịch liệtphản đối hành động xâm lược này của Trung Quốc Năm 1975, chính quyềnVNCH sụp đổ, Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam tiếp quản đầy đủ các đảo
do quân đội VNCH cai quản trên Biển Đông Nhà nước Việt Nam thống nhấtsau đó tiếp tục khẳng định chủ quyền của người Việt Nam trên các quần đảoHoàng Sa và Trường Sa, ban hành nhiều văn bản hành chính nhà nước thành lậpcác huyện đảo Hoàng Sa và huyện đảo Trường Sa cũng như hoàn thiện việcquản lý hành chính trên các quần đảo này Một sự thật hiển nhiên là cho đếnnăm 1988 chưa hề có bất kỳ sự hiện diện nào của Trung Quốc ở quần đảoTrường Sa Ngày 14-3-1988, Trung Quân bắt đầu dùng vũ lực chiếm đóng tráiphép một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam Dưới ánh sáng củapháp luật quốc tế, Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để
Trang 14khẳng định chủ quyền lâu đời và liên tục của mình đối với hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa
Công ước Luật Biển năm 1982 cho phép các quốc gia ven biển được hưởngquy chế thềm lục địa để thăm dò và khai thác tài nguyên Đây là chủ quyềnchuyên biệt, không tùy thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm hữu, khai phá haytuyên bố minh thị Mọi sự tùy tiện chiếm cứ của nước ngoài dù có bằng vũ lựchay không đều bất hợp pháp và vô hiệu lực Về mặt địa lý, đảo Tri Tôn, quầnđảo Hoàng Sa chỉ cách Quảng Ngãi 135 hải lý và đảo Hoàng Sa (Pattle) chỉ cáchlục địa Việt Nam 160 hải lý Vì vậy, quần đảo Hoàng Sa nằm trong thềm lục địacủa Việt Nam được quy định bởi Công ước về Luật Biển năm 1982 Về mặt địachất, các nghiên cứu khoa học đều cho thấy quần đảo Hoàng Sa là một thànhphần của Việt Nam Về địa hình, đáy biển vùng quần đảo Hoàng Sa là một caonguyên chìm dưới đáy biển nối tiếp liên tục lục địa Việt Nam Tại quần đảoTrường Sa cũng vậy, về mặt địa chất và địa hình đáy biển các đảo Trường Sa là
sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền ra ngoài biển Hơn nữa, bãi
Tư Chính và đảo Trường Sa (Spratly) chỉ cách đất liền Việt Nam từ 150 đến 200hải lý, nằm trong thềm lục địa của Việt Nam
Một yêu cầu hết sức khách quan đặt ra cho tất cả các nước có hoạt động liênquan tới Biển Đông là phải tuân thủ pháp luật chung mà cộng đồng quốc tế,trong đó có các quốc gia ven Biển Đông, đã dày công xây dựng - Công ước LiênHợp Quốc về Luật Biển năm 1982 của Khi vận dụng Công ước để thực thi chủquyền và quyền chủ quyền đối với nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế vàthềm lục địa của mình, các quốc gia ven Biển Đông có nghĩa vụ tôn trọng chủquyền và quyền chủ quyền của các nước khác ven Biển Đông đối với lãnh hải,vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ Trong thời đại văn minh, sửdụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực để cưỡng chiếm lãnh thổ nước khác đã bịpháp luật quốc tế nghiêm cấm Vũ lực cũng sẽ không phải là cách thức đúng đắn
để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông Tôn trọng các nguyên tắc cơ bản củapháp luật quốc tế, tôn trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc, tôn trọng các quyđịnh của Công ước Luật Biển năm 1982, giải quyết tranh chấp bằng các biện
Trang 15pháp hòa bình, thực hiện đầy đủ các cam kết trong DOC, tiến tới xây dựng BộQuy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), cùng chung sức theo hướng biến BiểnĐông thành vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác là thể hiện sự hành xử củanhững quốc gia văn minh, tôn trọng sự thật lịch sử cũng như thượng tôn phápluật quốc tế mà chính mình đã công nhận và ký kết.
Cơ sở pháp lí để khẳng định Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam:
An Nam đại quốc họa đồ và Đại Nam thống nhất toàn đồ
( An Nam Đại quốc họa đồ (1838) của Giám mục Jean Louis Taberd (Pháp) vẽ
và xuất bản trong cuốn từ điển La tinh – An Nam năm 1838 Bản đồ vẽ theo phương pháp hiện đại, chính xác và được chú thích bằng 3 thứ tiếng (La tinh, Hán, Quốc ngữ) Dọc theo khu vực duyên hải và ngoài khơi An Nam, bản đồ có ghi tên các cảng, đảo và ở khoảng giữa vĩ tuyến 16 và 17 độ Bắc, kinh tuyến
111 độ Đông, bản đồ có vẽ cụm đảo nhỏ với dòng chữ "Paracel seu Cát Vàng" (Paracel hoặc Cát Vàng)
Đại Nam thống nhất toàn đồ do vua Minh Mạng cho vẽ vào năm 1838, có thể
hiện hai địa danh Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa bằng chữ Hán.)
Trang 16( 19 Châu bản triều Nguyễn là loại văn bản hành chính của vương triều
Nguyễn (1802-1945) Trên các châu bản này còn lưu lại các dấu tích bút phê củacác vua triều Nguyễn bằng son đỏ Những tờ châu bản này được trích từ kho tàng châu bản triều Nguyễn, gồm 734 tập với hàng trăm nghìn trang văn bản gốc
Nội dung các châu bản trung bày trong triển lãm này phản ánh quá trình thực thichủ quyền của triều đình nhà Nguyễn trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.Đây là những bằng chứng sinh động cho thấy các vua triều Nguyễn luôn quan tâm đến vấn đề thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo này, thông qua việc liên tục cử người ra hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa để khảo sát, cắm mốc, đo
vẽ bản đồ; thực hiện công tác cứu hộ, cứu nạn đối với thuyền bè của Việt Nam cũng như thuyền bè của các nước khác gặp nạn trên vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa)