Công cuộc cải cách tư pháp trong những năm gần đây được Đảng, Nhànước ta hết sức quan tâm và được đặt trong mối quan hệ với việc đẩy mạnh cảicách hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu qu
Trang 1A MỞ ĐẦU
Cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam là một vấn đề có nội dung phong phú, có ý nghĩa lý luận và thựctiễn sâu sắc Công cuộc cải cách tư pháp trong những năm gần đây được Đảng, Nhànước ta hết sức quan tâm và được đặt trong mối quan hệ với việc đẩy mạnh cảicách hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước,hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhândân, vì nhân dân Trong thời gian qua, hoạt động cải cách tư pháp đã được tiến
hành sâu rộng, đạt được những thành tựu nổi bật “Tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp có một số đổi mới Việc tăng thẩm quyền cho tòa án cấp huyện, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, đề cao vai trò của luật sư trong tố tụng được thực hiện bước đầu có hiệu quả Việc thực hiện thủ tục tố tụng ngày càng tốt hơn, hạn chế được tình trạng điều tra, truy tố, thi hành án được nâng lên” Mặc dù
vậy, việc cải cách tư pháp vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của Đảng vàNhà nước Trong các văn kiện của mình, Đảng đều khẳng định phải hiện thực hóa
“Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” và xác định mục tiêu chiến lược là
xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công
lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao.
Để có cái nhìn sâu rộng và toàn diện hơn về cải cách tư pháp của Việt Nam,
em xin lựa chọn đề tài: “Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020.”
Trang 2Lý thuyết và thực tiễn ở các nước văn minh, tiến bộ và phát triển cao cho
thấy tư pháp độc lập là một trong những biểu hiện rõ nét nhất của Nhà nước pháp
quyền và của nền tư pháp dân chủ, bình đẳng và công bằng và bảo vệ hữu hiệu các
quyền con người, quyền công dân “Tư pháp” chính là biểu tượng của lẽ phải, công
lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong xã hội ở các cấp độ khác nhau từtranh chấp dân sự đến tranh chấp chính trị
“Tư pháp” (theo tiếng Latinh cổ “Justitia” hay “Justition”) có nghĩa là
“công lý”, “công bằng”, “pháp chế”, đồng thời dưới góc độ hẹp nội dung bao gồm toàn bộ các cơ quan Tòa án và hoạt động thực hiện quyền xét xử của những cơ quan này Hiện nay, quan điểm và nhận thức về “tư pháp” được xem xét dưới
nhiều khía cạnh khoa học và thực tiễn khác nhau
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do GS Hoàng Phê chủ
biên thì thuật ngữ “tư pháp” được hiểu là “Việc xét xử các hành vi phạm pháp và
và các vụ kiện tụng trong nhân dân (nói khái quát)”1
Theo quan điểm của GS TS Nguyễn Đăng Dung và tập thể tác giả thì “tư
pháp là một lĩnh vực quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật”2
1 Xem: GS TS Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học), Nxb Đà Nẵng - Trung tâm
Từ điển học, 2002, tr.1071.
2 Xem: GS.TS Nguyễn Đăng Dung (chủ biên), Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, Nxb Tư
Trang 3Ngoài ra, theo TS Đinh Văn Ân, TS Võ Trí Thành và tập thể tác giả quan
niệm “tư pháp” được hiểu theo ba khía cạnh: “Về khía cạnh pháp lý, được quan
niệm như là một ý tưởng cao đẹp về một nền công lý, giải quyết các tranh chấptrong xã hội đúng với pháp luật, hợp lẽ công bằng; các biểu hiện của một giá trị về
lòng tin của nhân dân vào pháp luật Về khía cạnh thể chế Nhà nước, tư pháp được
sử dụng để chỉ một quyền lực trong ba quyền lực: quyền lập pháp, quyền hành
pháp, quyền tư pháp Trong việc xác định ba quyền, quyền tư pháp được xem là đồng nghĩa với quyền xét xử, một hoạt động duy nhất chỉ do Tòa án thực hiện Và theo khía cạnh khoa học tổ chức, tư pháp được sử dụng để nói về tổ chức tư pháp,
một tập hợp của nhiều cơ quan, nhiều tổ chức, nhiều chức danh liên hệ đến côngtác xét xử”3
Gần đây, GS TSKH Lê Cảm đã đưa ra quan điểm khoa học tương đối rộng
và bao quát hơn về tư pháp Theo đó, “tư pháp (nói chung) có thể được hiểu dưới năm góc độ với năm tư cách khác nhau: a) Một dạng thực hiện quyền lực Nhà nước
- quyền tư pháp; b) Một hình thức của thực tiễn pháp lý; c) Một quá trình nhận thức
lý luận có tính lôgíc để đạt được chân lý khách quan; d) Một hoạt động nhân danhcông lý của Tòa án và; 5) Mục đích nhằm đạt được - giải quyết những xung đột củacác quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội”4; v.v
Tóm lại, tư pháp là một hoạt động nhân danh công lý của Tòa án để giải
quyết các tranh chấp trong xã hội đúng với pháp luật, hợp lẽ công bằng và được coi là quyền xét xử của Tòa án Theo đó, tư pháp trong Nhà nước pháp quyền đòi
hỏi Tòa án (với tư cách cơ quan thực hiện chức năng xét xử) cần có những phánquyết chính xác, công bằng, một mặt nhằm bảo vệ những giá trị xã hội cao quýnhất của xã hội tránh khỏi sự xâm phạm của các vi phạm pháp luật (và tội phạm) đi
3 Xem: TS Đinh Văn Ân, TS Võ Trí Thành (chủ biên), Thể chế - cải cách thể chế và phát triển: Lý luận
và thực tiễn ở nước ngoài và Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2002, tr.276.
4 Xem: GS TSKH Lê Cảm, Quyền tư pháp, hệ thống tư pháp, hoạt động tư pháp, cơ quan tư pháp và cải
cách tư pháp trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Khoa Luật trực
thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội - 30 năm truyền thống (1976-2006)”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
Trang 4ngược lại lợi ích của xã hội, của Tổ quốc và của nhân dân, song mặt khác, phải đưa
ra xử lý nghiêm minh và đúng pháp luật các hành vi vi phạm đó, qua đó mới hiệnthực hóa các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền vào xã hội, bảo vệ vững chắc cácquyền con người Đến lượt mình, Nhà nước pháp quyền với ý nghĩa là Nhà nước
mà trong đó pháp luật giữ địa vị tối thượng trong mọi lĩnh vực hoạt động của đờisống xã hội lại có vai trò thúc đẩy và tạo điều kiện cho Tòa án thực hiện các quyềntài phán (về Hiến pháp, hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính) để giải quyếtcác tranh chấp đó đúng theo các quy định của pháp luật, hợp với đạo lý, đáp ứng kỳ
vọng của nhân dân và xã hội vào pháp luật của Nhà nước, vào Tòa án - cơ quan
nhân danh Nhà nước áp dụng pháp luật Vị trí tối cao của pháp luật chỉ có khi phápluật được tuân thủ một cách nghiêm túc, triệt để Nói một cách khác, “một nguyên
tắc khác của ý tưởng chế độ pháp trị là phải bảo đảm sự bảo vệ của pháp luật, mọi
công dân phải được phép yêu cầu thực hiện các quyền của mình tại Tòa án”5 Cụthể hóa nội dung này, sự độc lập của Tòa án nói chung, của thẩm phán và hội thẩmtrong xét xử nói riêng trên cơ sở pháp luật chính là phương tiện cơ bản để bảo đảmcho vị trí tối thượng của pháp luật Vị trí tối cao của pháp luật chỉ có khi pháp luậtđược tuân thủ một cách nghiêm túc, triệt để Nói một cách khác, “một nguyên tắc
khác của ý tưởng chế độ pháp trị là phải bảo đảm sự bảo vệ của pháp luật, mọi
công dân phải được phép yêu cầu thực hiện các quyền của mình tại Tòa án”6 Cụthể hóa nội dung này, sự độc lập của Tòa án nói chung, của thẩm phán và hội thẩmtrong xét xử nói riêng trên cơ sở pháp luật chính là phương tiện cơ bản để bảo đảmcho vị trí tối thượng của pháp luật Đồng thời yêu cầu phải cải cách tư pháp có ýnghĩa chính trị - pháp lý và xã hội - thực tiễn quan trọng, đặc biệt là việc cải cách tưpháp để phòng, chống oan, sai nhằm bảo vệ quyền con người, cũng như nâng caotính dân chủ, công bằng xã hội và trình độ văn hóa pháp lý trong quá trình giảiquyết vụ án hình sự
5 Xem: GS Josef Thesing, Nhà nước pháp quyền, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.50.
Trang 51.2 Thực tiễn cải cách tư pháp
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, cơ quan tư pháp của các nước đang phảiđối mặt với nhiều thách thức trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế vànhững vấn đề nội tại thuộc hệ thống tư pháp của mỗi quốc gia Để nâng cao hiệuquả hoạt động của cơ quan tư pháp nhiều nước châu Á đã và đang thực hiệnchương trình chiến lược cải cách tư pháp Ở Trung Quốc, mặc dù đã hơn 20 năm kể
từ khi những cải cách tư pháp đầu tiên được thực hiện nhưng cải cách tư pháp ởTrung Quốc đã không đạt được hiệu quả trong việc nâng cao niềm tin của côngchúng vào các toà án và các thẩm phán như các nhà hoạch định chính sách hy vọng,
mà ngược lại, nhiều vấn đề còn bị làm trầm trọng hơn và thậm chí dẫn đến nhữngvấn đề mới Cải cách tư pháp là động lực để phát triển các hoạt động tư pháp Song,
vì những nguyên nhân sâu sắc của quá trình cải cách trước đó, một số vấn đề vềhoàn thiện và hệ thống hoá hoạt động tư pháp vẫn đang nảy sinh Do đó, TrungQuốc cần thúc đẩy một cuộc cải cách tư pháp toàn diện và có hệ thống hơn, dựatrên kinh nghiệm hiện nay của chính mình, những kinh nghiệm có thể giúp vượtqua những vướng mắc hiện tại của hệ thống thiết chế và những khó khăn trong hoạtđộng của cơ quan tư pháp
Nhật Bản có một điểm giống với Trung Quốc là cải cách tư pháp vốn đãđược đặt ra từ nhiều thập kỷ trước đây nhưng không thành công Năm 1962, ở NhậtBản đã thành lập Uỷ ban Điều tra hệ thống tư pháp nhằm điều tra và cải cách hệthống tư pháp Tuy nhiên, do những nguyên nhân từ trong nội tại hệ thống tư pháp,
đặc biệt là do sự bất đồng quan điểm của giới hôsô sansha ba nhánh của giới luật
-mà những đề xuất của Uỷ ban Điều tra đã không thể thực hiện trong thực tế, bị phainhạt và dần biến mất Gần đây vấn đề cải cách tư pháp của Nhật Bản chỉ trở nên
"nóng" hơn khi Hội đồng cải cách tư pháp được thành lập theo Luật số 69 ngày 9tháng 6 năm 1999 Nguyên nhân quan trọng của việc thành lập Hội đồng cải cách
Trang 6tư pháp là vì "hệ thống tư pháp đã thối nát quá lâu và không thể lờ đi lâu hơn đượcnữa" Ngoài ra, Nhật Bản còn đang trong tình trạng khan hiếm luật sư Theo số liệuthống kê, ở Nhật Bản đến năm 2001 mới có chưa đến 19.000 luật sư đang hànhnghề trên toàn bộ đất nước, nơi có hơn 180 triệu dân Hơn nữa, có tới 70% trongtổng số các luật sư đang tập trung hoạt động chỉ tại bốn thành phố lớn là: Tokyo,Yokohama, Osaka và Nagoya Nhật Bản hiện có tới 3023 thành phố, thị trấn không
có luật sư nào hoặc chỉ có 1 luật sư (được gọi là "các vùng 0-1") Do đó, việc cảicách hệ thống tư pháp là rất cấp thiết ở Nhật Bản đặc biệt là phải nâng cao số lượng
và chất lượng luật sư
Còn ở Hàn Quốc, hệ thống luật và hệ thống tư pháp nước này có một tốc độcải cách chậm hơn hẳn so với sự phát triển kinh tế Quá trình cải cách cơ cấu chínhquyền với những cải cách mạnh bạo nhằm giảm bớt quyền lực của chính quyềntrung ương diễn ra gần đây cuối cùng cũng đã tạo nên những tiền đề thúc đẩy mạnh
mẽ quá trình cải cách tư pháp tại Hàn Quốc Trước đây, Chính phủ Hàn Quốc cũng
đã hai lần thành lập Uỷ ban cải cách tư pháp (vào năm 1955 và năm 1998) nhưngnhững gì mà các Uỷ ban này làm được chỉ là đề xuất những vấn đề cấp thiết nhấtcần tiến hành cải cách Khi nhìn nhận những nguyên nhân gây ra thất bại trên,nhiều nhà nghiên cứu Hàn Quốc cho rằng đó là do việc không xác định được rõràng mục đích và nội dung cải cách, đồng thời trong một bộ phận những người lãnhđạo đã không ủng hộ cho những cải cách cũng như thiếu sự hợp tác hữu cơ giữacác cơ quan hành pháp và tư pháp Nhưng năm 2003, Chính phủ của Tổng thốngRun Myhyun đã mạnh bạo dùng chính chủ đề cải cách tư pháp như một tiêu điểmchính trị quan trọng để giành chiến thắng Và cuộc cải cách tư pháp lần này đã đạtđược những thành công đáng kể
2 Quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam
Trang 7Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung của thế giới, Chiến lược cảicách tư pháp ở Việt Nam bắt đầu được thực hiện vào tháng 6 năm 2005 Nhưngtrước đó, vào Đại hội II, tháng 2- 1951 và Cải cách tư pháp lần 1, tháng 4 năm
1958, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội đã thông qua Luật Tổ chức Chính quyền địa phương, đã nêu rõ quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp trong tình hình nhân
dân ta giành được nhiều thắng lợi trong cuộc kháng chiến, điều kiện lịch sử đã đặt
ra cho Đảng yêu cầu bổ sung và hoàn chỉnh đường lối cách mạng Việt Nam, đưacuộc kháng chiến đến thắng lợi, đặc biệt là yêu cầu Đảng phải ra công khai lãnhđạo cách mạng Do đó, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương ra đời trong đóthành lập Tòa án nhân dân tối cao, Viện công tố nhân dân Trung ương ; tách hệthống Tòa án nhân dân và Viện công tố ra khỏi Bộ Tư pháp
Đại hội lần thứ VI (năm 1986) của Đảng ta, chủ trương đổi mới toàn diện đấtnước được đặt ra và triển khai Tại Đại hội VII tháng 6 năm 1991, Hiến pháp năm
1992 ra đời, bên cạnh đó Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992 được ban hành
đã mở ra đợt cải cách tư pháp thứ hai ở Việt Nam Cải cách tư pháp là một đòi hỏikhách quan, cấp thiết và mang tính quy luật để có thể thích ứng với những đổi mới
về văn hóa, kinh tế, xã hội, hệ thống chính trị; v.v Do đó, vấn đề này đã chínhthức được đặt ra tại các Đại hội sau đó của Đảng, đồng thời đã được đánh dấu vàghi nhận trong các Nghị quyết 8 Trung ương khóa VII, Nghị quyết 3 và 7 Trung
ương khóa VIII và đặc biệt là Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Rất nhiều vấn đề đang đặt ra trong cải cách tư pháp cần phải khắc
phục và giải quyết triệt để Đó là vị trí, vai trò và tầm quan trọng của tư pháp chưađược nhận thức đầy đủ, sự gắn kết giữa hành pháp và tư pháp còn thiếu hiệu quả,mối quan hệ hỗ trợ giữa cải cách hành chính và cải cách tư pháp chưa chặt chẽ,
Trang 8pháp luật về thủ tục tố tụng tư pháp còn nhiều bất cập, nhiều vấn đề về chức năng,nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của các cơ quan tư pháp vẫn chưa được nhận thứcthống nhất, hoạt động của các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp chưa đáp ứngđược yêu cầu của tình hình mới, đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp còn quáthiếu, một bộ phận trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị yếu, thậm chí sa sút về
phẩm chất đạo đức nghề nghiệp Vì vậy, việc xây dựng và thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là rất cần thiết và cấp bách.
CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ
CHIẾN LƯỢC CẢI CÁCH TƯ PHÁP ĐÊN NĂM 2020
1 Tình hình thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp của Việt Nam
1.1 Thành tựu
Việc ban hành Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị
về “Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” một lần nữa thể hiện quan điểm
của Đảng về cải cách tư pháp Nghị quyết 49 – NQ/TW đã xác định Chiến lược cải cách tư pháp được triển khai theo 4 định hướng cơ bản:
+ Hoàn thiện thể chế hình sự, dân sự, thủ tục tư pháp;
+ Cải cách tổ chức các cơ quan tư pháp và các thiết chế bổ trợ tư pháp màtrung tâm là tòa án và khâu đột phá là tăng cường tranh tụng dân chủ;
+ Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp,nhất là cán bộ có chức danh tư pháp;
+ Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, giám sát của nhân dân đốivới hoạt động tư pháp
Căn cứ tình hình, kết quả triển khai thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, cóthể khẳng định mục tiêu, quan điểm, phương hướng và nhiệm vụ cải cách tư pháp
do Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đề ra là đúng đắn, phù hợp với yêucầu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
Trang 9dân, do nhân dân, vì nhân dân; đã được các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trungương triển khai thực hiện tích cực và đạt được nhiều kết quả quan trọng bước đầu,đáng lưu ý là:
1, Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò
của các cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa; về sự cần thiết phải tiến hành và đẩy mạnh cải cách tư pháp đã đượcnâng lên rõ rệt Phần lớn các cấp ủy, tổ chức đảng trong các cơ quan tư pháp Trungương và các tỉnh uỷ, thành ủy trực thuộc Trung ương đều thành lập Ban Chỉ đạoCải cách tư pháp để giúp cấp ủy triển khai thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháptại cơ quan, tổ chức, địa phương mình
2, Công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật về tư pháp được quan tâm hơntrước Hệ thống pháp luật về hình sự, dân sự, tố tụng tư pháp và tổ chức bộ máy các
cơ quan tư pháp từng bước được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện theo đúng định hướngcủa Đảng về cải cách tư pháp Thể chế hóa được các chủ trương nhân đạo của Đảng
trong chính sách pháp luật về hình sự; Pháp luật dân sự đã bổ sung, hình thành các
cơ chế pháp lý thúc đẩy các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại phát triển lànhmạnh, bước đầu đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội trong điều kiện nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Pháp luật về tố tụng tư pháp từngbước được hoàn thiện, nghiên cứu xác định lại mô hình tố tụng theo hướng kết hợpgiữa mô hình tố tụng thẩm vấn với tố tụng tranh tụng, nhằm tăng tính dân chủ,minh bạch trong hoạt động tố tụng và bình đẳng giữa các chủ thể tham gia tố tụng
3, Việc hoàn thiện tổ chức bộ máy và xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩmquyền của các cơ quan tư pháp đạt một số kết quả bước đầu: Xây dựng xong một số
đề án về đổi mới tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp, xác định rõ mô hình
tổ chức của hệ thống tòa án nhân dân 4 cấp, theo cấp xét xử, không phụ thuộc vàođơn vị hành chính; viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổchức tòa án nhân dân Thực hiện thành công một số nhiệm vụ: Tăng thẩm quyền
Trang 10xét xử cho tòa án nhân dân cấp huyện, khắc phục tình trạng tồn đọng án ở tòa áncấp tỉnh và tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao Mở rộng thẩm quyền xét xửcủa toà án nhân dân đối với các khiếu kiện hành chính; giao tòa án nhân dân thẩmquyền xem xét, quyết định biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng,
cơ sở giáo dục bắt buộc và cơ sở cai nghiện bắt buộc Triển khai bước đầu yêu cầutăng cường tranh tụng tại phiên tòa Hệ thống pháp luật về thi hành án được hoànthiện cơ bản; tổ chức, hoạt động của các cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thihành án dân sự, hành chính được kiện toàn, công tác thi hành án đạt được kết quảtích cực Vai trò của lực lượng cảnh sát hỗ trợ tư pháp sau khi được thành lập đượcphát huy Việc thí điểm thực hiện chế định Thừa phát lại được tiến hành tại thànhphố Hồ Chí Minh (từ 2010 - 2012) thu được những kết quả bước đầu tích cực, được
xã hội đồng tình, đang tiếp tục mở rộng việc thí điểm ra các tỉnh, thành phố khác
4, Tiếp tục đổi mới, tổ chức và hoạt động công chứng, giám định, luật sư theo định hướng của Đảng, phục vụ có hiệu quả công tác điều tra, truy tố xét xử vàđáp ứng được bước đầu yêu cầu của xã hội; đội ngũ luật sư phát triển nhanh về sốlượng Số vụ việc luật sư tư vấn, tham gia bào chữa và trợ giúp pháp lý ngày càngtăng Vai trò của luật sư từng bước được khẳng định Việc xã hội hóa hoạt độngcông chứng đã thành công bước đầu, giảm tải được nhiều vụ việc cho các phòngcông chứng nhà nước, phục vụ kịp thời nhu cầu của người dân Kết quả xây dựngđội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp đem lại những hiệu quả bước đầu, đápứng kịp thời các yêu cầu về đội ngũ cán bộ cho các cơ quan tư pháp và xã hội, góp
phần thực hiện được việc chuẩn hóa trình độ đội ngũ cán bộ các cơ quan tư pháp
5, Thực hiện nhiệm vụ hoàn thiện cơ chế giám sát của cơ quan dân cử đối vớihoạt động tư pháp, Quốc hội đã hoàn thiện bước đầu hệ thống pháp luật về tổ chứchoạt động giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp Các hoạt động giámsát, chất vấn, điều trần đối với hoạt động tư pháp được tăng cường; Quốc hội đãban hành một số nghị quyết chuyên đề về công tác tư pháp
Trang 116, Việc tăng cường hợp tác quốc tế về lĩnh vực tư pháp đạt được một số kếtquả quan trọng Thể chế hóa được các chủ trương của Đảng về hợp tác quốc tếtrong lĩnh vực tư pháp và pháp luật, xác định rõ cơ quan quản lý nhà nước và cơquan làm đầu mối trong hợp tác, tương trợ tư pháp Việc nhanh chóng mở rộngquan hệ về tư pháp và pháp luật với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đã đánh dấu
sự hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam vào đời sống pháp lý quốc tế, minhchứng cho tinh thần sẵn sàng hợp tác của Việt Nam với các nước và khẳng định vaitrò, vị thế của các cơ quan tư pháp Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực Việcđảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động tư pháp được Chính phủ, các Bộ, ngành cóliên quan và chính quyền địa phương quan tâm Trong điều kiện kinh tế còn nhiềukhó khăn, kinh phí đầu tư phát triển và đảm bảo hoạt động của các cơ quan tư phápvẫn được ưu tiên phân bổ ngân sách cao hơn so với các cơ quan nhà nước khác; chế
độ, chính sách đối với cán bộ, công chức tư pháp từng bước được cải thiện
7, Việc hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp đượccác cấp uỷ, tổ chức đảng quan tâm lãnh đạo; ban hành nhiều văn bản quy định rõ cơchế lãnh đạo về chính trị, tổ chức và công tác cán bộ Tích cực thực hiện công tácxây dựng Đảng, giáo dục, quản lý, kiểm tra, giám sát và kỷ luật đối với tổ chứcđảng và đảng viên Vai trò, vị thế của các cơ quan tư pháp được khẳng định, đặcbiệt toà án nhân dân được xác định là cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiệnnguyên tắc "quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểmsoát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp" Hệ thống cơ quan tham mưu về công tác nội chính được tái lập và kiện toàn
từ Trung ương đến các tỉnh uỷ, thành ủy
Nhìn chung, việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp tuy mới đạt kết quảbước đầu nhưng hoạt động tư pháp đã được cải thiện đáng kể; hệ thống pháp luật
về tư pháp được hoàn thiện hơn; công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và
Trang 12việc bắt giam giữ, cải tạo từng bước được thực hiện nghiêm minh, dân chủ, côngbằng hơn Các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, các chế định hợp đồng, bồithường, bồi hoàn ngày càng được hoàn thiện, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế
1.2 Hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện Chiến lược cải cách tưpháp vẫn còn một số hạn chế cơ bản sau đây: (1) Công tác triển khai, tổ chức thựchiện một số nhiệm vụ cải cách tư pháp thiếu đồng bộ, chưa theo đúng lộ trình đề ra.Còn nhiều nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp chưa được thựchiện Có một số vấn đề khi triển khai thực hiện còn ý kiến khác nhau nhưng chưađược kết luận rõ, hoặc một số vấn đề kết luận chưa đúng định hướng của Chiếnlược cải cách tư pháp (2) Hệ thống pháp luật về hình sự, dân sự, hành chính, kinh
tế, lao động, tố tụng tư pháp và tổ chức hoạt động của các cơ quan tư pháp hoànthiện chậm, thiếu đồng bộ Tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân, viện kiểmsát nhân dân và cơ quan điều tra chậm đổi mới Thực hiện chủ trương tăng cườngtranh tụng tại phiên tòa trong hoạt động tố tụng nhưng thời gian qua việc nghiêncứu, hoàn thiện pháp luật làm rõ cách thức, nguyên tắc, trình tự, thủ tục, nội dung
và thẩm quyền của mỗi chủ thể trong hoạt động tranh tụng chưa được thực hiện (3)Nhận thức của các cán bộ tư pháp về chủ trương tăng cường tranh tụng chưa nhấtquán, chưa xác định đúng vị trí, vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của luật sư trongquá trình tố tụng; việc đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tranh tụng chưa được quan tâmđúng mức Các phiên tòa thực hiện chủ trương tranh tụng không nhiều, chưa đúngđịnh hướng, hiệu quả chưa cao (4) Chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thihành án vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội; án tồnđọng, oan, sai, bị huỷ, bị cải sửa vẫn còn, chưa được khắc phục triệt để; hoạt độngđiều tra, truy tố, xét xử và thi hành án chưa thực sự minh bạch; vẫn còn tình trạngnhũng nhiễu, tiêu cực trong hoạt động tư pháp; mục tiêu bảo vệ công lý, quyền con
Trang 13người chưa được thực hiện đầy đủ, đúng đắn, làm cho một bộ phận nhân dân chưathực sự tin tưởng vào chất lượng của hoạt động tư pháp (5) Việc đổi mới cơ chếphân bổ ngân sách cho các cơ quan tư pháp còn chậm; việc ứng dụng công nghệthông tin trong hoạt động của các cơ quan tư pháp còn thấp so với các cơ quan kháctrong bộ máy nhà nước Việc thông tin, tuyên truyền về hoạt động tư pháp và cácchủ trương cải cách tư pháp chưa được thực hiện thường xuyên (6) Công tác giámsát của các cơ quan dân cử chưa được tăng cường, đổi mới phù hợp với yêu cầu cảicách tư pháp, chất lượng, hiệu quả chưa cao; hoạt động giám sát của hội đồng nhândân các cấp và giám sát của các tổ chức đoàn thể xã hội còn hình thức, lúng túng,
chưa có hiệu quả thiết thực Vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ, tổ chức đảng đối với
một số nhiệm vụ cải cách tư pháp còn hạn chế, có nơi bị buông lỏng, thiếu kiểm trađôn đốc, sự phối hợp giữa các cấp ủy đảng các cơ quan tư pháp với nhau và với cấp
ủy địa phương chưa thực sự chặt chẽ
2 Mục tiêu, quan điểm của Chiến lược cải cách tư pháp của Việt Nam 2.1 Mục tiêu
Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệcông lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành cóhiệu quả và hiệu lực cao
2.2 Quan điểm
- Cải cách tư pháp phải đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, bảo đảm sự
ổn định chính trị, bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phâncông, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,hành pháp, tư pháp