ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP DẠY MỘT SỐ BÀI LỊCH SỬ CẤP 2
Trang 1MỤC LỤC
I TÓM TẮT ĐỀ TÀI 02
II GIỚI THIỆU 03
1 Thực trạng 03
2 Giải pháp thay thế 04
3 Một số nghiên cứu gần đây liên quan đến đề tài 05
4 Vấn đề nghiên cứu 05
5 Giả thuyết nghiên cứu 05
III PHƯƠNG PHÁP 05
1 Khách thể nghiên cứu 05
2 Thiết kế nghiên cứu 06
3 Quy trình nghiên cứu 07
4 Đo lường và thu thập dữ liệu 07
IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ 07
1.Trình bày kết quả 07
2 Phân tích dữ liệu 08
V BÀN LUẬN KẾT QUẢ 09
VI KẾT LUẬN & KHUYẾN NGHỊ 09
5.1 Kết luận 09
5.2 Khuyến nghị 09
TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
CÁC PHỤ LỤC CỦA ĐỀ TÀI 11
Phụ lục 1: Mẫu thiết kế giáo án bài 12: Nước Văn Lang - Lịch sử 6 có vận dụng phương pháp kể chuyện 11
Phụ lục 2: Các câu chuyện được sử dụng trong bài và khai thác kiến thức lịch sử, ý nghĩa của các câu chuyện. 21
Phụ lục 3: Đề và đáp án kiểm tra sau tác động 38
Phụ lục 4: Bảng điểm kiểm tra trước và sau tác động của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm 42
Phụ lục 5: Một số bài kiểm tra của học sinh 46
Trang 2Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng
đã đề cập rất nhiều đến chất lượng học tập lịch sử của học sinh Những điểm số, những ví dụ trích dẫn từ những bài thi khiến người ta nghĩ đến điều đầu tiên là: chất lượng dạy và học Lịch sử đang ngày càng giảm sút nghiêm trọng Đặc biệt là chương trình lịch sử Việt Nam thời cổ đại do không sử dụng nhiều trong các kỳ thi tuyển sinh, thi học sinh giỏi, vì thế các em thường ít chú tâm, không nắm vững những vấn đề mang tính chất trọng tâm Thực trạng trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, từ cả hai phía: thầy và trò Trò không chú tâm học, nội dung kiến thức quá nhiều, hay trùng lặp nên không thể nhớ chính xác, khả năng tự nghiên cứu của học sinh còn hạn chế do hoạt động riêng lẽ, chưa thể hiện được tinh thần hợp tác, chia
sẻ kiến thức lẫn nhau, cách khai thác kiến thức lịch sử của học sinh còn hạn chế Thầy dạy không hết “nội lực”, phương pháp soạn giảng chưa gây được sự hứng thú, chưa liên kết được các sự kiện lịch sử,chưa thể hiện được sự tích hợp nội dung, kích thích hoạt động hợp tác cho các thành viên trong lớp Chính vì những điều đó
đã gây ra những cản trở lớn trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh
Là người trực tiếp đứng lớp giảng dạy bộ môn Lịch Sử trong nhiều năm, đặc biệt là chương trình lịch sử Việt Nam thời cổ đại (tương ứng chương trình lịch sử lớp 6) tôi và các đồng nghiệp luôn trăn trở là làm sao có thể giúp học sinh có thể lĩnh hội, chia sẻ kiến thức một cách tốt nhất, làm thế nào để nâng cao hứng thú học tập bộ môn cho học sinh, giúp các em từ những kiến thức lịch sử đã học có thể vận dụng để giải quyết các tình huống trong thực tế Theo tôi, để làm được điều đó thì trước tiên người thầy cần phải giúp học sinh có những nền tảng vững chắc, sự ham thích học tập từ khi mới bắt đầu biết về lịch sử, tức là đối tượng cần được tác động ban đầu chính là những em học sinh lớp 6_ lứa tuổi có nhiều sự chuyển biến và khá
bỡ ngỡ khi vừa chuyển từ môi trường cấp 1 sang cấp 2 Do vậy, người giáo viên cần tìm ra một phương pháp tối ưu nhất giúp các em có thể hợp tác cùng nhau giải quyết các vấn đề lịch sử mang tính khái quát nhất, thông qua đó có thể nắm kiến thức một cách dễ dàng Chính vì thế, theo tôi, đối với lứa tuổi này thì việc vận dụng phương pháp kể chuyện là phương pháp được xem là tối ưu nhất và đem lại hiệu quả truyền tải kiến thức lịch sử tốt nhất
Trang 3Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này Tôi xin được đưa ra một phương pháp mà bản thân đã áp dụng có hiệu quả đó chính là vận dụng phương pháp kể
chuyện trong giảng dạy bài 12: “Nước Văn Lang”, giúp học sinh nắm vững hoàn
cảnh ra đời và sự thành lập nước Văn Lang, qua đó giúp học sinh nắm vững kiến thức, đồng thời rèn phương pháp, kỹ năng kể chuyện, từ đó ghi nhớ kiến thức lịch
sử một cách sâu sắc Cũng xin được nói thêm, việc vận dụng phương pháp kể chuyện trong giảng dạy Lịch sử không phải là một vấn đề mới, đây là một vấn đề
mà các cấp lãnh đạo Sở Giáo Dục Bình Dương cũng đã khởi xướng, nhưng hiệu quả mang lại chưa cao Riêng bản thân tôi đã mạnh dạn đẩy mạnh vận dụng
phương pháp kể chuyện thực nghiệm đối với bài 12: “Nước Văn Lang” trong
chương trình lịch sử 6 do bản thân phụ trách trong năm học 2015- 2016 Kết quả cho thấy rất khả quan, học sinh tiếp thu tốt phần nội dung trọng tâm, năng động hơn trong việc tự mình lĩnh hội và chia sẻ tri thức thông qua các câu chuyện lịch sử
Do hạn hẹp về thời gian, nên trong đề tài nghiên cứu này tôi chỉ xin được
trình bày việc “vận dụng phương pháp kể chuyện trong bài 12: Nước Văn Lang”
Việc làm này đã góp phần giúp học sinh ham thích học tập bộ môn và ngày càng hứng thú hơn trong các giờ học Lịch sử, đồng thời cũng tạo điều kiện cho bản thân tôi mở rộng đề tài để nghiên cứu ứng dụng đối với các bài trong chương trình lịch
sử còn lại trong thời gian sắp tới
Để việc nghiên cứu đảm bảo được tính khách quan, nghiêm túc và chính xác, tôi tiến hành nghiên cứu trên hai nhóm do tôi và đồng nghiệp phụ trách được xem
là tương đương nhau: hai lớp 6 của trường THCS Nguyễn Văn Trỗi Lớp 6A3 là lớp đối chứng do cô Võ Thị Thu Hà đứng lớp giảng dạy, lớp 6A10 là lớp thực nghiệm do bản thân tôi trực tiếp giảng dạy Thực nghiệm được thực hiện giải pháp
thay thế ở tuần 13; tiết 13; Bài 12: “Nước Văn Lang”- Lịch Sử 6, năm học 2015-
2016
Qua nghiên cứu và thu thập số liệu, kết quả độ chênh lệch điểm trung bình
T-test cho kết quả p= 0.0001 < 0.05 cho thấy tác động đã làm tăng hứng thú và kết
quả học tập của học sinh một cách rõ rệt
II GIỚI THIỆU
1 Thực trạng:
Thông qua việc dự giờ các lớp và tình hình giảng dạy chung của giáo viên khối lớp 6, tôi nhận thấy điểm hạn chế tồn tại tập trung ở phương pháp truyền thụ kiến thức của giáo viên cho học sinh Học sinh nhàm chán, uể oải, khó tổng hợp các kiến thức cơ bản trong các giờ học lịch sử, không biết cách khai thác kiến lịch
sử do giáo viên chỉ sử dụng phương pháp đơn điệu như thuyết trình, vấn đáp, chưa phát huy được những kỹ năng kể chuyện, khai thác kiến thức lịch sử cho học sinh
Trang 4Khi học sinh không có hứng thú, không nắm được vững kiến thức sẽ dẫn đến chất lượng dạy và học của bộ môn không cao.
2 Giải pháp thay thế:
Qua thực trạng trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp kể
chuyện trong giảng dạy bài 12: Nước Văn Lang giúp học sinh nắm vững hoàn cảnh
ra đời và sự thành lập nước Văn Lang” nhằm tìm ra giải pháp để học sinh lớp 6
ham thích, hứng thú, nắm vững kiến thức trọng tâm trong bài 12: Nước Văn Lang - Lịch sử 6, thông qua tiết học lịch sử Từ đó nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử
Như chúng ta đã biết, trong các phương pháp dạy học tích cực thì phương pháp kể chuyện là một trong những phương pháp khá phổ biến và đạt kết quả truyền tải kiến thức tốt nhất, đặc biệt là đối với học sinh lớp 6, lứa tuổi chuyển tiếp
từ trẻ con sang người lớn
Mục tiêu của phương pháp kể chuyện là giúp học sinh thông qua các câu chuyện, truyền thuyết mà các em đã biết, đã đọc, đã học, tìm ra các ý nghĩa lịch sử bên trong đó, từ đó giúp học sinh khắc sâu kiến thức lịch sử hơn, thêm hứng thú khi tìm hiểu lịch sử
Mỗi một câu chuyện kể là một kho tàng lịch sử được lưu truyền từ đời này đến đời khác dưới nhiều hình thức khác nhau, rất có giá trị Dù đó là những câu chuyện có thật hay chỉ là truyền thuyết thì đều mang ý nghĩa lịch sử rất lớn Việc
cụ thể hóa thành truyện kể cũng là một cách giúp người xưa ghi nhớ, lưu giữ nét lịch sử của dân tộc từ xưa đến nay
Để phương pháp kể chuyện đạt hiệu quả cao, yêu cầu đặt ra đối với giáo viên
và học sinh là:
+ Giáo viên: nắm vững nội dung câu chuyện, cách kể chuyện truyền cảm, cuốn hút, rút ra ý nghĩa bên trong câu chuyện, liên hệ kiến thức lịch sử, phát hiện ra những học sinh có năng khiếu kể chuyện
+ Học sinh: chuẩn bị trước các câu chuyện mà giáo viên yêu cầu, biết tóm tắt cốt truyện, rèn kỹ năng kể chuyện trước lớp, rút ra ý nghĩa chuyện, liên hệ thực tế
Các câu chuyện được vận dụng trong bài 12: “Nước Văn Lang” bao gồm:
“Sơn Tinh - Thủy Tinh”, “Thánh Gióng”, “Chử Đồng Tử - Tiên Dung”, “Con rồng
cháu tiên”, “Sự tích quả dưa hấu”, “Sự tích bánh chưng, bánh dầy” Đây là những
câu chuyện mà các em học sinh lớp 6 đã được học, được biết đến trong sách kể chuyện trong chương trình ở cấp tiểu học Qua các câu chuyện giúp lớp học sinh động hơn, học sinh hứng thú hơn khi tìm hiểu và biết được các câu chuyện truyền thuyết đều có liên quan đến những sự kiện, kiến thức lịch sử, từ đó ghi nhớ kiến thức lịch sử một cách sâu sắc Thông qua việc vận dụng phương pháp này, học sinh được lôi cuốn vào quá trình học tập một cách tự nhiên làm nâng cao hứng thú học tập, giúp các em giảm bớt được những mệt mỏi, căng thẳng trong học tập, đem lại
Trang 5niềm vui, sự hứng thú học tập cho các em, từ đó giúp các em nắm vững kiến thức tốt hơn.
3 Một số nghiên cứu gần đây liên quan đến đề tài:
Đề tài nghiên cứu mà tôi thực hiện chủ yếu dựa trên việc vận dụng có hiệu quả bài dạy thực tế trên lớp Mục tiêu của bản thân là muốn đẩy mạnh việc vận dụng phương pháp kể chuyện trong giảng dạy các chương trình lịch sử trong các cấp học, đặc biệt là khối lớp 6, đem đến một phương pháp giảng dạy và học tập có hiệu quả nhằm chia sẻ với các đồng nghiệp cũng như góp phần giúp học sinh lớp 6 trường THCS Nguyễn Văn Trỗi nói riêng và học sinh các trường THCS khác nói
chung ngày càng ham thích và nắm vững kiến thức trọng tâm bài 12: “Nước Văn
Lang” – trong chương trình Lịch sử 6.
4 Vấn đề nghiên cứu:
Việc vận dụng phương pháp kể chuyện trong bài 12: “Nước Văn Lang”, có
góp phần giúp học sinh lớp 6 trường THCS Nguyễn Văn Trỗi nắm vững hoàn cảnh
ra đời và sự thành lập nước Văn Lang không?
5 Giả thuyết nghiên cứu:
Có Việc vận dụng phương pháp kể chuyện trong bài 12: “Nước Văn Lang”
đã góp phần giúp học sinh lớp 6 trường THCS Nguyễn Văn Trỗi nắm vững hoàn cảnh ra đời và sự thành lập nước Văn Lang
III PHƯƠNG PHÁP:
1 Khách thể nghiên cứu:
Tôi lựa chọn trường THCS Nguyễn Văn Trỗi- phường An Phú - thị xã Thuận
An - Bình Dương vì đây là trường mà bản thân tôi đã công tác từ khi mới bắt đầu thành lập nên có nhiều điều kiện thuận lợi
* Giáo viên: Để đảm bảo tính khách quan, chính xác, tôi lựa chọn hai lớp do
Tôi và cô Võ Thị Thu Hà phụ trách, hai chúng tôi đều có trình độ tương đương nhau, có lòng nhiệt tình và trách nhiệm trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh
1 Vương Trần Huyền Trân - Giáo viên dạy sử lớp 6A10 (lớp thực nghiệm)
2 Võ Thị Thu Hà - Giáo viên dạy sử lớp 6A3 (lớp đối chứng)
* Học sinh: Tôi lựa chọn hai lớp: Lớp 6a10 (Nhóm thực nghiệm), lớp 6A3
(Nhóm đối chứng), vì đó là hai lớp có sự tương đồng về dân tộc, giới tính, trình độ
và sỉ số lớp
Học sinh hai lớp này có thái độ và kết quả học tập là tương đương nhau
Trang 6Số HS các nhóm Dân tộc
Tổng số
tộc khác
2 Thiết kế nghiên cứu:
Chọn hai lớp nguyên vẹn: lớp 6A10 là nhóm thực nghiệm và 6A3 là nhóm đối chứng Tôi dùng bài kiểm tra 1 tiết học kì I môn lịch sử làm bài kiểm tra trước tác động Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sự khác nhau,
do đó chúng tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của 2 nhóm trước khi tác động
p = 0.45 > 0.05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai
nhóm thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa (sự chênh lệch xảy ra là ngẫu nhiên), hai nhóm được coi là tương đương
Tôi lựa chọn thiết kế 2: Thiết kế kiểm tra trước và sau tác động đối với các
O4Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép kiểm chứng T-Test độc lập
Trang 73 Quy trình nghiên cứu :
3.1 Sự chuẩn bị của giáo viên:
Đối với lớp đối chứng, cô Võ Thị Thu Hà vẫn giảng dạy bài 12: “Nước Văn
Lang” theo phương pháp vấn đáp, diễn giảng bình thường theo phân phối chương
trình quy định
Đối với lớp thực nghiệm do tôi trực tiếp giảng dạy Đối với tiết này, tôi thiết
kế giáo án sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp các phương pháp tích cực khác như vận dụng kiến thức liên môn, vấn đáp, tường thuật, , thông qua đó, giúp học sinh khai thác kiến thức lịch sử trong bài, từ đó biết liên hệ thực tế Việc vận dụng phương pháp kể chuyện như đã trình bày ở trên vẫn đảm bảo về thời lượng và phân phối chương trình theo quy định, đồng thời có sự chuẩn bị đồ dùng dạy học kĩ hơn, chu đáo hơn Sau tiết sẽ sử dụng 25 phút để tiến hành làm một bài test 25 phút thu kết quả
3.2 Tiến hành thực hiện :
Thời gian tôi tiến hành dạy thực nghiệm bài 12: “Nước Văn Lang” theo đúng
phân phối chương trình là tuần 13, tiết 13
Các câu chuyện sử dụng trong bài 12: “Nước Văn Lang” bao gồm: “Sơn Tinh
- Thủy Tinh”, “Thánh Gióng”, “Chử Đồng Tử - Tiên Dung”, “Con rồng cháu tiên”,
“Sự tích quả dưa hấu”, “Sự tích bánh chưng, bánh dầy” Các câu chuyện này sẽ
được sử dụng đan xen trong bài, giúp học sinh khai thác được các kiến thức lịch sử quan trọng, từ đó nắm vững hoàn cảnh ra đời và sự thành lập nước Văn Lang - Nhà nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta
Đối với lớp 6A3 (lớp đối chứng) thì cô Hà cũng vẫn dạy bình thường theo phân phối chương trình của bài 12 là tuần 13, tiết 13
4 Đo lường và thu thập dữ liệu:
Kết quả kiểm tra trước tác động là các điểm số lấy từ bài kiểm tra 1 tiết trong học kì I
Kết quả kiểm tra sau tác động là điểm bài kiểm tra sau khi tôi đã tiến hành áp
dụng phương pháp kể chuyện trong bài 12: “Nước Văn Lang” (khảo sát dưới hình
thức kiểm tra trắc nghiệm và tự luận)
IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ:
1 Trình bài kết quả:
Tiến hành kiểm tra và chấm bài
Sau khi thực hiện dạy xong bài 12: “Nước Văn Lang” bằng việc sử dụng
phương pháp kể chuyện, tôi ra đề và cho học sinh làm bài kiểm tra Tôi tiến hành
Trang 8chấm bài kiểm tra theo đáp án đã xây dựng (Nội dung kiểm tra trình bày ở phần
Kết quả kiểm tra sau tác động cho thấy điểm trung bình của nhóm thực
nghiệm là 7.82 cao hơn so với điểm trung bình kiểm tra trước tác động là 1.02
Điều này chứng tỏ rằng chất lượng học tập môn lịch sử của học sinh lớp 6A10 đã được nâng lên đáng kể
Sau quá trình tác động và kiểm chứng sự chênh lệch giá trị trung bình bằng
phép kiểm chứng t-test đã cho ta kết quả p= 0.0001 cho thấy sự chênh lệch điểm khảo sát trung bình giữa trước và sau tác động là có ý nghĩa, tức là sự chênh lệch điểm trung bình khảo sát trước và sau tác động là không xảy ra ngẫu nhiên mà là do tác động của giải pháp thay thế đã mang lại hiệu quả
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = (7.82-6.80)/1.08= 0.94, so sánh
với bảng tiêu chí Cohen cho thấy mức độ ảnh hưởng của giải pháp “vận dụng
phương pháp kể chuyện trong giảng dạy bài 12: Nước Văn Lang ” đã tác động đến
chất lượng học tập của nhóm thực nghiệm là lớn.
Trang 9V BÀN LUẬN KẾT QUẢ
Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là TBC= 7.82, kết quả bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng là TBC = 6.80 Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 1.02 Điều đó cho thấy điểm TBC của hai nhóm đối chứng và thực
nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, nhóm được tác động có điểm TBC cao hơn lớp đối chứng
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0.94, điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn
Phép kiểm chứng T-test điểm trung bình sau tác động của hai nhóm là p
= 0.0001 < 0.05 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai
nhóm không phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động
Đề tài này theo tôi có thể ứng dụng rộng rãi ở các trường THCS ở Thị xã Thuận An nói riêng và các trường THCS trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói chung
và nếu có sự đầu tư sẽ có thể áp dụng ở cấp cao hơn
Tuy nhiên để nghiên cứu thành công và đạt kết quả cao hơn nữa theo tôi cần phải có sự cố gắng nỗ lực của giáo viên trong đầu tư soạn giảng, chuẩn bị các thiết
bị dạy học Về phía học sinh yêu cầu các em phải chuẩn bị nghiên cứu tài liệu ở nhà, hoạt động nhóm có hiệu quả, phát huy năng khiếu, kỹ năng kể chuyện, khắc sâu kiến thức lịch sử và biết liên hệ thực tế
VI KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ:
1 Kết luận:
Việc vận dụng phương pháp kể chuyện trong bài 12: “Nước Văn Lang” đã
góp phần giúp cho học sinh lớp 6 trường THCS Nguyễn Văn Trỗi nắm vững hoàn cảnh ra đời và sự thành lập nước Văn Lang, từ đó làm tăng sự hứng thú học tập lịch
sử đối với học sinh của nhà trường
2 Khuyến nghị:
Đối với các cấp lãnh đạo và nhà trường: Cần quan tâm hơn nữa tới bộ môn
Lịch sử, cũng như đời sống của giáo viên bộ môn này để họ có thể tận tâm, nhiệt huyết với nghề Nhà trường cung cấp và trang bị thêm sách và tài liệu tham khảo liên quan đến nội dung môn học này
Đối với giáo viên: Phải không ngừng đầu tư trong soạn giảng từng tiết dạy
về nội dung và phương pháp Phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân, tích lũy kinh nghiệm từ đồng nghiệp và bản thân, biết cách áp dụng hợp lí với trình độ lớp mình giảng dạy
Với kết quả của đề tài nghiên cứu, tôi rất mong muốn được sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp lãnh đạo giáo dục Những ý kiến đóng góp quý báu, chân thành của quý đồng nghiệp giúp cho tôi hoàn chỉnh đề tài nghiên cứu này
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Trần Trọng Kim, “Việt Nam Sử Lược”, NXB Văn hóa thông tin, 2002
- Đào Duy Anh, “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX”, NXB Khoa học xã hội, 2011
- Tài liệu tập huấn nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng dự án Việt Bỉ - Bộ GD&ĐT
- Tài liệu nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng trường THCS Nguyễn Văn Trỗi
- Sách giáo khoa, sách giáo viên Lịch sử 6 – Nhà xuất bản giáo dục – Bộ GD&ĐT
- Các tư liệu chuyện kể và clip kể chuyện trên mạng Internet
Trang 11MINH CHỨNG – PHỤ LỤC CHO ĐỀ TÀI Phụ lục 1: Mẫu thiết kế giáo án bài 12: “Nước Văn Lang” - Lịch sử 6 có vận dụng phương pháp kể chuyện
BÀI 12: NƯỚC VĂN LANG Tiết PPCT: 13
- Những điều kiện cơ bản hình thành nhà nước Văn Lang
- Nhà nước Văn lang thành lập như thế nào và được tổ chức ra sao
- Nhà nước Văn Lang tuy còn sơ khai nhưng nó là một tổ chức quản lí đất nước bền vững, đánh dấu giai đoạn mở đầu thời kì dựng nước
- Chuẩn bị các câu chuyện “Sơn Tinh – Thủy Tinh”, “Thánh Gióng”, “Chử Đồng
Tử - Tiên Dung”, “Con Rồng cháu tiên”, “Sự tích quả dưa hấu”, “Sự tích bánh chưng, bánh dầy”
2 Học sinh: đọc và trả lời các câu hỏi trong SGK.
- Chuẩn bị các câu chuyện “Sơn Tinh – Thủy Tinh”, “Thánh Gióng”, “Chử Đồng
Tử - Tiên Dung”, “Con Rồng cháu tiên”, “Sự tích quả dưa hấu”, “Sự tích bánh chưng, bánh dầy” Tóm tắt và nêu ý nghĩa các câu chuyện
C TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP:
1 Kiểm tra kiến thức cũ:
Câu hỏi: Em hãy nêu những nét mới về kinh tế, xã hội của cư dân Lạc Việt?
2 Giảng kiến thức mới:
Trang 12*GTB: Những chuyển biến lớn trong sản xuất và xã hội đã dẫn đến sự kiện
có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người dân Việt Cổ- sự ra đời của nhà nước Văn Lang, mở đầu cho một thời đại mới của dân tộc Để biết được nhà nước Văn Lang được thành lập và tổ chức như thế nào, chúng ta sẽ tìm hiểu Bài 12: “Nước Văn Lang”
Hoạt động 1
GV cho HS quan sát trên lược đồ, giới
thiệu cho HS vùng đồng bằng ven sông
Hồng, sông Cả, sông Mã Đây là khu
vực có người Việt cổ tập trung khá đông
đúc và sớm phát triển (Vận dụng kiến
thức liên môn với môn Địa Lý, giới
thiệu về vùng đồng bằng sông Hồng,
giải thích cho HS với những điều kiện
thuận lợi về đất đai, nguồn nước, vì thế
cư dân từ xưa đã tập hợp ở đây từ rất
sớm Đồng bằng sông Hồng còn được
xem là cái nôi của lịch sử loài người.)
GV: Vào thế kỉ VIII-VII TCN ở vùng
đồng bằng ven các sông lớn thuộc Bắc
Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay có gì thay
đổi?
HS: Vào thế kỉ VIII-VII TCN ở vùng
đồng bằng ven các sông lớn:
- Vùng sông cả (Nghệ An)
- Sông Mã (Thanh Hóa )
- Vùng ven sông Hồng thuộc Bắc Bộ và
Bắc Trung Bộ ngày nay
dần dần hình thành những Bộ lạc lớn có
cùng tiếng nói và phương thức hoạt
động kinh tế làm cho sản xuất ngày càng
phát triển
GV: Trong các chiềng, chạ xuất hiện
hiện tượng gì?
HS: Một số người ….nô tì.
GV: Chính điều đó đã làm cho xã hội
nảy sinh điều gì?
1 Nhà nước Văn Lang ra đời trong hoàn cảnh nào?
- Hình thành những bộ lạc lớn
Trang 13HS: Sự mâu thuẫn giữa người giàu và
người nghèo ngày càng sâu sắc
GV liên hệ chuyện kể “Chử Đồng Tử -
Tiên Dung”
Gọi 1 học sinh kể tóm tắt truyện, sau đó
GV cho HS xem đoạn clip kể chuyện, từ
đó rút ra ý nghĩa phản ánh của câu
chuyện (Phần này được mô tả cụ thể
trong phần phụ lục 2 của đề tài nghiên
cứu này)
Cuối cùng GV chốt: trong xã hội lúc bấy
giờ đã bắt đầu có sự phân chia người
giàu – người nghèo
GV: Việc mở rộng nghề nông trồng lúa
nước ở vùng đồng bằng ven sông lớn có
rất nhiều điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển nghề nông trồng lúa nước như
đất phù sa màu mỡ, đủ nước tưới quanh
năm từ đó cây trồng phát triển tốt cho
năng suất cao, đảm bảo cuộc sống của
người dân Bên cạnh đó cũng có không
ít khó khăn rất lớn làm ảnh hưởng đến
nền sản xuất nông nghiệp và đời sống
của cư dân Lạc Việt
GV: Đó là những khó khăn gì?
HS trả lời theo suy nghĩ
GV: Khó khăn: Lũ lụt thường xuyên xảy
ra, ảnh hưởng đến sản xuất và cuộc sống
(đặt biệt ở sông Hồng)
GV liên hệ truyền thuyết “Sơn Tinh-
Thủy Tinh”
Gọi 1 học sinh kể tóm tắt truyện, sau đó
GV cho HS xem đoạn clip kể chuyện, từ
đó rút ra ý nghĩa phản ánh của câu
chuyện (Phần này được mô tả cụ thể
trong phần phụ lục 2 của đề tài nghiên
cứu này)
GV: Theo em, truyện Sơn Tinh Thủy
Tinh nói lên hoạt động gì của nhân dân
- Mâu thuẫn giữa người giàu và người nghèo ngày càng sâu sắc
Trang 14ta thời đó?
HS: Hoạt động chống lũ lụt, bảo vệ mùa
màng
GV: Bấy giờ đã xảy ra lũ lụt và hằng
năm nhân dân ta phải đắp đất để ngăn
nước chống lũ lụt để bảo vệ mùa màng
và xóm làng Việc làm này một người
không thể nào làm được mà đòi hỏi phải
có sự đoàn kết của nhân dân Lạc Việt
mới có thể tạo ra những con đê ngăn
chặn lụt lội, thiên tai
GV: Để làm được việc này, phải làm
GV: Sự xuất hiện của nhiều loại vũ khí
chứng tỏ điều gì? (Có giặc ngoại xâm và
xung đột giữa các bộ lạc)
GV: câu chuyện nào của nhân dân ta
thời xưa nói về hoạt động chống ngoại
xâm? (Thánh Gióng)
GV liên hệ truyện “Thánh Gióng”
Gọi 1 học sinh kể tóm tắt truyện, sau đó
GV cho HS xem đoạn clip kể chuyện, từ
đó rút ra ý nghĩa phản ánh của câu
chuyện (Phần này được mô tả cụ thể
trong phần phụ lục 2 của đề tài nghiên
cứu này)
GV giảng: Các loại vũ khí thời Đông
Sơn gồm các loại mũi giáo đồng và dao
găm đồng Sự xuất hiện nhiều loại vũ
khí chứng tỏ sự phát triển của nghề săn
bắt Nhưng chủ yếu cho chúng ta thấy
trong xã hội đã có tranh chấp, xung đột
giữa các bộ lạc và giữa người Lạc Việt
với các bộ tộc khác
→ Tự bảo vệ khi có xung đột và xâm
- Nhu cầu trị thủy, bảo vệ mùa màng
Trang 15GV: Để giải quyết các xung đột và
chống ngoại xâm, đòi hỏi cư dân người
Việt cổ phải làm gì?
HS: Cùng nhau đoàn kết, có người chỉ
huy, đứng đầu
GV: Dựa trên những hoàn cảnh phức tạp
đó, Nhà nước Văn Lang ra đời
GV: gọi 1 HS tóm lại những hoàn cảnh
đưa đến sự ra đời của nhà nước Văn
tranh chấp, xung đột hoặc bị giặc bên
ngoài đe dọa
GV: Muốn có an ninh, yên ổn làm ăn,
phải có nhà nước => Sự ra đời của nhà
nước Văn Lang
Hoạt động 2 GV: Bộ lạc Văn Lang sống ở đâu?
HS: Cư trú…hùng mạnh nhất.
GV xác định trên lược đồ:
- Vùng sông Cả (Nghệ An)
- Sông Mã (Thanh Hóa )
- Đặc biệt khu vực Sông Hồng: từ Ba Vì
(Hà Tây) đến Việt Trì (Phú Thọ) nơi Bộ
lạc Văn Lang sinh sống là phát triển hơn
cả, Vì sao? Vì: Ở đây có Làng Cả (Việt
Trì - Phú Thọ) chuyên làm nghề đúc
đồng nên nền kinh tế sớm phát triển hơn
cả, dân cư tập trung đông đúc Nhờ vậy
tù trưởng bộ lạc Văn Lang ở đây được
các tù trưởng ở các vùng khác ở xung
quanh tôn trọng và ủng hộ
- Nhu cầu giải quyết xung đột, chống ngoại xâm
→ Nhà nước Văn Lang ra đời
2 Nước Văn Lang thành lập
Trang 16GV: Dựa vào thế mạnh của mình thủ
lĩnh bộ Lạc Văn Lang đã làm gì?
HS: Đã hợp nhất các bộ lạc khác trong
vùng thành một liên minh Bộ lạc (1
nước) Gọi là nhà nước Văn lang
GV: Nhà nước Văn lang ra đời vào thời
gian nào? Đứng đầu là ai? Đóng đô ở
GV: Truyền thuyết nào phản ánh cội
nguồn dân tộc của ta? (Con rồng cháu
tiên)
GV liên hệ truyền thuyết “Con rồng
cháu tiên”.
Gọi 1 học sinh kể tóm tắt truyện, sau đó
GV cho HS xem đoạn clip kể chuyện, từ
đó rút ra ý nghĩa phản ánh của câu
chuyện (Phần này được mô tả cụ thể
trong phần phụ lục 2 của đề tài nghiên
cứu này)
GV: Sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ
nói lên điều gì?
HS: Nêu theo suy nghĩ của mình.
GV: Truyền thuyết nói về việc 50 người
con theo mẹ Âu Cơ lên Vùng cao đã tôn
thờ người anh Cả lên làm vua, hiệu
Hùng Vương đặt tên nước là Văn Lang
Sự ủng hộ của mọi người và vị trí của
nước Văn Lang ở vùng cao → Đây là
- Vào khoảng thế kỉ VII TCN, thủ lĩnh Văn Lang đã hợp nhất các bộ lạc thành một nước:
+ Đặt tên nước Văn Lang+ Tự xưng là Hùng Vương+ Đóng đô ở Bạch Hạc (Phú Thọ)
Trang 17một cách phản ánh quá trình hình thành
của nhà nước Văn Lang với ý nghĩa đại
diện cho cả cộng đồng các dân tộc trên
đất nước ta
GV mở rộng: Ngoài các câu chuyện kể
nói trên, em hãy cho biết còn có những
câu chuyện nào nói về sự thành lập và tổ
chức của Nhà nước Văn Lang?
GV liên hệ truyền thuyết “Quả dưa
hấu” và “Sự tích bánh chưng, bánh
dầy”.
Gọi 1 học sinh kể tóm tắt truyện, sau đó
GV cho HS xem đoạn clip kể chuyện, từ
đó rút ra ý nghĩa phản ánh của câu
chuyện (Phần này được mô tả cụ thể
trong phần phụ lục 2 của đề tài nghiên
cứu này)
GV: Tất cả các câu chuyện, truyền
thuyết kể trên đều phản ánh sự tồn tại
trong thực tế Nhà nước Văn Lang - Nhà
nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc với
những nét văn hóa mang đậm tính dân
tộc, được lưu truyền đến ngày nay thông
qua các mẫu chuyện lịch sử
Vậy, Nhà nước Văn Lang đã được tổ
chức như thế nào? Chúng ta bước sang
tìm hiểu phần 3.
Hoạt động 3
Thảo luận nhóm:
Dãy 1: Tìm hiểu về sơ đồ và cách tổ
chức của Nhà nước Văn Lang.
Dãy 2: Nhận xét về tổ chức Nhà nước
Văn Lang.
Sau đó, GV sẽ gợi ý các câu hỏi giúp HS
khai thác tư liệu và hoàn thành sơ đồ tổ
chức Nhà nước Văn Lang
-> Nhận xét tổ chức Nhà nước
Các câu hỏi:
? Đứng đầu bộ máy nhà nước ở trung
ương là ai? (Hùng Vương)
3 Nhà nước Văn Lang được tổ chức như thế nào?
Trang 18? Giúp việc cho Hùng Vương là những
ai? Thế nào là Lạc Hầu, Lạc Tướng?
(+ Lạc hầu (Tướng văn): chỉ những
người thuộc tầng lớp quý tộc có chức vụ
cao cấp, giúp vua Hùng trông coi việc
chính sự
+ Lạc tướng (Tướng võ): chỉ những
người thuộc tầng lớp quý tộc, được vua
Hùng cho đứng đầu các Bộ.)
? Khi Hùng Vương lên ngôi đặt tên
nước Văn Lang, chia cả nước làm mấy
bộ?
(Chia nước làm 15 bộ, mỗi bộ gồm
nhiều chiềng chạ, đứng đầu bộ là Lạc
tướng Các bộ đều chịu sự cai quản của
? Giúp việc cho Bồ chính còn có ai?
(Giúp việc cho Bồ chính ở các chiềng
chạ có những người già, có uy tín và đầy
kinh nghiệm.)
GV cho HS xem sơ đồ Nhà nước Văn
Lang hoàn chỉnh và tóm lại (HS ghi bài)
(Sơ đồ được cụ thể hóa trong phần phụ
lục 2 của đề tài nghiên cứu này)
GV trình bày: Nhà nước Văn Lang
được chia làm 3 cấp:
+ Trung ương: do Hùng Vương đứng
đầu có Lạc hầu, Lạc tướng giúp
+ Bộ là cơ quan trung gian giữa trung
ương và địa phương do Lạc tướng đứng
Trang 19(- Vua đứng đầu nắm mọi quyền hành,
cha truyền con nối
- Tổ chức còn đơn giản, chưa có luật
pháp, quân đội nhưng nó là một tổ chức
quản lí đất nước bền vững, đánh dấu giai
đoạn mở đầu thời kì dựng nước.)
GV: Nhà nước Văn Lang chưa có luật
pháp và quân đội Vậy khi có việc xảy ra
hoặc có giặc ngoại xâm thì sẽ làm sao?
GV: Về những việc xảy ra tùy theo việc
đều có người giải quyết nhưng người có
quyền hành cao nhất là Hùng Vương
Khi có chiến tranh sẽ huy động các
thanh niên trai tráng khỏe mạnh trong
các chiềng, chạ tập hợp lại cùng chiến
đấu
GV tóm lại: Nhà nước Văn Lang tuy
đơn giản nhưng đã là tổ chức chính
quyền cai quản đất nước (đã có các cấp
từ trung ương cho đến làng xã, có người
chỉ huy cao nhất và có người chỉ huy
từng bộ phận)
GV: Hùng Vương là người có công
dựng nước, để tưởng nhớ công ơn đó
người dân đã làm gì?
HS: - Lập đền thờ vua Hùng
(H.35/SGK)
- Làm giổ tổ Hùng Vương
- Đặt tên cho các con đường,các
ngôi trường (Trường THPT
chuyên Hùng Vương)
GV: Ngày giỗ tổ Hùng Vương là ngày
nào?
HS: 10/3 âm lịch.
GV yêu cầu HS đọc 2 câu thơ nói về
ngày giỗ tổ Hùng Vương
* Nhận xét:
- Còn đơn giản
- Chưa có luật pháp và quân đội
-> Đánh dấu giai đoạn mở đầu của thời
kì dựng nước
Trang 20HS: “Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng 10 – 3”
GV: Bác Hồ đã căn dặn đều gì nhân dịp
về thăm đền vua Hùng (Phú Thọ)? Cho
biết ý nghĩa của câu nói đó?
HS: “Các vua Hùng đã có công dựng
nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy
nước”.
GV: Vua Hùng là người dựng nên nhà
nước Việt Nam đầu tiên Trách nhiệm
của thế hệ sau, đặc biệt là thế hệ trẻ của
chúng ta, phải ra sức học tập, cống hiến
sức trẻ cho quê hương đất nước, xây
dựng đất nước tươi đẹp, giàu mạnh và
văn minh
* GV tóm lại: Sự ra đời của Nhà nước Văn Lang có ý nghĩa rất quan trọng
đối với người Việt Nam Người Việt Nam đã có một nhà nước riêng do mình thành lập và làm chủ, không còn là những làng bản, chiềng chạ riêng lẻ, không có quan
hệ gì với nhau
3 Củng cố bài giảng: Trò chơi giải ô chữ.
4 Hướng dẫn học tập ở nhà:
- Học bài, Vẽ sơ đồ bộ máy nhà nước vào tập
- Đọc trước Bài 13: “Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Văn lang”
D RÚT KINH NGHIỆM:
………
………
………
…
Ngày 05 Tháng 11 Năm 2015
Trang 21Phụ lục 2: Các câu chuyện được sử dụng trong bài và khai thác kiến thức lịch sử, ý nghĩa của các câu chuyện.
SƠN TINH THỦY TINH
* Truyện kể:
Thuở ấy, vua Hùng Vương thứ 18 có một cô con gái rất xinh Vua muốn chọn chàng rể vừa hiền, vừa tài, nên truyền lệnh mở hội kén rể Trai tráng khắp nơi
nô nức kéo về kinh đô thi tài Đã mấy ngày qua, biết bao nhiêu chàng trai tuấn tú,
võ nghệ tài ba lần lượt ra trổ tài, nhưng vẫn chưa được nhà vua ưng chọn Vua đã hơi thất vọng thì bỗng nhiên có hai người cùng một lúc tiến vào xin thi tài, một người tên là Sơn Tinh, còn người kia tên là Thủy Tinh Vua truyền cho hai người cùng trổ tài Lời vua truyền vừa dứt, Thủy Tinh đã vội ra oai, gây sấm sét đùng đùng, mây tuôn gió nổi, bốn bề nước đổ, trời đất tối tăm Cả một vùng đất rung chuyển, thật là rùng rợn Đến lượt Sơn Tinh liền khoan thai vẫy tay hóa phép dời núi, đổ cây, phá rừng vung đất chống lại trận nước dâng lên của Thủy Tinh Sơn Tinh giơ gậy thần chỉ bốn phương, lập tức cảnh vật trở lại bình thường, trời trong, sông lặng, cây cỏ xanh tươi
Vua Hùng thấy hai người cùng tài giỏi không biết nên gả con gái cho ai Vua ngẫm nghĩ một lúc rồi phán rằng:
Trang 22- Sơn Tinh và Thủy Tinh đều tài giỏi cả Nhưng muốn lấy công chúa thì phải có
lễ vật ra mắt ta! Vậy rạng sáng mai, ai đem của lạ vật quý đến trước, ta sẽ gả con gái cho người ấy!
Tờ mờ sáng hôm sau, Sơn Tinh đã mang lễ vật đến dâng vua, lễ vật của Sơn Tinh có voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao và bao nhiêu vàng bạc, châu báu Vua Hùng giữ lời hẹn gả công chúa cho Sơn Tinh
Thủy Tinh cũng đem ngọc châu, đồi mồi, san hô, bao giống tôm cá quý đến dâng vua Nhưng Thủy Tinh đến chậm quá Sơn Tinh đã rước công chúa về núi mất rồi
Thủy Tinh không lấy được công chúa nổi giận dâng nước lên bao vây núi Suốt ngày đêm, đất trời đen tối, mưa gió mịt mùng, đồng ruộng, đất đai ngập nước.Sơn Tinh bình tĩnh tìm cách chống trả lại Thủy Tinh Nước dâng cao bao nhiêu thì Sơn Tinh lại hóa phép làm cho núi dâng cao lên bấy nhiêu Quân của Sơn Tinh từ trên núi ném đá tới tấp xuống nước làm cho quân lính của Thủy Tinh chết rất nhiều Xác cá, xác ba ba, thuồng luồng… nổi đầy mặt nước
Thủy Tinh đánh mãi vẫn không thắng được Sơn Tinh Cuối cùng Thủy Tinh đành rút nước, lui quân về Tuy vậy Thủy Tinh vẫn không quên được chuyện xưa Hàng năm cứ vào khoảng tháng bảy, tháng tám là Thủy Tinh lại dâng nước lên đánh Sơn Tinh
* Phân tích truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh:
- Chi tiết thể hiện hoạt động chống lũ lụt của nhân dân ta: “Nước dâng cao bao nhiêu, núi cao lên bấy nhiêu” (Đắp đê phòng lũ lụt)
- Chi tiết: “Hàng năm, Thủy Tinh đều mang quân đánh Sơn Tinh”: thể hiện thời gian thường xuyên xảy ra các mùa lũ -> hoạt động đắp đê bảo vệ mùa màng của ông bà ta
- Sơn Tinh: Đây là nhân vật tượng trưng cho khát vọng và khả năng khắc phục thiên tai của nhân dân ta thời xưa
- Thủy Tinh: Đây là nhân vật tượng trưng cho mưa bão, lũ lụt thiên tai uy hiếp cuộc sống của con người
* Ý nghĩa truyện: phản ánh quá trình đoàn kết của nhân dân ta chống lại thiên tai, lũ lụt, bảo vệ mùa màng và sự bình yên cho con người
Trang 23- Giải thích nguyên nhân của hiện tượng lũ lụt hàng năm xảy ra ở đồng bằng Bắc Bộ.
- Thể hiện sức mạnh và ước mơ chiến thắng thiên nhiên của người Việt Cổ
- Suy tôn ca ngợi công lao dựng nước của các vua Hùng
- Xây dựng được những hình tượng nghệ thuật kì ảo mang ý nghĩa tượng trưng và khái quát cao
Trang 24Ngày ấy có giặc Ân kéo vào cướp nước ta Giặc Ân rất hung hăng tàn ác, cầm đầu là một viên tướng tên gọi Ân Vương, hình dung cổ quái dữ tợn Chúng nó
đi đến đâu là đốt phá nhà cửa, giết người cướp của đến đấy Quân đội Hùng Vương nhiều phen xuất trận, nhưng đánh không nổi Vua Hùng lấy làm lo lắng vội phái sứ giả đi khắp nơi trong nước tìm bậc tướng tài để giúp vua cứu nước
Một hôm sứ giả đi đến làng chú bé Gióng Nghe tiếng loa rao nói đến việc nhà vua cầu người tài, bà mẹ Gióng đang ru con, liền bảo đùa con rằng:
- Con ơi! Con của mẹ chậm đi chậm nói là vậy, thì biết bao giờ mới đi đánh giặc giúp vua được đây!
Không ngờ Gióng nhìn mẹ mở miệng bật lên thành tiếng:
- Mẹ cho gọi sứ giả vào đây cho con!