1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lịch sử nhật bản thời kỳ đồ đá cũ nhật bản

5 649 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 113,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những công cụ đá sớm nhất Công cụ đá sớm nhất của người Nhật, rìu và dao đá mài, được tìm thấy tại di chỉ Kamitakamori ở tỉnh Miyagi, có niên đại 500.000 năm TCN, nhưng sau đó phát hiện

Trang 1

Thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản

Thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản (旧石器時代, kyū-sekki-jidai?, “Cựu thạch khí thời đại”) bao trùm thời kỳ khoảng 100.000 đến 30.000 năm trước công nguyên, khi những công cụ bằng

đá sớm nhất được tìm thấy, khoảng 14.000 năm TCN, vào cuối kỷ Băng hà, tương ứng với

sự mỏ đầu của thời kỳ đồ đá giữa Jōmon Thời gian 35.000 năm TCN được phần lớn mọi người chấp nhân: mọi niên đại của sự hiện diện con người trên đảo quốc này trước

30.000-35.000 năm TCN đều vẫn còn bàn cãi, với các đồ tạo tác ủng hộ cho sự hiện diện con người trước năm 35.000 TCN về mặt khảo cổ học vẫn còn bị nghi ngờ về tính xác thực

Những công cụ đá sớm nhất

Công cụ đá sớm nhất của người Nhật, rìu và dao đá mài, được tìm thấy tại di chỉ

Kamitakamori ở tỉnh Miyagi, có niên đại 500.000 năm TCN, nhưng sau đó phát hiện ra rằng đây là sự giả mạo của Fujimura Shinichi.[4] Tuy vậy, phần lớn phát hiện về sơ kỳ đồ đá Nhật Bản bắt đầu sau năm 35.000 TCN, khiến cho niên đại này được phần lớn chấp nhận như là thời gian con người đã tiến ra Nhật Bản

Trang 2

Nhật Bản ở thời kỳ băng hà cuối cùng hậu kỳ thế Pleitoxen khoảng 20.000 năm trước Màu vàng: vùng đất trên mực nước biển

Màu đen: thực vật không mọc được

Màu xanh: biển

Viền đen thể hiện Nhật Bản ngày nay

Xương người sớm nhất được phát hiện ở Hamamatsu, Shizuoka Phương pháp phóng xạ carbon đã cho thấy hóa thạch này có niên đại 14.000-18.000 năm tuổi

Đá móng và công cụ được mài nhẵn

Trang 3

Công cụ đá được mài nhẵn hay rìu di chỉ Hinatabayashi B, Shinanomachi, Nagano Thời kì tiền Jōmon (thời kỳ đồ đá), 30.000 năm TCN Bảo tàng Quốc gia Tokyo.

Thời kỳ đò đá Nhật Bạn cũng có sự độc đáo là sự xuất hiện của các đá móng và công cụ được mài nhẵn sớm nhất trên thế giới,[5] niên đại khoảng 30.000 năm TCN, một công nghệ đặc trưng gắn với sự mở đầu của thời kỳ đồ đá mới, khoảng 10.000 năm TCN, trên phần còn lại của thế giới Không rõ tại sao những công cụ như thế này lại được làm ra sớm đến thế ở Nhật Bản, mặc dù thời kỳ này gắn với sự ấm lên toàn cầu (cách nay 30.000-20.000 năm), và các hòn đảo có lẽ đã hưởng lợi từ nó

Vì sự độc đáo này, thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản không hoàn toàn phù hợp với định nghĩa theo truyền thống về thời kỳ đồ đá cũ dựa trên công nghệ chế tác đá (công cụ đá mài) Các công cụ thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản do đó thể hiện những đặc điểm tiêu biểu của thời kỳ đồ

đá giữa và thời kỳ đồ đá mới từ những năm 30.000 TCN

Cổ nhân chủng học

Dân cư thời kỳ đồ đá cũ ở Nhật Bản, cũng như dân cư thời Jōmon sau này, có liên quan

Trang 4

đến các nhóm người Châu Á cổ sinh sống trên những phần rộng lớn của châu Á sau sự gia tăng dân số cấu thành bộ phần người ngày nay là người Trung Quốc, Triều Tiên, và Nhật Bản [cần chú thích]

Các đặc điểm tiêu biểu của xương có rất nhiều điểm tương đồng giữa những nhóm người bản địa trên lục địa Châu Á Cấu trúc răng thuộc về nhóm Sundadont, chủ yếu phân bố trong dân cư cổ ở Đông Nam Á (noiw dân cư hiện nay thuộc về nhóm Sinodont) Đặc điểm hộp sọ có xu hướng khỏe hơn, với đôi mắt sâu

Dân cư bản địa người Ainu, ngày nay phần lớn bị giam hãm trên hòn đảo phía Bắc

Hokkaidō, có lẽ là hậu duệ của dân cư thời đồ đá cũ, và thể hiện các đặc điểm trong quá khứ được chỉ rõ bởi chủng Caucasoid, nhưng ngày nay có khuynh hướng nói chung coi họ

là một phần của nhóm người sơ kỳ đồ đá cũ

Phân tích gen dân cư ngày nay không hoàn toàn rõ ràng và có xu hướng thể hiện sự pha trộn gene giữa dân cư tối cổ Nhật Bản với những người mới đến (Cavalli-Sforza) Ước tính rằng 10 đến 20% gene chủ yếu của người Nhật hiện nay nhận được từ người bản địa cổ đại thời kỳ đồ đá cũ-Jōmon, với phần còn lại đến từ những người nhập cư từ lục địa, đặc biệt là trong thời kỳ Yayoi

Khảo cổ học về thời kỳ đồ đá cũ

Nghiên cứu về thời kỳ đồ đá cũ ở Nhật Bản không bắt đầu cho đến khá gần đây: di chỉ đồ

đá cũ đầu tiên được phát hiện ngay sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ II Do những giả định trước đó rằng con người không sống ở Nhật Bản trước thời Jōmon period, các hố khai quật thường chỉ dừng lại ở các vỉa đất thời Jōmon (14,000 năm TCN), và không được tiến hành xa hơn Tuy vậy, từ khi phát hiện đầu tiên về thời kỳ đồ đá cũ, khoảng 5.000 di chỉ đồ đá cũ đã được phát hiện, một số trong số đó tại những di chỉ khảo cổ thời Jōmon Nghiên cứu về thời kỳ đồ đá cũ Nhật Bản được mô tả từ số lượng thông tin lớn của địa tầng học vì hoạt động tự nhiên của núi lửa ở hòn đảo này: các vụ phun trào lớn có xu hướng bao phủ các hòn đảo với các lớp bụi núi lửa, có thể dễ dàng xác định ngày tháng và

có thể được tìm thấy trên khắp đất nước làm dữ liệu tham khảo Một tầng đất quan trọng như thế là đá bọt AT (Aira-Tanzawa), bao phủ toàn bộ Nhật Bản khoảng 21.000-22.000 năm

Năm 2000, danh tiếng của ngành khảo cổ học Nhật Bản về thời kỳ đồ đá cũ bị tổn hại nặng

nề vì một vụ scandal Tờ Mainichi Shimbun phanh phui chuyện các bức ảnh theo đó

Shinichi Fujimura, một nhà khảo cổ học nghiệp dư tại tỉnh Miyagi, là những đồ tạo tác sắp đặt trước tại di chỉ Kamitakamori, nơi hắn "tìm thấy" các đồ tạo tác ngày hôm sau Hắn thừa nhân sự bịa đặt trong một cuộc phỏng vấn trên một tờ báo Viện Khảo cổ học Nhật Bản hủy bỏ tư cách thành viên của Fujimura Một đội điều tra đặc biệt của Hội khám phá ra rằng gần như mọi đồ tạo tác mà hắn đã tìm ra đều là đồ giả

Kể từ khi vụ giả mạo bị khám phá, chỉ một vài di chỉ có thể phỏng đoán rằng có hoạt động của con người ở Nhật Bản từ 40.000-50.000 năm TCN, và ngày tháng đầu tiên được chấp

Trang 5

nhận rộng rãi về sự hiện diện của con người trên hòn đảo này có thể tin được là 35.000 năm TCN

Ngày đăng: 21/09/2016, 10:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w