1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG LUẬT AN SINH XÃ HỘI

47 3,1K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luật An Sinh Xã Hội Trong Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật An Sinh Xã Hội
Thể loại Đề Cương
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 50,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I. LUẬT AN SINH XÃ HỘI TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM I. KHÁI NIỆM LUẬT AN SINH XÃ HỘI 1. Đối tượng điều chỉnh của luật an sinh xã hội Luật an sinh xã hội với tư cách là một ngành luật có đối tượng điều chỉnh là những quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực an sinh xã hội. 1.1. An sinh xã hội Bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội, an toàn xã hội, an ninh xã hội, an sinh xã hội...là những thuật ngữ có ý nghĩa rộng hẹp khác nhau tùy theo nguồn gốc phát sinh hoặc từng nơi từng lúc vận dụng. Tuy nhiên nếu xét về mục đích chung thì chúng đều nhằm trợ giúp cho con người – những thành viên của xã hội, trong những trường hợp rủi ro, hiểm nghèo mà bản thân họ không tự giải quyết được. Thông qua sự trợ giúp cả về vật chất và tinh thần mà những khó khăn, bất hạnh của con người được khắc phục hoặc giảm thiểu, từ đó góp phần làm cho xã hội tồn tại và phát triển trong thế ổn định và bền vững. 1.2. Những quan hệ xã hội là đối tượng của luật an sinh xã hội Việt Nam Đối tượng của luật an sinh xã hội là các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực an sinh xã hội. Theo nghĩa rộng, an sinh xã hội bao trùm lên nhiều mặt cuộc sống của con người. Đó là các quan hệ hình thành trong lĩnh vực nhằm ổn định đời sống, nâng cao chất lượng sống của các thành viên xã hội, góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội. Theo nghĩa này, an sinh xã hội có thể bao gồm các nhóm quan hệ sau: Nhóm quan hệ trong lĩnh vực giải quyết việc làm, chống thất nghiệp; Nhóm quan hệ trong lĩnh vực chăm sóc y tế, bảo vệ sức khỏe nhân dân; Nhóm quan hệ trong lĩnh vực dân số, kế hoạch hóa gia đình; Nhóm quan hệ trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội; Nhóm quan hệ trong lĩnh vực cứu trợ xã hội; Nhóm quan hệ trong lĩnh vực ưu đãi xã hội; Nhóm quan hệ trong lĩnh vực môi trường... Theo nghĩa hẹp, an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình, bao gồm các nhóm quan hệ sau: Nhóm các quan hệ bảo hiểm xã hội; Nhóm các quan hệ cứu trợ xã hội; Nhóm các quan hệ ưu đãi xã hội. à Đây chính là các nhóm quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh chủ yếu của luật an sinh xã hội Việt Nam. Xem xét cụ thể: a) Nhóm thứ nhất: Quan hệ bảo hiểm xã hội Quan hệ bảo hiểm xã hội là tổng hợp các quan hệ kinh tế xã hội hình thành trong lĩnh vực bảo đảm trợ cấp cho người lao động trong trường hợp họ gặp những rủi ro trong quá trình lao động khiến khả năng lao động giảm sút hoặc khi già yếu không còn khả năng lao động. (Theo ILO thì bảo hiểm xã hội là trụ cột chính hoặc cơ chế chính trong an sinh xã hội). Đặc trưng của quan hệ bảo hiểm xã hội: Đối tượng hưởng bảo hiểm: Chủ yếu áp dụng đối với người lao động hiểu theo nghĩa rộng. Đó có thể là công chức, cán bộ nhà nước “làm công ăn lương’’ người lao động ở các khu vực kinh tế khác và những người phục vụ trong lực lượng vũ trang. Hình thức bảo hiểm: Thường có hai loại là bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện. Với hình thức bảo hiểm bắt buộc thì mức độ đóng góp và các chế độ được hưởng được quy định cụ thể trong văn bản pháp luật. Còn với hình thức bảo hiểm tự nguyện thì pháp luật để cho người tham gia bảo hiểm tự lựa chọn mức đóng góp và chế độ hưởng. Nguồn trợ cấp bảo hiểm: Do “các bên” tham gia bảo hiểm đóng góp, chủ yếu là ba bên: người lao động, người sử dụng lao động, sự hỗ trợ của Nhà nước. Từ sự đóng góp của các bên tham gia mà bảo hiểm theo một tỷ lệ quy định mà hình thành nên quỹ bảo hiểm xã hội, là quỹ tiền tệ tập trung, do cơ quan chức năng quản lý thống nhất theo chế độ tài chính, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ. Mức trợ cấp bảo hiểm: Chủ yếu căn cứ vào mức độ đóng góp của người lao động vào quỹ bảo hiểm xã hội nhiều hay ít và mức độ rủi ro, thương tật của người lao động ít hay nhiều. Về cơ bản, mức bảo hiểm được quán triệt theo nguyên tắc “phân phối theo lao động’’ tuy nhiên trong một số trường hợp còn vận dụng cả nguyên tắc trương trợ “lấy số đông bù số ít’’. Chế độ hưởng và thời gian hưởng bảo hiểm: Bao gồm các chế độ trợ cấp như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bênh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất và t hất nghiệp. Thời gian hưởng trợ cấp thường là ổn định và lâu dài. Phân loại quan hệ bảo hiểm: Quan hệ trong việc tạo lập quỹ bảo hiểm xã hội (nguồn trợ cấp) Quan hệ trong việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội (chi trả các khoán trợ cấp) b) Nhóm thứ hai: Quan hệ cứu trợ xã hội Cứu trợ xã hội bao gồm tổng hợp các hình thức và biện pháp khác nhau nhằm trợ giúp các đối tượng thiệt thòi yếu thế hoặc bị hẫng hụt trong cuộc sống mà bản thân họ không có đủ khả năng tự lo liệu, giải quyết được. Thông qua sự trợ giúp mà tạo cho họ điều kiện tồn tại và cơ hội hòa nhập với cộng đồng, từ đó góp phần đảm bảo ổn định và công bằng xã hội. Người cứu trợ là người có trách nhiệm hoặc là người có khả năng cứu trợ. Đó có thể là Nhà nước, cộng đồng nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế. Người được cứu trợ là những cá nhân công dân thực sự có nhu cầu cứu trợ, do đang gặp nhũng hoàn cảnh rủi ro bất hạnh. Đặc trưng của quan hệ cứu trợ xã hội: Đối tượng cứu trợ: Công dân nói chung đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn về vật chất và tinh thần. Đó cỏ thể là người có quan hệ lao động hoặc không có quan hệ lao động, có thể là người già hoặc trẻ em, người tàn tật, người lang thang, người mắc các chứng bệnh xã hội... Hình thức cứu trợ: Chủ yếu gồm hai hình thức là cứu trợ thường xuyên và cứu trợ đột xuất. + Cứu trợ thường xuyên áp dụng đối với những người hoàn toàn không thể tự lo được cuộc sống trong một thời gian dài, hoặc trong suốt cả cuộc đời của họ. + Cứu trợ đột xuất áp dụng đối với những người không may bị thiên tai mất mùa, hoặc gặp những biến cố bất thường mà không có nguồn sinh sống tức thời. Nguồn cứu trợ: Chủ yếu từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn ủng hộ của nhân dân và cộng đồng quốc tế. Người thụ hưởng không phải đóng góp bất kỳ một khoản nào vào quỹ cứu trợ. Mức trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp: Mức trợ cấp, thời gian hưởng trợ cấp căn cứ chủ yếu vào mức độ khó khăn của người được cứu trợ và vào nguồn cứu trợ. Ngoài trợ cấp bằng tiền còn có thể trợ cấp bằng hiện vật. c) Nhóm thứ ba: Quan hệ ưu đãi xã hội Ưu đãi xã hội (social privilege) là sự đãi ngộ về vật chất và tinh thần đối với những người có công với nước, với dân, với cách mạng (và thành viên của gia đình) nhằm ghi nhận những công lao đóng góp, hy sinh cao cả của họ. Trong hệ thống an sinh xã hội VN, ưu đãi xã hội có vị trí to lớn và đặc biệt. Nó có vị trí to lớn do đặc điểm lịch sử chiến tranh gian khổ của đất nước, số lượng những thương binh liệt sĩ, người có công với cách mạng là khá lớn. Nó đặc biệt vì ưu đãi xã hội trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật về an sinh xã hội là một nét đặc thù của pháp luật an sinh xã hội VN, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước VN, nói lên đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây. + Người ưu đãi thường là nhà nước, đại diện và thay mặt cho quốc gia có trách nhiệm đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công. Ngoài ra người ưu đãi còn bao gồm các tổ chức, cộng đồng nhân dân trong nước cũng như nước ngoài. + Người được ưu đãi là những cá nhân đã có những cống hiến, hy sinh trong sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong một số trường hợp còn có thể là thân nhân của người có công. Đặc trưng của quan hệ ưu đãi xã hội: Đối tượng ưu đãi: Những người có công với cách mạng và thân nhân của họ, bao gồm: người hoạt động cách mạng trước tháng Tám năm 1945; liệt sỹ và gia đình liệt sỹ; Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng lao động, thương binh, bệnh binh… Nguồn trợ cấp ưu đãi: Chủ yếu do ngân sách nhà nước cấp, ngoài ra còn được huy động từ các nguồn đóng góp của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong nước và ngoài nước. Chế độ ưu đãi: Bao gồm các chế độ trong các lĩnh vực khác nhau như: ý tế, giáo dục đào tạo, lao động, việc làm, trợ cấp trong đời sống sinh hoạt... Mức trợ cấp ưu đãi và thời gian hưởng: Mức trợ cấp căn cứ vào thời gian và mức độ cống hiến, hy sinh của người có công. (Ít nhất bằng mức sống trung bình của người dân ở nơi họ cư trú). Thời gian trợ cấp tương đối ổn định lâu dài. 2. Phương pháp điều chỉnh của Luật an sinh xã hội

Trang 1

CHƯƠNG I LUẬT AN SINH XÃ HỘI TRONG HỆ THỐNG PHÁP

LUẬT VIỆT NAM

I KHÁI NIỆM LUẬT AN SINH XÃ HỘI

1 Đối tượng điều chỉnh của luật an sinh xã hội

Luật an sinh xã hội với tư cách là một ngành luật có đối tượng điều chỉnh là những quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực an sinh xã hội

1.1 An sinh xã hội

Bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội, an toàn xã hội, an ninh xã hội, an sinh xã hội là những thuật ngữ có ý nghĩa rộng hẹp khác nhau tùy theo nguồn gốc phát sinh hoặc từng nơi từng lúc vận dụng Tuy nhiên nếu xét về mục đích chung thì chúng đều nhằm trợ giúp cho con người – những thành viên của xã hội, trong

những trường hợp rủi ro, hiểm nghèo mà bản thân họ không tự giải quyết được Thông qua sự trợ giúp cả về vật chất và tinh thần mà những khó khăn, bất hạnh của con người được khắc phục hoặc giảm thiểu, từ đó góp phần làm cho xã hội tồn tại

và phát triển trong thế ổn định và bền vững

1.2 Những quan hệ xã hội là đối tượng của luật an sinh xã hội Việt Nam

Đối tượng của luật an sinh xã hội là các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực an sinh xã hội

* Theo nghĩa rộng, an sinh xã hội bao trùm lên nhiều mặt cuộc sống của con người

Đó là các quan hệ hình thành trong lĩnh vực nhằm ổn định đời sống, nâng cao chất

Trang 2

lượng sống của các thành viên xã hội, góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội Theo nghĩa này, an sinh xã hội có thể bao gồm các nhóm quan hệ sau:

- Nhóm quan hệ trong lĩnh vực giải quyết việc làm, chống thất nghiệp;

- Nhóm quan hệ trong lĩnh vực chăm sóc y tế, bảo vệ sức khỏe nhân dân;

- Nhóm quan hệ trong lĩnh vực dân số, kế hoạch hóa gia đình;

- Nhóm quan hệ trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội;

- Nhóm quan hệ trong lĩnh vực cứu trợ xã hội;

- Nhóm quan hệ trong lĩnh vực ưu đãi xã hội;

- Nhóm quan hệ trong lĩnh vực môi trường

* Theo nghĩa hẹp, an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình, bao gồm các nhóm quan hệ sau:

- Nhóm các quan hệ bảo hiểm xã hội;

- Nhóm các quan hệ cứu trợ xã hội;

- Nhóm các quan hệ ưu đãi xã hội

à Đây chính là các nhóm quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh chủ yếu của luật an sinh xã hội Việt Nam Xem xét cụ thể:

a) Nhóm thứ nhất: Quan hệ bảo hiểm xã hội

Quan hệ bảo hiểm xã hội là tổng hợp các quan hệ kinh tế - xã hội hình thành trong lĩnh vực bảo đảm trợ cấp cho người lao động trong trường hợp họ gặp những rủi ro trong quá trình lao động khiến khả năng lao động giảm sút hoặc khi già yếu không còn khả năng lao động (Theo ILO thì bảo hiểm xã hội là trụ cột chính hoặc cơ chế chính trong an sinh xã hội)

Trang 3

Đặc trưng của quan hệ bảo hiểm xã hội:

- Đối tượng hưởng bảo hiểm: Chủ yếu áp dụng đối với người lao động hiểu theo nghĩa rộng Đó có thể là công chức, cán bộ nhà nước “làm công ăn lương’’ người lao động ở các khu vực kinh tế khác và những người phục vụ trong lực lượng vũ trang

- Hình thức bảo hiểm: Thường có hai loại là bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm

tự nguyện Với hình thức bảo hiểm bắt buộc thì mức độ đóng góp và các chế độ được hưởng được quy định cụ thể trong văn bản pháp luật Còn với hình thức bảo hiểm tự nguyện thì pháp luật để cho người tham gia bảo hiểm tự lựa chọn mức đóng góp và chế độ hưởng

- Nguồn trợ cấp bảo hiểm: Do “các bên” tham gia bảo hiểm đóng góp, chủ yếu là

ba bên: người lao động, người sử dụng lao động, sự hỗ trợ của Nhà nước Từ sự đóng góp của các bên tham gia mà bảo hiểm theo một tỷ lệ quy định mà hình thành nên quỹ bảo hiểm xã hội, là quỹ tiền tệ tập trung, do cơ quan chức năng quản lý thống nhất theo chế độ tài chính, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ

- Mức trợ cấp bảo hiểm: Chủ yếu căn cứ vào mức độ đóng góp của người lao động vào quỹ bảo hiểm xã hội nhiều hay ít và mức độ rủi ro, thương tật của người lao động ít hay nhiều Về cơ bản, mức bảo hiểm được quán triệt theo nguyên tắc “phân phối theo lao động’’ tuy nhiên trong một số trường hợp còn vận dụng cả nguyên tắc trương trợ “lấy số đông bù số ít’’

- Chế độ hưởng và thời gian hưởng bảo hiểm: Bao gồm các chế độ trợ cấp như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bênh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất và t hất nghiệp Thời gian hưởng trợ cấp thường là ổn định và lâu dài

Phân loại quan hệ bảo hiểm:

Trang 4

- Quan hệ trong việc tạo lập quỹ bảo hiểm xã hội (nguồn trợ cấp)

- Quan hệ trong việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội (chi trả các

khoán trợ cấp)

b) Nhóm thứ hai: Quan hệ cứu trợ xã hội

Cứu trợ xã hội bao gồm tổng hợp các hình thức và biện pháp khác nhau nhằm trợ giúp các đối tượng thiệt thòi yếu thế hoặc bị hẫng hụt trong cuộc sống mà bản thân họ không có đủ khả năng tự lo liệu, giải quyết được Thông qua sự trợ giúp mà tạo cho họ điều kiện tồn tại và cơ hội hòa nhập với cộng đồng, từ đó góp phần đảm bảo ổn định và công bằng xã hội Người cứu trợ là người có trách nhiệm hoặc là người có khả năng cứu trợ Đó có thể là Nhà nước, cộng đồng nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế Người được cứu trợ là những cá nhân công dân thực sự có nhu cầu cứu trợ, do đang gặp nhũng hoàn cảnh rủi ro bất hạnh

Đặc trưng của quan hệ cứu trợ xã hội:

- Đối tượng cứu trợ: Công dân nói chung đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn

về vật chất và tinh thần Đó cỏ thể là người có quan hệ lao động hoặc không có quan hệ lao động, có thể là người già hoặc trẻ em, người tàn tật, người lang thang, người mắc các chứng bệnh xã hội

- Hình thức cứu trợ: Chủ yếu gồm hai hình thức là cứu trợ thường xuyên và cứu trợ đột xuất

+ Cứu trợ thường xuyên áp dụng đối với những người hoàn toàn không thể

tự lo được cuộc sống trong một thời gian dài, hoặc trong suốt cả cuộc đời của họ

+ Cứu trợ đột xuất áp dụng đối với những người không may bị thiên tai mất mùa, hoặc gặp những biến cố bất thường mà không có nguồn sinh sống tức thời

Trang 5

- Nguồn cứu trợ: Chủ yếu từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn ủng hộ của nhân dân và cộng đồng quốc tế Người thụ hưởng không phải đóng góp bất kỳ một khoản nào vào quỹ cứu trợ.

- Mức trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp: Mức trợ cấp, thời gian hưởng trợ cấp căn cứ chủ yếu vào mức độ khó khăn của người được cứu trợ và vào nguồn cứu trợ Ngoài trợ cấp bằng tiền còn có thể trợ cấp bằng hiện vật

c) Nhóm thứ ba: Quan hệ ưu đãi xã hội

Ưu đãi xã hội (social privilege) là sự đãi ngộ về vật chất và tinh thần đối với những người có công với nước, với dân, với cách mạng (và thành viên của gia đình) nhằm ghi nhận những công lao đóng góp, hy sinh cao cả của họ Trong hệ thống an sinh xã hội VN, ưu đãi xã hội có vị trí to lớn và đặc biệt Nó có vị trí to lớn do đặc điểm lịch sử chiến tranh gian khổ của đất nước, số lượng những thương binh liệt sĩ, người có công với cách mạng là khá lớn Nó đặc biệt vì ưu đãi xã hội trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật về an sinh xã hội là một nét đặc thù của pháp luật an sinh xã hội VN, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước

VN, nói lên đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây

+ Người ưu đãi thường là nhà nước, đại diện và thay mặt cho quốc gia có trách nhiệm đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công Ngoài ra người ưu đãi còn bao gồm các tổ chức, cộng đồng nhân dân trong nước cũng như nước ngoài

+ Người được ưu đãi là những cá nhân đã có những cống hiến, hy sinh trong sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong một số trường hợp còn có thể là thân nhân của người có công

Đặc trưng của quan hệ ưu đãi xã hội:

Trang 6

- Đối tượng ưu đãi: Những người có công với cách mạng và thân nhân của

họ, bao gồm: người hoạt động cách mạng trước tháng Tám năm 1945; liệt sỹ và gia đình liệt sỹ; Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng lao động, thương binh, bệnh binh…

- Nguồn trợ cấp ưu đãi: Chủ yếu do ngân sách nhà nước cấp, ngoài ra còn được huy động từ các nguồn đóng góp của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong nước và ngoài nước

- Chế độ ưu đãi: Bao gồm các chế độ trong các lĩnh vực khác nhau như: ý

tế, giáo dục đào tạo, lao động, việc làm, trợ cấp trong đời sống sinh hoạt

- Mức trợ cấp ưu đãi và thời gian hưởng: Mức trợ cấp căn cứ vào thời gian

và mức độ cống hiến, hy sinh của người có công (Ít nhất bằng mức sống trung bình của người dân ở nơi họ cư trú) Thời gian trợ cấp tương đối ổn định lâu dài

2 Phương pháp điều chỉnh của Luật an sinh xã hội

Có hai phương pháp chủ yếu là phương pháp mệnh lệnh và phương pháp tùy nghi

2.1 Phương pháp mệnh lệnh

Phương pháp mệnh lệnh thể hiện ở việc sử dụng “quyền uy’’ và “phục

tùng’’ Cơ sở của phương pháp mệnh lệnh, trước hết nằm ngay trong chức năng xã hội của Nhà nước Là người đại diện thay mặt cho toàn xã hội, Nhà nước đứng ra

tổ chức, quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có vấn đề an sinh xã hội Bằng công cụ pháp luật, Nhà nước biến các chính sách xã hội của mình thành các quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên tham gia và bảo đảm thực hiện chúng Muốn vậy, Nhà nước không thể không sử dụng quyền uy Thêm nữa, cơ sở của phương pháp mệnh lệnh cũng nằm chính trong tính chất, đặc điểm của các quan hệ

an sinh xã hội, thường là trợ giúp và đền đáp, muốn thực hiện có hiệu quả điều này

Trang 7

thì người đảm trách phải có khả năng, nguồn lực đủ mạnh Trong xã hội, chỉ có Nhà nước – người đại diện, người nắm quyền lực cao nhất đồng thời là chủ sở hữu cao nhất mới có được khả năng đó.

Quyền uy thể hiện rõ ràng ở những quy phạm cứng như việc quy định hình thức bảo hiểm xã hội bắt buộc

Bằng hệ thống pháp luật và thông qua các cơ quan chức năng của mình, Nhà nước thể hiện như là người đảm nhiệm chính những trách nhiệm xã hội Tuy nhiên việc sử dụng quyền uy và phục tùng trong luật an sinh xã hội “ mềm’’ hơn trong ngành luật hành chính, nghĩa là trong an sinh xã hội nó chỉ được sử dụng trong những lĩnh vực, những mối quan hệ cần thiết và được kết hợp với các hoạt động của các tổ chức đại diện của những đối tượng được trợ giúp hoặc được đền đáp như Công đoàn, hội chữ thập đỏ, hội cựu chiến binh

2.2 Phương pháp tùy nghi

Phương pháp tùy nghi thể hiện ở chỗ Nhà nước để cho các bên tham gia quan hệ tự lựa chọn cách thức xử sự của mình miễn sao không trái với các quy định cứng ( xử sự bắt buộc) Cơ sở của phương pháp này trước hết nằm ngay trong tính chất, đặc điểm của các quan hệ là đối tượng điều chỉnh của luật an sinh xã hội,

đó là sự “trợ giúp’’ và “đền đáp’’ (chủ yếu là bằng tiền và hiện vật) mà sự trợ giúp đền đáp bên cạnh trách nhiệm của Nhà nước còn là sự tùy tâm của cá nhân hoặc tùy thuộc vào khả năng của cộng đồng cũng như của chính Nhà nước

Phương pháp tùy nghi thường được thể hiện trong các quy phạm “mềm’’ chẳng han loại hình bảo hiểm tự nguyện trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội

II CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT AN SINH XÃ HỘI

1 Mọi thành viên trong xã hội đều có quyền được hưởng an sinh xã hội

Trang 8

Được bảo đảm về an sinh xã hội là quyền quan trọng trong lĩnh vực rộng lớn các quyền của con người Trong phạm vi một quốc gia, được bảo đảm an sinh

xã hội cũng là một trong những quyền cơ bản của công dân, với các mức độ khác nhau, được hầu hết hiến pháp các nước ghi nhận Ở nước ta, quyền an sinh xã hội được đề cập tại nhiều điều của Hiến pháp 1992 (sửa đổi), cụ thể như về bảo hiểm

xã hội (điều 59), về ưu đãi xã hội, cứu trợ xã hội (điều 67)

Được hưởng an sinh xã hội là quyền của công dân và được thực hiện bình đẳng giữa các thành viên xã hội là một nguyên tắc quan trọng Tuy nhiên để được hưởng một chế độ trợ giúp cụ thể nào đó thì đối tượng được trợ giúp phải thỏa mãn những điều kiện nhất định

2 Nhà nước thống nhất quản lý vấn đề an sinh xã hội

Cơ sở của nguyên tắc này nằm ngay chính ở chức năng xã hội của Nhà nước Sự thống nhất quản lý an sinh xã hội thể hiện ở chỗ, trước hết Nhà nước định

ra các chính sách xã hội, cùng với các chính sách kinh tế, chính sách văn hóa, an ninh quốc phòng Đồng thời Nhà nước ban hành hệ thống pháp luật an sinh xã hội nhằm thể chế hóa các chính sách xã hội ấy Nhà nước thành lập hệ thống các cơ quan chức năng về an sinh xã hội cũng như kiểm tra việc tổ chức, thực hiện các chính sách, chế độ an sinh xã hội của các cơ quan này

Nhà nước còn trực tiếp đóng góp hoặc hỗ trợ vào nguồn thực hiện các chế

độ an sinh xã hội

Tuy nhiên, nguyên tắc này không có nghĩa là hoàn toàn loại trừ sự tham gia quản lý của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức, đoàn thể xã hội mà tùy theo vị trí chức năng nhiệm vụ của từng tổ chức mà pháp luật trao cho họ một số quyền và cả trách nhiệm tương ứng trong việc tham gia tổ chức, quản lý một số mặt hoạt động thuộc an sinh xã hội

Trang 9

3 Kết hợp hài hòa chính sách kinh tế và chính sách xã hội

Nguyên tắc này xuất phát từ quan niệm “con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của chính sách xã hội’’ của Nhà nước ta Mục tiêu của chính sách xã hội

là nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người Trong khi đó, nguồn lực con người lại được xác định là “yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững’’ Đến lượt nó, phát triển kinh tế lại đóng vai trò

là cơ sở, là tiền đề để thực hiện chính sách xã hội Do vậy, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa – xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến

bộ xã hội là một chủ trương có tầm chiến lược của Nhà nước ta

Có thể nói, không ngành luật nào trong hệ thống pháp luật Việt Nam mà nguyên tắc này lại thể hiện một cách rõ ràng và xuyên suốt như trong luật an sinh

Nguyên tắc “hưởng thụ theo đóng góp’’ trong luật an sinh xã hội chính là sự

cụ thể hóa nguyên tắc “công bằng xã hội’’ – nguyên tắc bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống Nguyên tắc này thường được áp dụng trong việc thực hiện trợ cấp bảo hiểm xã hội đối với người lao động, cũng như trong chế độ ưu đãi người

có công Ở đây, mức trợ cấp cho các đối tượng căn cứ chủ yếu vào mức độ, thời gian đóng góp của họ vào quỹ trợ cấp (đối với bảo hiểm xã hội) hoặc mức độ, thời gian cống hiến, hy sinh của họ (đối với ưu đãi xã hội)

Trang 10

Nguyên tắc “lấy số đông bù số ít’’ thể hiện tính nhân đạo xã hội Nguyên tắc này thường chủ yếu được áp dụng trong các chế độ bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội Tinh thần cơ bản của nguyên tắc “lấy số đong bù số ít’’ là ở chỗ, bằng sự đóng góp, trợ giúp của nhiều người sẽ hạn chế, giảm thiểu khó khăn, bất hạnh cho một thiểu

số người Những đối tượng gặp rủi ro không phải đóng góp gì và được trợ giúp căn

cứ chủ yếu vào hoàn cảnh, mức độ khó khăn, hiểm nghèo của từng trường hợp

Tuy nhiên cũng không nên hiểu sự kết hợp hài hòa trong nguyên tắc này một cách máy móc như nhau ở mọi nơi mọi lúc Tùy thuộc vào từng mặt của các mỗi quan hệ, hoặc từng khâu của mỗi chế độ, thậm chí từng loại đối tượng của an sinh xã hội mà có sự áp dụng cho linh hoạt và phù hợp

5 Đa dạng hóa, xã hội hóa các hoạt động an sinh xã hội

Các nguyên nhân gây ra rủi ro rất nhiều nên nhu cầu an sinh của các thành viên trong xã hội cũng rất đa dạng Vì vậy, để đáp ứng được các nhu cầu ấy, các hoạt động an sinh xã hội cũng phải được đa dạng hóa Nghĩa là cần đảm bảo sao cho các chế độ an sinh xã hội phải thực sự là “tấm lá chăn’’ là “lưới an toàn’’ của

xã hội Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng dù sao các chế độ trợ giúp, các mức trợ cấp cũng phải trên cơ sở nhu cầu thực tế và không thể thoát ly được khả năng và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn

III VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA LUẬT AN SINH XÃ HỘI

- Luật an sinh xã hội là cơ sở pháp lý quan trọng để người dân thực hiện quyền được hưởng an sinh xã hội;

- Luật an sinh xã hội là công cụ hữu hiệu để Nhà nước thực hiện chính sách

xã hội và quản lý an sinh xã hội;

Trang 11

- Luật an sinh xã hội góp phần phát triển xã hội ổn định bền vững, thúc đẩy

sự công bằng và tiến bộ xã hội;

- Luật an sinh xã hội là ngành luật có ý nghĩa nhân văn sâu sắc

CHƯƠNG 2: QUAN HỆ PHÁP LUẬT ASXH

1 – Khái niệm:

QHPL ASXH là những quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực nhà nước

tổ chức thực hiện các hình thức bảo vệ, trợ giúp cho các thành viên xã hội trong những trường hợp cần thiết nhằm đảm bảo an toàn trong đời sống xã hội, được các QPPL ASXH điều chỉnh

2 – Đặc điểm:

Thứ nhất: Trong QHPL ASXH, thông thường có một bên tham gia là Nhà nước

Nhà nước tham gia quan hệ này thông qua các cơ quan do Nhà nước thành lập hoặc các tổ chưc được NN thừa nhận và trao trách nhiệm Các chủ thể đại diện cho NN thường tham gia QHPL ASXH bằng nguồn lực của mình, NSNN hoặc với

tư cách là người tổ chức và huy động các nguồn lực xã hội để NN bổ sung cho các chế độ an sinh cố định trong những trường hợp cần thiết

Từ đó, thông qua NN mà các thành viên trong xã hội bù đắp những khoảng trống mà PLASXH không thể bù đắp được do tính chất nghiêm trọng của rủi ro cần chia sẻ trong những trường hợp cá biệt hoặc để mục đích ASXH đạt được ở mức độ cao hơn

- Thứ hai: Tham gia QHPL ASXH có thể là tất cả các thành viên trong xã hội, không phân biệt theo bất cứ tiêu chí nào

Trang 12

QHPL ASXH được hình thành trong phạm vi rộng lớn của quốc gia Do Nhà nước, chủ đại diện cho toàn xã hội, tham gia với tư cách là 1 bên của quan hệ này nên tất cả các thành viên của xã hội trong phạm vi quốc gia đều có thể được hưởng trợ giúp Để được hưởng một chế độ cụ thể nào đó chỉ phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế đã được pháp luật xác định, không có bất kỳ một giới hạn hoặc 1 sự phân biệt nào khác Thậm chí, nhiều trường hợp còn không có cả sự phân biệt về quốc tịch như phần lớn các QHXH được PLQG điều chỉnh.

Mỗi thành viên bất kỳ trong toàn xã hội đều có thể tham gia một hoặc một

số các quan hệ cụ thể thuộc hệ thống QHPL ASXH, phụ thuộc vào điều kiện thực

tế của họ được pháp luật xác định

Thứ ba: Chủ thể hưởng ASXH có quyền tham gia QHPL này ngay từ khi sinh ra

Đặc điểm này do vấn đề ASXH là quyền của con người trong xã hội Năng lực pháp luật hưởng ASXH của các cá nhân thường xuất hiện từ khi họ mới sinh ra, không phụ thuộc vào năng lực hành vi của họ Đây là đặc điểm riêng của QHPL ASXH so với rất nhiều QHPL khác

- Thứ tư: QHPL ASXH được thiết lập chủ yếu dựa trên cơ sở nhu cầu quản lý rủi ro, tươn trợ cộng đồng trong xã hội

Các QHPL ASXH hình thành trên cơ sở nhu cầu chung của xã hội, để quản

lý và chia sẻ rủi ro cho cả cộng đồng, không phụ thuộc vào những QHXH khác, không nhằm thực hiện những mục đích khác Trên cơ sở này, Nhà nước xác định những loại QHXH do PL ASXH điều chỉnh

- Thứ năm: Quyền và nghĩa vụ chủ yếu của các chủ thể là trợ giúp và được trợ giúp vật chất, do Nhà nước đảm bảo thực hiện

Trang 13

Do mục đích của QHPL ASXH là đảm bảo an toàn về đời sống dân sinh (theo nghĩa hẹp) cho con người nên nội dung chính là của quan hệ này là vấn đề trợ giúp vật chất cho các thành viên xã hội trong những trường hợp cần thiết Điều này

ko có nghĩa là việc trợ giúp vật chất quan trọng hơn những lĩnh vực trợ giúp khác

mà nó chỉ ra lĩnh vực đặc thù làm nên thuộc tính của QH ASXH Các lĩnh vực khác trong xã hội cũng la những vấn đề rất quan trọng nhưng nó thuộc lĩnh vực bảo đảm

xã hội nói chung Chế độ trợ cấp vật chất cho người có đủ điều kiện luật định là nội dung chính xuyên suốt các chế độ an sinh xã hội không chỉ ở pháp luật VN mà còn là nội dung páp luật của tất cả các nước

CÁC QUAN HỆ PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI

- Đặc điểm chung của hệ thống PLASXH:

+ Có 1 bên tham gia do Nhà nước thành lập và quản lý (cơ quan thực hiện BHXH) và bên kia là bất kì NLĐ nào trong XH, nếu có nhu cầu (bên tham gia và được hưởng BHXH)

+ Tính chất của BHXH cũng là tương trợ cộng đồng giữa những NLĐ trong phạm

vi quốc gia

+ Mục đích: Bảo đảm thu nhập cho NLĐ thông qua các chế độ trợ cấp bảo hiểm

- Đặc điểm riêng:

Trang 14

+ QHPL BHXH chủ yếu mang tính bắt buộc và thường phát sinh trên cơ sở của QHLĐ.

Theo pháp luật hiện hành, BHXH bắt buộc áp dụng đối với các bên HĐLĐ,

họ phải đóng bảo hiểm theo những mức nhất định đồng thời phải tham gia tất cả các chế độ BHXH do NN quy định Những quan hệ bảo hiểm bắt buộc này là nòng cốt hình thành quỹ BHXH tự nguyện

+ Trong quan hệ PL BHXH, người hưởng bảo hiểm có nghĩa vụ đóng góp

để hình thành quỹ bảo hiểm

· Phân loại:

Căn cứ vào các khâu nghiệp vụ trong quá trình thực hiện BHXH, gồm 2 loại:

+ QHPL trong việc tạo quỹ bảo hiểm: Là quan hệ giữa các bên tham gia bảo hiểm với cơ quan BHXH trong việc đống góp và quản lý quỹ bảo hiểm, được các QPPL điều chỉnh

+ QHPL trong việc chi trả các chế độ BHXH: Là quan hệ giữa cơ quan BHXH với người được hưởng BHXH trong lĩnh vưc chi trả các chế độ BHXH theo quy định của pháp luật

- Căn cứ vào hình thức BHXH, gồm:

+ QHPL BHXH bắt buộc: Là quan hệ bảo hiểm phát sinh trên cơ sở các quy định bắt buộc của Nhà nước, để bảo hiểm thu nhập cho những lao động trong các quan hệ tương đối ổn định như: công chức, cán bộ nhà nước, những chức danh chuyên trách trong lực lượng vũ trang và những người lao động có HĐLĐ với thời hạn từ 3 tháng trở lên trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức

Trang 15

Đây là những QHPL BHXH chủ yếu, NLĐ thuộc đố tượng này bắt buộc phải tham gia và được hưởng tất cả các chế độ BHXH do NN tổ chức, chiếm số lượng lớn trong số những người tham gia và hưởng BHXH.

+ QHPL BHXH tự nguyện: Là những QHBHXH hình thành trên cơ sở kết hợp giữa việc tổ chức, bảo trợ của Nhà nước với sự tham gia tự nguyện của NLĐ

có nhu cầu bảo hiểm

BHXH tự nguyện chủ yếu áp dụng đối với những NLĐ ko thuộc diện BHXH bát buộc nhưng có nhu cầu tham gia bảo hiểm

· Chủ thể của QHPL BHXH:

Gồm 3 chủ thể chính:

- Người tham gia BHXH: Là người có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm để hình thành quỹ BHXH theo quy định của PL Những người tham gia bảo hiểm bắt buộc vẫn là đối tượng chính của bên tham gia bảo hiểm xã hội

Người sử dụng các lao động thuộc đối tượng bắt buộc nói trên cũng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm xã hội Như vậy, NLPL và NLHV tham gia BHXH của chủ thể này cũng phát sinh đồng thời và phụ thuộc vào việc sử dụng lao động của họ Tại thời điểm phát sinh quyền sử dụng lao động thực tế, NLPL và NLHV tham gia BHXH của NSDLĐ đồng thời xuất hiện và họ phải tham gia BHXH

Bên hưởng bảo hiểm xã hội: Là những cá nhân nhận tiền bảo hiểm (còn gọi là trợ cấp BHXH) từ quỹ BHXH khi có đủ điều kiện bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Hiện nay theo quy định, người được ưởng BHXH là NLĐ đã hoặc đang tham gia QHBHXH Cũng có trường hợp người được hưởng BHXH là 1 số thành viên trong gia đình NLĐ Để được hưởng một chế độ bảo hiểm nào đó, NLĐ hoặc thành viên gia đình NLĐ phải có những điều kiện nhất định theo quy định của

Trang 16

pháp luật Trong đó, thời gian đóng bảo hiểm, tuổi đời, mức độ suy giảm khả năng lao động là những điều kiện chung nhất để xác định người được hưởng BHXH Khi có đủ những điều kiện theo quy định của pháp luật, họ nhận được bảo hiểm từ

cơ quan thực hiện bảo hiểm Hiện nay, pháp luật quy định NLĐ được hưởng các chế độ BHXH sau:

+ Chế độ ốm đau, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe

Trang 17

è Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng với các quy định của pháp luật về BHXH

è Khiếu nại, tố cáo với CQNN có thẩm quyền khi CQBHXH hoặc các cá nhân, tổ chức khác có hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm

+ Nghĩa vụ:

è Thực hiện trích nộp, đóng BHXH theo quy định

è Thực hiện đúng các quy định về lập hồ sơ, quản lý sổ BHXH để làm căn cứ đống và trả BHXH

Cung cấp thông tin trung thực liên quan đến BHXH với cơ quan có thẩm quyền

- Quyền và nghĩa vụ của bên hưởng BHXH:

Cung cấ thông tin trung thực về BHXH và Cơ quan có thẩm quyền

Có nghĩa vụ thực hiện đúng các quy định về lập hồ sơ để hưởng BHXH

Bảo quản, sử dụng sổ BHXH và hồ sơ BHXH đúng mục đích, đúng quy định

- Nhiệm vụ và quyền hạn của bên thực hiện BHXH:

Trang 18

+ Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các chế độ BHXH, thu các khoản đóng góp BHXH bắt buộc và tự nguyện; chi trả trợ cấp BHXH cho đối tượng tham gia

BHXH kịp thời, đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn

+ Lưu giữ hồ sơ của đối tượng tham gia và hưởng BHXH, cấp sổ và các loại thẻ BHXH theo quy định

+ Quản lý, sử dụng và hạch toán quỹ BHXH đúng quy định theo chế độ tài chính của NN

+ Xây dựng và trình thủ tướng Chính phủ phê duyệt và thực hiện đề án bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ BHXH

+ Tổ chức các phương thức quản lý, hợp tác với các đơn vị sử dụng lao động, cơ sở khám chữa bệnh … để thực hiện các chế độ BHXH có hiệu quả,

+ Từ chối việc chi trả các chế độ BHXH khi đối tượng tham gia bảo hiểm

ko đủ điều kiện hưởng BHXH theo quy định hoặc khi có căn cứ pháp lý về hành vi man trá, làm giả hồ sơ để hưởng BHXH

+ Bồi thường mọi khoản thu, chi sai quy định cho đói tượng tham gia

BHXH theo quy định của pháp luật

+ Giải quyết kịp thời và đúng đắn các khiếu nại, tố cáo của tổ chức và cá nhân về thực hiện chính sách, chế độ BHXH theo quy định của pháp luật

+ BHXH VN Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện việc giải quyết các chế độ BHXH, kiến nghị Chính phủ hoặc TTCP và các CQNN hữu quan về việc sửa đổi, bổ sung các quy định về BHXH; thực hiện báo cáo về thu, chi và các hoạt động của BHXH với các cơ quan quản lý của NN có thẩm quyền, tuyên

truyền vận động để mọi người tham gia BHXH…

Trang 19

· Khái niệm: Là QHXH hình thành trong việc Nhà nước ưu đãi người có công và 1 số thành viên gia đình họ trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống XH, được các QPPL điều chỉnh.

· Đặc điểm: Ngoài các đặc điểm chng của hệ thống QHPL

ASXH, QHPL ưu đãi xã hội còn có những đặc điểm riêng sau:

- Căn cứ chủ yếu để xác định chủ thể được ưu đãi là sự đóng góp đặc biệt của họ hoặc thân nhân của gia đình họ cho xã hội

(Trong các QHBHXH, cứu trợ xã hội, căn cứ để xác định chủ thể được thụ hưởng chủ yếu là những trường hợp gặp hoàn cảnh rủi ro cần được đảm bảo an toàn trong cuộc sống) Còn QHLP ưu đãi XH, việc xác định người được ưu đãi chủ yếu dựa trên những cống hiến, hi sinh của họ hoặc thân nhân của họ đối với đất nước

Ngoài ra, vệc xác định chủ thể được thụ hưởng trong QHPL ưu đãi xã hội cũng căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của đối tượng, như các QHASXH khác Tuy nhiên, đó ko phải là căn cứ chính để xác định chủ thể trong QH ưu đãi XH

- QHPL ưu đãi xã hội được thiết lập không chỉ nhằm mục đích tương trợ cộng đòng mà chủ yếu để thực hiện sự ưu đãi của Nhà nước đối với người có công

Chủ thể hưởng ưu đãi là người có công, thường được trợ cấp ưu đãi cao hơn các mức trợ cấp khác trong hệ thông ASXH

Nội dung của ưu đãi xã hội cũng rộng rãi hơn các chế độ an sinh khác Họ không chỉ được trợ cấp đảm bảo cuộc sống mà còn được hưởng các chế độ ưu đãi

về đời sống tinh thần; bao hàm hầu hết các nhu cầu thiết yếu của con người trong

xã hội

Trang 20

· Chủ thể của QHPL ưu đãi xã hội:

- Người ưu đãi: Là người đảm bảo thực hiện các chế độ ưu đãi đối với người có công theo quy định của pháp luật

+ Nhà nước là chủ thể có trách nhiệm phải thực hiện chế độ này bởi người được hưởng ưu đãi xã hội là những người có công với nước Vì vậy, có thể gọi bên người ưu đãi trong QHPL ưu đãi xã hội là cơ quan ưu đãi xã hội Hệ thống các CQNN thực hiện chế độ ưu đãi đối với người có công bao gồm: ở cấp trung ương

có Bộ LĐTBXH, cụ thể là Cụ Thương binh, liệt sỹ và người có công thuộc Bộ; Ở cấp tỉnh có Sở LĐTBXH, cụ thể là Phòng Thương binh, liệt sỹ và người có công trực thuộc Sở; cấp huyện là Phòng LĐTBXH trực thuộc UBND huyện

+ Trực thuộc các cơ quan hành chính nói trên còn có các đơn vị sự nghiệp thực hiện các chế độ ưu đãi xã hội như các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng, điều trị, phục hồi chức năng … được Nhà nước phân cấp quản lý

+ Bên cạnh đó Nhà nước còn tổ chwucs Quỹ “đền ơn đáp nghĩa” ở tất cả các cấp hành chính

Người được ưu đãi: Là những người được trực tiếp hưởng các chế độ ưu đãi xã hội theo quy định của pháp lật do có những đóng góp hi sinh hoặc có người thân đóng góp hy sinh cho sự ghiệp cách mạng, cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Những chủ thể này được quyền hưởng các chế độ ưu đãi xã hội nếu có đủ điều kiện và hoàn tất các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật, ko phụ thuộc vào năng lực hành vi của họ

Họ có thể thực hiện các quyền của người được ưu đãi trực tiếp thông qua người đại diện hợp pháp, hoặc thông qua các cơ sở nuôi dưỡng, điều trị … tùy thuộc vào hoàn cảnh và NLHVDS của họ

Trang 21

Mức ưu đãi cũng như chế độ ưu tiên, ưu đãi phụ thuộc vào mức độ đóng góp, cống hiến, hy sinh của người có công đối với đất nước và hoàn cảnh của người được ưu đãi.

· Nội dung của QHPL ưu đãi xã hội:

- Quyền và nghĩa vụ của người ưu đãi:

+ Thực hiện các thủ tục xác nhận, công nhận, lưu trữ hồ sơ và quản lý đối tượng thuộc diện ưu đãi xã hội theo chức năng hoặc theo sự phân cấp của Nhà nước

+ Thực hiện chi trả các chế độ trợ cấp ưu đãi, chế độ nuôi dưỡng, điều dưỡng, phục hồi chức năng … cho người được ưu đãi theo quy định của pháp luật

+ Từ chối chi trả chế độ ưu đãi cho những đối tượng có hành vi gian dối, giả mạo giấy tờ để hưởng chế độ ưu đãi

+ Quản lý phần mộ liệt sỹ, các công trình ghi công, tổ chức thăm viếng nghĩa trang liệt sĩ … theo sự phân cấp của Nhà nước

+ Trả lời đơn thư khiếu nại của các tập thể, cá nhân về việc thực hiện các chính sách, chế độ ưu đãi xã hội theo thẩm quyền

+ Cơ quan thực hiện ưu đãi xã hội còn có quyền và trách nhiệm trong việc tham gia xây dựng và hướng dãn thực hiện pháp luật về ưu đãi xã hội; tuyên truyền pháp luật và vận động phong trào toàn dân chăm sóc người có công, đền ơn đáp nghĩa …

Quyền và nghĩa vụ của người được ưu đãi:

+ Được hưởng ưu đãi trợ cấp, các ưu đãi khác và chế độ nuôi dưỡng, điều dưỡng, phục hồi chức năng … tùy từng đối tượng luật định

Trang 22

+ Thực hiện đúng các quy định của NN về điều kiện, thủ tục để hưởng chế

độ ưu đãi

+ Không được có những hành vi gian dối, giả mạo giấy tờ để hưởng chế độ

ưu đãi xã hội

3 Quan hệ pháp luật về cứu trợ xã hội:

· Khái niệm: Là những QHXH hình thành trong việc người cứu trợ hỗ trợ, giúp đỡ về vật chất và các nhu cầu thiết yếu để giải quyết khó khăn cho người cần cứu trợ, được các QPPL điều chỉnh

· Đặc điểm: Có đầy đủ các đặc điểm của QHPL ASXH, bên cạnh đó còn có 1 số đặc điểm riêng:

Trong QHPL cứu trợ XH, chủ thể tham gia với tư cách là người cứu trợ rất

đa dạng

Bên cạnh chủ thể là Nhà nước thì còn có nhiều chủ thể khác có thể tham gia với tư cách là người cứu trợ Đó có thể là bất kì cá nhân, tổ chức nào, không phân biệt trong nước hay nước ngoài … nếu có khả năng và lòng hảo tâm đều có thể tham gia với tư cách là người cứu trợ, giúp đỡ những người gặp hoàn cảnh khó khăn, thiên tai, túng thiếu …Như vậy, Nhà nước không phải lúc nào cũng tham gia với tư cách là người cứu trợ, không phải là người cứu trợ duy nhất

Trong QHPL cứu trợ XH, không có nghĩa vụ đóng góp của người được cứu trợ:

Người được cứu trợ không phải đóng góp bất kỳ khoản nào vào quỹ cứu trợ, cũng không nhất thiết phải có điều kiện đóng góp cho xã hội Bất kì thành viên nào trong xã hội gặp hoàn cảnh khó khăn mà pháp luật đã quy định cũng đều có thể được trợ giúp theo mức luật định

Trang 23

Nguồn tài chính thực hiện hoạt động này chủ yếu được lấy từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn ủng hộ của các tổ chức, cá nhân của cộng đồng trong

nước, quốc tế

Đối tượng thường là những người có hoàn cảnh hết sức khó khăn, cần có sự cứu giúp ngay, không thể căn cứ vào cuộc sống trước đó, cũng không thể phụ

thuộc vào việc thực hiện các nghĩa vụ của họ

Đối với các quan hệ cứu trợ xã hội, pháp luật chỉ chi phối, điều chỉnh ở mức

độ nhất định

So với các quan hệ pháp luật an sinh khác, thì sự tác động của pháp luật tới các quan hệ cứu trợ xã hội thường ở mức thấp hơn Pháp luật chủ yếu điều chỉnh các quan hệ cứu trợ do Nhà nước thực hiện từ ngân sách Đối với các quan hệ cứu trợ do các cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư … trong ngoài nước thực hiện bằng nguồn tài chính của họ thì Nhà nước cần tác động ở mức độ nhất định để đảm bảo thực hiện đúng mục đích, đặc biệt đối với những trường hợp quy mô tổ chức và phạm vi thực hiện cứu trợ tương đối lớn, có tính ổn định

Do bản chất vốn có của hoạt động cứu trợ xã hội, trước hết phải là vấn đề đạo lý, vấn đề xã hội, không thể chỉ là vấn đề pháp lý đơn thuần Cho nên quan hệ cứu trợ xã hội bao gồ cả quan hệ công va quan hệ tư; có hể là quan hệ pháp lý nhưng cũng có thể chỉ la quan hệ xã hội thuần túy

· Chủ thể của QHPL cứu trợ xã hội:

- Bên thực hiện cứu trợ: Là những cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện việc cứu tế, trợ giúp đối với người có hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn … Họ có thể

là những người có trách nhiệm phải cứu trợ hoặc cũng có thể là những người có khả năng và lòng hảo tâm giúp đỡ người khác Đối với các cơ quan, tổ chức, NLPL

Ngày đăng: 20/09/2016, 14:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w