TẬP BÀI GIẢNGMÔN NHỮNG VẤN ĐỀ LỚN CỦA THỜI ĐAI VÀ KHOA HỌC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ HIỆN ĐẠIChương I:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỜI ĐẠI NGÀY NAYI. Khái niệm thời đại và nhận diện thời đại1.1.Quan niệm về thời đạiChúng ta đang sống trong một thế giới mà sự chuyển biến của nó đang thay đổi hàng giờ, nhiều vấn đề tưởng như đơn giản của thời gian trước (thập kỷ trước, năm trước, tháng trước) thì đến nay đã trở lên phức tạp, khó lường. Ngược lại nhiều vấn đề tưởng như không có lời giải của quá khứ hoặc phải tìm kiếm lời giải khó khăn lâu dài thì đã được giải quyết nhanh chóng khó tin. Chúng ta có thể chứng minh điều này qua các vấn đề ví dụ sau: Ví dụ thứ nhất: Những năm 1990 ai đó nêu ra ra vấn đề mọi người phải có nước sạch để uống và không khí trong lành để thở đối với con người, hầu hết mọi người cho rằng đó là điều vô bổ, lo xa. Vì không gì nhiều bằng nước và không khí – Nhưng chỉ 20 năm sau mọi người sẽ tự trả lời được vấn đề này và hiểu được tầm nhìn của người đặt vấn đề. Khi mà nước sạch ngày càng trở nên hiếm hoi và không khí trong lành là khát vọng của nhiều quốc gia (TP Bắc Kinh của Trung Quốc tháng 122012 phải ban bố tình trạng khẩn cấp về ô nhiễm không khí và nước sạch, Châu phi năm 2010 có tới gần 5 triệu người chết vì thiếu nước sạch...).Ví dụ thứ hai: Bệnh lao, bệnh hủi, dịch tả... (giống như HIV, ung thư ngày nay) là nỗi kinh hoàng cho con người đến tận những năm 70 của Thế kỷ XX, nhưng ngày nay đây là những vấn đề thông thường của mọi quốc gia và mọi tổ chức y tế.Ví dụ thứ ba: Vấn đề xử lý truyền tin, lưu giữ hình ảnh và âm thanh trên cùng một phương tiện (băng đĩa than, băng đĩa từ, phim nhựa...) hay vấn đề xử lý thông tin kép trên một phương tiện truyền thông (truyền vừa thông tin âm thanh, vừa hình ảnh..trên cùng đường truyền...) là rất khó khăn, vấp phải nhiều vấn đề kỹ thuật về phương tiện thu phát, đường truyền. Nhưng ngày nay với công nghệ số hóa, cáp quang, internet.. đã giải quyết nhanh, gọn toàn diện và đồng bộ nhiều yêu cầu trên ngay tức khắc...Ví dụ thứ tư: Quan niệm truyền thống cho rằng giá trị của hàng hóa chủ yếu phát sinh do sức lao động của người sản xuất kết tinh trong đó, và chỉ có lao động mới đem lại giá trị lớn nhất cho sản phẩm. Nhưng ngay nay trong thương mại thì giá trị gia tăng của sản phẩm tăng thêm gấp nhiều lần trong chuỗi giá trị thương mại là do chính thương mại tạo ra. Giá trị thương mại trong giao dịch làm gia tăng nhiều lần giá trị gốc của sản phẩm và người tiêu dùng chấp nhận nó như một vấn đề đương nhiên.Qua bốn ví dụ nhỏ đã thấy sự thay đổi gốc dễ của nhiều quan niệm cụ thể, nếu không có một góc nhìn đúng đắn thì bản thân mỗi người sẽ không xác định được mình đang đứng ở giai đoạn nào của văn minh nhân loại, đứng ở đâu trong thế giới này và sẽ đi về đâu. Đối với một quốc gia, dân tộc lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều đó là lựa chọn con đường đi cho mình, quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc. Nội dung mà chúng ta đang nói đến chính là: “vấn đề thời đại’’. Vậy thời đại là gì, từ trước đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này, điều đó tùy thuộc vào thế giới quan, lợi ích giai cấp, bối cảnh lịch sử, tầm nhìn, giác độ nhìn nhận của người nêu ra vấn đề. Từ cổ xưa các nhà triết học đã bàn đến nó ở cả phương Đông và phương Tây: Phương Đông là các đại biểu Khổng Tử, Lão Tử, các ông thường trăn trở về các vấn đề thời cuộc, về tương lai của một thế giới đại đồng...ở phương Tây cũng có đại biểu: Platon, Aristop, Smill...vạch ra một thế giới con người tự do và chủ thể của xã hội....các đại biểu triết học giai đoạn này hình thành nên khái niệm thời đại chủ yếu là quan sát, chiêm nghiệm và kết luận từ trực quan cảm tính, được nhấn mạnh qua các yếu tố bàn đến là: “ biết người biết mình – việc gì cũng thắng” hoặc bàn về “chữ Thời”, là thời thế, thời cuộc trong kinh dịch, trong binh pháp, trong kinh của nhà phật, kito giáo....hay một “nhà nước lý tưởng” của Platon...Lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, tri thức xã hội ngày càng nhiều lên, khoa hoc kỹ thuật ra đời từ giai đoạn thấp dần đến cao, văn minh thay thế cho lạc hậu, cổ hủ...tri thức xã hội đặc biệt là tri thức khoa học ngày càng góp phần to lớn cải biến thế giới ảnh hưởng đến quan điểm, quan niệm, cách nhìn, góc nhìn của các nhà triết học do đó nhiều quan điểm phân chia thời đại với các cách tiếp cận mới hình thành. Trong lịch sử đã từng xuất hiện cách chia thời đại khác nhau hàm chứa những quan niệm phong phú về phạm trù thời đại. Chúng ta có thể kể đến các đại biểu sau đây: Nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng pháp Phurier 1772 – 1837 chia lịch sử phát triển xã hội loài người thành bốn giai đoạn: Mông muội, dã man, gia trưởng, văn minh. Nhà nhân chúng học Mỹ Moc Gan 1818 – 1881 chia lịch sử phát triển xã hội loài người thành ba giai đoạn: Mông muội, dã man và văn minh. Nhà tương lai học Mỹ Anvin Topholo (sinh 1928) dựa vào trình độ phát triển của công cụ của lực lượng sản xuất lại chia ra: Văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp.Ngoài ra còn phải kể đến các đại biểu khác là Nhà xã hội học Italia Vicô (16681744), nhà triết học Đức Ph. Hêghen (17701831).Có thể nói đây chính là những cách tiếp cận khác nhau trong phân chia thời đại mà cụ thể được đánh giá qua ba xu thế chính:Một là: Từ đánh giá về yếu tố phát triển của lực lượng sản xuất thông qua bước tiến của công cụ lao động tiêu biểu cho một thời đại để phân chia lịch sử loài người, với cách tiếp cận này thì xã hội loài người đã trải qua 05 thời đại là: Thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng, thời đại kim khí, thời đại công nghiệp và thời đại điện tử tin học (hậu công nghiệp). Sở dĩ có sự phân chia này là các nhà tư tưởng đã nhìn nhận trực quan theo phương pháp lịch sử, tìm ra sự thay thế nhau của các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất mà yếu tố động nhất – như C.Mác nhận xét đó là “công cụ lao động”, song không chỉ công cụ lao động là yếu tố để nhận diện thời đại mà bản thân trong sự tiến bộ của công cụ lao động đó các yếu tố phi vật chất như ý thức, văn hóa, văn minh... phát triển tương ứng.Hai là: Tiếp cận từ các nền văn minh thì phân thành 03 thời đại: Thời đại văn minh nông nghiệp, thời đại văn minh công nghiệp, thời đại văn minh tri thức. Khái niệm văn minh được hiểu là: trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hóa. Trái với văn minh là dã man. Song phân biệt dựa trên tiêu chí này đánh giá bước chuyển (ranh giới của các thời đại với nhau là vô cùng khó khăn) tiêu chí nền văn minh dường như nhấn mạnh yêu tố chuyến biến tinh thần nhiều hơn các yếu tố vật chất. Ba là: Tiếp cận qua việc phân chia sự phát triển và thay thế nhau giữa các hình thái kinh tế xã hội, với cách tiếp cận này thì xã hội loài người đã trải qua 05 thời đại lần lượt là: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản và cộng sản chủ nghĩa. Phần này đã tìm hiểu rõ qua triết học Mác Lê nin về học thuyết hình thái kinh tế xã hội.Những cách phân chia này, tuy phản ánh khá rõ một mặt nào đấy của lịch sử, nhưng không vạch ra được tính chất xã hội của từng giai đoạn lịch sử, cũng như động lực thúc đẩy sự thay thế lẫn nhau giữa các thời đại trong tiến trình vận động của xã hội loài người. Và xét về cá thể hóa của mỗi chủ thể không cung cấp cho bản thân mỗi người những nhận thức tổng quát nhất có lợi cho mình để phấn đấu thành công theo hoài bão, khát vọng mà cá nhân mong đợi. 1.2. Quan niệm vấn đề thời đại theo quan điểm học thuyết Mác Lê ninTrong một xã hội có nhiều trường phái, quan điểm khác nhau suy đến cùng mỗi cá nhân đều phải tuân thủ một hệ quy chiếu nhận thức chuẩn; với các ngành khoa học xã hội ở Việt Nam hệ quy chiếu đó là Chủ nghĩa Mác Lênin, do vậy quan điểm về vấn đề thời đại phải dựa trên quan điểm Mác Lênin là quan điểm chính thống vì tính chân chính khoa học của nó.Chủ nghĩa Mác Lênin xem xét một cách khoa học vấn đề thời đại trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và học thuyết về các hình thái kinh tế xã hội. Ph. Ăngghen nhấn mạnh: ...Trong mỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phương thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại, cái cơ sở mà chỉ xuất phát từ đó mới cắt nghĩa được lịch sử...{5}. Các nhà kinh điển Mác xít cũng vạch rõ một trong những tiêu chí cơ bản để nhận biết một thời đại cụ thể là xác định giai cấp nào đứng ở vị trí trung tâm của lịch sử. Mâu thuẫn giữa giai cấp trung tâm với giai cấp đối kháng với nó tạo thành động lực chủ yếu thúc đẩy sự vận động của thời đại.Trên cơ sở nhìn nhận tiến trình của xã hội loài người như một dòng chảy lịch sử tự nhiên, phủ định biện chứng giữa các hình thái kinh tế xã hội, C.Mác và Ph. Ăngghen xác định mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định, với quá trình phát sinh, phát triển và bị thay thế của nó, đánh dấu một thời đại lịch sử. Nhân loại đã, đang và sẽ trải qua 5 thời đại lịch sử là: thời đại nguyên thuỷ, thời đại chiếm hữu nô lệ, thời đại phong kiến, thời đại tư bản chủ nghĩa và thời đại của chủ nghĩa cộng sản.Khái niệm thời đại, vốn đã được C.Mác và Ph.Ăngghen hiểu theo nghĩa rộng bao hàm quá trình kéo dài hàng nhiều thế kỷ, được V.I. Lênin quy về hiểu theo nghĩa hẹp. Lênin chỉ rõ: Một thời đại được gọi là thời đại chính vì nó bao gồm toàn bộ những hiện tượng và những cuộc chiến tranh muôn hình muôn vẻ, điển hình cũng có mà không điển hình cũng có, lớn cũng có mà riêng cho các nước chậm tiến cũng có. Lẩn tránh những vấn đề cụ thể ấy bằng cách dùng những câu nói chung chung về thời đại là lạm dụng khái niệm về thời đại {4}.Để không lạm dụng khái niệm thời đại, Lênin đã cụ thể hoá mỗi thời đại lịch sử lớn theo cách phân kỳ hình thái kinh tế xã hội của Mác và Ăngghen thành nhiều thời đại nhỏ, tương ứng với từng giai đoạn nhất định. Lênin đã chia thời đại TBCN đến giai đoạn ông sống thành 4 giai đoạn: giai đoạn trước 1789, giai đoạn từ 1789 đến chiến tranh Pháp Phổ (18701871), giai đoạn toàn thắng của giai cấp tư sản và giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Tuy nằm trong một hình thái kinh tế xã hội, các giai đoạn (thời đại) này khác nhau căn bản về: đặc điểm bối cảnh lịch sử, động lực, nội dung, tính chất và phương hướng vận động.Sự kế thừa và phát triển của V.I. Lênin đối với lý luận Mác xít về thời đại là cần thiết để đi tới một nhận thức đúng đắn và đầy đủ về thời đại. Phương pháp tiếp cận lịch sử của V.I. Lênin khắc phục được hai sai lầm có thể xảy ra khi nghiên cứu về thời đại: một là, lấy diễn biến, đặc điểm của một giai đoạn làm đặc trưng cho cả một thời đại lịch sử dài; hai là, đưa ra quá sớm những khẳng định đối với tương lai, mà đương thời mới chỉ tồn tại dưới dạng những dự đoán.Hiện nay, chúng ta xây dựng nhận thức về thời đại trên nền tảng học thuyết Mác xít về các hình thái kinh tế xã hội và với quan niệm của V.I. Lênin về thời đại. Với tính cách một khái niệm triết học, thời đại là một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Với tính cách một phạm trù lịch sử, thời đại là một giai đoạn lịch sử được phân biệt với các giai đoạn lịch sử khác bởi đặc điểm bối cảnh, mâu thuẫn, động lực, nội dung, tính chất và phương hướng vận động cơ bản. Tiêu chí hàng đầu để nhận biết một thời đại cụ thể là xác định giai cấp nào đứng ở vị trí trung tâm của lịch sử, có vai trò chủ yếu quyết định lôgích vận động của xã hội loài người.Phạm trù thời đại hiểu theo nghĩa rộng của Mác Ăngghen, liên quan trực tiếp đến vấn đề thế giới quan và phương pháp luận trên lĩnh vực lịch sử. Hiểu theo nghĩa hẹp của V.I. Lênin, thời đại trở thành một thuật ngữ chính trị xã hội then chốt. Xét trên cả hai bình diện ngữ nghĩa, khái niệm thời đại, sự hiểu biết về thời đại, cách thức đánh giá thời đại... tạo thành một trong những cơ sở xuất phát điểm cho các đảng phái, nhà nước, tổ chức quốc tế ... hoạch định đường lối chiến lược và sách lược của mình. Chính vì có vai trò, vị trí quan trọng như vậy, thời đại đang trở thành một trong những tiêu điểm của cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận hết sức phức tạp hiện nay.Kết luận: Thời đại là một khái niệm khoa học dùng để phân kỳ lịch sử phân biệt những nấc thang phát triển xã hội loài người. Dựa trên những cơ sở khác nhau, có thể có sự phân chia thời đại khác nhau. Việc nghiên cứu thời đại lịch sử có một ý nghĩa to lớn. Có hiểu được thời đại chúng ta đang sống là thời đại nào thì chủ thể mới có thể định ra đúng đắn chiến lược và sách lược và chỉ trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của thời đại, chủ thể mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của xã hội, địa bàn mình đang sống, mới toan tính cho sự thành bại của tổ chức và cá nhân. Nói cách khác như Hêghen: Mỗi dân tộc có quyền có hình thái nhà nước đặc thù phù hợp với trình độ phát triển của mình, nhưng thời đại có quyền cao hơn. Thời đại sẽ không thèm “đếm xỉa” đến đặc thù của các quốc gia nếu các quyền này đi ngược lại xu thế phát triển của nó. Dân tộc nào không nắm bắt được tinh thần thời đại và vươn lên hòa nhập với thời đại thì bất hạnh là điều không tránh khỏi {3}.Thời đại ngày nay mà môn học này đề cập được tiếp cận theo nghĩa hẹp của Lê nin để chỉ một giai đoạn nhất định trước mắt của nhân loại khi mà những tiêu chí cơ bản đã định hình rõ nét về đặc điểm bối cảnh lịch sử, động lực, nội dung, tính chất và phương hướng vận động. Đó là thời đại của toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức.1.3. Nhận diện thời đại ngày nay
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LUẬT VÀ QUẢN LÝ XÃ HỘI
TẬP BÀI GIẢNG MÔN NHỮNG VẤN ĐỀ LỚN CỦA THỜI ĐAI VÀ KHOA HỌC LÃNH
ĐẠO, QUẢN LÝ HIỆN ĐẠI
Thái Nguyên, năm 2014
Chương I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỜI ĐẠI NGÀY NAY
I Khái niệm thời đại và nhận diện thời đại
1.1.Quan niệm về thời đại
Trang 2Chúng ta đang sống trong một thế giới mà sự chuyển biến của nó đangthay đổi hàng giờ, nhiều vấn đề tưởng như đơn giản của thời gian trước (thập kỷtrước, năm trước, tháng trước) thì đến nay đã trở lên phức tạp, khó lường.Ngược lại nhiều vấn đề tưởng như không có lời giải của quá khứ hoặc phải tìmkiếm lời giải khó khăn lâu dài thì đã được giải quyết nhanh chóng khó tin.Chúng ta có thể chứng minh điều này qua các vấn đề ví dụ sau:
Ví dụ thứ nhất: Những năm 1990 ai đó nêu ra ra vấn đề mọi người phải có nước sạch để uống và không khí trong lành
để thở đối với con người, hầu hết mọi người cho rằng đó là
điều vô bổ, lo xa Vì không gì nhiều bằng nước và không khí –Nhưng chỉ 20 năm sau mọi người sẽ tự trả lời được vấn đề này
và hiểu được tầm nhìn của người đặt vấn đề Khi mà nước sạchngày càng trở nên hiếm hoi và không khí trong lành là khátvọng của nhiều quốc gia (TP Bắc Kinh của Trung Quốc tháng12/2012 phải ban bố tình trạng khẩn cấp về ô nhiễm không khí
và nước sạch, Châu phi năm 2010 có tới gần 5 triệu người chết
vì thiếu nước sạch )
Ví dụ thứ hai: Bệnh lao, bệnh hủi, dịch tả (giống như
HIV, ung thư ngày nay) là nỗi kinh hoàng cho con người đếntận những năm 70 của Thế kỷ XX, nhưng ngày nay đây lànhững vấn đề thông thường của mọi quốc gia và mọi tổ chức ytế
Ví dụ thứ ba: Vấn đề xử lý truyền tin, lưu giữ hình ảnh
và âm thanh trên cùng một phương tiện (băng đĩa than, băng đĩa
từ, phim nhựa ) hay vấn đề xử lý thông tin kép trên mộtphương tiện truyền thông (truyền vừa thông tin âm thanh, vừahình ảnh trên cùng đường truyền ) là rất khó khăn, vấp phảinhiều vấn đề kỹ thuật về phương tiện thu phát, đường truyền.Nhưng ngày nay với công nghệ số hóa, cáp quang, internet đã
Trang 3giải quyết nhanh, gọn toàn diện và đồng bộ nhiều yêu cầu trênngay tức khắc
Ví dụ thứ tư: Quan niệm truyền thống cho rằng giá trị của
hàng hóa chủ yếu phát sinh do sức lao động của người sản xuấtkết tinh trong đó, và chỉ có lao động mới đem lại giá trị lớn nhấtcho sản phẩm Nhưng ngay nay trong thương mại thì giá trị giatăng của sản phẩm tăng thêm gấp nhiều lần trong chuỗi giá trịthương mại - là do chính thương mại tạo ra Giá trị thương mạitrong giao dịch làm gia tăng nhiều lần giá trị gốc của sản phẩm
và người tiêu dùng chấp nhận nó như một vấn đề đương nhiên.Qua bốn ví dụ nhỏ đã thấy sự thay đổi gốc dễ của nhiều quan niệm cụ thể,nếu không có một góc nhìn đúng đắn thì bản thân mỗi người sẽ không xác địnhđược mình đang đứng ở giai đoạn nào của văn minh nhân loại, đứng ở đâu trongthế giới này và sẽ đi về đâu Đối với một quốc gia, dân tộc lại càng có ý nghĩaquan trọng hơn nhiều- đó là lựa chọn con đường đi cho mình, quyết định tương
lai, vận mệnh dân tộc Nội dung mà chúng ta đang nói đến chính là: “vấn đề thời đại’’ Vậy thời đại là gì, từ trước đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về
vấn đề này, điều đó tùy thuộc vào thế giới quan, lợi ích giai cấp, bối cảnh lịch
sử, tầm nhìn, giác độ nhìn nhận của người nêu ra vấn đề
Từ cổ xưa các nhà triết học đã bàn đến nó ở cả phương Đông và phươngTây: Phương Đông là các đại biểu Khổng Tử, Lão Tử, các ông thường trăn trở
về các vấn đề thời cuộc, về tương lai của một thế giới đại đồng ở phương Tâycũng có đại biểu: Platon, Aristop, Smill vạch ra một thế giới con người tự do
và chủ thể của xã hội các đại biểu triết học giai đoạn này hình thành nên kháiniệm thời đại chủ yếu là quan sát, chiêm nghiệm và kết luận từ trực quan cảm
tính, được nhấn mạnh qua các yếu tố bàn đến là: “ biết người biết mình – việc gì cũng thắng” hoặc bàn về “chữ Thời”, là thời thế, thời cuộc trong kinh dịch, trong binh pháp, trong kinh của nhà phật, kito giáo hay một “nhà nước lý tưởng” của Platon
Trang 4Lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, tri thức xã hội ngày càng nhiềulên, khoa hoc kỹ thuật ra đời từ giai đoạn thấp dần đến cao, văn minh thay thếcho lạc hậu, cổ hủ tri thức xã hội đặc biệt là tri thức khoa học ngày càng gópphần to lớn cải biến thế giới ảnh hưởng đến quan điểm, quan niệm, cách nhìn,góc nhìn của các nhà triết học do đó nhiều quan điểm phân chia thời đại với cáccách tiếp cận mới hình thành Trong lịch sử đã từng xuất hiện cách chia thời đạikhác nhau hàm chứa những quan niệm phong phú về phạm trù thời đại Chúng
ta có thể kể đến các đại biểu sau đây:
- Nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng pháp Phurier 1772 – 1837 chia lịch
sử phát triển xã hội loài người thành bốn giai đoạn: Mông muội, dã man, gia trưởng, văn minh.
- Nhà nhân chúng học Mỹ Moc Gan 1818 – 1881 chia lịch sử phát triển xã hội loài người thành ba giai đoạn: Mông muội, dã man và văn minh.
- Nhà tương lai học Mỹ Anvin Topholo (sinh 1928) dựa vào trình độ phát triển của công cụ của lực lượng sản xuất lại chia ra: Văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp.
Ngoài ra còn phải kể đến các đại biểu khác là Nhà xã hội học Italia Vicô (1668-1744), nhà triết học Đức Ph Hêghen (1770-1831).
Có thể nói đây chính là những cách tiếp cận khác nhau trong phân chiathời đại mà cụ thể được đánh giá qua ba xu thế chính:
Một là : Từ đánh giá về yếu tố phát triển của lực lượng sản xuất thông
qua bước tiến của công cụ lao động tiêu biểu cho một thời đại để phân chia lịch
sử loài người, với cách tiếp cận này thì xã hội loài người đã trải qua 05 thời đại
là: Thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng, thời đại kim khí, thời đại công nghiệp và thời đại điện tử - tin học (hậu công nghiệp) Sở dĩ có sự phân chia này là các
nhà tư tưởng đã nhìn nhận trực quan theo phương pháp lịch sử, tìm ra sự thaythế nhau của các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất mà yếu tố động nhất –như C.Mác nhận xét đó là “công cụ lao động”, song không chỉ công cụ laođộng là yếu tố để nhận diện thời đại mà bản thân trong sự tiến bộ của công cụ
Trang 5lao động đó các yếu tố phi vật chất như ý thức, văn hóa, văn minh phát triểntương ứng.
Hai là : Tiếp cận từ các nền văn minh thì phân thành 03 thời đại: Thời
đại văn minh nông nghiệp, thời đại văn minh công nghiệp, thời đại văn minh tri thức Khái niệm văn minh được hiểu là: trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật
chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là trạng thái phát triển cao của nền
văn hóa Trái với văn minh là dã man Song phân biệt dựa trên tiêu chí này đánh
giá bước chuyển (ranh giới của các thời đại với nhau là vô cùng khó khăn) tiêuchí nền văn minh dường như nhấn mạnh yêu tố chuyến biến tinh thần nhiều hơncác yếu tố vật chất
Ba là: Tiếp cận qua việc phân chia sự phát triển và thay thế nhau giữa các hình thái kinh tế xã hội, với cách tiếp cận này thì xã hội loài người đã trải
qua 05 thời đại lần lượt là: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản và cộng sản chủ nghĩa Phần này đã tìm hiểu rõ qua triết học
Mác- Lê nin về học thuyết hình thái kinh tế xã hội
Những cách phân chia này, tuy phản ánh khá rõ một mặt nào đấy củalịch sử, nhưng không vạch ra được tính chất xã hội của từng giai đoạn lịch sử,cũng như động lực thúc đẩy sự thay thế lẫn nhau giữa các thời đại trong tiếntrình vận động của xã hội loài người Và xét về cá thể hóa của mỗi chủ thể khôngcung cấp cho bản thân mỗi người những nhận thức tổng quát nhất có lợi cho mình đểphấn đấu thành công theo hoài bão, khát vọng mà cá nhân mong đợi
1.2 Quan niệm vấn đề thời đại theo quan điểm học thuyết Mác -Lê nin
Trong một xã hội có nhiều trường phái, quan điểm khác nhau suy đếncùng mỗi cá nhân đều phải tuân thủ một hệ quy chiếu nhận thức chuẩn; vớicác ngành khoa học xã hội ở Việt Nam hệ quy chiếu đó là Chủ nghĩa Mác -Lênin, do vậy quan điểm về vấn đề thời đại phải dựa trên quan điểm Mác-Lênin là quan điểm chính thống vì tính chân chính khoa học của nó
Chủ nghĩa Mác - Lênin xem xét một cách khoa học vấn đề thời đại trên cơ
sở phương pháp luận duy vật biện chứng và học thuyết về các hình thái kinh tế
-xã hội Ph Ăngghen nhấn mạnh: " Trong mỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ
Trang 6yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phương thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch sử của
sự phát triển trí tuệ của thời đại, cái cơ sở mà chỉ xuất phát từ đó mới cắt nghĩa được lịch sử "{5} Các nhà kinh điển Mác xít cũng vạch rõ một trong những tiêu chí cơ bản để nhận biết một thời đại cụ thể là xác định giai cấp nào đứng ở vị trí trung tâm của lịch sử Mâu thuẫn giữa giai cấp trung tâm với giai cấp đối kháng
với nó tạo thành động lực chủ yếu thúc đẩy sự vận động của thời đại
Trên cơ sở nhìn nhận tiến trình của xã hội loài người như một dòng chảylịch sử - tự nhiên, phủ định biện chứng giữa các hình thái kinh tế - xã hội,C.Mác và Ph Ăngghen xác định mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định, với quátrình phát sinh, phát triển và bị thay thế của nó, đánh dấu một thời đại lịch sử.Nhân loại đã, đang và sẽ trải qua 5 thời đại lịch sử là: thời đại nguyên thuỷ, thờiđại chiếm hữu nô lệ, thời đại phong kiến, thời đại tư bản chủ nghĩa và thời đạicủa chủ nghĩa cộng sản
Khái niệm thời đại, vốn đã được C.Mác và Ph.Ăngghen hiểu theo nghĩarộng bao hàm quá trình kéo dài hàng nhiều thế kỷ, được V.I Lênin quy về hiểu
theo nghĩa hẹp Lênin chỉ rõ: "Một thời đại được gọi là thời đại chính vì nó bao gồm toàn bộ những hiện tượng và những cuộc chiến tranh muôn hình muôn
vẻ, điển hình cũng có mà không điển hình cũng có, lớn cũng có mà riêng cho các nước chậm tiến cũng có Lẩn tránh những vấn đề cụ thể ấy bằng cách dùng những câu nói chung chung về "thời đại" là lạm dụng khái niệm về thời đại" {4}.
Để không lạm dụng khái niệm "thời đại", Lênin đã cụ thể hoá mỗi thời đạilịch sử lớn theo cách phân kỳ hình thái kinh tế - xã hội của Mác và Ăngghenthành nhiều thời đại nhỏ, tương ứng với từng giai đoạn nhất định Lênin đã chiathời đại TBCN đến giai đoạn ông sống thành 4 giai đoạn: giai đoạn trước 1789,giai đoạn từ 1789 đến chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871), giai đoạn toàn thắngcủa giai cấp tư sản và giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Tuy nằm trong một hình thái
kinh tế - xã hội, các giai đoạn (thời đại) này khác nhau căn bản về: đặc điểm bối cảnh lịch sử, động lực, nội dung, tính chất và phương hướng vận động.
Trang 7Sự kế thừa và phát triển của V.I Lênin đối với lý luận Mác xít về thời đại
là cần thiết để đi tới một nhận thức đúng đắn và đầy đủ về thời đại Phương pháptiếp cận lịch sử của V.I Lênin khắc phục được hai sai lầm có thể xảy ra khi
nghiên cứu về thời đại: một là, lấy diễn biến, đặc điểm của một giai đoạn làm đặc trưng cho cả một thời đại lịch sử dài; hai là, đưa ra quá sớm những khẳng
định đối với tương lai, mà đương thời mới chỉ tồn tại dưới dạng những dự đoán
Hiện nay, chúng ta xây dựng nhận thức về thời đại trên nền tảng họcthuyết Mác xít về các hình thái kinh tế - xã hội và với quan niệm của V.I Lênin
về thời đại Với tính cách một khái niệm triết học, thời đại là một phạm trù cơbản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Với tính cách một phạm trù lịch sử, thời đại
là một giai đoạn lịch sử được phân biệt với các giai đoạn lịch sử khác bởi đặcđiểm bối cảnh, mâu thuẫn, động lực, nội dung, tính chất và phương hướng vậnđộng cơ bản Tiêu chí hàng đầu để nhận biết một thời đại cụ thể là xác định giaicấp nào đứng ở vị trí trung tâm của lịch sử, có vai trò chủ yếu quyết định lôgíchvận động của xã hội loài người
Phạm trù " thời đại" hiểu theo nghĩa rộng của Mác - Ăngghen, liên quan
trực tiếp đến vấn đề thế giới quan và phương pháp luận trên lĩnh vực lịch sử.Hiểu theo nghĩa hẹp của V.I Lênin, "thời đại" trở thành một thuật ngữ chính trị -
xã hội then chốt Xét trên cả hai bình diện ngữ nghĩa, khái niệm thời đại, sự hiểubiết về thời đại, cách thức đánh giá thời đại tạo thành một trong những cơ sởxuất phát điểm cho các đảng phái, nhà nước, tổ chức quốc tế hoạch địnhđường lối chiến lược và sách lược của mình Chính vì có vai trò, vị trí quantrọng như vậy, "thời đại' đang trở thành một trong những tiêu điểm của cuộc đấutranh tư tưởng - lý luận hết sức phức tạp hiện nay
Kết luận: Thời đại là một khái niệm khoa học dùng để phân kỳ lịch sửphân biệt những nấc thang phát triển xã hội loài người Dựa trên những cơ sởkhác nhau, có thể có sự phân chia thời đại khác nhau Việc nghiên cứu thời đạilịch sử có một ý nghĩa to lớn Có hiểu được thời đại chúng ta đang sống là thờiđại nào thì chủ thể mới có thể định ra đúng đắn chiến lược và sách lược và chỉtrên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của thời đại, chủ thể mới có thể tính
Trang 8đến những đặc điểm chi tiết của xã hội, địa bàn mình đang sống, mới toan tính
cho sự thành bại của tổ chức và cá nhân Nói cách khác như Hêghen: Mỗi dân tộc có quyền có hình thái nhà nước đặc thù phù hợp với trình độ phát triển của mình, nhưng thời đại có quyền cao hơn Thời đại sẽ không thèm “đếm xỉa” đến đặc thù của các quốc gia nếu các quyền này đi ngược lại xu thế phát triển của
nó Dân tộc nào không nắm bắt được tinh thần thời đại và vươn lên hòa nhập với thời đại thì bất hạnh là điều không tránh khỏi {3}.
Thời đại ngày nay mà môn học này đề cập được tiếp cận theo nghĩa hẹpcủa Lê nin để chỉ một giai đoạn nhất định trước mắt của nhân loại khi mà nhữngtiêu chí cơ bản đã định hình rõ nét về đặc điểm bối cảnh lịch sử, động lực, nộidung, tính chất và phương hướng vận động Đó là thời đại của toàn cầu hóa và nềnkinh tế tri thức
1.3 Nhận diện thời đại ngày nay
- Giai đoạn hiện nay của thời đại (nghĩa hẹp), được tính từ đầu thập kỷ 90của thế kỷ XX, chứa đựng nhiều bước vận động quanh co, phức tạp của lịch sử,nhìn từ nhiều giác độ khác nhau có thể thấy trong cùng một giai đoạn của thờiđại có những nhận định khác nhau về trực diện đánh giá:
+ Nhìn từ nền tảng vật chất của xã hội loài người, giai đoạn hiện nay
được đặc trưng bằng sự hiện diện mạnh mẽ của nền sản xuất hậu công nghiệp,của nền kinh tế tri thức, của công nghệ thông tin…
+ Xét trên bình diện các xu hướng lớn của đời sống quốc tế, giai đoạn
hiện nay là giai đoạn của quá trình toàn cầu hoá, quốc tế hoá và khu vực hoá
+ Từ góc độ chính trị quốc tế, giai đoạn hiện nay của thời đại là giai đoạn
đấu tranh xung đột lợi ích của các tập đoàn lợi ích (giai cấp) trong nội bộ quốcgia và đấu tranh dân tộc giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ với tính chất và cường
độ ngày càng gay gắt, phức tạp xung quanh các vấn đề chủ quyền, lợi ích
+ Xét về chủ thể chính của thời đại : Các nước Tư bản lớn vẫn quyết liệt
khẳng định và tái lập sự thống trị toàn cầu của mình bằng các lợi ích kinh tếchính trị do nắm trong tay nguồn tài chính và nhân lực khổng lồ Các quốc giadân tộc trên thế giới đang triển khai cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản (xu
Trang 9thế đế quốc) với nội dung sinh động như: chống tự do hoá tư bản chủ nghĩa,chống tư bản tài chính lũng đoạn, chống độc quyền tư bản toàn cầu, chống toàncầu hoá tư bản chủ nghĩa…
Thời đại (theo nghĩa rộng) xuất hiện từ những điều kiện vật chất kháchquan, trên cơ sở mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất trên quy mô toàn thế giới Thời đại ngày nay xuất hiện từ những điều kiệnvật chất do sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp tạo ra và trên cơ sở cácmâu thuẫn cơ bản tồn tại ngay trong xã hội tư bản Bởi vậy, những biến độnglịch sử những năm qua không hề làm thay đổi tính chất và nội dung của thời đạingày nay Đó vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hộitrên phạm vi thế giới, mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917; làthời đại đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủnghĩa xã hội, gắn liền với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại tạo ranhững tiền đề vật chất - kỹ thuật ngày càng đầy đủ cho việc chuyển lên chủ nghĩa xãhội trong tương lai
2 Đặc điểm, xu thế vận động của thế giới trong thời đại hiện nay
2.1 Những đặc điểm mới trong giai đoạn hiện nay của thời đại
So sánh thời đại hiện nay (giai đoạn hiện nay) với giai đoạn trước đây được tính từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX về trước có nhiều đặc điểm mới nổibật, mang tính đặc trưng để phân biệt:
-Một là: Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại có bước phát
triển mạnh mẽ đạt được những kỳ tích to lớn, biến thế giới thành Phẳng, hình thành nền kinh tế tri thức.
- Do nhu cầu của phát triển, cuộc cách mạng khoa học và công nghệdiễn ra mạnh mẽ, đạt được nhiều kỳ tích tác động đến tất cả các lĩnh vực củađời sống mỗi quốc gia và quan hệ quốc tế hiện nay, cải cách cơ bản lối sống
và nhận thức của con người, thâm nhậm vào mọi ngõ ngách của cuộc sống.Theo nhiều học giả: Đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học và côngnghệ hiện đại là ở chỗ khoa học, công nghệ và sản xuất không còn là ba lĩnhvực tách rời nhau Trái lại, phát minh khoa học, chuyển hóa thành công nghệ
Trang 10và đưa vào sản xuất đại trà ngày càng thống nhất trong một quá trình; khoảngcách giữa các khâu nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu triển khai và ứng dụng vàosản xuất ngày càng rút ngắn.
- Những thành tựu khoa học và công nghệ được ứng dụng rộng rãitrong mọi lĩnh vực của cuộc sống, trở thành một bộ phận tất yếu của lựclượng sản xuất Trong nền sản xuất hiện đại, sản phẩm đổi mới rất nhanh, giáthành giảm mạnh, nguyên vật liệu được sử dụng tiết kiệm, năng suất lao độngrất cao
- Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại là động lực thúc đẩy lựclượng sản xuất phát triển vĩ đại, đồng thời bản thân nó là lực lượng sản xuấtmới, hiện đại Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trong thế kỷ XX
đã thay đổi căn bản Cách mạng khoa học và công nghệ trực tiếp hoặc giántiếp dẫn đến những biến đổi khó lường về kinh tế - xã hội, văn hoá, tư tưởng,lối sống và cả kiến trúc thượng tầng chính trị của xã hội Nó buộc các quốcgia thuộc hệ thống xã hội khác nhau và cả cộng đồng thế giới phải thay đổi cơchế quản lý, phải cải cách hành chính, từ bỏ cơ chế, mô hình quản lý khôngthích hợp để tương thích lẫn nhau trong một xã hội không thuần nhất Côngnghệ thông tin đã biến đổi thế giới, biến thế giới thành “phẳng”
- Khoa học, công nghệ, tri thức là tài sản cả loài người không củariêng giai cấp, dân tộc nào Vị trí của công nghệ và hàm lượng tri thức trởthành yếu tố quan trọng nhất (hơn cả vốn, nguyên liệu, sức lao động) của hệthống sản xuất hiện đại tạo nên nền kinh tế tri thức
Hai là: Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế tất yếu khách quan của
chung nhân loại.
- Ngày nay toàn cầu hóa đã trở thành một xu thế của thế giới đương
đại Toàn cầu hóa là một qúa trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ởnhiều nước khác nhau đang ngày càng trở nên phụ thuộc và chi phối lẫn nhau.Nội dung của toàn cầu hóa mở rộng ra mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhưmột đòi hỏi khách quan:
Trang 11+ Toàn cầu hóa là hệ quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuấthiện đại, đặc biệt là của công nghệ thông tin Toàn cầu hóa trước hết là biểuhiện của sự xã hội hóa cao độ lực lượng sản xuất Toàn cầu hóa đồng thời là
sự phát triển tất yếu theo chiều rộng và chiều sâu của quan hệ sản xuất tư bảnchủ nghĩa, mặc dầu không phải tất cả các nước tham gia toàn cầu hóa đều lànhững nước tư bản Trung tâm của toàn cầu hóa là các nước tư bản phát triển,
xứ sở của phần lớn công ty xuyên quốc gia trên thế giới
+ Toàn cầu hóa là một quá trình phức tạp đầy mâu thuẫn, chứa đựng
cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực, cả thời cơ và thách thức đối với các quốcgia, trong đó có các nước đang phát triển, chậm phát triển chịu nhiều tháchthức gay gắt hơn cả
+ Toàn cầu hóa có tác dụng nhất định trong việc thúc đẩy xu thế hòabình, hợp tác để phát triển Toàn cầu hóa tháo dỡ các rào cản đối với tự dothương mại, làm cho giao lưu kinh tế diễn ra mạnh mẽ nhanh chóng Toàncầu hóa tạo môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt buộc các nước phải có
tư duy năng động, có cơ chế quản lý, bộ máy quản lý hoạt động có hiệu quả.Toàn cầu hóa và cách mạng thông tin tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộctiếp cận nhanh chóng những thành tựu văn hóa, khoa học của loài người đồngthời có điều kiện đóng góp tích cực vào sự phát triển của văn minh nhân loại
Bên cạnh tác dụng tích cực nói trên, toàn cầu hóa tạo ra những tháchthức và nguy cơ không nhỏ đối với các nước, nhất là các nước đang pháttriển Toàn cầu hóa làm tăng tính phụ thuộc của các nước đang phát triển vàobên ngoài về vốn, công nghệ và thị trường Toàn cầu hóa kinh tế có tác độngtrực tiếp đến lĩnh vực chính trị, đến an ninh quốc gia Nó tạo ra nguy cơ cácnước đang phát triển bị lệ thuộc về kinh tế, từ đó sẽ dẫn đến lệ thuộc về chínhtrị gây nguy hại đến chủ quyền và an ninh quốc gia
Ba là: Cuộc đấu tranh về lợi ích là trung tâm của mọi xung đột giữa
các tập đoàn (giai cấp) và đấu tranh dân tộc tiếp diễn và ngày càng tăng lên.
Sau sự kiện Liên Xô tan rã mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc càngphức tạp, đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trên thế giới không dịu đi
Trang 12mà tiếp tục diễn ra gay gắt dưới những hình thức mới Nhưng cuộc đấu tranh
đó vẫn là động lực cho việc loại bỏ trật tự xã hội lỗi thời, bất công, xây dựng
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Ở các nước tư bản phát triển cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dântộc xung đột tôn giáo vẫn tiếp diễn, song đấu tranh giai cấp xung đột sắc tộc,tôn giáo vẫn nổi trội và gay gắt hơn đấu tranh dân tộc Nội dung chính củađấu tranh giai cấp mang hình thức mới đó là các phong trào công nhân laođộng chống các chính sách tăng cường áp bức bóc lột, xâm phạm lợi íchngười lao động của chính quyền đại diện lợi ích các công ty tư bản kếch xù.Phong trào "chống toàn cầu hóa" lan mạnh khắp các nước tư bản phát triển.Thực chất không phải là chống giao lưu quốc tế, tự do thương mại v.v mà làđấu tranh bảo vệ lợi ích sống còn của người lao động trước sự tấn công, sựlấn tới của tư bản độc quyền
Tại các nước xã hội chủ nghĩa cũ, do chế độ XHCN sụp đổ, quan hệgiai cấp đã thay đổi căn bản Người lao động bị bóc lột nặng nề, hàng triệungười thất nghiệp đời sống khó khăn, điêu đứng Đấu tranh giai cấp và đấutranh dân tộc diễn ra dưới nhiều hình thức, chủ yếu là các hình thức đấu tranhhợp pháp như biểu tình, bãi công, hội thảo, đấu tranh trên báo chí, trên cácdiễn đàn khác
Ở các nước đang phát triển, mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộcđều sâu sắc, đa số các nước đang phát triển đứng trước hàng loạt vấn đề kinh
tế xã hội chính trị phức tạp như đói nghèo, bệnh tật, thất học, ô nhiễm môitrường v.v Vấn đề cơ bản và bức xúc nhất là vấn đề bảo vệ chủ quyền quốcgia dân tộc trước chủ nghĩa đế quốc bá quyền, chủ nghĩa thực dân mới, trướcnhững mặt tiêu cực của toàn cầu hóa
Độc lập dân tộc, bình đẳng dân tộc là vấn đề lớn nhất, bức xúc nhấtcủa thời đại hiện nay Bóc lột dân tộc tiếp tục là điều kiện tồn tại của chủnghĩa tư bản độc quyền Các dân tộc nhỏ yếu chậm phát triển không những bịbóc lột mà còn có nguy cơ bị đẩy ra bên lề cuộc sống hiện tại Hố ngăn cáchgiữa "khu vực trung tâm" và "khu vực ngoại vi" của thế giới tư bản ngày
Trang 13càng sâu rộng thêm Các chính sách đế quốc tiếp tục được áp dụng đối vớicác nước đang phát triển, trong đó nguy hiểm nhất là chính sách xâm lượcchia để trị, can thiệp trắng trợn vào nội bộ các nước Mỹ đang thi hành chínhsách đế chế ngay trong thời đại văn minh.
Bốn là: Quan hệ giữa các nước lớn đang chi phối thế giới hiện đại
-nhân tố rất quan trọng tác động đến sự phát triển thế giới
Trong số hơn 200 quốc gia, một số cường quốc có sức chi phối lớn đốivới chính trị, kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế đương đại Căn cứ vào sứcmạnh tổng hợp, ảnh hưởng thực tế, những quốc gia sau đây được cộng đồng
thế giới xem là nước lớn: Hoa kỳ, Canada, Braxin, Nga, Anh, Pháp, Đức,
Italia, Trung Quốc, Nhật Bản, ấn độ:
+ Các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn có vai trò đặc biệt quan trọngđối với sự phát triển thế giới 11 nước lớn chiếm 1/3 lãnh thổ và quá nửa dân số thếgiới, hơn 70% GDP của cả thế giới Đa số nước lớn là những cường quốc hàng đầu
về kinh tế, khoa học, công nghệ, sức mạnh quân sự Có 5 nước lớn là uỷ viên thườngtrực Hội đồng bảo an LHQ Nhóm G7 là những nước tư bản phát triển nhất
+ Các nước lớn không phải một khối thống nhất mà là một tập hợp đầy mâuthuẫn Quan hệ giữa các nước lớn gồm nhiều loại: đồng minh, liên kết, không liênkết, đối tác, đối thủ, đối thủ trực tiếp, đối thủ tiềm tàng hết sức phức tạp
Tập hợp nước lớn có thể chia hai loại: các nước lớn tư bản phát triển (G7),đứng đầu là siêu cường Mỹ, và các nước lớn còn lại (Trung Quốc, Nga, ấn Độ,Braxin) Hoa kỳ, đứng đầu các nước tư bản phát triển, là siêu cường duy nhất hiệnnay Hoa kỳ chiếm 31,2% GDP thế giới, có chi phí quân sự chiếm hơn 40% chi phíquân sự toàn cầu Canada là nước tư bản lớn nhất, phát triển nhất sau Mỹ ở Tây báncầu Anh, Pháp, Đức, Italia là những thành viên chủ chốt của EU, một trong ba trungtâm tư bản thế giới Về nhiều mặt có thể xem EU là một "nước lớn" vì các nướctrong EU đang "nhất thể hóa" về kinh tế và chính trị
Trung Quốc, nước đông dân nhất thế giới (1,3 tỷ người), là nước XHCNduy nhất trong câu lạc bộ các nước lớn Tuy nhiên, Trung Quốc không đóng vàkhông muốn đóng vai trò một cường quốc XHCN như Liên Xô trước đây trong
Trang 14quan hệ với các nước lớn khác Trung Quốc vẫn là một nước đang phát triển,nhưng là một trong những nước kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, đã vươnlên vị trí thứ 7 về GDP Trung Quốc là nước duy nhất trong tương lai có khảnăng thách thức địa vị siêu cường độc tôn của Mỹ.
Liên bang Nga, nước có diện tích rộng nhất, tài nguyên phong phúnhất thế giới, nước kế thừa Liên Xô cũ Hiện nay Nga vẫn là cường quốc hàngđầu về quân sự, song không còn địa vị siêu cường Những lợi ích quốc gia vàquan điểm về lợi ích quốc gia của Nga, đặc biệt là lợi ích ngoài lãnh thổ Nga,điển hình là việc sáp nhập bán đảo Crưm vào Nga thánh 3/2014 vừa qua, đã thayđổi sâu sắc, mặc dầu Nga vẫn còn những lợi ích truyền thống
Nhật Bản, cường quốc số hai về kinh tế đang tìm cách vươn lên địa vịcường quốc quân sự, chính trị tương ứng với địa vị kinh tế, chủ yếu dựa vàoHiệp ước an ninh Nhật - Mỹ Việc triển khai một quân đội mạnh hoạt độngngoài lãnh thổ Nhật Bản những thập kỷ trước gặp phải sự phản ứng của cộngđồng các nước láng giềng; hiện nay lấy lí do tự vệ bảo vệ lãnh thổ nhất là cácvùng đảo tranh chấp với Trung Quốc Nhật bản đang có tham vọng xây dựngmột quân đội mạnh xứng tầm với vị thế kinh tế với những bước đi và lộ trìnhphù hợp
Ấn Độ, Braxin là những nước đang phát triển, không liên kết đang tìmmọi cơ hội để vươn lên địa vị nước lớn phát triển Mục tiêu chính trị trướcmắt của hai nước là trở thành uỷ viên thường trực Hội đồng bảo an
Năm là: Nhân loại đang đứng trước những vấn đề toàn cầu hết sức
bức xúc đòi hỏi phải có sự hợp tác đa phương để giải quyết
Chưa bao giờ nhân loại đang phải đối phó với rất nhiều vấn nạn đòihỏi phải có sự hợp tác đa phương để giải quyết Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đa phương như bảo vệ môi trường, hạn chế bùng nổ dân số, đẩy lùi những bệnh dịch hiểm nghèo,chống tội phạm quốc tế” Những vấn nạn có từ lâu nhưng chưa bao giờ chúng trở thành vấn đề lớn,
Trang 15nghiêm trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của các quốc gia, tương lai của loàingười tuỳ thuộc một phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề này: Đó là sựnóng lại của trái đất với vấn đề hiệu ứng nhà kính; vấn đề ô nhiễm môi trườngvới việc xử lý rác thải; vấn đề khủng hoảng sinh thái; vấn đề bệnh tật như lâynhiễm HIV-AIDS-SARS - Dịch cúm gia cầm; Vấn đề đói nghèo, già đi củadân số một số nước, bất bình đẳng giới tính Giải quyết những vấn đề nàyphụ thuộc vào đường lối của mỗi quốc gia và do đó phong trào quần chúngđòi giải quyết các vấn đề toàn cầu là một bộ phận của cuộc đấu tranh chungcủa nhân dân thế giới.
2.2 Xu thế vận động của thế giới trong thời đại ngày nay
Nhìn vào thế giới hiện đại thấy đầy rẫy nhưng mối quan hệ đan xen, chiphối, chằng chịt nhau, song nếu phân tích biện chứng nội tại chúng ta sẽ tìm ranhững quy luật, khuynh hướng chung điển hình đó là:
a Xu thế hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển
Hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏibức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới Các nước dành ưu tiên chophát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăngcường sức mạnh tổng hợp của mỗi nước; đồng thời tạo sự ổn định chính trị và
mở rộng hợp tác quốc tế Nhân tố kinh tế ngày càng có vị thế quan trọng trongquan hệ giữa các quốc gia Chính sách đối ngoại mỗi nước nhằm phục vụ đườnglối, chính sách phát triển kinh tế nước mình, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế,khai thác nguồn lực bên ngoài phục vụ cho sự phát triển của đất nước
b Hợp tác ngày càng tăng, nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắt
Các quốc gia lớn, nhỏ đều tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợptác và liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vựckhác Hợp tác ngày càng tăng, nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắt Xu hướng nàytrở thành đòi hỏi khách quan và bức bách với các nước trong cộng đồng quốc tế,được tác động bởi xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá đang diễn ra mạnh mẽ hiệnnay trên thế giới Trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ phát triển,mỗi nước không thể sống biệt lập, mà cần phải có chính sách liên kết, hợp tác để
Trang 16phát triển Cùng với việc mở rộng quan hệ chính trị đối ngoại với các nước trênthế giới và khu vực, nhằm duy trì và củng cố hoà bình, ổn định, các nước cònthực hiện liên kết kinh tế, giao lưu văn hoá, giáo dục, y tế, thông tin tạo điềukiện đẩy mạnh hợp tác Hoà nhập thế giới tạo điều kiện để liên kết tốt hơn, giúpcác nước đứng vững trong cạnh tranh và phát triển.
c Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường
Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đấu tranhchống sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và nềnvăn hoá dân tộc Trong quan hệ quốc tế hiện nay, để giành vị trí có lợi, các quốcgia dân tộc đã điều chỉnh chính sách, tạo cơ hội tận dụng những thành tựu khoahọc - công nghệ và quá trình quốc tế hoá để phát triển kinh tế Đối với các nướcđang phát triển, do sự phụ thuộc vào các nước tư bản phát triển về trình độ côngnghệ, vốn và chất xám, nên họ đang đứng trước những thách thức lớn Việcnâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đấu tranh chống sự áp đặt vàcan thiệp của nước ngoài là một xu thế tất yếu trong bối cảnh quốc tế hiện nay.Cùng với việc khắc phục khó khăn để phát triển kinh tế - xã hội, nhiều nướcđang cố gắng giữ ổn định về chính trị, tạo môi trường hoà bình, thực hiện chínhsách hoà giải, hoà hợp dân tộc nhằm xây dựng một trật tự kinh tế quốc tế côngbằng, bình đẳng và hợp lý
d Xu hướng dân chủ hóa đời sống quốc tế như một khát vọng chung của nhân loại
Sau sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống XHCN tan rã nhiều giá trị dân chủ,
tự do XHCN, bảo đảm quyền công dân trong khuôn khổ nhà nước XHCN bịthay đổi, nhiều người “hồ hởi” đón chào dân chủ kiểu phương tây, dân chủTBCN song đã nhanh chóng nhận ra bản chất thật sự của kiểu dân chủ mới(Dân chủ hình thức, dân chủ pháp lý) mà không có bảo đảm cụ thể có thiênhướng quay lại giá trị đã mất nhưng trên cơ sở tiếp nhận tinh hoa hợp lý của dânchủ phương tây
Trong đời sống quốc tế xu thế dân chủ hóa, bình đẳng và ngang quyền nổilên như đòi hỏi tất yếu Bình đẳng và được tôn trọng đã trở thành khát vọng của
Trang 17các quốc gia không phụ thuộc vào vị thế kinh tế, xã hội và địa chính trị Nhiều tổchức liên kết giữa các quốc gia, khu vực, vùng lãnh thổ ra đời đan cài nhau tạonên mối quan hệ chằng chịt khó xác định vị thế.
e Các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình
Các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa đấu tranhtrong cùng tồn tại hoà bình Hợp tác và đấu tranh là hai mặt trong quan hệ quốc
tế và chi phối phương thức quan hệ giữa các nước trong quá trình hội nhập vàgiao lưu quốc tế Đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hoà bình giữa các nước
có chế độ chính trị - xã hội khác nhau là nguyên tắc, là phương pháp xử lý trongquan hệ quốc tế hiện nay Khi nhu cầu hội nhập quốc tế và khu vực ngày càngđặt ra đối với các dân tộc, thì môi trường hoà bình, ổn định và phát triển của cácdân tộc là điều kiện để hội nhập tốt hơn, hiệu quả hơn
Tình hình thế giới với những đặc điểm và xu thế như đã nêu đã và đangtác động mạnh trên nhiều mặt đến đường lối, chính sách đối nội cũng như đốingoại của các quốc gia dân tộc trên thế giới Trong tình hình đó, hầu như tất cảcác nước đều tiến hành điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng đa dạng hoá,
đa phương hoá các quan hệ quốc tế, tìm cách hội nhập ngày càng sâu rộng vớikhu vực và thế giới vì mục tiêu phát triển
2.3 Ý nghĩa của việc nhận diện thời đại
Đối với mỗi quốc gia dân tộc, chính đảng việc xác định đúng thời đại có ýnghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn vì: đây là vấn đề có tính nguyên tắc,chiến lược, là vấn đề thuộc về thế giới quan, lập trường quan điểm Bởi vì nếu
có xác định đúng đắn vấn đề thời đại thì mới hoạch định chiến lược và lãnh đạocách mạng thành công
Đối với sinh viên: Nhận diện đúng đắn thời đại (thời điểm đang sống về
đặc điểm bối cảnh lịch sử, động lực, nội dung, tính chất và phương hướng vận động)
sẽ trang bị cho sinh viên những kiến thức để xác định được cái cần phải trang
bị “cái gì’’ cho hành trang tương lai Phải thích ứng như thế nào trong một xã
Trang 18hội biến đổi Từ đó xây dựng cho mình động cơ, mục đích phấn đấu đúng đắn,hun đúc lý tưởng để lập thân, lập nghiệp.
Nhận diện đúng vấn đề thời đại (thời thế, sự việc) để cho bản thân sinhviên có niềm tin vào cuộc sống; tự giải quyết được các vấn đề tình huống cuộcsống gặp phải sau này không trông chờ ỷ lại Không bị lôi kéo, bị mắc sai lầmvào những ảo tưởng của cuộc sống do xã hội tạo ra
Nhận diện đúng thời đại là nhận thức đúng về bản thân mình từ đó có ýthức và trách nhiệm xã hội để chung tay cùng xã hội giải quyết những vấn đềcấp bách đặt ra
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Tập bài giảng: Thời đại và những vấn đề lớn của thế giới hiện nay,
Học viện CT-HC Quốc gia HCM, NXB Chính trị Hành chính năm 2010
2 Thomas L Friendman: Thế giới Phẳng, NXB Trẻ, Hà Nội 2008.
3 Phạm Chiến Khu: Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền của Hêghen;
Tạp chí Luật Triết học 06:25’PM – Thứ sáu 01/6/2007
4 V.I Lê nin: Toàn tập (tập 20), NXB Tiến bộ, M1980, tr112.
5 C,Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, tr.523.
6 N.M Voskresenskaia, Chế độ dân chủ nhà nước và xã hội, NXB Tri
Trang 19Chương II:
CÁCH MẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
1 Quan niệm về khoa học công nghệ
1.1 Khái luận chung
Cuộc cách mạng Khoa học công nghệ (KHCN) hiện nay là bước pháttriển nhảy vọt về chất so với hai các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật (KHKT)trước đó, khi những tri thức khoa học và yếu tố kỹ thuật chuyển biến nhanhchóng và trở thành một bộ phận khăng khít của công nghệ, thống nhất hữu cơngay bên trong quy trình tạo ra vật chất hoặc phi vật chất Đây là kết quả lần thứ
ba của cuộc cách mạng KHKT (nói cách khác Cách mạng KHCN là đỉnh cao của Cách mạng KHKT), nó làm cho Số lượng của cải mà loài người sản xuất ra
nhiều chưa từng có trên cơ sở lực lượng sản xuất to lớn Có được những kết quả
đó chính là nhờ sự phát triển đột biến của khoa học và công nghệ trong suốt nửathế kỷ qua Chính KHCN không những làm cho nền sản xuất công nghiệp biếnđổi về chất, mà hơn nữa, còn đẩy nền kinh tế công nghiệp lùi dần vào lịch sử, đểxác lập nền kinh tế mới – kinh tế tri thức
Vậy KHKT là gì và KHCN là gì là những vấn đề cần phải tìm hiểu cụ thể
1.2.Khái niệm Khoa học kỹ thuật và cách mạng KHKT
Trang 20Ngay từ khi con người hình thành với tính chất là cộng đồng người đểduy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con người đã phải lao động, phải sảnxuất ra của cải vật chất; họ đã biết tác động vào tự nhiên bắt tự nhiên bộc lộ racác quy luật vận động của chúng và con người nhận thức được Nhận thức từtrực quan đến khái quát thành lý luận, qua đó phục vụ con người chinh phục cảitạo thế giới phục vụ cho bản thân họ Trong các tri thức con người tích lũy được
tri thức khoa học là kim chỉ nam, dẫn đường cho tri thức nhân loại vươn lên
chinh phục tự nhiên, xã hội
Tri thức khoa học được hình thành qua con đường nhận thức khoa học.Khoa học là một dạng hoạt động lao động của con người, nó ra đời trong quátrình chinh phục giới tự nhiên và khoa học giúp nâng cao hiệu quả hoạt động
của con người Nói vắn tắt khoa học là hệ thống các kiến thức về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy dựa trên những phương pháp được xác định để thu nhận kiến thức Đó là một hình thức hoạt động đặc thù, là hoạt động nhận
thức Nó ra đời chỉ ở một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử
Trên quan điểm duy vật biện chứng, xuất phát từ đời sống hiện thực củacon người là sản xuất ra của cải vật chất, C.Mác đã phát hiện ra hai mặt khôngtách rời nhau: Một là quan hệ giữa người với tự nhiên, mặt khác là quan hệ giữa
người với người trong sản xuất “Trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau” Quan
hệ giữa người với tự nhiên trong sản xuất chính là lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực hoạt động thực tiễn của con ngườitrong quá trình sản xuất ra của cải vật chất Lực lượng sản xuất là toàn bộ cáclực lượng được con người sử dụng trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất,bao gồm: người lao động (với thể lực, tri thức và kỹ năng lao động nhất định) và
tư liệu sản xuất (công cụ lao động) Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất,người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất Bằng thể lực, tri thức
và kỹ năng lao động của mình, người lao động sử dụng tư liệu lao động, trước
Trang 21hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vậtchất phục vụ cho mình.
Cùng với quá trình phát triển của sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao độngcủa con người nhất là trí tuệ ngày càng được nâng cao dần, con người khi thamgia sản xuất không còn tác động trực tiếp vào đối tượng lao động mà ngày càng
thông qua các công cụ lao động mới, máy móc thiết bị - các nhân tố kỹ thuật Kỹ thuật thông thường được hiểu là toàn bộ các thiết bị, phương tiện, máy móc và công cụ vật chất nằm trong tư liệu sản xuất để quản lý, khai thác, bảo quản và chế tạo các sản phẩm dùng cho sản xuất và thỏa mãn các nhu cầu của đời sống
xã hội
Trong sản xuất và đời sống khoa học và kỹ thuật không tách rời nhau màkết hợp với nhau thành một thể thống nhất, khoa học đi sâu nghiên cứu cấu trúcvật chất như: cấu trúc nguyên tử, gen, xâm nhập với quy mô ngày càng lớn vàokhám phá vũ trụ và vào ngững cầu trúc siêu tinh vi Chính vì vậy khoa học đãkhám phá ra ngày càng nhiều các quy luật của tự nhiên và sự sống, tạo ra nhữngnguyên liệu mới, vật chất mới không có trong tự nhiên, sử dụng năng lượng vàtài nguyên hiệu quả hơn, tìm ra những năng lượng tiềm ẩn vô cùng lớn như hạtnhân, bức xạ mang lại những thành quả to lớn về khai thác sử dụng tài nguyên,
về điều trị bệnh tật, về nhân giống mới, về năng xuất chất lượng, về biến đổi và
phục vụ các nhu cầu ngày càng tinh vi của con người Khoa học kỹ thuật là việc kết hợp tri thức khoa học và yếu tố kỹ thuật trong quá trình sản xuất, chinh phục
tự nhiên của con người Những biến đổi dần dần từ lượng của khoa học kỹ thuật
nêu trên theo cấp độ càng nhanh theo tiến độ phát minh của tri thức khoa học đãtạo ra một cuộc cách mạng mới trong KHKT
Cách mạng hiểu theo nghĩa thông thường nghĩa là thay cũ, đổi mới với sự
ra đời của cái mới tiến bộ hơn cái cũ, ưu việt hơn cái cũ về chất Cách mạng
khoa học kỹ thuật cũng vậy; đó là một sự thay đổi kỹ thuật cũ bằng một kỹ thuậtmới, tiến bộ hơn kỹ thuật cũ từ đó làm cho năng suất lao động tăng lên gấpnhiều lần so với kỹ thuật sản xuất trước đây
Trang 22Tóm lại, cách mạng khoa học kỹ thuật là một bước tiến cao hơn so với
cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XIX Với cuộc cách mạng này thì con ngườibước sang sang một phương thức sản xuất mới là tự động hóa thay cho cơ khíhóa trước đây Đó là sự đi tiếp của cách mạng công nghiệp đã loại bỏ yếu tố cơkhí và sử dụng điện từ, con người không tham gia trực tiếp vào quá trình sảnxuất
1.3.Khái niệm KHCN và Cách mạng KHCN
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đến một mức độ nhất định biến thànhcách mạng Trong cách mạng KHKT con người làm chủ máy móc thiết bị, đốitượng và công cụ, phương tiện sản xuất để thực hiện chúng, đồng thời cũng
thông qua đó phát hiện ra những quy trình để điều khiển chúng, đó là các “bí quyết nghề, bí quyết ngành’’ đó là các kỹ năng mà người sản xuất, nghiên cứu
phát hiện ra, cùng với quá trình sáng tạo con người dần không còn trực tiếp thaotác trực tiếp với máy móc nữa, sản xuất được nâng lên trình độ cao hơn “tự động
hóa’’ Ở đó, đối tượng lao động hoàn toàn là do chính hệ thống kỹ thuật tự vận
hành, hệ thống này hoạt động không cần có sự tham gia trực tiếp của con ngườisản xuất Con người, được giải phóng khỏi việc thực hiện những chức năng máymóc, kỹ thuật, có khả năng để tiến vào lao động sáng tạo, trình độ văn hoá kỹthuật của con người được nâng cao Khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ đãcho phép lực lượng sản xuất tiến những bước khổng lồ Với những tiến bộ vượtbậc, sức mạnh to lớn của mình, khoa học kỹ thuật giúp con người có điều kiệntốt hơn để học tập, nghiên cứu phát triển trí tuệ và con người, với những hoạtđộng của mình tác động ngược lại sự phát triển của khoa học kỹ thuật, thúc đẩynhững tiến bộ xã hội
Công nghệ, theo nghĩa truyền thống được hiểu là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, kỹ thuật, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Công nghệ bao gồm nhiều khâu như: điều tra,
nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất thử đến các vấn đề thông tin, tư vấn, đào tạotham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm cuối cùng Công nghệ cũng chính là bảnthân những thao tác khai thác, chế tạo, vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, kiểm tra
Trang 23đó đều là mỗi phần của quá trình sản xuất chung nhằm vào một sản phẩm cuốicùng nhất định
Công nghệ gồm bốn thành phần THIO:
+ Thành phần kỹ thuật T (Technoware) hay gọi là vật tư thiết bị.
+ Thành phần con người H (Humanware) -lao động tay nghề.
+ Thành phần thông tin I (Inforware) hay gọi là thông tin tri thức.
+ Thành phần tổ chức quản lý O (Orgaware)
Bốn thành này có tác động qua lại với nhau và cùng thực hiện bất kỳ quátrình sản xuất và dịch vụ nào Khoa học trước đây được kết hợp với kỹ thuậtmang lại biến đổi to lớn thì nay chuyển dần sang kết hơp thống nhất và xuyênthấm trong mọi thành tố của sản xuất tạo thành KHCN Trong quá trình ứngdụng cách mạng KHKT tạo ra các bước chuyển dần dần về lượng, quy địnhchuyển sang chất mới sáng tạo vượt bậc với cấp độ nhanh chóng mặt của thànhtựu đã tạo ra cuộc cách mạng mới là cách mạng KHCN
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ là một giai đoạn phát triển của
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, nó bắt đầu hình thành và phát triển từ nhữngnăm 80, 90 của thế kỷ XX Các thành tựu khoa học và công nghệ kỳ diệu nhấtcủa thế kỷ XX mà con người đạt được là: con người bay vào vũ trụ, sử dụngnăng lượng nguyên tử, công nghệ gen, máy tính và mạng internet Có thể nóirằng cách mạng khoa học công nghệ và cách mạng khoa học kỹ thuật là hai kháiniệm có gắn bó chặt chẽ với nhau Nhờ có sự phát triển của khoa học kỹ thuậttạo điều kiện cho sự ra đời của công nghệ mới và từ đó lại thúc đẩy các ngànhkhoa học kỹ thuật phát triển hơn nữa bởi khoa học công nghệ là sự ứng dụng củakhoa học kỹ thuật để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, trong hoạt động củacon người Bản thân công nghệ đã chứa đựng trong nó thành phần kỹ thuật; mộttrong bốn thành phần tạo nên công nghệ Vì vậy khoa học kỹ thuật phát triển sẽlàm cho khoa học con người phát triển theo
2 Cách mạng khoa học công nghệ.
Để có bước chuyển về chất từ KHKT sang KHCN phải có những nhân tốnhất định, đó là những nhân tố lý thuyết và thực tế cụ thể:
Trang 24Những lý thuyết nền tảng cho cuộc cách mạng KHCN đương đại là:
+ Thuyết tương đối của nhà Bác học vật lý Albert Einsteivạch ra quy luật phổ biến của không gian - thời gian, vật chất -vận động… là thành tựu tri thức vĩ đại của con người trên conđường tìm hiểu tính thống nhất của thế giới vật chất và mởđường cho các khoa học cơ bản hiện đại (vật lý tầng cao, vật lýthiên thể, hoá học phóng xạ…) và ra đời các ngành công nghệcao: công nghệ hạt nhân, vũ trụ…
+ Thuyết lượng tử do Max Planck phát hiện, là bướcnhảy vọt mang tính lịch sử trong nhận thức của con người về sựvận động và tác dụng tương hỗ của thế giới vật chất vi mô Nókhông những trở thành cơ sở lý luận của các ngành mới, như:Vật lý ở trạng thái ngưng tụ, hoá học kết cấu, sinh vật học lýthuyết; mà còn mở ra cánh cửa lớn dẫn đến sự ra đời của cácngành công nghệ vi điện tử, quang điện tử, laser, vật liệu mới,hạt nhân, nano…
+ Mật mã di truyền ADN do công của J.Watson vàF.Crick, chính là sự khám phá cấu trúc xoắn kép của phân tửAND, giải mã bí ẩn di truyền của thế giới sinh vật phong phú,
mở ra kỷ nguyên sinh học phân tử, tạo tiền đề trực tiếp chonhững bước tiến như vũ bão của KH về sự sống, công nghệ sinhhọc…
Chúng tạo thành trục “tam giác tư duy” khổng lồ của nhân loại để khámphá thế giới vĩ mô, thế giới vi mô và thế giới sự sống Trên cơ sở đó, cuộc cáchmạng KHCN phát khởi kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai trở đi, dự báo kéodài đến giữa thế kỷ XXI
Những thành tựu của khoa học lý thuyết (gọi là khoa học cơ bản) muốn trởthành nhân tố sống trong nên sản xuất vật chất thì phải đưa vào thực nghiệm đểchứng minh kết quả tiếp theo Phần nghiên cứu tiếp theo này gọi là khoa học kỹthuật Đến đầu thế kỷ XX nhiều ngành nghiên cứu khoa học trở thành lực lượng
Trang 25sản xuất trực tiếp – tức là khó phân biệt được nghiên cứu cơ bản với nghiên cứutriển khai ứng dụng, hay nói cách khác khó phân biệt phần khoa học với phầncông nghệ vì khoa học công nghệ xem lẫn nhau, hòa trộn nhau người ta dùngkhái niệm: “khoa học công nghệ’’ Sự bùng nổ của KHCN đang diễn ra hàngngày từ giữa thế kỷ XX đến nay được gọi là cách mạng KHCN.
Khái niệm Cách mạng hiểu theo nghĩa thông thường nghĩa là thay cũ, đổimới với sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn cái cũ, ưu việt hơn cái cũ về chất
Cách mạng trong KHCN có những đặc điểm sau:
+ Cách mạng KHCN bao trùm mọi lĩnh vực, mọi ngõ ngách của đời sống
xã hội, từ những ứng dụng vĩ đại cho đến những ứng dụng thông thường, từ lĩnhvực nhân văn nhất đến phi nhân văn – văn hóa nhất: ví dụ là tìm ra năng lượnghạt nhân để phục vụ con người đã được áp dụng sản xuất bom nguyên tử, cộngnghệ sinh học giải mã bản đồ gen con người để chữa bệnh đến, để chế bản vôsinh Chế tạo mạng điện tử, vi tính hóa tự động hóa trong mọi thiết bị phục vụcon người như phương tiện đi lại (tàu ngầm, tàu sắt siêu tốc, máy bay) đến vậtdụng gia đình (máy điều hòa, ti vi, tủ lạnh, máy vi tính, điện thoại)
+ Cấp độ biến đổi của công nghệ nhanh gấp hàng trăm lần trước đây, thế
hệ công nghệ sau được rút ngắn nhiều lần so với thế hệ trước Năng lượng và tàinguyên được sử dụng hiệu quả hơn nhiều, nền sản xuất đã đi tắt đón đầu bỏ quacác khâu trung gian mang lại hiệu xuất to lớn
+ Tài nguyên tri thức và công nghệ không còn mang tính chất cá nhân mà
xã hội hóa và phổ cập hóa sâu sắc Chia sẻ thông tin KHCN đã trở thành yếu tốbắt buộc của xã hội và văn minh Cách mạng KHCN đã tạo ra một nền sản xuấtkinh tế mới – kinh tế tri thức
+ Xã hội đã phá bỏ mọi khoảng cách vách ngăn chế độ chính trị, địa lý
không gian thời gian để san phẳng thế giới bằng xa lộ thông tin, bằng toàn cầu
hóa kinh tế KHCN không chỉ áp dụng trong sản xuất mà còn mở rộng trong ứngdụng quản lý xã hội, trong tạo lập môi trường chính trị - dân sự, trong thươngmại và kinh tế
Trang 26Kết luận: Cách mạng KHCN vì vậy, nó tạo ra một cuộc cách mạng thực
sự, giai đoạn càng gần thời điểm hiện nay KHCN càng phân ngành rõ nét và tập
trung chuyên sâu – được thống nhất gọi là công nghệ chuyên ngành cao Các
nhà khoa học đã xác định có 08 ngành công nghệ cao đó là:
1 Công nghệ thông tin – vai trò dẫn đầu
2 Công nghệ sinh học
3 Công nghệ vật liệu tiên tiến – nano
4 Công nghệ năng lượng mới
5 Khoa học công nghệ bảo vệ môi trường
6 Khoa học công nghệ vũ trụ
7.Khoa học công nghệ biển –hải dương
8 Khoa học công nghệ quản lý
3 Thành tựu của khoa học công nghệ
Dựa vào cách phân chia chuyên ngành trên đây chúng ta dễ tiếp cận cácthành tựu của KHCN do cách mạng KHCN mang lại, tuy nhiên ở phạm vi từnhững năm 1950 trở lại đây và qua vài nét cơ bản mà thôi vì bản thân công nghệđang thay đổi hàng ngày:
3.1 Thành tựu trong công nghệ thông tin và truyền thông:
- Ngay khi phát minh ra đơn vị thông tin là bit với ký hiệu tương ứng với
số nhị phân 1 và 0 tốc độ của máy điện toán đã được nâng lên siêu chóng mặt,thay đổi hàng ngày Từ việc chỉ sử lý được vài nghìn phép tính trên giây củanhững năm 1930 đến cuối 2012 máy tính đã đạt tới việc xử lý 1 triệu tỷ bit tronggiây Các vấn đề kỹ thuật ghi âm, ghi hình, hình vẽ, truyền tải đơn nhất, truyềntải lồng ghép đã được khắc phục ngay khi phát minh ra tia lade, ra cáp quanghọc thay cho cáp dây lõi đồng Thế hệ các loại máy điện toán (máy vi tính) đãlần lượt bị thay thế nhau của các hãng tạo ra cuộc cạnh tranh khốc liệt, từ máytính xử lý phần mềm mạch điển tử thay băng vi mạch – siêu vi mạch Từ máytính màn mình cứng chạy tế bào điện sang chạy bằng vi mạch tinh thể lỏng Máytính bảng gọn nhẹ thay thế dần các máy bàn trước đây
Trang 27- Công nghệ số hóa được truyền qua sóng đã thay thế việc truyền qua cáp,máy điện thoại liên lạc, internet, mạng viễn thông cho phép hàng tỷ cuộc gọiđược truyền cùng lúc và kiểm soát chính xác Công nghệ thông tin qua mạnginternet đã cho phép truy cập và truyền tải thông tin tức thì Từ đó làm biến đổiyếu tố độc quyền thông tin, làm minh bạch hóa xã hội tăng cao Hệ thống chínhphủ và giáo dục, hệ thống quản lý kinh tế, quản lý xã hội đang chuyển mạnhsang số hóa, trực tuyến hóa Việc kiểm soát những vùng, nội dung con ngườikhó đặt chân tới hoặc không bao quát hết đã được giải quyết nhanh chóng chínhxác ở mức độ tuyệt đối.
- Với Việt Nam do xác định sớm hướng hội nhập, nhất là công nghệ thôngtin nên Việt Nam đã đi tắt đón đầu đưa CNTT nước ta vào TOP đầu thế giới,hiện tại có trên 80 triệu số thuê bao điện thoại, Internet phát triển tốc độ chóngmặt, Chính phủ điện tử tùng bước hình thành, hệ thống thông tin báo chí mạng
có đén sô lượng hàng vạn trang Wed
3.2 Thành tựu của công nghệ sinh học:
- Trong công nghệ sinh học thành tựu có tính chất vạch thời đại là lần đầu
tiên nhờ công cụ nghiên cứu cực kỳ tinh xảo và các thiết bị nghiên cứu chuyênsâu về sinh hóa, tế bào và gen di truyền con người đã lập được bản đồ gen người
và ADN người tạo ra cơ sở để phán đoán các thông tin ghi trong phân tử xoắnkép ADN đi tới giải mã và mở cửa bí mật sự sống
- Trong sinh học việc nghiên cứu còn đạt được nhiều kết quả về cấy tếbào gốc, phôi nhân tạo; nghiên cưú quan trọng về protein, gen, mô, tế bào, về visinh vật, về viruts đã tạo ra thế chủ động để con người kiểm soát bệnh tật, tạo
ra giống cây, con mới, nâng cao năng xuất cây trồng, vật nuôi, biến việc nuôitrồng, canh tác, chăn nuôi thành ngành công nghệ
- Thành tự của sinh học hiện nay có thể cấy ghép, thay thế tất cả những bộphận quan trọng nhất trong cơ thể người, tạo ra con người từ ống nghiệm (kể cảkhả năng con người ra đời bằng sinh sản vô tính); làm sống lại các sinh vật hóathạch hàng triệu năm trước; tạo ra những giống cây trồng - vật nuôi mới có ưuthế vượt trội…
Trang 28- Thông qua phát triển mạnh của Công nghệ sinh học đã bảo đảm chonước ta bảo đảm an ninh lương thực trong khi diện gieo trồng giảm, dân số tăng,công nghệ sinh học Việt Nam nhất là lĩnh vực cây lương thực đã đạt được những
thành tựu đặc biệt (Viện Lúa đồng bằng Sông Cửu Long, Cafe Trung Nguyên là những thương hiệu ấn tượng trên thế giới) đưa Việt Nam lên vị trí xuất khẩu gao
đứng thứ nhất, nhì thế giới Ngành sản xuất thủy sản cá basa, cá nước lợ manglại doanh thu xuất khẩu trên tỷ USD hàng năm
3.3 Thành tựu của công nghệ vật liệu tiên tiến, vật liệu nano:
-Tập trung nghiên cứu và triển khai những vật liệu mới có các tính năngvượt trội so với các loại vật liệu truyền thống Một phần, đây là sự “tổ hợp mới
từ những thành tố cũ” nhằm tăng cường và tối ưu hoá các tính năng hiện có hoặclàm xuất hiện thêm các tính năng mới của vật liệu Một phần khác, chú trọng tạo
ra những loại vật liệu hoàn toàn mới bằng cách tìm ra những chất mới trong tựnhiên hoặc nhân tạo Nó hướng tới đặc tính: siêu sạch, siêu dẫn, siêu nhẹ, siêubền, siêu rẻ… cùng vô số tiện ích
- Vật liệu nhất là xây dựng đã có bước phát triển mạnh, Xi măng ViệtNam đã chiếm lĩnh thị trường ASEAN, kết cấu vật liệu có thể bảo đảm xây dựngnhững cây cầu lớn nhất Đông á, phát trển nhà cao tầng hàng trăm tầng
3.4 Công nghệ năng lượng mới
- Năng lượng hiện nay đang là vấn đề quan tâm hang đầu của nhân loại.Con người đang chủ yếu sử dụng nguồn năng lượng hoá thạch (than đá, dầu mỏ,khí thiên nhiên… chiếm 77%), nay đang cạn kiệt- dự báo với tốc độ khai thác sửdụng như hiện nay cong được 50 năm nữa Chúng là nguyên nhân chính gâyhiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu Tương lai nhân loại không thể dựa chủ yếuvào nguồn năng lượng truyền thống, mặc dù vẫn còn cần đến chúng trong mộtthời gian không ngắn Triển vọng về nguồn năng lượng mới như nhiệt mặt trời,tia vũ trụ, hydro, vi sinh, gió, thuỷ triều… đang được ráo riết thực hiện Mộttrong những vấn đề quan trọng không phải là trở ngại về kỹ thuật, mà là do chiphí quá cao Thế nên vấn đề kỹ thuật phải đặt ngược trở lại để giải quyết phí tổn
và phương án khai thác tối ưu
Trang 293.5 Công nghệ tự động hóa
Mục tiêu tạo ra hệ thống máy móc - thiết bị có sự độc lập tương đối, đượcđiều khiển từ xa, hoặc tự tổ chức và tương tác lẫn nhau trong quá trình hoạtđộng… nhằm giảm bớt sự tham gia trực tiếp của con người Điều này rất hữuích đối với các ngành nghề đòi hỏi sự chính xác cao hoặc đơn điệu, những côngviệc nặng nhọc, độc hại hay nguy hiểm; biến máy móc thành người giúp việctrong gia đình, nơi làm việc, khu vực công cộng, lĩnh vực nguy hiểm, kém antoàn… Hoặc có thể hình thành văn phòng tự động, nhà máy tự động, ngôi nhàthông minh… Ở đó các thiết bị điện tử thông minh kết nối, có quan hệ phối hợp,hoạt động theo “mệnh lệnh” của con người Năm 1999, Bill Gates, đã triển khai
một ngôi nhà thông minh Ông nói: "Tham vọng lớn nhất của đời tôi là hiểu được
sự vận hành của máy móc, làm cho chúng có quan hệ với nhau và quan hệ với con người".
Với công nghệ tự động hóa, một ngày nào đó, con người không phải trựctiếp sản xuất ra của cải vật chất nữa, nhưng lại được sử dụng chúng để phục vụcho mọi hoạt động, từ ăn uống, chỗ ở, trang phục, phương tiện đi lại, cho đếnnghỉ ngơi giải trí, học tập nghiên cứu, lao động sáng tạo, tư duy… Thế nên, nếu
như câu nói của F.Bacon “Tri thức là sức mạnh” rất đúng với thế kỷ XX, thì câu nói của Descartes “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” sẽ ứng nghiệm trong thế kỷ
XXI
3.6 Công nghệ vũ trụ
Trước các thành tựu to lớn của cuộc cách mạng KHCN, trái đất ngày càngnhỏ bé và chật hẹp đối với hoạt động của nhân loại Con người có tham vọng tạo
ra một hệ thống tri thức KHCN có khả năng khám phá những quy luật chi phối
vũ trụ, truy tìm nguồn gốc sự sống, tiếp cận các nền văn minh ngoài trái đất (nếucó), mở rộng không gian và môi trường sống ngoài trái đất, tìm kiếm các nguồnlực trong vũ trụ bao la nhằm phục vụ đắc lực cho cuộc sống của con người
Khoa học nghiên cứu vũ trụ ngày càng mang ý nghĩa to lớn đối với nhânloại, khi các vấn đề môi trường ở trái đất đang tới hạn, cùng hàng loạt các bấttrắc đang đe doạ sự sống, đẩy lùi các thiên thạch nguy cơ va vào trái đất, đồng
Trang 30thời phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội: dự báo thời tiết, diễn biếnthiên tai; quan sát và dự báo các quá trình trong vũ trụ ảnh hưởng đến trái đất; vệtinh truyền thông, vô tuyến; khắc phục các sự cố về bầu khí quyển; xây dựng các
“ngôi nhà” trong vũ trụ để nghiên cứu, nghỉ ngơi, sống và làm việc; khai thác tàinguyên vũ trụ…
Cuộc chạy đua về công nghệ vũ trụ ngày càng quyết liệt hơn, vì những hoạtđộng diễn ra trên trái đất ngày càng phụ thuộc vào các phương tiện trên không gian.Những diễn biến quan trọng trên thế giới hiện nay cho thấy, quốc gia nào làm chủđược đại dương thì làm chủ được con đường huyết mạch của thương mại hàng hóatoàn cầu; làm chủ được bầu trời thì làm chủ được mặt đất
3.7 Công nghệ siêu vi mô
Công nghệ siêu vi mô hay công nghệ nano (nanotechnology), nghiên cứu
và triển khai các dạng kết cấu vật chất trong không gian và thời gian ở cấp độna-nô-mét (nanometre) và nano giây (nanoseconds) Thành quả của nó có thểđược ứng dụng cho mọi hoạt động dựa trên các yếu tố vật chất
Tại hội nghị về công nghệ siêu vi mô được tổ chức ở Tokyo (1998), các
nhà khoa học chia sẻ nhận định rằng: “Ai chinh phục được công nghệ siêu vi mô
sẽ dễ dàng làm chủ được thế giới” Không còn nghi ngờ gì nữa, nhiều thành tựu
KHCN đã thực chứng rằng, cái nhỏ là cơ sở của cái lớn chứ không phải ngượclại Vũ trụ không phải được hình thành từ các hệ thiên hà hay các hành tinh, mà
là từ các hạt cơ bản và các hạt dưới cơ bản; cái toàn thể được hợp thành bởi cái
bộ phận; một hệ thống bao giờ cũng phải được cấu thành từ các yếu tố…
4 Những tác động hệ quả
Với những phát triển vượt bậc của mình KHKT và ngày nay là KHCN rõdàng đang biến đổi thế giới hàng ngày, hàng giờ Con người ngày càng đượcgiải phóng khỏi lao động cơ bắp, lao động độc hại; KHCN đã thay đổi phươngpháp tư duy, cách tiếp cận thế giới hiện thực của con người đồng thời conngười ngày càng sáng tạo đến mãnh liệt và vô tận “biến những điều không tưởngthành hiện thực”
Trang 31Song bên cạnh đó KHKT và KHCN đang “bắt” con người ngày càng phụthuộc vào nó; cá nhân từng con người ngày nay có thông minh đến đâu cũng chỉ
biết được một phần nhỏ của thế giới tri thức vô tận Con người sử dụng KHKT
và KHCN làm phương tiện chinh phục thế giới, song cũng đang dùng nó để tànphá thế giới một cách vô thức Hậu quả của thiên tai, biến đổi khí hậu, ô nhiễmmôi trường là những trả giá cho hành động vô thức này
5 Những yêu cầu đặt ra cho Việt Nam khi tham gia Cách mạng Khoa học công nghệ
- Tận dụng những thành tựu của cuộc cách mạng KHCN hiện đại, nước ta cóthể đi thẳng vào những công nghệ hiện đại để rút ngắn quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa và khoảng cách phát triển Với tiềm năng trí tuệ dồi dào, nếu
có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực đúng đắn, nước ta có thể sớm đivào một số lĩnh vực của kinh tế tri thức
5.1.2 Thách thức
- Trong bối cảnh hiện nay ở nước ta và thế giới khó dự báo cả về khoa họccông nghệ và kinh tế của thế giới hiện đại, khó dự báo về khả năng nắm bắt thời
cơ và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài vì những biến động khó lường
- Thách thức lớn nhất đối với nước ta hiện nay là còn nghèo, vốn đầu tư hạnhẹp, trình độ phát triển kinh tế và khoa học và công nghệ còn có khoảng cáchkhá xa so với nhiều nước trên thế giới và trong khu vực
- Trong xu thế lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ dầnnhường chỗ cho lợi thế về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn giỏi, có nănglực sáng tạo
Trang 32- Nước ta đang đứng trước những khó khăn về chuyển đổi và xây dựng nhữngthể chế mới về kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, sở hữu trí tuệ, v.v
5.2 Quan điểm phát triển KHCN Việt Nam giai đoạn hiện nay
- Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng vàđộng lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Phát triển kinh tế-xã hội dựa vào khoa học và công nghệ, phát triển khoahọc và công nghệ định hướng vào các mục tiêu kinh tế-xã hội, củng cố quốcphòng và an ninh
- Bảo đảm sự gắn kết giữa khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo;giữa khoa học và công nghệ; giữa khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tựnhiên, khoa học kỹ thuật
- Đẩy mạnh tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ thế giới, đồng thờiphát huy năng lực khoa học và công nghệ nội sinh, nâng cao hiệu quả sử dụngtiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước
- Tập trung đầu tư của Nhà nước vào các lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên, đồngthời đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ.Nhà nước tập trungđầu tư có trọng tâm, trọng điểm; kết hợp đồng bộ giữa đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng, trang thiết bị kỹ thuật với đầu tư đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ,thực hiện dứt điểm các công trình để sớm phát huy hiệu quả đầu tư
5.3 Cách thức thực hiện KHCN Việt Nam
- Phát triển KHCN phải đi thẳng vào công nghệ hiện đại, bỏ qua những khâutrung gian, dự báo sớm về sự phát triển của KHCN để tránh lạc hậu khi chọnlĩnh vực công nghệ
- Ưu tiên cho các ngành công nghệ mũi nhọn, trọng điểm nâng cao năng lựcnền kinh tế, xã hội như công nghệ chế biến lương thực, thực phẩm, công nghệhàng hóa tiêu dùng, công nghệ khai khoáng chế biến sâu
- Dành tỷ lệ vốn cao đầu tư cho KHCN trong đầu tư phát triển các nguồn lực
xã hội, trong mọi dự án phát triển kinh tế xã hội phải lấy luận cứ và đủ luận cứkhoa học để thực hiện, khắc phục bệnh kinh nghiệm, duy ý chí
Trang 33- Phát triển KHCN phải gắn phát triển KHCN với đào tạo con người làmKHCN để theo kịp KHCN hiện đại, làm chủ được KHCN và tiến đến xây dựngđội ngũ nhà KHCN hàng đầu.
5.4 Tác động của sự phát triển KHCN với ngành Luật
- KHCN phát triển là điều kiện tốt về kỹ thuật để đào tạo, bồi dưỡng cán bộlàm công tác pháp luật, khắc phục được tình trạng “học chay” đối với nhữngmôn cần giới thiệu kỹ năng, hình ảnh Hiện nay khi lượng văn bản pháp luậtnhiều, tài liệu phong phú KHCN công nghệ thông tin cho phép tra cứu nhanhlàm cho người học năng động, tính cập nhật cao, chia sẻ thông tin thiết thực qua
đó chất lượng được nâng cao Ví dụ: thư viện điện tử, Google, trang thông tinvăn bản Chinhphu.VN
- Là điều kiện tốt để nâng cao kiến thức chuyên môn, rút ngắn thời gian tácnghiệp của cán bộ tư pháp như khâu pho to, chụp ảnh thay cho mô tả, thay chochép hồ sơ trước đây Cán bộ làm công tác pháp luật có thể mang theo nhiều tàiliệu trong máy tính hoặc gửi qua mạng thuận lợi Tính xã hội hóa của thông tincao, mức độ tin cậy của tài liệu và khả năng chứng minh cao
- Là điều kiện tốt để thực hiện các hoạt động nghiệp vụ ngành Luật như cáchoạt động: thu thập tài liệu qua chụp ảnh, đo vẽ sơ đồ, tính toán số liệu, giámđịnh thương tật, giám định y pháp phát hiện ADN, gen Đặc biệt là các hoạtđộng nghiệp vụ khác như ghi âm, ghi hình, hoạt động hỗ trợ trinh sát để xácđịnh sự thật khách quan vụ án
- Hợp tác trong nước và quốc tế về đào tạo ngành Luật ngày càng sâu rộngcho phép sinh viên có nhiều cơ hội trao đổi và học tập kinh nghiệm, tham khảogiáo trình của nhiều cơ sở đào tạo để nâng cao kiến thức chuyên môn, đa dạnghóa loại hình đào tạo, phương thức đào tạo
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu trong nước:
Trang 34(1) Đặng Hữu (chủ biên) (2009), Phát triển kinh tế tri thức gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà
(10) Kinh tế tri thức ở Việt Nam, Hồ Tú Bảo, Trường Khoa học Tri thức,
Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản, http://daotao.vtv.vn/
(11) Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW, Trung tâm Thông tin – Tư liệu
(2000), Nền kinh tế tri thức (nhận thức và hành động) – Kinh nghiệm của những nước phát triển và đang phát triển, Nxb Thống Kê, Hà Nội, tr.117.
(12) Những nét cơ bản về nền kinh tế tri thức, Ngô Thúy Hằng,
http://www.tailieu.vn
Trang 35II Tài liệu tham khảo nước ngoài:
1.Asia-Pacific Economic Cooperation (APEC), “Towards knowledge-based
economies in APEC”, APEC Economic Committee Report, 11.2000.
2 Đặng Thị Việt Đức, The emergence of knowledge economy through
ICT in developing countries: The case of Vietnam, Luận án Tiến sĩ, JAIST,
11.2009.
3 Nonaka, I and Takeuchi, H., The knowledge-creating company,
Oxford University Press, 2005
4.Ohno, K., “The East Asian growth regime and political
development”,Vietnamese Students Symposium on Economy and Technology,
Tokyo, October 2007
Chương III
TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ, CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN
1 TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ
1.1 Nguồn gốc, bản chất của toàn cầu hóa kinh tế
Thuật ngữ "Toàn cầu hóa" mới xuất hiện vào những thập niên gần đây
Trước hết và chủ yếu là toàn cầu hóa kinh tế Nhưng đời sống vật chất lại tác
động đến đời sống tinh thần, nên toàn cầu hóa kinh tế đã quyết định xu thế phát
triển của các lĩnh vực khác, như văn hoá, chính trị v.v Hiện nay có nhiều định
nghĩa về toàn cầu hóa kinh tế Theo một số học giả trong nước, về thực chất,
toàn cầu hóa kinh tế là xu hướng tất yếu biểu hiện sự phát triển vượt bậc của lực
lượng sản xuất do phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng trên
phạm vi toàn cầu dưới tác động của cách mạng khoa học - công nghệ và tích tụ,
tập trung sản xuất, dẫn tới hình thành nền kinh tế toàn thế giới
Theo các học giả nước ngoài, toàn cầu hóa kinh tế là sự phụ thuộc lẫn nhau
ngày càng tăng về kinh tế của các nền kinh tế quốc gia trên toàn thế giới thông
qua một sự gia tăng nhanh chóng trong chuyển động xuyên biên giới của hàng
hóa, dịch vụ, công nghệ và nguồn vốn Trong khi toàn cầu hóa tập trung vào sự
Trang 36phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và tăng cường lao động xuyênbiên giới, toàn cầu hóa kinh tế được thúc đẩy bởi ý nghĩa phát triển nhanh chóngcủa thông tin trong tất cả các loại hoạt động sản xuất và thị trường hóa, và sựtiến bộ của khoa học và công nghệ.
Mầm mống của xu thế toàn cầu hóa kinh tế có từ khi đại công nghiệp cơ khí
tư bản chủ nghĩa được hình thành, nhưng nó chỉ thực sự bắt đầu trong bướcchuyển từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền
Khi nghiên cứu về chủ nghĩa đế quốc, V.I Lê nin đã nhận định: " mạng lưới dày đặc những mạch máu ngân hàng lan rộng nhanh chóng như thế nào, nó bao phủ các nước, tập trung hết thảy tư bản và các khoản thu nhập bằng tiền, biến hàng nghìn hàng vạn doanh nghiệp tản mạn thành một đơn vị kinh tế tư bản chủ nghĩa thống nhất toàn quốc, rồi sau đó thành một đơn vị kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới" Toàn cầu hóa kinh tế là trình độ phát triển cao của quốc tế hóa
đời sống kinh tế Ban đầu là quốc tế hóa về thương phẩm và dịch vụ, mở rộngmậu dịch quốc tế, hình thành thị trường toàn thế giới thống nhất Tiếp theo làquốc tế hóa về tư bản; việc xuất, nhập khẩu tư bản tăng lên, trước hết từ chínhquốc sang thuộc địa, rồi dần dần di chuyển trên phạm vi toàn cầu Sau cùng làquốc tế hóa về sản xuất; cách mạng khoa học - công nghệ cùng với sự bànhtrướng của các công ty xuyên quốc gia đã tái hiện hình thức phân công kiểucông trường thủ công trên phạm vi toàn cầu, khiến cho các nền kinh tế dân tộctuỳ thuộc vào nhau và hình thành toàn cầu hóa kinh tế Toàn cầu hóa kinh tếphát triển tác động đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội
Toàn cầu hóa kinh tế bắt nguồn từ những nhân tố chủ yếu sau đây
- Cách mạng khoa học và kỹ thuật trước đây và cách mạng khoa học vàcông nghệ hiện nay (nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệvật liệu mới, công nghệ tự động hóa ) đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triểnvượt bậc, tạo ra những phương tiện giao thông vận tải và thông tin liên lạc hiện
Trang 37đại, mở rộng phân công lao động quốc tế trên phạm vi toàn cầu, làm tăng sự tuỳthuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế dân tộc
- Sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) Ngày nay, sốlượng TNCs trên thế giới có khoảng 60.000 công ty mẹ, chiếm 25% giá trị củasản xuất toàn cầu, 65% kim ngạch mậu dịch thế giới,70% đầu tư nước ngoài,90% công nghệ cao với một hệ thống chi nhánh (công ty con) khoảng trên500.000, như những vòi của con bạch tuộc khổng lồ bao trùm khắp thế giới Mặtkhác, trao đổi giữa các chi nhánh trong nội bộ TNCs ở các nước ngày càng tăng
và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị thương mại của nhiều nước Hầu hết cáchoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện qua kênh TNCs Với lợi thế về quy
mô vốn lớn, kỹ thuật hiện đại, quản lý tiên tiến và mạng lưới thị trường rộng lớnTNCs tích cực đầu tư ra ngoài nhằm tối đa hoá lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu.TNCs ngày càng đóng vai trò quan trọng thúc đẩy dòng FDI vào các nước đangphát triển
Tóm lại, cách mạng khoa học và công nghệ cùng với sự bành trướng củaTNCs đã thúc đẩy phân công lao động quốc tế, nhất là phân công trong nội bộngành ngày càng sâu rộng, thúc đẩy mậu dịch và đầu tư quốc tế tăng nhanh, làmtăng sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế dân tộc, phát triển mạnh mẽ hơn
xu thế toàn cầu hóa kinh tế và các lĩnh vực khác của xã hội
- Toàn cầu hóa kinh tế là biểu hiện sự phát triển vượt bậc của lực lượng sảnxuất, nhưng không tách rời quan hệ sản xuất Toàn cầu hóa kinh tế hiện nay diễn
ra dưới sự chỉ đạo và chi phối của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa; ưu thế vềkinh tế, khoa học và công nghệ nằm trong tay một số nước TBCN phát triển vàTNCs tư bản chủ nghĩa Các chính phủ của các nước ấy thao túng các quyết sách
đa biên và hoạt động của các tổ chức kinh tế quốc tế, như IMF, WB, WTO TNCs tư bản chủ nghĩa là lực lượng đóng vai trò quyết định trong việc vận hànhnền kinh tế thế giới đương đại, thì tất nhiên lợi ích của toàn cầu hóa được phânphối không công bằng, mang lại phần lớn cho các nước tư bản chủ nghĩa, nhất là
Trang 38các tập đoàn độc quyền TBCN Với ý nghĩa đó, có thể nói toàn cầu hóa kinh tếhiện nay mang tính chất TBCN Nhưng không thể coi tính chất TBCN là mộtthuộc tính bất biến của toàn cầu hóa kinh tế, mà tính chất đó sẽ thay đổi theo sựthay đổi của quan hệ sản xuất chi phối nó Mặt khác, hiện nay trên thế giới vẫnđang diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa các nước công nghiệp phát triển và cácnước đang phát triển, giữa các lực lượng tiến bộ và các lực lượng đế quốc nêncác nước đang phát triển vẫn có thể đoàn kết đấu tranh nhằm hạn chế những tácđộng tiêu cực và phát huy mặt tích cực của toàn cầu hóa, tiến tới lập một trật tựkinh tế quốc tế công bằng, tôn trọng quyền lợi chính đáng của mọi quốc gia,nhất là các nước nghèo Khi toàn cầu hóa kinh tế còn chịu sự chi phối của quan
hệ sản xuất TBCN, thì nó đặt ra cho các nước kém phát triển về kinh tế nhiềuthách thức hơn là thời cơ Nhưng đây là một xu thế khách quan của sự phát triểnlực lượng sản xuất Bởi vậy, mỗi nước phải chủ động tìm cách ứng xử tốt nhất
để giành nhiều cái lợi, hạn chế tác hại, giảm thiểu rủi ro Việc chủ động hội nhậpvào toàn cầu hóa kinh tế đòi hỏi phải vừa hợp tác vừa đấu tranh để đảm bảonguyên tắc cùng có lợi, chứ không phải là chống lại toàn cầu hóa
1.2 Đặc điểm của toàn cầu hóa kinh tế.
Nhìn một cách khái quát toàn cầu hóa kinh tế có những đặc điểm cơ bảnsau đây:
- Toàn cầu hóa kinh tế mang tính chất hai mặt: vừa có tác động tích cực
vừa có tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi nước Về tácđộng tích cực toàn cầu hóa kinh tế là kết quả của sự phát triển vượt bậc của lựclượng sản xuất, nhưng nó lại tác động trở lại, thúc đẩy tốc độ phát triển và trình
độ xã hội hóa lực lượng sản xuất; mở rộng thị trường; giao lưu hàng hoá, dịch
vụ, sức lao động thông thoáng hơn do giảm bớt hàng rào thuế quan Dòng đầu tư
và chuyển giao công nghệ dưới nhiều hình thức giúp các nước tiếp cận nguồnvốn, công nghệ mới từ nước ngoài, làm sâu sắc thêm phân công lao động quốc
tế, có lợi cho cả bên đầu tư và bên tiếp nhận đầu tư Nhưng toàn cầu hóa kinh tế
Trang 39cũng có mặt trái, đặt ra nhiều thách thức cho những nước đang phát triển Dotoàn cầu hóa kinh tế chịu sự thao túng của các nước TBCN phát triển nên sựphân cực giàu nghèo giữa các nước, cũng như trong từng nước, ngày càng xa.Toàn cầu hóa kinh tế đặt các nước đang phát triển vào một cuộc cạnh tranhkhông cân sức, nước nào vượt qua được thì sẽ tiến nhanh, nước nào ứng phó thấtbại thì sẽ bị mất mát lớn, thậm chí thụt lùi Nền kinh tế dân tộc của các nướcđang phát triển rất dễ bị tổn thương, nhất là về phương diện bảo đảm an toàn vềtài chính Toàn cầu hóa cũng kéo theo cả những tội phạm xuyên quốc gia, những
tệ nạn xã hội mang tính toàn cầu và truyền bá những "văn hoá phẩm" phi nhânbản, xâm hại bản sắc văn hoá dân tộc Trong từng nước cũng có tầng lớp dân
cư được hưởng lợi từ toàn cầu hóa có tầng lớp bị thua thiệt hay thất nghiệp, phásản vì toàn cầu hóa Bởi vậy, mỗi nước phải có một chiến lược tổng thể phù hợpvới thực lực và bối cảnh lịch sử cụ thể của nước mình để xử lý linh hoạt, nhằmtranh thủ cái lợi, giảm bớt tác hại của toàn cầu hóa
- Toàn cầu hóa kinh tế là xuất hiện tất yếu, khách quan, không thể đảo
ngược, nhưng không thuận buồm xuôi gió mà đầy mâu thuẫn Toàn cầu hóa kinh
tế mở rộng biên giới kinh tế vượt biên giới lãnh thổ quốc gia, mỗi nước tham giatoàn cầu hóa kinh tế, một mặt, phải thích nghi với những quy tắc chung, phải từ
bỏ một số quyền lợi dân tộc nào đó, mặt khác vẫn phải bảo vệ chủ quyền quốcgia và lợi ích chính đáng của dân tộc Toàn cầu hóa kinh tế thúc đẩy nền kinh tếthế giới tăng trưởng nhanh nhưng phân phối lợi ích lại ngày càng chênh lệch.Các nước phát triển muốn dựa vào ưu thế về nhiều mặt để duy trì trật tự kinh tếthế giới hiện tồn trong khi các nước đang phát triển lại muốn đòi lập một trật tựkinh tế quốc tế mới công bằng, cùng có lợi Toàn cầu hóa kinh tế đi cùng vớikhu vực hóa; tự do hóa xen lẫn với xu hướng bảo hộ, nên cạnh tranh toàn cầu lạidiễn ra cùng với cạnh tranh giữa các tổ chức kinh tế khu vực, giữa tổ chức khuvực với quốc gia ngoài khu vực
Trang 40- Các chủ thể cùng hợp tác và đấu tranh, cùng tham gia hoạch định các thểchế về Toàn cầu hóa kinh tế Đó là các quốc gia có chủ quyền, các tổ chức kinh
tế khu vực, các tổ chức kinh tế quốc tế (IMF, WB, WTO) và TNCs Mặc dù ưuthế thuộc về các nước phát triển nhất và TNCs lớn nhất, họ chi phối quyết sáchcủa các tổ chức quốc tế, nhưng không phải họ có thể mặc sức làm mưa làm giótheo ý chí chủ quan của họ Trên vũ đài quốc tế và trong từng tổ chức quốc tếluôn diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa các nước công nghiệp phát triển với cácnước đang phát triển, giữa lực lượng tiến bộ với lực lượng đế quốc và không ítnhững thoả thuận phản ánh sự đấu tranh và thoả hiệp giữa các lực lượng đó
- Kinh tế phi vật thể ngày càng thoát ly kinh tế hiện vật và tồn tại độc lập,khiến cho toàn cầu hóa kinh tế rất dễ bị xáo động bởi các cuộc khủng hoảng.Hiện chỉ có khoảng 2% giao dịch tài chính, tiền tệ có quan hệ với hàng hoá vàdịch vụ Cái gọi là "kinh tế bong bóng" tăng lên, trở thành một nhân tố quantrọng làm cho hệ thống tài chính - tiền tệ toàn cầu dễ bị xáo động Tình trạng đódiễn ra trong bối cảnh chuyên môn hóa và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng;TNCs cắm nhánh ở nhiều nước và biến phân công quốc tế thành phân côngtrong nội bộ công ty, lôi cuốn các quốc gia vào cùng một "dàn hợp xướng", nênchỉ một xáo động nhỏ cũng có thể làm rung chuyển cả hệ thống; gây ra nhữngcuộc khủng hoảng lan rộng
- Xu thế khu vực hóa tiếp tục diễn ra cùng với xu thế toàn cầu hóa Liên kếtkinh tế khu vực diễn ra từ thấp đến cao, từ khu vực ưu đãi thuế quan, khu vựcmậu dịch tự do, đồng minh thuế quan, thị trường chung hay cộng đồng kinh tế,
và liên minh kinh tế Giữa khu vực hoá và toàn cầu hóa kinh tế vừa có sự thốngnhất vừa có mâu thuẫn Các tổ chức kinh tế khu vực tự do hoá bên trong nhưngbảo hộ nghiêm ngặt với bên ngoài Tuy nhiên, xu hướng của khu vực hoá làtừng bước phá vỡ tính hạn hẹp để vươn rộng ra không gian toàn cầu (thí dụASEAN cộng 1, ASEAN cộng 3; EU cũng đang mở rộng về phía Đông, ) Sự
mở rộng này sẽ từng bước tiệm cận toàn cầu hóa Với ý nghĩa này khu vực hoá