1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luân pháp luật tài chính ngân hàng too big too fail trong hệ thống ngân hàng việt nam và ba ngân hàng bị mua lại bắt buộc

30 264 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 496 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt sự rút tiền đồng loạt và giảm sự tin tưởng có thểdẫn đến sự thiếu thanh khoản và sụp đổ của cả ngân hàng “khỏe” và yếu kém Việc sụp đổ một ngân hàng lớn dẫn đến sự thiệt hại lớn

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Ngân hàng ra đời được thừa nhận là một trong những phát minh kỳ diệu nhất của lịch

sử thế giới và nó không ngừng đổi mới hoàn thiện để phù hợp với tình hình kinh tế xã hộitừng thời kỳ Đặc biệt trong nền kinh tế hiện nay Ngân hàng là một bộ phân không thể thiếuđược và nó luôn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với hoạt động chủ yếu làtiền tệ, tín dụng và thanh toán trong đó thanh toán giữ vai trò đặc biệt quan trọng

Ngân hàng được coi là huyết mạch của nền kinh tế, hoạt động của nó bao trùm lên tất

cả các hoạt động kinh tế xã hội, đây là hoạt động trung gian gắn liên với sự vận động củatoàn bộ nền kinh tế Kinh doanh Ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt với đốitượng là tiền tệ Ngân hàng là trung gian tài chính giữa người gửi tiền và người vay vì vậyNgân hàng sẽ là công cụ điều tiết hữu hiệu nền kinh tế cũng như một số lĩnh vực phi kinh tế

Cũng bởi có tầm quan trọng to lớn đến vậy nên nếu một ngày hệ thống ngân hàng sụp

đổ sẽ là nỗi kinh hoàng của cả nền kinh tế Do vậy, ở bất kì đâu, phá sản một ngân hàng nóichung và đặc biệt là các ngân hàng lớn nói riêng luôn là một vấn đề nhạy cảm Trong vài nămgần đây, ở Việt Nam xuất hiện hiện tượng ngân hàng Nhà nước mua lại ba ngân hàng thươngmại với giá 0đ, một hành động chưa từng có tiền lệ Trên thực tế, với vốn chủ sở hữu âm đếnhàng nghìn tỉ, ba ngân hàng này đã có thể coi là phá sản nhưng tại sao Ngân hàng Nhà nướckhông để các tổ chức tín dụng này phá sản? Động thái này liệu có được coi là “Too Big TooFail” khi mà các ngân hàng ở Việt Nam vẫn chưa đạt đến quy mô quá lớn nếu so sánh với cácquốc gia trong khu vực và trên thế giới

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tìm hiểu về tình hình hoạt động của hệ thống ngânhàng và hiện tượng Too Big Too Fail ở Việt Nam, từ đó xem xét các hệ quả và đưa ra giảipháp

Trang 2

1 TỔNG QUAN VỀ TOO BIG TO FAIL

1.1 Định nghĩa

Thuật ngữ "Too Big To Fail" tạm dịch là "quá lớn để sụp đổ" (dùng để ám chỉ đếnvấn đề phá sản doanh nghiệp) được hiểu là thành ngữ dùng để chỉ đến trường hợp đặc biệttrong nền kinh tế, đó là những công ty lớn hay tập đoàn có quy mô hoạt động rộng và liên kếtvới nhiều thành phần kinh tế khác, có tầm ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế của một quốcgia, một khi có sự đổ vỡ hay phá sản xảy ra dù vì lý do gì, chính phủ nước đó sẽ không đểcông ty hay tập đoàn sụp đổ bằng những biện pháp như hỗ trợ vốn, trả nợ, sáp nhập hoặcchính nhà nước sẽ mua lại tập đoàn đó nhằm bảo đảm hoạt động của tập đoàn được duy trìmột cách bình thường

Gốc rễ của TBTF là từ sự giám sát, quản lý không đầy đủ, nguyên nhân dẫn đến cácngân hàng chấp nhận rủi ro quá mức dẫn đến thất bại và khi đó các gói cứu trợ trở thành bắtbuộc1 Trước sự sụp đổ của ngân hàng lớn có thể thấy sự chậm trễ trong việc đóng cửa ngânhàng trái lại với việc nhanh chóng tung các gói cứu trợ

1.2 Động lực Too big to fail

Chính sách về TBTF là để ngăn chặn rủi ro hệ thống trong hệ thống tài chính Rủi ro

hệ thống ở đây bao gồm hiệu ứng lan tỏa dẫn đến sự rút tiền đồng loạt của người gửi tiền,giảm sự tin tưởng của người dân vào cả hệ thống tài chính hoặc việc gián đoạn trong thanhtoán cả trong nước và nước ngoài2 Đặc biệt sự rút tiền đồng loạt và giảm sự tin tưởng có thểdẫn đến sự thiếu thanh khoản và sụp đổ của cả ngân hàng “khỏe” và yếu kém

Việc sụp đổ một ngân hàng lớn dẫn đến sự thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp và cảntrở hoạt động của hệ thống tài chính tác động lên cả một nền kinh tế

1.3 Hệ quả của Too big to fail

Vấn đề về đạo đức (Moral Hazard): TBTF là sự khuyến khích cho các ngân hàng chấpnhận rủi ro hơn để đẩy mạnh lợi nhuận với niềm tin rằng một khi làm ăn yếu kém vẫn đượcnhà nước tung ra các gói cứu trợ Hiện tượng này cũng làm giảm sự cạnh tranh trong nền kinh

tế, khi mà các ngân hàng lớn chèn ép các ngân hàng nhỏ, dẫn đến các thương vụ mua bán sátnhập, các ngân hàng đã lớn nay càng lớn hơn

1 Theo “Too Big to Fail: Motives, Countermeasures, and the Dodd-Frank Response” by

Trang 3

TBTF cũng ảnh hưởng đến nhà đầu tư bởi họ có tâm lý ngân hàng lớn luôn được Nhànước đứng sau bảo đảm nên nhà đầu tư sẵn sàng chọn ngân hàng có rủi ro hơn nhưng mangđến nhiều lợi ích hơn Điều này lại dẫn đến cạnh tranh giảm lãi suất, thu hút khách hàng,những ngân hàng lớn lại càng lớn hơn mà càng khó để sụp đổ hơn.

Các chính sách liên quan TBTF cũng tạo ra hiệu ứng tiêu cực cho nền kinh tế Một hệthống hiệu quả là có khả năng quyết định giữa ngân hàng hiệu quả và kém hiệu quả, trong khi

đó, nhưng chính sách liên quan TBTF làm giảm động lực để loại bỏ các ngân hàng hoạt độngkém hiệu quả ra khỏi ngành

Chi phí cho những gói cứu trợ ngân hàng lớn là rất lớn, điển hình như năm 2008, FED

đã bỏ ra khoảng 30 tỷ USD cho JP Morgan để mua lại Bear Stean trước khả năng sụp đổ củangân hàng đầu tư lớn thứ 5 phố Wall lúc bấy giờ Tiền trong ngân sách nhà nước thì phần lớnthu được từ thuế của người dân, thực sự thiếu công bằng khi sử dụng tiền thu của người dân

để cứu lấy những ngân hàng hoạt động kém hiệu quả

2 THỰC TRẠNG TOO BIG TO FAIL Ở VIỆT NAM

2.1 Tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Năm 2017 là năm có thể nói là khởi sắc của ngành ngân hàng, nửa đầu năm nay,nhiều ngân hàng thương mại đã tăng rất mạnh tín dụng, với mức tăng trưởng nhiều thànhviên đạt từ 13-15%, trong khi cùng kỳ những năm trước phổ biến chỉ tăng trưởng ở mức mộtcon số hoặc chỉ chớm dương nhẹ

Hình 1: Lợi nhuận trước thuế một số ngân hàng ( 6 tháng đầu năm 2016 và 2017)

Trang 4

Bên cạnh những con số cập nhật, kế hoạch và tiến độ thực hiện, điểm chung trong bứctranh lợi nhuận các ngân hàng thương mại 2017 là nhiều thành viên đang cải thiện rõ các chỉ

số sinh lời, trong điều kiện tỷ lệ lãi cận biên (NIM) nói chung không nhiều thay đổi (chỉ trongkhoảng 2,7-2,8% những năm gần đây) Điều này một phần phản ánh chất lượng tài sản đã tốtlên trong năm 2017

Mặc dù vậy, ngành ngân hàng Việt Nam vẫn tồn tại một số góc khuất mà hiện nay nhànước đang nỗ lực để giải quyết

❖ Vấn đề về sở hữu chéo:

“Việc ngân hàng sở hữu chéo với số lượng cổ phần lớn là vi phạm đến nguyên tắccông khai minh bạch dẫn đến khó quản lý dòng vốn, ngân hàng lợi dụng sở hữu để liên kếtnhằm thao túng thị trường gây không ít rủi ro với khách hàng Sở hữu chéo dễ dẫn đến việcngân hàng này sử dụng tài sản của ngân hàng kia hoặc ngược lại, khi tài sản biến động gâynên dư nợ bất thường, khó phân biệt để quản lý.”3

Sở hữu chéo trong ngành ngân hàng còn liên quan đến tăng mức độ rủi ro đổ vỡ hệthống tài chính Do các ngân hàng và tổ chức tín dụng là các trung gian tài chính, hoạt độngcủa chúng bị ràng buộc bởi tỷ lệ an toàn vốn Khi các đối tác có quan hệ sở hữu chéo với các

tổ chức tín dụng bị thua lỗ, giá cổ phiếu sụt giảm hoặc phá sản sẽ khiến cho các tổ chức tíndụng này không đáp ứng được tỷ lệ an toàn vốn Điều này dẫn đến giảm năng lực tín dụng và

có thể khiến cho các tổ chức tín dụng đó rơi vào tình trạng mất thanh khoản Một khi điềunày xảy ra, chúng sẽ kéo theo một loạt các tổ chức tín dụng khác bị đóng băng thanh khoản

do các tổ chức tín dụng đều có mối quan hệ tín dụng với nhau qua hệ thống liên ngân hàng.4

Tại Việt Nam, tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống tín dụng ngân hàng đã ở mứcbáo động Các mối quan hệ sở hữu chéo được hình thành chằng chịt giữa các ngân hàngthương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng thương maịnước ngoài , cácquỹtài chính, doanh nghiệp nhà nước, và doanh nghiệp tư nhân

❖ Vấn đề về nợ xấu

Nợ xấu là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các doanh nghiệp, mà khôngthể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản, tỷ lệ nợ quá hạn caolàm cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài chính của ngân hàng bị suy giảm, dẫn đến làm giảm khả năng huy động vốn của ngân hàng, nghiêm trọng hơn nó có thể dẫn đến rủi ro thanh

3 Trích lời TS Cao Sỹ Kiêm nguyên Thống đốc NHNN

4 Theo “Vấn đề sở hữu chéo và đầu tư chéo trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng tại Việt Nam”, Đinh Tuấn Minh, 2013

Trang 5

khoản, đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản và đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngânhàng.

Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bắt đầu có xu hướng tăng dần

từ năm 2007 trong bối cảnh dư nợ tín dụng tăng trưởng cao trong khi chất lượng các khoảntín dụng và công tác quản trị phòng vệ rủi ro trong hệ thống ngân hàng thương mại còn yếukém Tốc độ tăng trưởng nợ xấu lên tới mức cao 51% trong giai đoạn 2008 - 2011, gấp hailần tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân của cùng giai đoạn Nợ xấu gia tăng giá trị lên đến85.000 tỷ đồng, chiếm 3,3% tổng dư nợ và tiếp tục tăng lên 4,86% tổng dư nợ vào cuối năm

2012, trước khi giảm về mức 2,46% vào cuối năm 2016 và 2,56% vào cuối tháng 2/2017.5

Hình 2 Tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng giai đoạn 2007 - 2016 (Đơn vị: %)

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

❖ Vấn đề về minh bạch thông tin

Hiện nay còn nhiều ngân hàng chưa niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, đồngnghĩa với việc chưa phải chịu áp lực các nghĩa vụ công bố thông tin và bị giám sát bởi côngchúng và cơ quan chức năng một cách sát sao Điều này đã dẫn đến nhiều hệ quả xấu trong

hệ thống ngân hàng thời gian qua

➔ Với những điểm yếu còn tồn đọng đó, hàng loạt ngân hàng làm ăn yếu kém buộc phải tái cơcấu như Ngân hàng SCB, Tiền Phong, Habubank, ACB, Sacombank, Đông Á, Điển hình làNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) Đây là NHTM có quy

mô lớn nhất hệ thống các TCTD Việt Nam do Nhà nước sở hữu 100% và đồng thời cũng là tổ

5Theo Viện chiến lược và chính sách tài chính “Xử lý nợ xấu ở Việt Nam: Thực trạng và

những vấn đề đặt ra” http://www.mof.gov.vn/webcenter/

Trang 6

chức có nợ xấu lớn nhất hệ thống Nguyên nhân nợ xấu không phải là cho vay nông nghiệpvới rủi ro cao, mà là do cho vay bất động sản, thua lỗ tại các công ty con, cho vay mất vốn do

bị khách hàng lừa đảo và cán bộ NH tham nhũng Điều này đặt gánh nặng lên chính phủ bởikhông chỉ cần nguồn lực nhà nước để tái cơ cấu ngân hàng mà còn cần ngân sách để tăng vốnđiều lệ, đảm bảo hoạt động của ngân hạng bởi Agribank là Ngân hàng thương mại quốcdoanh gần như lớn nhất trong hệ thống với tổng tài sản lên tới 500.000 tỷ Nếu Agribank sụp

đổ nó sẽ gây hiệu ứng Domino cho toàn hệ thống, do vậy Nhà nuớc sẽ phải tìm cách cứu vãn

2.2 Too Big To Fail ở Việt Nam

Từ năm 1975 đến nay, ở Việt Nam chưa có ngân hàng thương mại nào tuyên bố phásản Và cả thị trường dường như đều có chung niềm tin rằng sẽ không bao giờ có chuyện nàyxảy ra Trong phiên họp thường kỳ tháng 10 của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhấnmạnh:“Dứt khoát phải kiểm soát không để ngân hàng nào đổ vỡ và bảo vệ lợi ích chính đángcủa người dân gửi tiền”.6

Phá sản một ngân hàng thường không đơn giản Bởi điều khác biệt lớn nhất giữa mộtngân hàng và doanh nghiệp phi tài chính là hệ thống người gửi tiền và sự liên hệ chặt chẽgiữa các ngân hàng với nhau Vì thế, phá sản ngân hàng là lựa chọn cuối cùng, khi những nỗlực xử lý trước đó của ngân hàng trung ương không thành công

Hình 3: So sánh quy mô hệ thống ngân hàng Việt Nam với khu vực

6 Theo Vietnamplus “Điều hành linh hoạt, sát thực tế để kiềm chế lạm phát”

https://www.vietnamplus.vn/dieu-hanh-linh-hoat-sat-thuc-te-de-kiem-che-lam-phat/114622.vnp

Trang 7

Theo NHNN, mô hình tăng trưởng của Việt Nam là mô hình phụ thuộc vào quy môvốn đầu tư, trong đó chủ yếu dựa vào tín dụng từ khu vực ngân hàng Gánh nặng cung cấpvốn cho nền kinh tế đặt lên hệ thống các TCTD ngày càng lớn, tỉ lệ tín dụng so với GDP tăngliên tục trong giai đoạn 2012-2015 (năm 2012: 95,2%; năm 2013: 97%; năm 2014: 100%;năm 2015: 111,1%); tới năm Trong khi đó, tỉ lệ này ở một số nước chỉ khoảng trên dưới50%, tiêu biểu như: Indonesia (36,5%), Philippines (39,1%), Ấn Độ (51,6%)… Điều này đặt

ra áp lực lớn cho hệ thống TCTD, có khả năng gây tác động tiêu cực cho nền kinh tế vĩ mô7

Nhận xét về việc cung ứng vốn cho nền kinh tế của ngành ngân hàng năm 2016, báocáo của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho biết, hệ thống tài chính cung ứng khoảng1.230 nghìn tỷ đồng cho nền kinh tế Trong đó, khu vực ngân hàng cung ứng 68,1%, thịtrường vốn cung ứng 31,9% Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực, năng lực cung ứngvốn của hệ thống tài chính Việt Nam còn hạn chế Độ sâu tài chính của hệ thống tài chínhViệt Nam chỉ đạt 181% GDP, thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực Philipines (194%),Thái Lan (339%), Trung Quốc (337%), Malaysia (372%)… Hơn nữa, cơ cấu tài sản giữa cáclĩnh vực trong hệ thống tài chính chưa hợp lý Hệ thống TCTD chiếm tới 96,2% tổng tài sảntoàn hệ thống tài chính; trong khi, các doanh nghiệp bảo hiểm chiếm 2,8%; các công ty chứngkhoán và công ty quản lý quỹ chỉ chiếm 1%

Những phân tích trên cho thấy, việc cung ứng vốn đang phụ thuộc chủ yếu vào hệthống ngân hàng, trong khi tiềm năng từ các thị trường chứng khoán và trái phiếu là rất lớnnhưng vẫn chưa thể phát huy Điều này đặt ra quá nhiều gánh nặng lên “vai” các TCTD.Thậm chí, nhiều chuyên gia cho rằng, nếu kéo dài, đây sẽ trở thành điểm nghẽn cho phát triểnkinh tế Nguyên nhân do nguồn vốn của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chiếm trên 50% là

đi vay ngân hàng, trong khi trình độ công nghệ còn yếu kém, thiếu kinh nghiệm, kiến thứckinh doanh… nên rất dễ phát sinh nợ xấu, gây ảnh hưởng tới toàn hệ thống

Tính đến thời điểm 12/2017, có ba ngân hàng là NHTMCP Xây dựng Việt Nam(VNCB), NHTMCP Dầu khí toàn cầu (GP Bank) và NHTMCP Đại Dương (Ocean Bank)được Nhà nước mua lại với giá 0 Đồng Tại thời điểm bị NHNN mua lại bắt buộc cả 3 ngânhàng này đều đang trong tình trạng vô cùng khó khăn, lỗ lũy kế hàng chục nghìn tỷ đồng, vốnchủ sở hữu âm nhiều lần Về mặt pháp lý đã có các quy định phá sản đối với TCTD Gần nhất

là Thông tư số 07/2013/TT-NHNN ngày 14/3/2013 của NHNN quy định về việc kiểm soátđặc biệt đối với TCTD, trong đó có quy định về vấn đề phá sản đối với TCTD, nhưng NHNN

7Theo cafef.vn “Vốn cho nền kinh tế: Đã tới lúc thôi phụ thuộc ngân hàng” cho-nen-kinh-te-da-toi-luc-thoi-phu-thuoc-ngan-hang-20170601145511437.chn

Trang 8

http://cafef.vn/von-không đểcho Ngân hàng Xây Dưng,̣ OceanBank hay GP Bank phásản màlaịchoṇ hinh̀ thứcmua laịvới giá0 đồng NHNN khuyến khích việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD theonguyên tắc tự nguyện, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và các quyền, nghĩa vụ kinh tếcủa các bên có liên quan theo quy định của pháp luật.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình cho rằng Viêt Namkhông có ngân hàng nào được coi là “quá lớn để sụp đổ”8, ngay cả tổ chức tín dụng lớn nhấtViệt Nam là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) thì cũng mới chỉ là

"khởi đầu, thậm chí yếu kém về quy mô so với các tổ chức tín dụng trong khu vực" Tuy vậy,

do quy mô nền kinh tế cũng như sự liên kết giữa các TCTD đã trình bày ở trên, việc mua lạicác ngân hàng hoạt động kém hiệu quả thay vì cho phép phá sản có thể vẫn được coi là “Toobig too fail” bởi những hệ quả mà nó có thể gây ra

VNCB, GP Bank và Ocean Bank - 3 ngân hàng bắt buộc mua lại với giá 0 Đồng đều có những điểm chung đáng chú ý sau:

❖ Đi lên từ những NHTMCP nông thôn nhỏ bé và trong thời gian ngắn phải tăng

VĐL để đạt mức 3.000 tỷ VND trở lên

❖ Có cơ cấu sở hữu chéo, qua đó cổ đông kiểm soát NH lấy tiền của chính NH để chovay, đầu tư vào các DN, dự án khác của mình;

❖ Không phải là NH niêm yết

❖ Không có cổ đông nước ngoài

2.2.1 Từ NHTMCP Đại Tín đến NHTMCP Xây Dựng Việt Nam

2.2.1.1 Tình hình hoạt động

NHTMCP Đại Tín (Trustbank) được thành lập vào ngày 17/9/2007 sau khi đượcchuyển đổi từ mô hình NHTMCP nông thôn sang đô thị.9 Tiền thân của Trustbank làNHTMCP Nông thôn Rạch Kiến thành lập vào năm 1989 tại Tân An, Long An.10 Trustbank

là một tình huống điển hình cho một NHTMCP nông thôn nhỏ bé đã tăng trưởng bùng nổ saukhi được chuyển đổi thành NHTMCP đô thị, thực hiện lộ trình tăng VĐL mạnh mẽ, có tỷ lệ

8 Theo vics.vn “Thống đốc: Việt Nam không có ngân hàng quá lớn để không thể cho sụp” http://vics.vn/TinTuc/TinKinhTe/102750/thong-doc-viet-nam-khong-co-ngan-hang-qua-lon-de-

khong-the-cho-sup-do.aspx

9 Ngày 17/08/2007, Thống đốc NHNN ký Quyết định số1931/QĐ-NHNN chấp thuận

chuyển đổi NHTMCP Nông thôn Rạch Kiến thành NHTMCP đô thị Ngày 17/09/2007, NH chính thức đổi tên thành NHTMCP Đại Tín, theo Quyết định số 2136/QĐ-NHNN của NHNN.

10 Ngày 29 tháng 12 năm 1993, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấy phép số

0047/NH-GP về việc chấp thuận cho Ngân hàng TMCP nông thôn Rạch Kiến thành lập và hoạt động

Trang 9

cổ phần rất cao thuộc sở hữu của một cổ đông, và rồi nhanh chóng rơi vào tình trạng yếu kém.

Mặc dù tăng nhanh được vốn điều lệ đủ 3000 tỷ vào năm 2010 theo đúng quy định11, tuy vậy điều này cũng dẫn đến nhiều sai phạm trong quá trình hoạt động của ngân hàng này

❖ Vấn đề về thanh khoản và xử lý nợ xấu

Dư nợ cho vay tăng lên 39 lần và tổng tài sản tăng lên 62 lần từ năm 2006 cho đến

2011 Dư nợ cho vay luôn cao hơn tiền gửi huy động từ cá nhân và các TCKT buộcTrustbank phải lệ thuộc vào huy động từ thị trường liên NH Điều đáng chú ý là tỷ lệ nợ xấucủa NH được báo cáo ở mức vô cùng thấp, và đến năm 2011 mặc dù có tăng nhưng cũng chỉbằng 1,65% tổng dư nợ

Hình 4 Chênh lệch dư nợ cho vay và tiền gửi huy động

Mặc dù vẫn tuyên bố có tình hình tài chính bình thường qua các báo cáo tài chínhđược kiểm toán cho đến năm 2011 nhưng thực tế thanh khoản của NH đã có vấn đề và khôngthể che giấu So với các NHTM khác thì mức vay liên NH ròng 3.708 tỷ đồng vào cuối năm

2011 là không lớn về giá trị tuyệt đối, nhưng nó tương đương với 33,2% tổng giá trịTrustbank huy động tiền gửi từ cá nhân và doanh nghiệp Trustbank cũng phải vay NHNN đểgiải quyết thanh khoản (786 tỷ đồng vào cuối năm 2010 và 823 tỷ đồng vào cuối năm 2011)

❖ Bị kiểm soát bởi một cá nhân và vấn đề sở hữu chéo

Trong quá trình hoạt động, Trustbank không chỉ đối diện với vấn đề thanh khoản mà còn tồn tại vấn đề về sở hữu chéo Theo công bố thông tin chính thức, Trustbank có các cổ

11 Nghị định số 141/2006/NĐ-CP về việc ban hành danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng

Trang 10

đông DNNN là Agribank, Công ty Lương thực Long An và ba cơ quan văn phòng Nhà nước(toàn bộ phần vốn đầu tư của nhà nước chỉ chiếm 1,46% VĐL Trustbank vào cuối năm2011) Cổ đông tổ chức còn lại của NH là Công ty cổ phần Đầu tư Phát triển Phú Mỹ với cổđông nắm quyền kiểm soát là bà Hứa Thị Phấn Tuy nhiên, trên thực tế, bà Phấn đã dùng các

cá nhân khác đứng tên để góp vốn trong quá trình Trustbank tăng VĐL vào năm 2009 và

2010 Kết quả là 84,92% cổ phần của Trustbank thuộc sự kiểm soát của bà Phấn tính tại thờiđiểm năm 201112 Rõ ràng là cổ đông lớn nhất của Trustbank đã nắm quyền kiểm soát toàn

bộ NH với tỷ lệ sở hữu vượt nhiều lần giới hạn theo luật định nhờ việc đứng tên các cá nhân

có liên quan Nguy hiểm hơn, cũng qua các cá nhân và tổ chức có liên quan, cổ đông lớn củaTrustbank đã góp vốn vào NH bằng tiền vay từ chính NH

Vào ngày 6/9/2012, Trustbank đã được NHNN chấp thuận về mặt chủ trương phương

án tái cơ cấu, theo đó bà Hứa Thị Phấn sẽ chuyển nhượng cổ phần cũng như nghĩa vụ nợ củamình tại Trustbank cho một nhóm cổ đông mới gồm Tập đoàn Thiên Thanh và các tổ chức,

cá nhân liên quan tới tập đoàn này mà đứng sau là ông Phạm Công Danh 13

Đến tháng 5/2013, Trustbank được đổi tên thành NHTMCP Xây dựng Việt Nam(VNCB) và thông qua phương án tăng vốn điều lệ từ 3.000 tỷ lên 7.500 tỷ đồng Tỷ lệ nợ xấutheo báo cáo tài chính của VNCB giảm từ 82,5% cuối năm 2012 xuống 54,6% vào cuối quý2/2013 Tuy nhiên, Theo kết quả điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, Bộ Công An, số tiềntăng VĐL của VNCB có nguồn gốc từ các khoản vay BIDV của các công ty mà giám đốc lànhững người có liên quan tới ông Phạm Công Danh Ông Danh thành lập các doanh nghiệpnày và nhờ người thân, quen đứng tên giám đốc, đứng tên sở hữu cổ phần của VNCB, nhưngtất cả con dấu và giấy chứng nhận cổ phần là do ông Danh nắm giữ Phạm Công Danh đã lập

hồ sơ khống để thực hiện một loạt hành vi bất chính, gây thất thoát hơn 9000 tỷ đồng.14

12 Theo VnExpress “Bà Sáu Phấn - từ chủ ngân hàng đến những đại án nghìn tỷ”

dai-an-nghin-ty-3560996.html

https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/ebank/ngan-hang/ba-sau-phan-tu-chu-ngan-hang-den-nhung-13 Theo Văn bản số 652/NHNN-TTGSNH ngày 6/9/2012, Thống đốc NHNN đã có chấp thuận

nguyên tắc phương án tái cơ cấu Trustbank.

14 Theo VnExpress “Đường thất thoát của 9.000 tỷ trong đại án Phạm Công Danh”

Trang 11

Hình 5: So sánh tình hình tài chính 2012 và 2014

Có thể thấy mặc dù báo cáo giảm được nợ xấu, nhưng VNCB tiếp tục lỗ và mức âmvốn chủ sở hữu tiếp tục gia tăng trong năm 2013 (vốn chủ sở hữu -7.869 tỷ đồng vào30/9/2013) Tiền gửi do VNCB huy động từ người dân và các TCKT tăng từ 15.823 tỷ đồngcuối năm 2012 lên 34.000 tỷ đồng vào cuối quý 2/2014 Như vậy, trong vòng một năm rưỡi,VNCB đã tăng huy động tiền gửi lên 18.177 nghìn tỷ đồng

2.2.2 NHTMCP Dầu khí Toàn cầu

2.2.2.1 Tình hình hoạt động

NHTMCP Dầu khí Toàn cầu (Global Petro Bank hay GP.Bank) được thành lập từviệc chuyển đổi một NHTMCP nông thôn vào đầu năm 2006 Năm 2005, NHTMCP Nôngthôn Ninh Bình chỉ có 135 tỷ đồng VĐL, huy động 80 tỷ đồng tiền gửi và cho vay 214 tỷđồng Đến cuối năm 2010, tức là 5 năm sau khi trở thành GP.Bank, VĐL của NH là 3.018 tỷđồng15, huy động 16.325 tỷ đồng tiền gửi để cho vay 9.073 tỷ đồng và đầu tư 8.704 tỷ đồngvào chứng khoán

15 Theo enternews.vn “GPBank và những lỗ hổng” hong- 90311.html

Trang 12

http://enternews.vn/gpbank-va-nhung-lo-Hình 6: Nguồn vốn và Tài Sản của GP Bank từ năm 2005 - 2011

Đến cuối năm 2010, GP.Bank vẫn báo cáo có lợi nhuận kế toán trong năm (ROE bằng7,7%) và tỷ lệ nợ xấu chỉ ở mức 1,8% nhưng đã cho thấy phần nào trục trặc tài chính củaGP.Bank khi nhìn vào thông tin tài chính của quý 3/2011

Chỉ đến trước lúc quyết định mua bắt buộc, NHNN mới công bố cho báo chí rằngtính đến tháng 4/2015 GP.Bank lỗ lũy kế 12.280 tỷ đồng và vốn chủ sở hữu bằng âm9.195 tỷ đồng

Hình 7 Vốn chủ sở hữu và dư nợ cho vay của GP.Bank năm 2010 và 2015

Trang 13

Từ quý 4/2011, GP.Bank bắt đầu báo cáo lỗ liên tục, đến quý 3/2013 có mức lũy kếlên tới 4.288 tỷ đồng Tỷ lệ nợ xấu bằng 37,1% vào giữa năm 2013, tăng lên 45,4% vàogiữa năm 2015 Không có sự tham gia của cổ đông mới, nhóm cổ đông cũ vẫn nắm giữquyền quản trị và điều hành GP.Bank.

❖ Bị chi phối bởi cá nhân và vấn đề về sở hữu chéo

Cổ đông tổ chức lớn nhất của NH là Công ty cổ phần Quản lý Quỹ Đầu tư FPT (tỷ lệ

sở hữu là 8,9% vào tháng 7/2010 giảm xuống 5,8% vào cuối năm sau khi NH tăng VĐL), nhưng chỉ là nhà đầu tư thụ động, không tham gia quản trị, điều hành

Hai cổ đông cá nhân kiểm soát GP.Bank là ông Tạ Bá Long – Chủ tịch và ĐoànVăn An – Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị GPBank có vốn điều lệ tại thời điểm năm 2014

là 3.018 tỷ đồng, trong đó, Tạ Bá Long (cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị GPBank) và nhómliên quan sở hữu gần 35% vốn, ứng với hơn 1.056 tỷ đồng Ông Đoàn Văn An (sinh năm

1958, cựu Phó Chủ tịch GPBank) và nhóm liên quan sở hữu hơn 55% vốn, ứng với gần1.670 tỷ đồng Ngoài nắm quyền quản trị

NH, hai cổ đông này còn sở hữu các doanh nghiệp đầu tư bất động sản Tạ Bá Long là chủ

Công ty cổ phần Du lịch Thương mại và Đầu tư Thủ Đô(và cũng là thành viên Hội đồng quản trị Công ty cổ phần tài chính công đoàn dầu khí).Ngoài ra, Long cùng vợ, con gái và con rể lập ra Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng và Pháttriển Thành Trung

Từ năm 2009 đến 2010, để có tiền tăng vốn điều lệ GP.Bank và chi cá nhân, Long

và An đã dùng Công ty Thành Trung, Công ty trách nhiệm hữu hạn Đại Lải và Công ty cổphần Sân gôn Ngôi sao Chí Linh phát hành 3.380 trái phiếu, bán cho Công ty Tài chính cổphần Điện lực (EVNFinance) được 3.380 tỷ đồng Số tiền trên, Long và An dùng 2.611 tỷđồng mua cổ phần tăng vốn điều lệ GP.Bank lên 3.018 tỷ đồng; chi 512 tỷ đồng trả lãi tráiphiếu và phí tư vấn phát hành trái phiếu và chi 255 tỷ đồng cho hoạt động của ba công ty:Thành Trung, Đại Lải và Chí Linh Sau đó, do không có tiền trả cho EVNFinance nênLong và An đã thống nhất rút tiền của GP.Bank để trả nợ trái phiếu

Năm 2011, Long ký hợp đồng với Hoàng Công Hợp thỏa thuận GP.Bank mua 58%diện tích tại tòa nhà Capital Tower16 từ Công ty Thành Trung với giá 2.200 tỷ đồng Hành

vi này là trái quy định bởi Công ty Thành Trung chưa được Công ty Thủ Đô chia cho diệntích sử dụng ứng với 58% cổ phần Tiếp đó, Long ký hợp đồng với Nguyễn Ngọc Nam,

16 Tòa nhà Capital Tower địa chỉ 108 Trần Hưng Đạo, được sở hữu bởi công ty Thủ Đô,

trong đó công ty Thành Trung nắm giữ 58% cổ phần

Trang 14

Giâm đốc Công ty TNHH Thương mại vă Công nghiệp Sao Bắc17 xđy dựng kinh doanh dự

ân Trung tđm Thương mại, văn phòng vă Nhă ở An Khânh Sao Bắc

Phạm Quyết Thắng, cựu Tổng Giâm đốc GP.Bank đê ký ủy nhiệm chi vă lệnhchuyển số tiền 1.700 tỷ đồng cho Công ty TNHH Thương mại vă Công nghiệp Sao Bắc

Từ hai hợp đồng trín, GP.Bank đê chuyển 3.900 tỷ đồng cho Long vă An Hai bị câo năy

đê dùng 3.793 tỷ đồng để mua lại 3.380 trâi phiếu trước hạn vă trả lêi số trâi phiếu năy.Công ty Thănh Trung sử dụng gần 3 tỷ đồng An chi dùng câ nhđn hơn 103 tỷ đồng

Ngăy 17/7/2015, cơ quan cảnh sât điều tra, Bộ Công an quyết định khởi tố bị can văbắt tạm giam ông Tạ Bâ Long vă Đoăn Văn An (Hai cổ đông câ nhđn kiểm soât GP.Bank lẵng Tạ Bâ Long – Chủ tịch vă Đoăn Văn An – Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị) về hănh vi

“cố ý lăm trâi quy định của Nhă nước về quản lý kinh tế gđy hậu quả nghiím trọng”

2.2.3 NHTMCP Đại Dương

NHTMCP Đại Dương (OceanBank, có nguồn gốc từ NHTMCP Nông thôn Hải Hưngđược thănh lập văo năm 1993 Đầu năm 2007 trong trăo lưu chuyển đổi từ NHTMCP nôngthôn sang đô thị, NH Hải Hưng được chuyển đổi mô hình hoạt động vă đổi tín thănhNHTMCP Đại Dương Trong khi quy mô của NH Nông thôn Hải Hưng cũng nhỏ bĩ như NinhBình hay Rạch Kiến, OceanBank đê tăng trưởng nhanh chóng hơn nhiều so với Đại Tín hayGP.Bank vă đến 2010 đê lă một NHTM có quy mô trung bình (đứng thứ 17 về tổng tăi sản vă

22 về quy mô tín dụng trong 42 NHTMCP Việt Nam)

Hình 8: Nguồn vốn vă tăi sản của Ocean Bank từ 2007 - 2013

17 Công ty TNHH Thương mại vă Công nghiệp Sao Bắc có 75% cổ phần nắm giữ bởi Đoăn Văn An vă em vợ

Trang 15

Năm 2013, Ocean Bank vẫn có lợi nhuận liên tục và ngân lưu ròng dương từ hoạtđộng kinh doanh trong thời gian này Khác với Trustbank và GP.Bank, Ocean Bank không bịkhó khăn thanh khoản trong năm 2010-2011 Ngược lại, NH lại là TCTD cho vay ròng trênthị trường liên NH trong những năm này.

Báo cáo tài chính các năm 2010-2014 không thể hiện bất cứ một dấu hiệu xấu nào vềtình hình tài chính của OceanBank Như nhiều NH khác, tỷ lệ nợ xấu chính thức của NH tănglên qua các năm, nhưng cũng không có gì là quá cao, từ 1,7% năm 2010 lên 2,1% năm 2011,3,5% năm 2012 và 4,0%

Tuy nhiên cũng như hai ngân hàng trên, quá trình hoạt động của ngân hàng này cũng tồn tại các vấn đề về sở hữu chéo

❖ Bị chi phối bởi một cá nhân và vấn đề sở hữu chéo

Hình 9: Cấu trúc sở hữu chéo của Ngân hàng Đại Dương

Mặc dù, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) là cổ đông lớn, nắm giữ 20% VĐL,nhưng cổ đông kiểm soát OceanBank là ông Hà Văn Thắm, người đã trở thành cổ đông vàgiữ chức Phó chủ tịch Hội đồng quản trị NHTMCP Nông thôn Hải Hưng vào đầu thập niên2000

Hà Bảo là doanh nghiệp tư nhân (DNTN) do ông Hà Văn Thắm sở hữu 100% Hà Bảo là

cổ đông lớn nhất của Tập đoàn Đại Dương, nắm giữ tới 44,4% VĐL Công ty TNHH VNTcũng là doanh nghiệp mà ông Thắm nắm quyền kiểm soát và từng là Tổng giám đốc từ

Ngày đăng: 10/07/2020, 07:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w