Nghiên cứu bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục là một việc làm cầnthiết trong xã hội hiện nay, nhằm mục đích tìm ra các biện pháp nâng caobình đẳng giới trong giáo dục và trong xã hội
Trang 1nữ lại được xem là nội dung quan trọng nhất, cốt lõi nhất của vấn đề này Sựbình đẳng nam- nữ trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Tronglĩnh vực giáo dục, vấn đề bình đẳng giới càng có ý nghĩa sâu sắc.
Giáo dục có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội của
cn Nhà xã hội học Pháp Emile Durkheim từng nói: “Giáo dục có chức năng
xã hội hóa cá nhân, giáo dục giúp cho các thế hệ trẻ được chuẩn bị để bướcvào cuộc sống xã hội, giáo dục có chức năng củng cố sự đoàn kết xã hội vàduy trì trật tự xã hội
Nghiên cứu bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục là một việc làm cầnthiết trong xã hội hiện nay, nhằm mục đích tìm ra các biện pháp nâng caobình đẳng giới trong giáo dục và trong xã hội Với tư cách là một bộ phậncủa xã hội, sự nghiệp phát triển giáo dục hiện nay không thể không tính đếnvấn đề giới
Trang 2Chính vì lý do trên em chon đề tài “ Quyền bình đẳng nam nữ tronglĩnh vực giáo dục – thực trạng và giải pháp” kết thúc học phần môn Cácngành luật cơ bản trong hệ thống giáo dục Việt Nam.
Em xin đi sâu vào nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giớigiữa nam và nữ trong lĩnh vực giáo dục và một số giải pháp nhằm hạn chếtình trạng này
2 Tổng quan vấn đề nghiến cứu.
Nội dung vấn đề chia làm 3 phần:
Chương I: Một số khái niệm
Chương II: Thực trạng vấn đề bất bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo
dục
Chương III Một số giải pháp về bất bình đẳng giới trong giáo dục
3 Mục tiêu vấn đề nghiến cứu.
Làm rõ một số khái niêm về giới, bình đẳng xã hội và bình đẳng giới,
từ đó đi sâu vào nguyên dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới trong giáo dục
ở nước ta hiện nay nhằm đưa ra một số giải pháp góp phần làm giảm tìnhtrạng trên ở việt nam
4 Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận
Hiện nay, có rất nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về vấn đề này, songtrong các nghiên cứu của các tác giả chưa đi sâu vào nguyên nhân dẫn đếntinh trạng bất bình đẳng giới giữa phụ nũ và nam giới trong lĩnh vực giáodục và giải pháp khắc phục vấn đề này
5 Phương pháp nghiên cứu.
Trang 3Tiểu luận sử dụng một số phương pháp như: phương pháp điều tra xãhội học, nghiên cứu tài liệu và quan sát thực tế.Các thông tin từ mạnginternet , và các sách báo thông tin vầ bất bình đẳng giới ở Việt Nam
Phương pháp phân tích số liệu
6 Pham vi nghiên cứu.
Tiểu luận tập trung nghiên cứu về quyền bình đẳng nam nữ trong lĩnhvực giáo dục ở Việt Nam trong nhưng năm gần đây Trước hết là ở ViệtNam , tiếp theo là địa phương nơi e đang sinh sống
Trang 4B NỘI DUNG.
Chương I.Cơ sở lý luận và thực tiễn
1 Một số khái niệm liên quan.
1.1 Giới
“Giới (gender): là một thuật ngữ chỉ vai trò, trách nhiệm và quyền lợi
mà xã hội quy định chon am và nữ nhìn từ góc độ xã hội; giới đề cập đến sựphân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữtrong một bối cảnh xã hội cụ thể”1
Đặc trưng cơ bản nhất của giới là do dạy và học mà có, Vì vậy, nhữngđặc trưng về giới mang tính xã hội, do xã hội quy định Giới thể hiện cácđặc trưng của xã hội của phụ nữ và nam giới nên rất đa dạng Nó phụ thuộcvào đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, các khuvực, các giai tầng xã hội Các quan niệm, hành vi, chuẩn mực xã hội về giớihoàn toàn có thể thay đổi được
1
Trang 51.3 Bình đẳng giới
“Là một cách tiếp cận giải quyết các vấn đề đang đối diện với cả nam
và nữ theo cách chia sẻ các lợi ích của phát triển một cách bình đẳng, bảođảm chóng lại gánh nặng thiên lệch của những tác động tiêu cực”3
Trong đó, nam giới và nữ giới được bình đẳng với nhau về:
- Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng
- Các cơ hội tham gia đóng góp và hưởng lợi từ các nguồn lực xã hội
và quá trình phát triển
- Quyền tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng
- Được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội
2 Lý thuyết vận dụng.
2
3
Trang 6Bất bình đẳng giới được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau và được
đo bằng các chi tiêu khác nhau Trong báo cáo phát triển con người của chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) đã đưa ra 2 chỉ số:
- Chỉ số phát triển giới (GDI) Chỉ số này phản ánh những thành tựu trong các khía cạnh tương tự như HDI (tuổi thọ bình quân, giáo dục, thu nhập) nhưng lại điều chỉnh các kết quả đó theo bất bình đẳng giới Trong mỗi nước, nếu giá trị của GDI càng gần với HDI thì sự khác biệt theo giới tính càng ít (trường hợp của Na Uy và Singapore-Bảng 4.9) Nếu thứ hạng GDI thấp hơn thứ hạng HDI cho thấy sự phân phối không bình đẳng và pháttriển con người giữa nam và nữ (Lucxămbua và Ai Cập Xê út) Ngược lại, nếu thứ hạng GDI là cao hơn, cho thấy một sự phân phối bình đẳng hơn về phát triển con người giữa nam và nữ
Bảng 1 So sánh giá trị và xếp hạng theo HDI và GDI
Một số nước chon lọc-năm 1999
Trang 7Xrilanka 0.735 81 0.732 70
Nguồn: Báo cáo phát triển con người 2001- NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001.
Xếp hạng theo HDI cho 162 nước, xếp hạng theo GDI cho 146 nước.
- Thước đo vị thế giới (GEM) Thước đo này tập trung xem xét cơ hội của phụ nữ chứ không phải là khả năng (năng lực) của họ Nó chỉ ra sự bất bình đẳng giới trên 3 khía cạnh
+ Tham gia hoạt động chính trị và có quyền quyết định – được đo bằng
tỷ lệ có ghế trong quốc hội của phụ nữ và nam giới
+ Tham gia hoạt động kinh tế và có quyền quyết định – được đo bằng tỷ
lệ các vị trí lãnh đạo, quản lý do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm và tỷ lệ các
vị trị trong nghành kỹ thuật, chuyên gia do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm.+ Quyền đối với các nguồn kinh tế - đo bằng thu nhập ước tính của phụ
nữ và nam giới (PPP-USD)
Các nghiên cứu của UNDP về GDI và GEM của các nước đã chỉ ra rằng:
- Sự bình đẳng về giới cao hơn trong phát triển con người không phụ thuộc vào mức thu nhập hoặc giai đoạn phát triển
- Thu nhập cao không phải là điều kiện tiên quyết để tạo ra các cơ hội cho phụ nữ
Trang 8- Trong những thập niên qua, tuy đã có những tiến bộ vượt bặc về sự bất bình đẳng giới nhưng sự phân biệt giới vẫn phổ biến trong mọi mặt của cuộcsống và ở các nước trên thế giới.
Vì vậy bình đẳng giới được coi là vấn đề trung tâm của phát triển, là mụctiêu của phát triển, đồng thời là một yếu tố để năng cao khả năng tăng
trưởng của quốc gia và xóa đói giảm nghèo
Bằng chứng thực tế cho thấy, phát triển kinh tế thế giới và phát triển của các nước đang phát triển đang mở ra nhiều hướng đi để nâng cao sự bình đẳng giới trong dài hạn Tuy nhiên, nếu chỉ có sự tăng trưởng thì sẽ không tạo ra được kết quả mong muốn mà còn cần có một môi trường thể chế để mang lại quyền hạn và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ và nam giới, cần có những giải pháp chính sách cho phụ nữ và nam giới, cần có những giải phápchính sách liên quan đến bất bình đẳng giới
3.Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về bất bình đẳng giới.
Bình đẳng giới hiện nay là vấn đề quan trọng được nhiều nước, nhiều quốc gia quan tâm ký kết nhiều hiệp ước và cam kết thực hiện Nhà nước ta đã ký kết, tham gia “Công ước Liên hiệp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” và ký kết tham gia, thực hiện tám mục tiêu thiên niên kỷ trong đó có mục tiêu: thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới Như vậy bình đẳng giới không là vấn đề riêng của giới nữ, của một quốc gia, mà là mục tiêu phấn đấu thúc đẩy thực hiện của nhiều quốc gia, nhiều dân tộc
Bình đẳng giới không thể hiểu một cách đơn giản là nam giới và phụ nữ haytrẻ em nam và trẻ em nữ có số lượng tham gia như nhau trong mọi hoạt
Trang 9động xã hội Bình đẳng giới không có nghĩa là nam giới và phụ nữ là giống nhau, đều làm mọi việc như nhau Mà nên hiểu rằng bình đẳng giới là sự tương đồng và có khác biệt của giới nam và phụ nữ được thừa nhận và được coi trọng như nhau Thực tế cho thấy phụ nữ và nam giới có cuộc sống rất khác nhau, có các nhu cầu khác nhau, có nguyện vọng khác nhau và nhiều vấn đề cần ưu tiên Cũng như vậy, họ phải chịu sự tác động khác nhau từ cùng một chính sách, cùng một biện pháp hỗ trợ phát triển của một đảng, một nhà nước Cho nên bình đẳng giới phải được hiểu một cách đầy đủ là nam giới và phụ nữ được trải nghiệm ở những điều kiện như nhau để phát huy đầy đủ các tiềm năng của mình, có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng lợi như nhau từ các hoạt động phát triển về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của quốc gia
Chúng ta phải thừa nhận rằng sự phát triển, tiến bộ của xã hội nói chung và của đất nước ta nói riêng, nó gắn liền với quá trình đấu tranh kiên trì của xã hội cho sự bình đẳng giới Vì bình đẳng giới là mục tiêu chung của xã hội, bất bình đẳng giới là nguyên nhân của tình trạng đói nghèo, là rào cản chính đối với sự phát triển bền vững của xã hội Chính nó là tác nhân gây ra tác động tiêu cực tới quốc gia, tới mọi thành viên trong xã hội Quốc gia nào còn tình trạng bất bình đẳng giới mang tính phổ biến và kéo dài thì sẽ phải trả giá bằng sự gia tăng đói nghèo, lạc hậu và các thiệt hại khác Một xã hội, một quốc gia có mức độ bình đẳng giới càng cao thì thành quả tăng trưởng kinh tế càng lớn phục vụ tốt cho công tác xoá đói giảm nghèo, xoá dần bất bình đẳng trong xã hội
Chính vì vậy mà Đảng và nhà nước ta đề ra mục tiêu phấn đấu của dân tộc
là xây dựng nước Việt Nam thành một nước “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Ngay nội dung của mục tiêu trên nó cũng đã
Trang 10bao hàm, chứa đựng nội dung về sự bình đẳng giới Từ mục tiêu trên mà Đảng và nhà nước ta cụ thể hoá đề ra nhiều chủ trương, chính sách, chương trình tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào công tác xã hội Nghị quyết số: 04-NQ/TW, ngày 12/7/1993 của Bộ chính trị ban hành về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”; Chỉ thị số: 37-
CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Một số vấn
đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” Từ những quan điểm chỉ đạo trên, trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, có nêu: “Thiết thực chăm lo sự bình đẳng về giới, sự tiến bộ của phụ nữ” Thủ tướng Chính phủ
đã ký quyết định số: 19/2002/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược quốc gia vì sựtiến bộ phụ nữ đến năm 2010” và Nghị định số:19/2003/NĐ-CP ngày
7/3/2003 của Chính phủ: Quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho Hội phụ nữ tham gia quản lý nhà nước
về các vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ, trẻ em Trong Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, Chính phủ đã đề ra mục tiêu tổng quát về bình đẳng giới: “Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ, tạo mọi điều kiện cần thiết
để thực hiện các quyền cơ bản của phụ nữ, để họ tham gia và hưởng lợi đầy
đủ và bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội” Từ mục tiêu tổng quát được cụ thể hoá thành các mục tiêu cụ thể cho từng lĩnh vực, trong đó có mục tiêu “Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội” đểtăng số lượng phụ nữ được giới thiệu và bầu vào các cơ quan dân cử, tham gia lãnh đạo, quản lý, ở các cấp các ngành trong cả nước
Thực tế xã hội ta hiện nay cho thấy, phụ nữ tham gia vào công tác xã hội, quản lý nhà nước còn rất ít, đặc biệt là trong tổ chức bộ máy nhà nước, trong
Trang 11tổ chức Đảng, tổ chức chính trị-xã hội Hiện nay ở nước ta phụ nữ chiếm hơn 50% tổng số thành viên trong xã hội, nhưng đồng thời lại là chiếm phầnđông trong số những người nghèo khổ, nạn nhân của các hành động ngược đãi, có tỷ lệ biết chữ nói chung thấp hơn nam giới và chất lượng cuộc sống chậm được cải thiện hơn Nguyên nhân dẫn đến hậu quả không tốt nói trên
có nhiều, nhưng trong đó có nguyên nhân cơ bản là do chịu ảnh hưởng của
tư tưởng nho giáo Đó là những tư tưởng, hành vi gia trưởng, có xu hướng
hạ thấp vị trí, vai trò của phụ nữ trong xã hội, coi trọng con trai hơn con gái…
Trong báo cáo của Ban chỉ đạo Cải cách hành chính tỉnh Vĩnh Long năm
2005, đội ngũ cán bộ công chức ở 107 xã, phường, thị trấn trong tỉnh có
4331 người thì trong đó chỉ có 668 cán bộ nữ chiếm tỷ lệ 15,4% Trong số 4331cán bộ công chức cấp xã thì có 1845 cán bộ chuyên trách, trong đó nữ chỉ có 238 người chiếm 12,8%; Công chức chuyên môn có 719 người thì nữ chỉ có 103 người chiếm tỷ lệ 14,3%; Cán bộ không chuyên có 1767 người, trong đó nữ có 327 người chiếm tỷ lệ 18,5%
Từ năm 2000 đến 2005, Trường Chính trị Phạm Hùng tỉnh Vĩnh Long thực hiện chương trình trung cấp lý luận chính trị đào tạo cán bộ chủ chốt cho chính quyền cơ sở được 23 lớp, với 1158 học viên, trong đó nữ chỉ có 201 người chiếm tỷ lệ 17,3%
Từ số liệu trên cho thấy tỷ lệ nữ đang làm việc và nữ cử đi đào tạo tại
trường chính trị của chính quyền cấp xã chiếm tỷ lệ rất thấp so với nam giới
Tỷ lệ nầy nó không chỉ phản ánh tình hình của tỉnh, mà đó còn phản ánh tình hình chung trong cả nước Sở dĩ có tỷ lệ chênh lệch lớn giữa nam và nữ như trên trong đội ngũ cán bộ công chức ở cơ sở có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân cơ bản nhất là do tư tưởng nho giáo, gia trưởng,
Trang 12trọng nam khinh nữ, hạ thấp vai trò phụ nữ trong xã hội Từ đó có định kiến với phụ nữ dẫn đến làm bất bình đẳng giới trong xã hội
Để thúc đẩy bình đẳng giới, hướng tới mục tiêu chung của Đảng và Nhà nước, thực hiện Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ của Chính phủ, đòihỏi mọi ngành, mọi cấp, mọi tổ chức, mọi người, đẩy mạnh công tác tuyên tuyền, vận động, cùng thực hiện Với vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ quan trọng của nhà trường, chúng ta đẩy mạnh công tác lồng ghép giới vào trong nội dung giảng dạy góp phần làm thay đổi nhận thức về bình đẳng giớitrong đội ngũ cán bộ công chức Từ đó góp phần vào việc thực hiện thắng lợi chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ ở nước ta
Chương II Thực trạng vấn đề bất bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục.
1 Trên thế giới
Theo một báo cáo của UNICEF, vào tháng 12 năm 2006, nhân dịp kỉniệm 60 năm ngày thành lập của tổ chức này, việc loại bỏ sự phân biệt đối
xử về giới và nâng cao vị thế của phụ nữ sẽ tạo ra một sự tác động sâu sắc
và tích cực đến sự sống còn và phát triển của trẻ em Bà Ann M Veneman –Giám đốc điều hành UNICEF phát biểu: “Khi vị thế của người phụ nữ đượcnâng lên để có một cuộc sống đầy đủ và hữu ích, trẻ em và giáo dục họ sẽtrở nên thịnh vượng” Theo báo cáo này, mặc dù trong những thập kỉ gầnđây đã có một số tiến biij về vị thế của phụ nữ nhưng cuộc sống của hàngtriệu “trẻ em gái và phụ nữ vẫn bị đe dọa bởi sự phân biệt đối xử, việc bịtước quyền và nghèo khổ Hậu quả của sự phân biệt đối xử là trẻ em gái ít
có cơ hội được học hơn Ở các nước đang phát triển, gần như 1/100 trẻ emgái đi học ở trường tiểu học sẽ không theo học được hết cấp Trình độ học
Trang 13vấn, theo báo cáo, tương quan đến sự cải thiện về các nguồn lực đầu tự cho
sự sống còn và phát triển của trẻ em
Sự phân biệt giới trong lĩnh vực giáo dục thường diễn ra gay gắt nhấttrong nhóm nước nghèo Một nghiên cứu gần đây về tỉ lệ đến trường của các
bé gái và bé trai ở 41 quốc gia đã cho thấy, trong những nước này, sự pp vềgiới trong tỉ lệ đến trường giữa nhóm nghèo thường lớn hơn giữa nhữngnhóm không nghèo Tuy sự bình đẳng trong giáo dục đã có sự cải thiện rõrệt trong vòng 30 năm qua ở các nước ngày nay còn phụ thuộc diện thu nhậpthấp, nhưng sự chênh lệch về số nam và nữ đến trường ở những nước nàyvẫn lớn hơn ở các nước có thu nhập trung bình và cao Mặc dù giữa pháttriển kinh tế và bình đẳng giới có mqh nhất định, sự hiện diện của phụ nữtrong thu nhập quốc nội vẫn còn khiêm tốn
2 Tại Việt Nam
2.1Khái quát thực trạng.
Phụ nữ và trẻ em gái được tạo điều kiện bình đẳng với nam giới trongnâng cao trình độ văn hóa và trình độ học vấn Tỷ lệ phụ nữ so với nam giớitrong số người biết chữ đã tăng lên đáng kể Chênh lệch về tỷ lệ học sinhnam - nữ trong tất cả các cấp bậc học được thu hẹp4 Về cơ bản, Việt Nam
có thể đạt được mục tiêu xóa bỏ cách biệt giới ở các cấp học trước năm
2015 Có bốn loại hình giáo dục không chính quy, chủ yếu dành cho ngườilớn, trong đó có phụ nữ Các chương trình này đã tạo nhiều cơ hội học tậpđối với phụ nữ hơn rất nhiều so với trước
4
Trang 14Nhận thức được thực trạng và tầm quan trọng của người phụ nữ, đặcbiệt là vai trò của giáo dục đối với xã hội, ngành Giáo dục & Đào tạo đãthực hiện tương đối tốt vấn đề bình đẳng giới Thứ trưởng Bộ Giáo dục &Đào tạo Đặng Huỳnh Mai đã khẳng định vai trò to lớn của giới nữ: “Chiếmhơn 70% đội ngũ toàn ngành, giới nữ đóng vai trò đáng kể vào sự phát triểncủa sự nghiệp Giáo dục & Đào tạo nước nhà” Một số cơ sở đào tạo lớn vốn
có truyền thống nam giới lãnh đạo như Đại học Bách khoa Hà Nội nay đã có
nữ giới giữ vị trí Phó hiệu trưởng Nhiều nữ nhà giáo được phong danh hiệuNhà giáo nhân dân, được công nhận chức danh Phó Giáo sư Đặc biệt, nhiềuhọc sinh nữ, sinh viên nữ tự khẳng định vai trò của giới mình bằng cách tíchcực học tập và rèn luyện, đạt kết quả xuất sắc Trong các kỳ tuyển sinh vàocao đẳng, đại học nhiều thủ khoa là học sinh nữ Còn trong các kỳ thi tốtnghiệp, nhiều sinh viên nữ nhận bằng cử nhân với thành tích xuất sắc: thủkhoa
Đối với ngành Giáo dục & Đào tạo quận Ngũ Hành Sơn, nữ cán bộ quản lýgiáo dục và giáo viên đã đóng góp công lớn trong sự nghiệp giáo dục củaquận nhà Trong những năm qua có bốn nữ cán bộ quản lý được Bộ Giáodục và Đào tạo tặng bằng khen, nhiều chị được UBND thành phố, Sở Giáodục và Đào tạo thành phố tặng bằng khen, giấy khen Nữ cán bộ quản lýtrong các trường học chiếm tỉ lệ cao: 80%, có trường Hiệu trưởng, Phó Hiệutrưởng hoàn toàn là nữ Lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo có 1/3 là nữ
Về tồn tại:
Tuy nhiên, thực chất bình đẳng giới trong Giáo dục và Đào tạo cònnhiều vấn đề cần xem xét Về khách quan, việc nhìn nhận vai trò của nữgiáo viên chưa đúng, nhiều Hiệu trưởng không muốn nhận giáo viên là nữ vì
Trang 15sợ liên quan đến chế độ nghỉ sinh nở, con đau ốm ảnh hưởng đến việc giảngdạy, hoặc khi đề bạt, cử đi học còn e dè trong việc chọn nữ giáo viên Trẻ
em gái ít cơ hội được đến trường so với nam giới Nếu tính trung bình chotất cả các quốc gia đang phát triển, tỷ lệ phụ nữ biết chữ thấp hơn 29% sovới nam giới, số năm đến trường trung bình thấp hơn 45% so với nam giới
và tỷ lệ nhập học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông của nữthấp hơn tương ứng là 9%, 28% và 49% so với nam
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tự quan trọng về bình đẳng giới Tuynhiên, theo kết quả điều tra chọn mẫu của Ngân hành Thế giới5, năm 1997 –
1998, tỉ lệ dân số nữ từ 15 tuổi trở lên chưa đến trường là 13,4%, nhiều hơnhai lần tỉ lệ nam: 5,2% Số năm đi học trung bình của dân số nam từ 6 tuổitrở lên là 6,7 năm, nhiều hơn số năm đi học của nữ: 5,6%
Biểu đồ và bảng số liệu:
Số lượng học sinh phổ thông tại thời điểm ngày 31 tháng 12 giai đoạn 200 – 2009 phân theo giới tính
5
Trang 16
2000-2001
2002
2001- 2003
2002- 2004
2003- 2005
2004- 2006
2005- 2007
2006- 2008
2007- 2009
4428
4617
4199
4359
3987
4053
3692
3781
3523
3622
3408
3576
3284
35013231
Trang 173368
3063
3436
3134
3423
3194
3277
3094
3415
2965
2973
2830
2808
2661THP
1089
1286
1169
1331
1258
1421
1349
1507
1468
1560
1515
1465
1557
1385
1543
(Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê, www.gso.gov.vn)
Tuy nhiên, nhìn vào biểu dồ, ta cũng có thể nhận thấy, từ năm 2000 đến
2009, số nữ đi học cấp III đã tăng lên đáng kể Đây là một dấu hiệu tích cực
để đánh giá sự bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục
2.2 CỤ THỂ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VVIỆT NAM TRONG THỜI
GIAN TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010
Bình đẳng giới là lĩnh vực rộng và có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh
vực do vậy là bất bình đẳng giới cũng tồn tại ở nhiều ngành nhiều lĩnh vực
Để tìm hiểu hết thực trạng của bất bình đẳng giới là một điều hết sức khó
khăn nhưng nhìn sâu trong một số lĩnh vực thì chúng ta cũng có thể hiểu
thực trạng của bất bình đẳng giới đang tồn tại trong xã hội của Việt Nam
như thế nào Sau đây là tìm hiểu về thực trạng bất bình đẳng giới một số
ngành:
a Tỷ số giới tính khi sinh (SRB)
Tỷ lệ giới tính khi sinh được đo bằng số trẻ sơ sinh trai trên một trăm trẻ
sơ sinh gái được sinh ra Tỷ lệ này được xem là bình thường khi có 105 đến