Cùng với sự phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, kế toán ngày càng hoàn thiện và phát triển cả về nội dung lẫn hình thức, trở thành công cụ không thể thiếu được trong quản lý, k
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Kế toán nói chung đã ra đời từ rất lâu, nó tồn tại và phát triển qua các hình thái kinh tế xã hội Cùng với sự phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, kế toán ngày càng hoàn thiện và phát triển cả về nội dung lẫn hình thức, trở thành công cụ không thể thiếu được trong quản lý, kiểm tra, kiểm soát và điều hành các hoạt động kinh tế tài chính ở các đơn vị Điều đó đã thúc đẩy kế toán phát triển và cho ra đời các loại kế toán khác nhau, cụ thể đó là kế toán chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị Kế toán quản trị là bộ phận không thể thiếu đối với các doanh nghiệp hiện nay Lý do trực tiếp thúc đẩy
sự ra đời của kế toán quản trị là: do nhu cầu ngày càng tăng về thông tin phục
vụ quản lý và do khả năng cung cấp thông tin Kế toán quản trị không những cung cấp các thông tin cho các nhà quản trị cấp cao để ra quyết định kinh doanh, quyết định đầu tư và sử dụng nguồn lực mà còn cung cấp cả các thông tin về các mặt kỹ thuật để các nhà quản lý thừa hành sử dụng thực thi trách nhiệm của mình Kế toán quản trị là loại kế toán dành riêng cho các nhà quản
lý, trợ giúp cho việc ra quyết định theo các tình huống cụ thể của các nhà quản lý Các quyết định của nhà quản lý hầu hết đều liên quan đến vấn đề chi phí và giá trị thu được do các chi phí tạo ra
Đồ án môn học kế toán quản trị là môn học giúp sinh viên củng cố lại kiến thức đã học về kế toán quản trị, hiểu sâu hơn về kế toán quản trị, nắm vững lý thuyết và có thể áp dụng thành thạo những điều đã học vào thực tiễn
Để hoàn thành đồ án môn học này, em đã sử dụng số liệu thực tế sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần sữa Việt Nam
Trang 2PHẦN MỘT
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.1 Những vấn đề cơ bản về kế toán quản trị
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị
Chức năng của kế toán là cung cấp thông tin về hoạt động của một đơn
vị, một tổ chức Trong doanh nghiệp, thông tin kế toán không những cần thiết cho người ra quyết định quản lý ở bên trong doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tượng ở bên ngoài doanh nghiệp Do có phạm vi cung cấp, phục
vụ thông tin khác nhau nên kế toán doanh nghiệp được chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị
Xuất phát điểm của kế toán quản trị là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu về quá trình tính toán giá phí sản phẩm như giá phí tiếp liệu, giá phí sản xuất, nhằm đề ra các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị hàng tồn kho và kết quả kinh doanh theo từng hoạt động Dần dần cùng với sự phát triển của khoa học quản lý nói chung, khoa học kế toán cũng có những bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt từ năm 1975 trở lại đây, nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới đã đi sâu nghiên cứu, áp dụng và sử dụng những thông tin
kế toán phục vụ cho yêu cầu quản lý Sự phát triển mạnh mẽ của kế toán đã đặt ra hướng nghiên cứu các công cụ kiểm soát và lập kế hoạch, thu nhận và
xử lý thông tin phục vụ cho việc ra quyết định quản trị gọi là kế toán quản trị
Từ các định nghĩa của nhiều nhà nghiên cứu, chuyên môn có thể đưa ra
khái niệm chung về kế toán quản trị là: Kế toán quản trị là một khoa học thu
nhận, xử lý và cung cấp những thông tin định lượng về hoạt động của đơn vị một cách cụ thể, giúp các nhà quản lý trong quá trình ra các quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị.
1.1.2 Chức năng, vai trò, nhiệm vụ của kế toán quản trị
a Chức năng:
• Cung cấp thông tin phục vụ chức năng hoạch định: Thông tin do kế toán quản trị cung cấp quan trọng và cần thiết trong việc truyền đạt và hướng dẫn nhà quản trị xây dựng kế hoạch ngắn và dài hạn
Trang 3• Cung cấp thông tin phục vụ chức năng tổ chức điều hành hoạt động: Những thông tin này nhằm phản ánh hiệu quả và chất lượng của các công việc
đã và đang thực hiện để nhà quản trị điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh
• Cung cấp thông tin phục vụ chức năng kiểm soát: Thông tin này sẽ được thể hiện dưới dạng các báo thực hiện
• Cung cấp thông tin phục vụ chức năng ra quyết định của nhà quản trị: Thông tin kế toán quản trị cung cấp có linh hoạt, kịp thời, thích hợp và có tính
hệ thống nhằm giúp nhà quản trị có nền tảng khoa học trong việc phân tích, lựa chọn phương án tối ưu cho việc ra quyết định
b Vai trò:
Trách nhiệm của các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp là điều hành và quản lý các mặt hoạt động của doanh nghiệp Các chức năng cơ bản của quản lý doanh nghiệp, tất cả xoay quanh vấn đề “ra quyết định” Để quản
lý và ra quyết định đối với các tình huống thì cần phải có thông tin Các chức năng cơ bản của quản lý hoạt động doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đã
đề ra có thể được khái quát trong sơ đo sau đây:
Qua sơ đồ trên ta thấy sự liên tục của hoạt động quản lý từ khâu lập kế hoạch đến thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó quay trở lại khâu lập kế hoạch cho kỳ sau, tất cả đều xoay quanh trục ra quyết định
Để làm tốt các chức năng này đòi hỏi các nhà quản trị phải có thông tin cần thiết để có thể ra các quyết định đúng đắn Kế toán quản trị là nguồn chủ yếu cung cấp các thông tin đó Vai trò của kế toán quản trị thể hiện trong các
Trang 4 Khâu lập kế hoạch và dự án
Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu cần phải đạt và vạch ra các bước thực hiện để đạt được các mục tiêu đó Các kế hoạch này có thể dài hạn hay ngắn hạn các mục tiêu
Dự toán là một dạng của kế hoạch, nó là sự liên kết lại với nhau và chỉ
rõ cách huy động và sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt được các mục tiêu
đã để ra
Để chức năng lập kế hoạch và dự toán của quản lý được thực hiện tốt,
để các kế hoạch cùng các dự toán có tính khoa học và tính khả thi cao thì chúng phải được lập dựa trên những thông tin hợp lý và có cơ sở Các thông tin này chủ yếu do kế toán quản trị cung cấp
Khâu tổ chức thực hiện
Trong khâu tổ chức thực hiện, nhà quản lý phải biết các liên kết tốt nhất các yếu tố của sản xuất Có nghĩa là kết hợp tốt nhất các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đề ra
Để thực hiện tốt chức năng này, nhà quản trị có nhu cầu rất lớn về thông tin kế toán, nhất là thông tin kế toán quản trị Để ra quyết định kinh doanh đúng đắn trong các hoạt động hàng ngày (quyết định ngắn hạn), hay các quyết định thực hiện các mục tiêu dài hạn, nhà quản trị đều cần phải được cung cấp các thông tin từ kế toán
Khâu kiểm tra và đánh giá
Sau khi đã lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện kế hoạch đòi hỏi nhà quản trị phải kiểm tra và đánh giá việc thực hiện nó Phương pháp thường dung là so sánh số liệu kế hoạch hoặc dự toán với số liệu thực hiện, để
từ đó nhận diện các sai biệt giữa kết quả đạt được với mục tiêu đã đề ra Để làm được điều này, nhà quản trị cần được cung cấp từ bộ phận kế toán báo cáo thực hiện để nhận diện những vấn đề còn tồn tại và cần có tác động quản lý
Kiểm tra và đánh giá là hai chức năng có liên quan chặt chẽ với nhau Các nhà quản trị thừa hành thường đánh giá từng phần trong phạm vi kiểm soát của cọ Còn các nhà quản trị cấp cao hơn, không tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động hàng ngày, tiến hành đánh giá dựa vào các báo cáo thực hiện của từng bộ phận thừa hành kế toán quản trị cung cấp
Khâu ra quyết định
Trang 5Phần lớn thông tin do kế toán quản trị cung cấp nhằm phục vụ cho chức năng ra quyết định của nhà quản trị Đó là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu quản trị doanh nghiệp, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến đánh giá Chức năng ra quyết định được vận dụng liên tục trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Để có thông tin thích hợp cho các nhu cầu của quản lý, kế toán quản trị
sẽ thực hiện các nghiệp vụ phân tích chuyên môn vì những thông tin này thường không có sẵn Kế toán quản trị sẽ chọn lọc những thông tin cần thiết, thích hợp rồi tổng hợp, trình bày chúng theo một trình tự dễ hiểu nhất và giải thích quá trình phân tích đó cho nhà quản trị
Kế toán quản trị giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định không chỉ bằng cách cung cấp thông tin thích hợp, mà còn cách vận dụng các
kỹ thuật phân tích vào những tình huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị lựa chọn ra quyết định một cách thích hợp nhất
- Kiểm tra, giám sát các đinh mức, tiêu chuẩn, dự toán:
Kế toán quản trị là phương tiện đêt ban giám đốc kiểm soát một cách
có hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Chính vì vậy, kế toán quản trị phải biết xây dựng các định mức kinh tế - kỹ thuật, biết lập dự toán chi phí, tiên liệu kết quả và kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện các định mức, tiêu chuẩn, dự toán đã đề ra
- Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo kế toán quản trị:
Trang 6Doanh nghiệp được hoàn toàn quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán, vận dụng và chi tiết hóa các tài khoản kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo kế toán quản trị cần thiết phục vụ cho
kế toán quản trị của bản than doanh nghiệp Doanh nghiệp được sử dụng mọi thông tin, số liệu của phần kế toán tài chính, để phối hợp và phục vụ cho kế toán quản trị
- Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định của ban lãnh đạo doanh nghiệp:
Kế toán quản trị phải thu thập, xử lý, phân tích thông tin trong suốt quá trình từ lúc mua hàng hóa, nguyên liệu; xác định được chi phí sản xuất và tính giá thành cho từng loại sản phẩm từng ngành hoạt động, từng loại dịch vụ…; phân tích được kết quả tiêu thụ từng loại sản phẩm, kết quả cung ứng từng loại dịch vụ… từ đó tập hợp được các dữ kiện cần thiết để dự kiến được phương hướng phát triển theo dõi, phân tích thông tin thị trường để dự tính một chương trình sản xuất và tiêu thụ hợp lý Các quyết định về sản lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, quyết định về giá bán, quyết định về đầu tư ngắn hạn và dài hạn… cuẩ nhà quản lý, phải được dựa trên các thông tin thích hợp
do kế toán quản trị lựa chọn và cung cấp
d Nội dung của kế toán quản trị:
Kế toán quản trị có nội dung rất rộng, sau đây là những nội dung cơ bản:
Nếu xét theo nội dung cấc thông tin mà kế toán quản trị cung cấp, có thể khái quát kế toán quản trị doanh nghiệp bao gồm:
+ Kế toán quản trị các yếu tố sản xuất kinh doanh (bao gồm: Hàng tồn kho, tài sản cố định, lao động và tiền lương)
+ Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm
+ Kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh
+ Kế toán quản trị về các hoạt động đầu tư tài chính
+ Kế toán quản trị các hoạt động khác của doanh nghiệp
Trong các nội dung nói trên, trọng tâm của kế toán quản trị là lĩnh vực chi phí Vì vậy, một số tác giả cho rằng kế toán quản trị là kế toán chi phí
Nếu xét quá trình kế toán quản trị trong mối quan hệ với chức năng quản lý, kế toán quản trị bao gồm các khâu:
Trang 7+ Chính thức hóa các mục tiêu của doanh nghiệp thành các chỉ tiêu kinh tế.
+ Lập dự toán chung và các dự toán chi tiết
+ Thu thập, cung cấp thông tin về kết quản thực hiện các mục tiêu.+ Soạn thảo báo cáo kế toán quản trị
Như vậy, thông tin của kế toán quản trị không chỉ là thông tin quá khứ, thông tin thực hiện mà còn bao gồm các thông tin về tương lai (kế hoạch, dự toạn… ) Mặt khác, thông tin kế toán quản trị không chỉ là các thông tin về giá trị còn bao gồm các thông tin khác (hiện vật, thời gian lao động… )
1.1.3 Phân biệt kế toán quản trị và kế toán tài chính
a Điểm giống nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính.
Kế toán tài chính và kế toán quản trị có nhiều điểm giống nhau và là hai bộ phận không thể tách rời của kế toán doanh nghiệp Những điểm giống nhau cơ bản là:
- Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều đề cập đến các sự kiện kinh tế trong doanh nghiệp và đều quan tâm đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ
sở hữu, doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động và quá trình lưu chuyển tiền
tệ của doanh nghiệp Một bên phản ánh tổng quát một bên phản ánh chi tiết, tỉ
mỉ các vấn đề đó
- Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán Hệ thống ghi chép ban đầu là cơ sở để kế toán tài chính soạn thảo các báo cáo tài chính định kỳ, cung cấp cho đối tượng bên ngoài Đối với
kế toán quản trị, hệ thống đó cũng là cơ sở để vận dụng, xử lý nhằm tạo ra các thông tin thích hợp cho việc ra quyết định của các nhà quản trị Kế toán quản trị sử dụng rộng rãi các ghi chép hàng ngày của kế toán tài chính, mặc dù có triển khai và tăng thêm số liệu cũng như nội dung của các thông tin đó
- Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều biểu hiện trách nhiệm của người quản lý Kế toán tài chính biểu hiện trách nhiệm của người quản lý cao cấp, còn kế toán quản trị biểu hiện trách nhiệm của các nhà quản lý các cấp trên trong doanh nghiệp Nói cách khác, kế toán tài chính hay kế toán quản trị
Trang 8b Sự khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính.
Do có đối tượng sử dụng thông tin khác nhau, mục đích sử dụng thông tin khác nhau nên giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính có nhiều khác biệt
cơ bản:
1- Về đối tượng sử dụng thông tin:
Đối tượng sử dụng thông tin của kế toán quản trị là các thành viên bên trong doanh nghiệp: Các chủ sở hữu, ban giám đốc, quản lý viên, giám sát viên, các quản đốc… Trong khi đó thông tin của kế toán tài chính chủ yếu lại cung cấp cho các đối tượng ở bên ngoài doanh nghiệp như các cổ đông, người cho vay, khách hàng, nhà cung cấp và chính phủ (cơ quan thuế, cơ quan quản
lý tài chính… )
2- Về nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin:
Thông tin kế toán quản trị phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ hiện hành kế toán của từng quốc gia, kể cả các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về kế toán được các quốc gia công nhận Trái lại, trong nền kinh tế thị trường, do yêu cầu phải nhạy bén và nắm bắt nhanh các cơ hội kinh doanh đa dạng nên thông tin kế toán quản trị cần linh hoạt, nhanh chóng và thích hợp với từng quyết định cụ thể của người quản lý, không buộc phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán chung Các quy định của Nhà nước về kế toán quản trị (nếu có) cũng chỉ mang tính chất hướng dẫn
3- Về tính pháp lý của kế toán:
Kế toán tài chính có tính pháp lệnh, nghĩa là hệ thống sổ, ghi chép, trình bày và cung cấp thông tin của kế toán tài chính đều phải tuân theo các quy định thống nhất nếu muốn được thừa nhận Ngược lại, tổ chức công tác quản trị lại mang tính nội bộ, thuộc thẩm quyền của từng doanh nghiệp phù hợp với đặc thù quản lý, yêu cầu quản lý, điều kiện và khả năng quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp
4- Về đặc điểm của thông tin:
Thông tin của kế toán tài chính chủ yếu dưới hình thái giá trị Còn thông tin của kế toán quản trị được biểu hiện cả hình thái hiện vật và hình thái giá trị
Thông tin của kế toán tài chính là thông tin thực hiện về những nghiệp
vụ đã phát sinh, đã xảy ra Trong khi đó, thông tin của kế toán quản trị chủ
Trang 9yếu đặt trọng tâm cho tương lai vì phần lớn nhiệm vụ của nhà quản trị là lựa chon phương án, đề án cho một sự kiện hoặc một quá trình chưa xảy ra.
Thông tin kế toán tài chính chủ yếu là các thông tin kế toán thuần túy, được thu thập từ các chứng từ ban đầu về kế toán Trong kế toán – quản trị, thông tin được thu thập nhằm phục vụ cho chức năng ra quyết định của nhà quản lý và thường không có sẵn, nên ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán, kế toán quản trị còn phải kết hơp với nhiều ngành khoa học khác như thống kê, hoạch toán nghiệp vụ, kinh tế học, quản lý để tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin thành dạng có thể sử dụng được
5- Về hình thức báo cáo sử dụng:
Báo cáo được sử dụng trong kế toán tài chính là các báo cáo kế toán tổng hợp (gọi là các báo cáo tài chính) phản ánh tổng quát về sản nghiệp, kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ (gồm Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính), bắt buộc theo khuôn mẫu
Báo cáo của kế toán quản trị đi sâu vào từng bộ phận, từng khâu công việc của doanh nghiệp (như báo cáo chi phí sản xuất và giá thành, báo cáo nợ phải trả, báo cáo xuất nhập khẩu và tồn kho của hàng tồn kho… ) không bắt buộc theo khuôn mẫu
6- Về kỳ báo cáo:
Kỳ báo cáo của kế toán quản trị thường xuyên hơn kỳ báo cáo của kế toán tài chính Báo cáo của kế toán tài chính được soạn thảo theo định kỳ, thường là hàng tháng, quý, năm, còn báo cáo của kế toán quản trị do nhu cầu của các nhà quản trị được soạn thảo thường xuyên để kịp thời phát hiện và chấn chỉnh các yếu kém
Từ những phân tích trên cho thấy kế toán quản trị và kế toán tài chính tuy là hai lĩnh vực khác nhau song chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau hợp thành công cụ quản lý quan trọng trong hệ thống công cụ quản lý kinh tế
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của kế toán quản trị của yếu tố sản xuất kinh doanh
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết phải có các yếu tố sản xuất cơ bản, đó là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, nguyên vật liệu là đối tượng lao
Trang 10động, tài sản cố định và các công cụ dụng cụ khác không đủ tiêu chuẩn tài sản
cố định là tư liệu lao động, còn lao động của con người là yếu tố sức lao động
a Kế toán quản trị vật tư, hàng hoá:
Kế toán quản trị chủ yếu phục vụ cho các nhà quản lý doanh nghiệp để
ra quyết định sản xuất kinh doanh do đó thông tin cần phải cập nhật và liên tục Điều đó cũng có nghĩa là các tình hình nhập, xuất, tồn kho vật tư, hàng hoá cả chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu thành tiền theo từng mặt hàng, từng nhóm, từng loại, ở từng nơi bảo quản, sử dụng phải được hạch toán chi tiết để sẵn sàng phục vụ cho yêu cầu của quản trị Muốn vậy công tác hạch toán vật tư hàng hoá phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Tổ chức hạch toán chi tiết vật tư hàng hoá theo từng kho, từng bộ phận kế toán doanh nghiệp
- Theo dõi liên tục hàng ngày tình hình nhập xuất tồn kho của từng loại, nhóm mặt hàng vật tư hàng hoá cả chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu thành tiền
- Đảm bảo đối chiếu khớp và chính xác tương ứng giữa các số liệu của
kế toán chi tiết với số liệu hạch toán chi tiết tại kho, giữa số liệu của kế toán chi tiết với số liệu của kế toán tổng hợp về tình hình vật tư, hàng hoá
- Báo cáo cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết hàng ngày, hàng tuần về tình hình vật tư hàng hoá theo yêu cầu của quản trị doanh nghiệp
b Kế toán quản trị tài sản cố định:
Trong quá trình sử dụng TSCĐ vào sản xuất kinh doanh, giá trị của TSCĐ bị hao mòn dần và chuyển dịch từng phần vào chi phí sản xuất kinh doanh Nhưng TSCĐ hữu hình vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu cho đến khi hư hỏng Mặt khác TSCĐ được sử dụng và bảo quản ở các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp Bởi vậy kế toán chi tiết TSCĐ phải phản ánh
và kiểm tra tình hình tăng, giảm, hao mòn TSCĐ của toàn doanh nghiệp và của từng nơi bảo quản, sử dụng theo từng đối tượng ghi TSCĐ Ngoài các chỉ tiêu phản ánh nguồn gốc, thời gian hình thành TSCĐ, công suất thiết bị, số hiệu TSCĐ, kế toán phải phản ánh nguyên giá, giá trị hao mòn, giá trị còn lại của từng đối tượng ghi TSCĐ tại từng nơi sử dụng, bảo quản TSCĐ Việc theo dõi TSCĐ theo nơi sử dụng nhằm gắn trách nhiệm bảo quản, sử dụng tài sản với từng bộ phận, từ đó nâng trách nhiệm và hiệu quả trong bảo quản sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp
Trang 11c Kế toán quản trị lao động và tiền lương (tiền công)
Lao động là yếu tố quyết định trong quá trình sản xuất kinh doanh Nói đến yếu tố lao động là nói đến lao động sống, tức là sự hao phí có mục đích
về thể lực và trí lực của con người để tạo ra sản phẩm hoặc thực hiện hoạt động kinh doanh Để bù lại phần hao phí đó của lao động, doanh nghiệp phải trả cho họ khoản tiền phù hợp với số lượng và chất lượng lao động mà họ đóng góp Số tiền này được gọi là tiền lương hay tiền công
Kế toán quản trị lao động, tiền lương phải cung cấp các thông tin về số lượng lao động, thời gian lao động, kết quả lao động và quỹ lương cho các nhà quản trị doanh nghiệp Từ những thông tin này các nhà quản trị đưa ra được phương án tổ chức quản lý lao động, bố trí hợp lý lực lượng lao động của doanh nghiệp vào từng khâu công việc cụ thể, nhằm phát huy tốt nhất năng lực của người lao động, tạo điều kiện tăng năng suất lao động, giảm chi phí nhân công trong chi phí sản xuất kinh doanh
d Ý nghĩa của việc quản lý chi phí
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải luôn luôn quan tâm đến việc quản lý chi phí, vì mỗi đồng chi phí bỏ ra đều có ảnh hưởng đến lợi nhuận Vì vậy vấn đề quan trọng được đặt ra cho nhà quản trị doanh nghiệp là phải kiểm soát chi phí của doanh nghiệp
Vấn đề chi phí không chỉ là sự quan tâm của các doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm của người tiêu dùng, của xã hội nói chung
Trong môn học kinh tế vi mô, chi phí sản xuất giữ một vị trí quan trọng
và có quan hệ với nhiều vấn đề khác của doanh nghiệp
Một nhà kinh tế học phương Tây J.M.Clark, đã phát biểu: “Một lớp học
về khoa kinh tế sẽ là một thành công thực sự nếu qua đó các sinh viên thực sự hiểu được ý nghĩa của chi phí sản xuất về mọi phương diện”
Theo kế toán tài chính, chi phí được hiểu là một số tiền hoặc một phương tiện mà doanh nghiệp hoặc cá nhân bỏ ra để đạt được mục đích nào
đó Bản chất của chi phí là phải mất đi để đổi lấy một sự thu về, có thể thu về dưới dạng vật chất, có thể định lượng được như số lượng sản phẩm, tiền,
Trang 121.1.5 Vai trò, ý nghĩa của kế toán quản trị chi phí giá thành
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải luôn luôn quan tâm đến việc quản lý chi phí, với mỗi đồng chi phí bỏ ra đều có ảnh hưởng đến lợi nhuận Vì vậy vấn đề quan trọng được đặt ra cho nhà quản trị doanh nghiệp là phải kiểm soát chi phí của doanh nghiệp
Vấn đề chi phí không chỉ là sự quan tâm của các doanh nghiệp mà còn
là mối quan tâm của người tiêu dùng, xã hội nói chung Bên cạnh đó chi phí sản xuất giữ một vị trí quan trọng và có quan hệ với nhiều vấn đề khác của doanh nghiệp, như để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm doanh nghiệp cần bỏ ra các loại chi phí biểu hiện bằng tiền để đầu tư TSCĐ, TSLĐ ngoài ra còn đảm bảo phúc lợi cho người lao động Chi phí đảm bảo phúc lợi của doanh nghiệp gắn liền với việc thực hiện với biện pháp nhằm tái tạo khả năng lao động, nâng cao trình độ cho công nhân viên chức
1.1.6 Phân loại chi phí
Chi phí được nhà quản trị sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, do vậy chi phí được phân loại theo nhiều cách, tùy theo mục đích sử dụng của nhà quản trị trong từng quyết định
Nhận định và thấu hiểu cách phân loại và ứng xử của từng loại chi phí
là chìa khóa của việc đưa ra những quyết định đúng đắn trong quá trình tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh của nhà quản trị doanh nghiệp
a Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động:
Ý nghĩa của phân loại chi phí theo chức năng hoạt động là:
- Cho thấy vị trí, chức năng hoạt của chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Là căn cứ để xác định giá thành sản phẩm và tập hợp chi phí
- Cung cấp thông tin có hệ thống cho việc lập báo cáo tài chính
1 Chi phí sản xuất:
Khái niệm: Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí có liên quan đên việc chế
tạo sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ trong một kỳ nhất định
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là chi phí của những nguyên vật liệu
mà cấu tạo thành thực thể của sản phẩm, có giá trị và có thể xác định được một cách tách biệt rõ ràng và cụ thể cho từng loại sản phẩm
Trang 13- Chi phí lao động trực tiếp: là chi phí thanh toán cho công nhân trực
tiếp vận hành dây chuyền sản xuất tạo ra sản phẩm Khả năng và kỹ năng của lao động trực tiếp có ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ cung cấp
- Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung có thể được định
nghĩa một cách đơn giản, là gồm tất cả những loại chi phí sản xuất, ngoại trừ chi phí ngyuên vật liệu trực tiếp và chi phí lao động trực tiếp
2 Chi phí ngoài sản xuất:
- Chi phí lưu thông và tiếp thị (Chi phí bán hàng): Chi phí lưu thông và
tiếp thị bao gồm các khoản chi phí cần thiết để đẩy mạnh quá trình lưu thông hàng hoá và đảm bảo việc đưa hàng hoá đến tay người tiêu dùng
- Chi phí quản lý: Chi phí quản lý là những khoản chi phí liên quan với
việc tổ chức hành chính và các hoạt động văn phòng làm việc của doanh nghiệp Các khoản chi phí này không thể xếp vào loại chi phí sản xuất hay chi phí lưu thông
b Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử của chi phí:
Ý nghĩa: Nhằm đáp ứng nhu cầu lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động
điều tiết chi phí đối với lĩnh vực quản trị doanh nghiệp, người ta còn phải phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí, nghĩa là khi mức độ hoạt động biến động thì chi phí sẽ biến động như thế nào
1 Biến phí:
Biến phí là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận trực tiếp với
biến động của mức độ hoạt động Biến phí khi tính cho một đơn vị thì nó ổn định, không thay đổi, biến phí khi không có hoạt động bằng không
- Biến phí tỷ lệ: Biến phí tỷ lệ là khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận
trực tiếp với biến
động của mức độ hoạt động căn cứ
- Biến phí bậc: Biến phí cấp bậc là những khoản chi phí thay đổi khi
mức độ hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng, biến phí loại này không đổi khi mức độ hoạt động căn cứ thay đổi ít
2 Định phí:
Định phí là những khoản chi phí không biến đổi khi mức độ hoạt động
Trang 14- Định phí tuỳ ý : Định phí tuỳ ý là định phí có thể thay đổi nhanh
chóng bằng hành động quản trị Các nhà quản trị quyết định mức độ và số lượng định phí này như chi phí quảng cáo, đào tạo nhân viên, nghiên cứu
- Định phí bắt buộc: Định phí bắt buộc là định phí không thể thay đổi
một cách nhanh chóng vì chi phí chung thường liên quan đến TSCĐ và cấu trúc cơ bản của doanh nghiệp
3
Chi phí hỗn hợp :
Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố biến phí lẫn định phí
c Phân loại chi phí theo mối quan hệ với sản phẩm:
Ý nghĩa : Cho ta biết được chi phí nào phát sinh trong kỳ, ảnh hưởng
đến lợi tức của kỳ mà chúng phát sinh Chi phí nào gắn liền với sản phẩm
1 Chi phí thời kỳ:
Chi phí thời kỳ là những khoản chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán Vì thế chi phí thời kỳ có ảnh hưởng đến lợi tức của kỳ mà chúng phát sinh Chi phí thời kỳ không phải những chi phí tạo thành thực thể của sản phẩm hay vào các yếu tố cấu thành giá vốn của hàng hoá mua vào, mà là những khoản chi phí hoàn toàn biệt lập với quá trình sản xuất sản phẩm hoặc mua vào hàng hoá
2 Chi phí sản phẩm:
Chi phí sản phẩm là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm hay quá trình mua hàng hoá để bán lại Chi phí sản phẩm luôn luôn gắn liền với sản phẩm
d Các cách phân loại chi phí khác nhau nhằm mục đích ra quyết định:
Ý nghĩa: Cách phân loại này có ý nghĩa thuần tuý đối với kỹ thuật
hạch toán Trường hợp có phát sinh chi phí gián tiếp, bắt buộc phải áp dụng phương pháp phân bổ, lựa chọn tiêu thức phù hợp Mức độ chính xác của chi phí gián tiếp tập hợp cho từng đối tượng phụ thuộc vào tính hợp lý và khoa học của tiêu chuẩn phân bổ chi phí Vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp phải hết sức quan tâm đến việc lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí nếu muốn
có các thông tin chân thực về chi phí và kết quả lợi nhuận từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng loại hoạt động trong doanh nghiệp
Trang 151 Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
Chi phí trực tiếp: Còn được gọi là chi phí có thể tách biệt, phát sinh
một cách riêng biệt cho một hoạt động cụ thể của doanh nghiệp, như một sản phẩm, ở một phân xưởng sản xuất, một đại lý
Chi phí gián tiếp: Còn được gọi là chi phí chung hay chi phí kết hợp,
không có liên quan tới hoạt động cụ thể nào mà liên quan cùng lúc với nhiều hoạt động Do đó, để xác định chi phí gián tiếp của một hoạt động cụ thể phải
áp dụng phương pháp phân bổ
2
Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được :
Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được là những khoản mục chi phí phản ánh phạm vi quyền hạn của các nhà quản trị các cấp đối với các loại chi phí đó Như vậy, các nhà quản trị cao cấp có phạm vi quyền hạn rộng đối với chi phí hơn
Chi phí cơ hội:
Chi phí chìm là một loại chi phí mà doanh nghiệp phải chịu và vẫn sẽ phải chịu dù doanh nghiệp chọn phương án hành động nào Chi phí chìm không bao giờ thích hợp với việc ra quyết định vì chúng không có tính chênh lệch và nó tồn tại trong mọi phương án hành động
e Phân loại chi phí trên các báo cáo kế toán:
BẢNG KÊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG KỲ
1 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
2 Chi phí nhân công trực tiếp
3 Chi phí sản xuất chung
4 Tổng chi phí phát sinh trong kỳ
5 Chi phí dở dang đầu kỳ
6 Chi phí dở dang cuối kỳ
Trang 161 Doanh thu thuần
2 Giá vốn
3 Lợi nhuận gộp
4 Chi phí bán hang
5 Chi phí quản lý doanh nghiệp
6 Lợi nhuận thuần
BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
(Sử dụng nội bộ)
1 Doanh thu thuần
2 Chi phí biến đổi
- Chi phí sản xuất biến đổi
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí sản xuất chung biến đổi
- Chi phí ngoài sản xuất biến đổi
+ Chi phí bán hàng biến đổi
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp biến đổi
3 Số dư đảm phí
4 Chi phí cố định
- Chi phí sản xuất cố định
+ Chi phí sản xuất chung cố định
- Chi phí ngoài sản xuất cố định
+ Chi phí bán hàng cố định
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp cố định
5 Lợi nhuận
Trang 171.2 Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản trong phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận
Nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng – lợi nhuận là xem xét mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố giá bán, sản lượng, chi phí cố định, chi phí biến đổi và sự tác động của chúng đến kết quả lợi nhuận của doanh nghiệp
Nắm vững mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng – lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác các khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp, là cơ sở cho việc ra quyết định lựa chọn hay quyết định điều chỉnh về sản xuất kinh doanh như giá bán, chi phí, sản lượng… nhằm tối đa hóa lợi nhuận
a Số dư đảm phí (lãi trên biến phí)
SDĐP : Tổng số dư đảm phí
DT : Tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm
BP : Tổng chi phí biến đổi
Trang 18vốn, thì nếu sản lượng tăng 1 lượng thì lợi nhuận tăng lên 1 lượng bằng sản lượng tăng lên nhân với số dư đảm phí đơn vị.
b Tỷ lệ số dư đảm phí
Tỷ lệ số dư đảm phí là chỉ tiêu biểu hiện bằng số tương đối giữa tổng số
dư đảm phí với tổng doanh thu (DT) hoặc giữa số dư đảm phí đơn vị với giá bán
Công thức:
Tû lÖ SD§P = SD§P = SD§P®v
Qua chỉ tiêu tỷ lệ số dư đảm phí có thể biết được khi doanh thu tăng lên
1 đồng thì trong đó có bao nhiêu thuộc về tổng số dư đảm phí
Nếu doanh nghiệp đã vượt quá điểm hòa vốn, tỷ lệ tăng của doanh thu
lầ tỷ lệ tăng của tổng số dư đảm phí, và mức tăng của tổng số dư đảm phí là mức lãi thuần
c Kết cấu của chi phí
Là chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ lệ chi phí biến đổi và chi phí cố định trong tổng chi phí của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có tỷ lệ định phí lớn hơn tỷ lệ biến phí thì tỷ lệ số dư đảm phí sẽ lớn hơn tỷ lện của doanh nghiệp có tỷ lệ định phí nhỏ hơn tỷ lệ biến phí
Doanh nghiệp nào có kết cấu chi phí với phần định phí cao hơn thì lợi nhuận sẽ nhạy cảm với biến động của doanh thu Đây sẽ là điểm thuận lợi khi doanh nghiệp tăng doanh thu
Những doanh nghiệp có tỷ lệ định phí thấp trong tổng chi phí thì lợi nhuận sẽ ít nhạy cảm hơn so với biến động của doanh thu Điều này sẽ làm cho doanh nghiệp có độ an toàn cao khi làm ăn thất bại
Rủi ro được đề cập là rủi ro kinh doanh hay rủi ro hoạt động, nó gắn liền với cơ cấu chi phí của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có kết cấu chi phí với phần định phí cao hơn sẽ có nhiều cơ hội đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp nhưng gắn liền với nó là rủi ro kinh doanh lớn
Mỗi doanh nghiệp có tính chất, đặc điểm khác nhau, có chính sách và chiến lược khác nhau vì vậy một kết cấu chi phí được coi là hợp lý là kết cấu
Trang 19chi phí phù hợp với chiến lược phát triển của doanh nghiệp và tùy thuộc vào thái độ của các nhà quản trị doanh nghiệp về rủi ro kinh doanh.
d Đòn bẩy kinh doanh
Đối với nhà kinh doanh, đòn bẩy, nếu gọi một cách đầy đủ là đòn bẩy kinh doanh, là cách mà nhà quản trị sử dụng để đạt được tỷ lệ tăng cao về lợi nhuận với tỷ lệ tăng nhỏ hơn nhiều về doanh thu hoặc mức tiêu thụ sản phẩm
Đòn bẩy kinh doanh là một chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng định phí trong doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có kết cấu chi phí với phần định phí cao hơn thì doanh nghiệp đó được gọi là có đòn bẩy kinh doanh lớn hơn và ngược lại Với đòn bẩy kinh doanh lớn, doanh nghiệp có thể đạt được tỷ lệ cao hơn về lợi nhuận với một tỷ lệ tăng thấp hơn về doanh thu
Độ lớn của ĐBKD = Tốc độ tăng lợi nhuận = SDĐP
Tốc độ tăng doanh thu Lợi nhuận
Ý nghĩa: Đòn bẩy kinh doanh cho biết khi doanh thu tăng (giảm) 1% thì lợi nhuận sẽ thay đổi là bao nhiêu
1.2.2 Phân tích điểm hòa vốn
a Khái niệm
- Điểm hoà vốn là điểm tại đó doanh thu của doanh nghiệp vừa đủ bù đắp chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra
Doanh thu
Mô hình biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí, doanh thu và lợi nhuận
- Theo mô hình trên ta có khái niệm: Điểm hoà vốn là điểm tại đó số dư đảm phí vừa đủ bù đắp chi phí cố định
- Phân tích điểm hoà vốn giúp cho nhà quản trị xem xét quá trình kinh doanh một cách chủ động và tích cực, xác định rõ ràng vào lúc nào trong kỳ kinh doanh, hay ở mức sản xuất nào và tiêu thụ bao nhiêu thì đạt hoà vốn Từ
đó có biện pháp chỉ đạo tích cực để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao
Trang 20b Phương pháp xác định điểm hoà vốn
Xác định sản lượng hoà vốn:
- Sản lượng hoà vốn là mức sản lượng tiêu thụ mà doanh nghiệp có thể
bù đắp được chi phí bỏ ra
- Công thức:
P – BPđv SDĐPđv
Xác định doanh thu hoà vốn:
- Doanh thu hoà vốn là doanh thu của mức tiêu thụ hoà vốn
Tỷ lệ SDĐPbq
DThvi = Tỷ trọng DTi x DThv
Doanh thu an toàn:
- Doanh thu an toàn là phần chênh lệch của doanh thu thực hiện được với doanh thu hoà vốn
- Công thức:
SLhv = DThvi
Pi
Mức DT an toàn = Mức DT thực hiện – Mức DT hoà vốn
Tỷ lệ doanh thu an toàn = Mức doanh thu an toàn
Mức doanh thu thực hiện
- Doanh thu an toàn phản ánh mức doanh thu thực hiện được đã vượt quá mức doanh thu hoà vốn như thế nào Chỉ tiêu này có giá trị càng lớn càng
Trang 21thể hiện tính an toàn cao của hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tính rủi ro trong kinh doanh càng thấp và ngược lại.
0 x0
x(mức hđ)
Hình 1: Đồ thị hoà vốn
Trang 22d Phương trình lợi nhuận
Qmm= LNmm + ĐP
SDĐPđv
DTmm = LNmm + ĐP
Tỷ lệ SDĐP
e Ứng dụng phân tích điểm hoà vốn
* Phân tích điểm hoà vốn trong mối quan hệ với giá bán:
- Xét mối quan hệ giữa sản lượng bán với giá bán hoà vốn: Sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp càng cao thì giá bán để đạt được hoà vốn phải thấp
và ngược lại
- Xét mối quan hệ giữa giá bán với sản lượng hoà vốn: Giá bán càng cao thì sản lượng hoà vốn càng thấp và ngược lại
* Phân tích điểm hoà vốn trong mối quan hệ với kết cấu hàng bán:
- Kết cấu hàng bán là tỷ trọng của từng mặt hàng bán chiếm trong tổng
- Doanh nghiệp dự tính trước tỷ lệ lãi phải đạt được trong kỳ rồi từ
đó có kế hoạch tăng cường cho công tác quảng cáo tiếp thị sản phẩm nhằm tăng doanh thu tiêu thụ (với điều kiện lãi trên 1 ĐVSP >0), điều này cũng có nghĩa là doanh nghiệp sẽ phải chi thêm một khoản chi phí cho quảng cáo tiếp thị Khi đó doanh nghiệp sẽ phải tính toán và xác định sản lượng cần tiêu thụ
là bao nhiêu để đạt đến điểm hoà vốn, và để đạt được mức lãi đã dự tính thì doanh nghiệp phải tiêu thụ được bao nhiêu sản phẩm
SLmm = ĐP + LNmm
SDĐPđv
DTmm = ĐP + LNmm
Tỷ lệ SDĐP
Trang 23- Quyết định khung giá bán:
- Khung giá bán càng rộng thì doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội giảm giá, càng tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường
- Khung giá bán được xác định là đoạn mức giá cao nhất và mức giá thấp nhất mà doanh nghiệp có thể bán Thông thường khung giá bán được xác định là từ giá bán hoà vốn đến giá thị trường
- Quyết định lựa chọn đơn đặt hàng:
- Doanh nghiệp sẽ lựa chọn chấp nhận đơn đặt hàng nếu đơn đặt hàng đó có mang lại SDĐP Giả định:
+ ĐĐH đó không làm ảnh hưởng đến khối lượng tiêu thụ hiện tại + ĐĐH đó không làm thay đổi quy mô sản xuất của doanh nghiệp
- Đơn đặt hàng đó sẽ được chấp nhận khi GB>CPBĐđv
- Quyết định tiếp tục hay ngừng sản xuất
- Trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, doanh nghiệp
sẽ ngừng hoạt động nếu khoản lỗ do việc sản xuất kinh doanh lớn hơn chi phí
cố định phải chịu khi ngừng hoạt động và ngược lại
Trang 24PHẦN HAI PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CP SỮA VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu chung về Công ty CP sữa Việt Nam và vai trò của công tác phân tích biến động chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty CP sữa Hà Lan
Công ty CP sữa Việt Nam là được thành lập trên cơ sở quyết định số
155/2003QĐ-BCN ngày 01 tháng 10 năm 2003 của Bộ Công nghiệp về việc chuyển Doanh nghiệp Nhà nước Công ty Sữa Việt Nam thành Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty số
4103001932 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hồ Chí Minh cấp ngày 20/11/2003 Trước ngày 1 tháng 12 năm 2003, Công ty là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Công nghiệp
- Tên đầy đủ: Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
- Tên viết tắt: VINAMILK
- Trụ sở: 36 - 38 Ngô Đức Kế, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh
- Văn phòng giao dịch: 184–186–188 Nguyễn Đình Chiểu, Quận
3, Tp Hồ Chí Minh
- Điện thoại: (08) 9300 358 Fax: (08) 9305 206
- Web site: www.vinamilk.com.vn
Trang 25Giảm chi phí sản xuất hạ giá thành sản phẩm luôn là một trong những phương pháp quan trọng với bất kỳ doanh nghiệp nào, để tăng cường khả năng cạnh tranh phát triển sản xuất, nâng cao các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế xã hội như: Lợi nhuận, đóng góp cho xã hội, nâng cao mức sống cho người lao động.
Nhiệm vụ của việc phân tích chi phí và giá thành sản phẩm là :
- Kiểm tra tính đúng đắn của công tác hạch toán chi phí sản xuất và giá thành trên cơ sở những yêu cầu của hạch toán như: Tính đúng, tính đủ và hợp lý
- Đánh giá thực trạng của tình hình chi phí sản xuất và giá thành, ảnh hưởng của tình hình đó đến hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh
- Làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược kinh doanh trong lĩnh vực chi phí sản xuất
Để có những đánh giá tổng quát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty CP sữa Việt Nam ta tiến hành phân tích các nội dung sau
2.2 Phân tích sự biến động của các khoản mục phí trong tổng chi phí 2.2.1 Phân tích tổng hợp sự biến động của các khoản mục phí (trong mối quan hệ với doanh thu).
Trang 26Bảng 2.1: Phân tích biến động tổng các khoản mục chi phí
Số tiền (1000 Đ)
Tỷ trọng CP/Tổng
Chi phí (%)
Tỷ suất CP/DT (%)
Số tiền (1000 Đ)
Tỷ trọng CP/Tổng
Chi phí(%)
Tỷ suất CP/DT (%)
Chênh lệch
số tiền
% Chênh lệch số tiền (%)
Chênh lệch
tỷ trọng (%)
Chênh lệch
tỷ suất
2011 2012
Chênh lệch tuyệt đối
% chênh lệch (%) Sản lượng
Trang 27Các khoản mục chi phí trong mối quan hệ với doanh thu gồm các
khoản mục sau:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sản xuất chung
Chi phí bán hàng
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Nhìn vào bảng 2.1 ta thấy: Tổng doanh thu trong năm 2012 tăng lên so với năm 2011 là 4.874.700 nghìn đồng với tỷ lệ tăng là 10,65 % so với năm
2011 Doanh thu tăng lên là do sự ảnh hưởng của hai nhân tố là giá bán và sản lượng tiêu thụ Qua bảng tổng hợp ta thấy năm 2012 đạt được mức sản lượng tiêu thụ là 11.250 nghìn hộp tăng 610 nghìn hộp so với năm 2011, mặt khác giá sữa cũng tăng từ 4.300 đồng năm 2011 lên 4.500 đồng năm 2012 (tương ứng với 4,65%) Tốc độ tăng doanh thu trên là do các nguyên nhân:
- Có sự tăng lên của sản phẩm sản xuất trong năm
- Do năng suất lao động tăng
- Nhu cầu tiêu dùng sữa trong năm 2012 tăng
Xem xét sự biến động của chi phí năm 2012 so với năm 2011 ta thấy: Tổng chi phí năm 2012 là 46.480.240 nghìn đồng, năm 2011 là 42.376.085 nghìn đồng, tăng 4.104.155 nghìn đồng tương ứng với 9,69% so với năm
2011, trong đó:
1 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (NVLTT):
Chi phí NVLTT trong năm 2011 là 16.579.200 nghìn đồng chiếm 39,12% tổng chi phí; Chi phí NVLTT trong năm 2012 là 19.039.300 nghìn đồng chiếm 40,96% tổng chi phí trong năm Như vậy ta có thể thấy, chi phí NVLTT trong khoa học công nghệ máy móc hiện đại, áp dụng các phương pháp kỹ thuật mới nên tiết kiệm được chi phí nhân công Sự tăng lên của tiền lương trả cho người lao động không chỉ do tăng lên về mặt số lượng công nhân viên mà còn do sự tác động của yếu tố chi phí NVLTT năm 2012 tăng 2.460.100 nghìn đồng tương ứng tăng 14,84% so với trong năm 2011 Tỷ trọng CP NVLTT/tổng chi phí trong năm 2011 là 39,12% , trong năm 2012 là 40,96% (tức tăng 1,84% so với năm 2011) Tỷ suất CP NVLTT/tổng doanh
Trang 28chi phí NVLTT trong năm 2012 tăng mạnh làm thay đổi cơ cấu chi phí và làm tăng tỉ suất chi phí trên doanh thu.
Chi phí NVLTT để sản xuất một sản phẩm trong năm 2011 là 3.982,71 đồng, còn năm 2012 là 4.131,58 đồng, tăng 148,86 đồng/hộp tương ứng với 3,74% Tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tăng lên không chỉ là do có sự tăng lên của sản lượng tiêu thụ mà còn do có sự tăng lên của giá bán nguyên vật liệu và định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất ra một hộp sữa
2 Chi phí nhân công trực tiếp ( NCTT):
Chi phí NCTT năm 2012 so với năm 2011 tăng 311.190 nghìn đồng ( tương ứng với 2,39%) từ 13.033.550 nghìn đồng lên 13.344.740 nghìn đồng
Cơ cấu chi phí NCTT trong tổng chi phí cũng có sự thay đổi Nếu trong năm
2011 chi phí này chiếm 30,76% tổng chi phí sản xuất thì đến năm 2012 chi phí này chiếm 28,71% , giảm 2,05% so với năm 2011 Tỷ suất chi phí NCTT/doanh thu năm 2011 là 28,49%, trong năm 2012 là 26,36% giảm 2,13%
Chi phí NCTT đơn vị trong năm 2011 là 1.224,96 đồng/hộp, trong năm
2012 là 1.186,20 đồng/hộp , giảm 38,76 đồng/hộp (tương ứng với mức giảm 3,16%) Giá cả tăng lên, mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định cũng tăng lên để nhằm cải thiện đời sống người lao động làm cho tiền lương phải trả tăng, các loại bảo hiểm cũng tăng, và từ đó đẩy chi phí nhân công trực tiếp tăng lên Nhưng sự tăng lên của tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất không cao bằng sự tăng lên của tổng chi phí, vì vậy làm cho cơ cấu tỷ trọng chi phí NCTT giảm
3 Chi phí sản xuất chung (SXC):
Chi phí SXC trong năm 2011 của toàn công ty là 10.937.000 nghìn đồng, trong năm 2012 là 11.824.800 nghìn đồng, tăng lên 887.800 nghìn đồng tương ứng tăng 8,12 % Tỷ trọng chi phí SXC/tổng chi phí trong năm 2012 giảm 0,37% so với năm 2011 từ 25,81% xuống 25,44% Tỷ suất chi phí
SXC/doanh thu cũng giảm 0,55% từ 23,90% năm 2011 xuống còn 23,36%
năm 2012
Chi phí SXC trên một sản phẩm trong năm 2012 tăng lên 23,18 đồng/hộp, tương ứng với 2,26% Có sự tăng lên này là do sự tăng lên của chi
Trang 29phí nguyên vật liệu, tiền lương ,công cụ dụng cụ và chi phí khác bằng tiền của chi phí sản xuất chung.
4 Chi phí bán hàng:
Chi phí bán hàng trong năm 2012 của công ty tăng 373.715 nghìn đồng tương ứng tăng 25,99% so với năm 2011 do tổng tiền lương nhân viên bán hàng trong năm tăng Tỷ trọng CPBH/tổng chi phí và tỷ suất CPBH/doanh thu trong năm 2012 tăng lần lượt là 0,51% và 0,44%
Chi phí bán hàng tính theo đơn vị sản lượng của công ty trong năm
2012 tăng 25,89 đồng/hộp tương ứng với 19,15% từ 135,17 đồng năm 2011 đến 161,06 đồng/hộp năm 2012 Chi phí bán hàng tăng là do chi phí tiền lương của nhân viên bán hàng tăng đáng kể trong năm 2012 Lý do chủ yếu
do lương tối thiểu tăng
5 Chi phí quản lý doanh nghiệp (QLDN):
Chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty tăng từ 388.150 nghìn đồng năm 2011 lên 459.500 nghìn đồng năm 2012, mức tăng lên là 71.350 nghìn đồng tương ứng với 18,38% Tỷ trọng chi phí QLDN/tổng chi phí năm 2011
là 0,92% ; năm 2012 là 0,99%; cơ cấu tỷ trọng của chi phí QLDN năm 2012 tăng lên 0,07% so vơi năm 2011 Tỷ suất chi phí QLDN/doanh thu tăng
0,06% từ 0,85% năm 2011 lên 0,91% năm 2012.
Chi phí quản lý doanh nghiệp tính theo đơn vị sản lượng trong năm
2012 tăng 4,36 đồng tương ứng với 11,96% (từ 36,48 đồng/hộp năm 2011 lên 40,84 đồng/hộp năm 2012) Có sự tăng cao của chi phí quản lý doanh nghiệp
là do sự tăng của chi phí tiền nhân viên quản lý, dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền
Như vậy, tổng chi phí năm 2012 tăng chủ yếu là do nguyên vật liệu đầu vào tăng và tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong tổng chi phí cao Trong đó năm 2011 chiếm 39,12%, năm 2012 tăng lên 40,96% Quy mô sản xuất kinh doanh tăng, doanh thu tăng từ 45.752.800 nghìn đồng năm 2011 lên 50.627.500 nghìn đồng năm 2012
Nếu xét về tỉ trọng chi phí trên tổng chi phí thì ta thấy chi phí nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng nhiều nhất trong tổng chi phí sau đó là nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung Chi phí bán hàng, chí quản lý doanh nghiệp chiếm tỉ
Trang 30Xét về tỉ suất chi phí trên doanh thu của năm 2011 cao hơn năm 2012 là 0,81% Như vậy, nếu ở năm 2011, 100 đồng doanh thu tạo ra thì mất 92,62 đồng chi phí thì đến năm 2012 chỉ mất 91,81 đồng chi phí, như vậy lợi nhuận tạo ra sẽ nhiều hơn, doanh nghiệp hoạt động sản xuất có hiệu quả hơn.
Nhìn chung, năm 2012, nhờ nâng cao công tác quản lý chặt chẽ, phát huy tối đa năng lực công nhân nên giảm được chi phí nhân công trực tiếp trên một đơn vị sản phẩm
Trang 312.2.2 Phân tích sự biến động của từng yếu tố chi phí trong từng khoản mục chi phí
2.2.2.1 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Bảng 2.2.1 Phân tích biến động các yếu tố chi phí trong từng khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
STT Các chỉ tiêu
Số tiền (1000Đ)
Tỷ trọng CP/Tổng khoản mục Chi phí (%)
Số tiền (1000Đ)
Tỷ trọng CP/Tổng khoản mục Chi phí (%)
Chênh lệch số tiền
% Chênh lệch số tiền (%)
Chênh lệch
tỷ trọng (%)
2011 2012
Chênh lệch tuyệt đối
% chênh lệch (%) Sản lượng
Trang 32Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chi phí của những loại nguyên vật liệu mà cấu thành thực thể của sản phẩm, có giá trị và có thể xác định được một cách tách biệt rõ ràng và cụ thể cho từng loại sản phẩm.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của Công ty CP sữa Việt Nam chia ra làm các yếu tố chủ yếu sau:
+ Chi phí nguyên vật liệu chính
+ Chi phí nguyên vật liệu phụ
+ Chi phí nhiên liệu
+ Chi phí động lực
Tình hình biến động:
Chi phí nguyên vật liệu chính:
Từ số liệu trong bảng 2.2.1 ta thấy : chi phí NVL chính trong năm 2011
là 11.658.455 nghìn đồng chiếm 70,32% kết cấu tổng chi phí NVLTT
Trong năm 2012 là 12.456.721 nghìn đồng chiếm 65,43% tổng chi phí NVLTT Như vây, chi phí NVL chính trong năm 2012 tăng 798.266 nghìn đồng tương ứng với 38,76% so với năm 2011 Chi phí NVL chính luôn chiếm
tỷ trọng lớn trong kết cấu tổng chi phí NVLTT, tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu chính năm 2012 giảm 5% so với năm 2011 Chi phí nguyên vật liệu chính tính cho một đơn vị sản phẩm trong năm 2012 tăng 11,54 đồng tương ứng với 1,05% so với năm 2011 Chi phí của từng loại nguyên vật liệu chính đều tăng nguyên nhân là do giá mua của các nguyên liệu này trong năm 2011 hầu như đều cao hơn và do định mức số lượng nguyên vật liệu chính tăng
Chi phí nguyên vật liệu phụ:
Chi phí nguyên vật liệu phụ trong năm 2011 là 1.428.567 nghìn đồng
chiếm 8,62% trong tổng số chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Trong năm 2012
là 1.745.128 nghìn đồng chiếm 9,17% trong tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Như vậy chi phí nguyên vật liệu phụ trong năm 2012 tăng so với năm
2011 là 316.561 nghìn đồng tương ứng với 22,16 % Tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu phụ trên tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong năm 2012 tăng 1% so với năm 2011
Chi phí nhiên liệu:
Chi phí nhiên liệu trong năm 2011 là 2.777.666 nghìn đồng chiếm
16,75% trong tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Trong năm 2012 là
3.878.123 nghìn đồng chiếm 20,37% tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Như vậy, chi phí nhiên liệu trong năm 2012 tăng so với năm 2011 là
Trang 331.100.457 nghìn đồng tương ứng với 39,62% Tỷ trọng chi phí nhiên liệu trên tống chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong năm 2012 tăng 4%.
Chi phí động lực:
Chi phí động lực năm 2011 chiếm tỷ trọng là 4,31% , và đến năm 2012
chiếm tỷ trọng là 5,04% trên tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Tỷ trọng của chi phí động lực tăng lên là 1%
Chi phí động lực tính cho một đơn vị sản phẩm tăng từ 67,15 đồng/hộp lên 85,27 đồng/hộp chênh lệch tăng là 18,12 đồng/hộp tương ứng với 26,98%
Như vậy chi phí NVLTT năm 2012 tăng so với năm 2011 là do sản lượng sản xuất năm 2012 tăng so với năm 2011, và do lạm phát làm giá cả tăng lên dẫn tới giá của nguyên vật liệu đầu vào tăng Chi phí NVLTT của toàn công ty tăng lên là do sự tăng lên của chi phí NVLC, NVLP, nhiên liệu, động lực đều tăng so với năm 2011 Ngoài ra, còn do trong quá trình sản xuất làm thất thoát nguyên vật liệu, trình độ quản lý còn yếu kém gây thất thoát nguyên vật liệu Chi phí NVLTT tăng lên đã làm tổng chi phí sản xuất của toàn doanh nghiệp tăng lên, tác động làm cho giá thành sản xuất của sản phẩm tăng
Một số giải pháp khác phục:
Cần thiết lập kế hoạch về sử dụng nguyên vật liệu và xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu hợp lý dựa trên các căn cứ:
Các hợp đồng thu mua nguyên vật liệu đã ký
Dự báo về tình hình biến động giá cả của thị trường
Các hình thức chiết khấu mua sỉ
Chất lượng của nguyên vật liệu
Các khoản chi phí liên quan đến quá trình thu mua, nhập kho nguyên vật liệu
Cần tiến hành điều chỉnh lại công tác tổ chức quản lý cấp phát, sử dụng vật tư một cách chặt chẽ hơn sao cho tránh hao hụt lãng phí trong quá trình sử dụng, nâng cao tay nghễ của công nhân hơn nữa
Tính toán xu hướng biến động tăng, giảm của giá cả trên thị trường để
có biện pháp dự trữ nguyên vật liệu cho phù hợp, tránh ảnh hưởng của sự biến động giá cả làm tăng chi phí nguyên vật liệu trong giá thành sản phẩm
Nhiên liệu đóng góp một phần rất quan trọng trong quá trình sản xuất
và do giá cả thị trường ngày càng biến động từng ngày từng giờ vậy doanh nghiệp cần tích cực hơn nữa trong công tác quản lý sử dụng nhiên liệu đồng thời tích cực tiết kiệm trong quá trình sản xuất
Trang 342.2.2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp
Bảng 2.2.2 Phân tích biến động các yếu tố chi phí trong từng khoản mục chi phí nhân công trực tiếp
Tính theo đơn vị
Số tiền (1000Đ)
Tỷ trọng CP/Tổng khoản mục Chi phí(%) Số tiền (1000Đ)
Tỷ trọng CP/Tổng khoản mục Chi phí(%)
Chênh lệch số tiền
% Chênh lệch số tiền(%)
Chênh lệch
tỷ trọng(%)
2011 2012
Chênh lệch tuyệt đối
% chênh lệch(%) II
Trang 35Lao động là một trong những yếu tố đầu vào đặc biệt của quá trình sản xuất kinh doanh, là điều kiện đầu tiên cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của loài người, yếu tố cơ bản nhất quyết định quá trình sản xuất Để cho quá trình sản xuất xã hội nói chung và quá trình sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp nói riêng được diễn ra thường xuyên, liên tục thì một vấn đề thiết yếu
là phải tái sản xuất sức lao động Nghĩa là sức lao động của con người bỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng thù lao lao động Trong nền kinh tế hàng hóa, thù lao lao động được biểu hiện bằng thước đo giá trị gọi là tiền lương
Tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động, là thu nhập chủ yếu của người lao động, các doanh nghiệp sử dụng tiền lương làm đòn bẩy kinh tế, làm nhân tố tăng năng suất lao động Đối với các doanh nghiệp tiền lương phải trả cho người lao động là một yếu tố cấu thành nên giá trị sản phẩm, là một khoản chi phí của doanh nghiệp
Kèm theo chi phí nhân công là các khoản trích theo lương: BHXH, BHYT, KPCĐ
Chi phí nhân công trực tiếp là chi phí phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất tạo ra sản phẩm Chi phí nhân công trực tiếp của công ty CP sữa Việt Nam bao gồm:
Chi phí tiền lương:
Lương nhân công trực tiếp năm 2012 là 9.524.443 nghìn đồng chiếm 71,37% tổng chi phí nhân công trực tiếp, so với năm 2011 là 9.289.456 nghìn
đồng chiếm 71,27% đã tăng 234.987 nghìn đồng tương ứng với 2,53% Tỷ
trọng chi phí tiền lương trên tổng chi phí nhân công trực tiếp biến động không đáng kể tăng 0,10 % so với năm 2011 Chi phí tiền lương tính cho một đơn vị sản lượng khai thác trong năm 2012 giảm 26,45 đồng/hộp tương ứng với 0,03% so với năm 2011
Về các khoản trích theo lương:
Các khoản trích theo lương của công ty năm 2011 là 2.043.680 nghìn
đồng chiếm tỷ trọng trong tổng chi phí nhân công trực tiếp là 15,68%, trong
năm 2012 là 2.190.622 nghìn đồng chiếm 16,42% trong tổng chi phí nhân