Bài tập học kỳ môn luật tài chính
Trang 1A- MỞ ĐẦU.
Thuế là một trong những chính sách kinh tế xã hội rất quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Thuế là công cụ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyết nhiều vấn đề kinh tế xã hội của đất nước, để điều tiết một phần tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân và ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo nhu cầu chi tiêu chung Nhà nước và xã hội Với vai trò như vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác quản lí thuế-một hoạt động không thể thiếu trong việc quản lí nền kinh tế- tài chính của đất nước, đặc biệt là hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế Vậy nội dung chủ yếu của công tác thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế là gì? Và thực tiễn thi hành
còn những gì vướng mắc? Ta cùng tìm hiểu Vấn đề thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm
pháp luật thuế- thực trạng và những vấn đề cần hoàn thiện ở Việt Nam hiện nay.
B- NỘI DUNG.
I- Những vấn đề chung về thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế.
1 Sự cần thiết của công tác thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế trong quản lí nói chung và quản lí thuế nói riêng.
Thanh tra, kiểm tra là yêu cầu tất yếu trong quản lí nhà nước, đặc biệt là rất cần thiết
với một nhà nước pháp quyền Hoạt động kiểm tra, thanh tra không mang mục đích tự thân
mà là hoạt động gắn liền với quản lí nhà nước Tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm tra có nghĩa là tiến hành việc nghiên cứu, thu thập số liệu, đánh giá hoạt động quản lí và mục đích cuối cùng là tìm hiểu kết quả tác động của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí, so với những nguyên tắc của hoạt động chấp hành và nguyên nhân dẫn đến sai sót như vậy, đồng thời xác định phương hướng khắc phục những trở ngại hiện đang ảnh hưởng tời hoạt động
có hiệu quả của cả hệ thống quản lí Như vậy, qua thanh tra, kiểm tra giúp cho các cơ quan nhà nướctăng cường hiệu lực các quyết định quản lí, thấy được những thiếu sót, yếu kém, những điểm chưa phù hợp, thiếu đồng bộ trong hệ thống luật lệ, phát hiện những vi phạm
trong quá trình thực thi các quy định pháp luật của cơ quan, cá nhân, tổ chức từ đó xử lí vi phạm những hành vi vi phạm này Công tác xử lí vi phạm pháp luật trên thực tế là biện
pháp nhằm khắc phục những sai sót,có tác dụng răn đe những cá nhân đã và sẽ có hành vi v phạm, từ đó nâng cao chức năng của cơ quan Nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Ngoài ra, sự cần thiết của hoạt động thanh tra, kiểm tra còn được thể hiện là một phương thức để bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, chống những biểu hiện của dân chủ hình thức và những hành vi xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân
Như vậy, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm là những hoạt động không thể thiếu được trong hoạt động quản lí nhà nước nói chung Trong hoạt động quản lí thuế nói riêng thì công tác thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm càng trở nên hết sức quan trọng và cần thiết Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, là công cụ phân phối thu nhập quốc dân không chỉ để có nguồn thu mà còn điều chỉnh, can thiệp vào nền kinh tế quốc dân, là công cụ để bảo vệ nền kinh tế trong nước và cạnh tranh với nước ngoài Thanh tra, kiểm tra thuế nhằm kịp thời phát hiện và xử lí các sai phạm trong lĩnh vực thuế; ngăn ngừa các hiện tượng vi phạm pháp luật thuế; chống thất thu ngân sách nhà nước Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế nước ta đang thực hiện cải cách công tác quản lí thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế thì công tac thanh tra, kiểm tra
và xử lí vi phạm pháp luật thuế ngày càng được coi trọng
2 Khái niệm thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế.
Trang 2Kiểm tra thuế, thanh tra thuế , xử lý vi phạm pháp luật thuế là những nội dung của quản lý thuế được qui định trong Luật quản lý thuế ( QLT) năm 2006 và các văn bản Luật
có liên quan Đây là 3 nội dung độc lập trong QLT, trong đó:
Kiểm tra thuế là hoạt động do cơ quan thuế tiến hành nhằm xem xét tính đầy đủ,
chính xác của thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật của người nộp thuế Kiểm tra thuế là công việc thường xuyên mang tính chất nghiệp vụ của cơ quan thuế Kiểm tra thuế được thực hiện theo hai phương thức: Kiểm tra thuế được tại trụ
sở cơ quan thuế và kiểm tra thuế được tiến hành ở trụ sở của người nộp thuế
Thanh tra thuế là kiểm tra đối tượng nộp thuế ở mức cao hơn, toàn diện hơn Thanh
tra thuế được thực hiện theo định kì đối với người nộp thuế lớn, ngành nghề kinh doanh đa dang, quy mô lớn và phức tạp; hoặc đối với người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế và thanh tra để giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thuế hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lí thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ tài chính
Với tư cách là chức năng thiết yếu trong quá trình quản lí thuế, khái niệm kiểm tra, thanh tra có những nét tương đồng về mục đích- đều nhằm phát hiện, ngăn ngừa và xử lí vi phạm pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy cá nhân, tổ chức hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình
Cả thanh tra, kiểm tra thuế đều phải xem xét hoạt động thực tế của đối tượng chịu sự quản
lí, qua đó phát hiện đánh giá thực trạng tình hình một cách khách quan, chính xác để có biện pháp khắc phục và xử lí sai phạm.Tuy nhiên, giữa thanh tra và kiểm tra vẫn có những khác biệt về chủ thể tiến hành, nội dung công tác…
Xử lý vi phạm pháp luật thuế:
Vi phạm pháp luật thuế là hành vi làm trái các qui định của pháp luật thuế, do các tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng.1 Xử lý vi phạm pháp luật thuế chính là việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động nhất định để áp dụng chế tài đối với các chủ thể vi phạm pháp luật thuế Trong thực tiễn pháp lí, các hành vi vi phạm pháp luật thuế diễn ra rất đa dạng, tinh vi
và hức tạp với nhiều dạng thức khác nhau Tuy nhiên, về phương diện bản chất, mỗi vi phạm đó đều thuộc về một trong các loại hành vi vi phạm chủ yếu : vi phạm hành chính về thuế, vi phạm hình sự về thuế
Thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế là những hoạt động đôc lập trong công tác quản lí thuế nhưng chúng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau Giữa kiểm tra thuế và thanh tra thuế có sự khác biệt nhưng đều có mối quan hệ với xử lý vi phạm pháp luật thuế Điều đó thể hiện, kết quả của công tác kiểm tra, thanh tra thuế là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xác định đối tượng nộp thuế có vi phạm pháp luật thuế không, để tiến hành xử lý vi phạm pháp luật thuế
3 Mục tiêu của thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế trong công tác quản
lí thuế của nước ta hiện nay.
Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế nhằm những mục tiêu:
Thứ nhất, phòng ngừa, phát hiện và xử lí các hành vi vi phạm pháp luật thuế Công
tác thanh tra, kiểm tra là hoạt động thường xuyên của các cơ quan quản lí thuế nhằm đảm bảo cho các quy định về thu nộp thuế được tiến hành một cách đầy đủ Chính tính chất thường xuyên của thanh tra, kiểm tra thuế đã có tính chất phòng ngừa, phát hiện cá vi phạm pháp luật thuế Các cuộc thanh tra thuế sẽ chỉ rõ các sai phạm của đối tượng bị thanh tra, có tính chất răn đe đối với những người có ý định vi phạm pháp luật
1 Trang 311 giáo trình luật thuế Việt Nam – Trường Đại học Luật Hà nội – NXB công an nhân dân- Hà Nội 2008.
Trang 3Thứ hai, bảo đảm hiệu quả, hiệu lực của các chính sách thuế mà nhà nước ban hành.
Bảo đảm không bị thất thoát các khoản thu thuế của ngân sách nhà nước
Thứ ba, bảo đảm pháp luật thuế được thi hành nghiêm trên thực tế, bảo đảm sự công
bằng trong nghĩa vụ nộp thuế, bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân thực hiện các nghĩa vụ nộp thuế
Thứ tư, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lí thuế mà cụ thể là các cán bộ
thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế, nâng cao ý thức trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật
II- Nội dung của pháp luật thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế.
1 Hệ thống pháp luật hiện hành ở Việt Nam về thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế.
Thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế là một lĩnh vực đặc thù cần có những quy phạm pháp luật riêng và có hiệu lực pháp lí cao điều chỉnh Bởi vì công tác quản lí thuế ảnh hưởng lớn tới số thu của ngân sách nhà nước cũng như lợi ích của người nộp thuế Có thể nói rằng các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lí vi phạm pháp luật thuế luôn tồn tại cùng với các quy định về quản lí thuế Trong đó, hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh chung các hoạt động thanh tra, kiểm tra và xư lí vi phạm pháp luật thuế bao gồm:
Luật QLT được Quốc hội thông qua ngày 29/ 11/ 2006;
Nghị định 85/ 2007/ NĐ- CP ngày 25/ 5/ 2007 quy định chi tiết thi hành một số điều về Luật QLT;
Thông tư số 60/ 2007/ TT- BTC của Bộ tài chính ngày 14/ 6/ 2007 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật QLT và hướng dẫn thi hành Nghị định 85/ 2007/ NĐ- CP
Quyết định số 2476/ 2007/ QĐ- BTC về việc đính chính Thông tư số 60/ 2007/ TT-BTC
Trong lĩnh vực thanh tra và kiểm tra, các văn bản chuyên ngành còn có:
Luật Thanh tra 2004;
Quyết định 1322/ 2004/ QĐ- TCT ngày 30/ 8/ 2004 của Tổng cục thuế ban hành quy trình thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế
Quyết định 1166/ 2005/ QĐ- TCT ngày 31/ 10/ 2005 về ban hành quy trình thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp
Ngoài ra, công tác thanh tra, kiểm tra thuế còn chịu sự điều chỉnh gián tiếp của Pháp lệnh cán bộ, công chức, Luật khiếu nại tố cáo…
Trong công tác xử lí vi phạm pháp luật thuế, các văn bản chuyên ngành còn có:
Nghị định số 98/ 2007/ NĐ- CP ngày 7/ 6/ 2007 của Chính phủ quy định về xử lí vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
Nghị định số 13/ 2009/ NĐ- CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 98/ 2007/ NĐ- CP
Thông tư số 61/ 2007/ TT- BTC ngày 14/ 6/ 2007 của Bộ tài chính hướng dẫ thực hiện
xử lí vi phạm pháp luật về thuế
Quyết định của BTC số 2538/ QĐ- BTC về việc đính chính thông tư số 61/ 2007/ TT-BTC
Và còn một số văn bản khác như pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính 2002, các thông tư trong xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế…
Có thể khẳng định rằng trong thời gian vừa qua, pháp luật về thanh tra, kiểm tra và
xử lí vi phạm pháp luật thuế- một bộ phận quan trọng của pháp luật QLT luôn được Nhà nước quan tâm xây dựng và hoàn thiện để đáp ứng với công tác QLT trong tình hình mới,
Trang 4phù hợp với sự phát triển kinh tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập của Việt Nam, đặc biệt kể từ khi Nhà nước ta áp dụng phương thức quản lí thuế mới theo cơ chế “ tự khai, tư nộp thuế”, một phương thức QLT tiên tiến hiện đại đang được nhiều quốc gia áp dụng Với các quy định về nội dung khá đầy đủ đã tạo cơ sở cho các cơ quan quản lí thuế thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra, xử lí vi phạm của mình, đồng thời giúp đối tượng nộp thuế ngày càng
có ý thức hơn trong thực hiện nghĩa vụ thuế của mình
2 Nội dung thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế trong pháp luật hiện hành.
2.1 Quy định của pháp luật về thanh tra thuế.
Theo những quy định pháp luật hiện hành, thanh tra thuế có những nội dung cơ bản sau:
Chủ thể có thẩm quyền thanh tra thuế: căn cứ vào khoản 3 điều 9 Luật QLT, chủ thể có thẩm quyền thanh tra thuế là cơ quan quản lý thuế Cơ quan quản lý thuế bao gồm cơ quan thuế và cơ quan hải quan
Cơ quan quản lý thuế lập đoàn thanh tra thuế để tiến hành thanh tra thuế Đoàn thanh tra thuế là bao gồm các thanh tra viên Các thanh tra viên phải là những người có đủ tiêu chuẩn phù hợp với công tác quản lý thuế Tiêu chuẩn thanh tra viên do Bộ tài chính ban hành( Điều 38 nghị định số 85/2007/NĐ-CP.)
Đối tượng bị thanh tra thuế: Đối tượng bị thanh tra thuế là người nộp thuế thuộc một trong các trường hợp sau: Doanh nghiệp có nghành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng; Người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế; Theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp, theo yêu cầu của Bộ trưởng bộ tài chính; Thanh tra thuế để giải quyết khiếu nại, tố cáo
Hình thức , trình tự thủ tục thanh tra thuế: Dựa theo quy định tại Điều 81 luật QLT, có
hai loại thanh tra thuế là : Thanh tra thuế theo kế hoạch và thanh tra thuế không theo
kế hoạch.
Thanh tra thuế theo kế hoạch: Thanh tra thuế theo kế hoạch chỉ áp dụng đối với các
doanh nghiệp có nghành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng Thanh tra định kỳ một năm không quá một lần và được thực hiện căn cứ vào kế hoạch thanh tra hàng năm đã được phê duyệt Việc lập kế hoạch thanh tra phải dựa trên cơ sở phân tích thông tin
về người nộp thuế Từ đó phát hiện và lập danh sách người nộp thuế có dấu hiệu bất thường trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế để lựa chọn đối tượng lập kế hoạch thanh tra Căn cứ vào khoản 3 và khoản 4 Điều 37 Nghị định số 85/2007/NĐ-CP, kế hoạch thanh tra thuế của cơ quan thuế cấp dưới phải gửi lên cơ quan thuế cấp trên Nếu có sự trùng lặp đối tượng thanh tra , cơ quan thuế cấp trên sẽ thực hiện việc kế hoạch thanh tra với đối tượng thanh tra đó Trường hợp cơ quan thanh tra nhà nước có kế hoạch thanh tra thuế trùng với kế hoạch thanh tra của cơ quan thuế sẽ ưu tiên kế hoạch thanh tra thuế của cơ quan thanh tra nhà nước
Thanh tra không theo kế hoạch: Thanh tra không theo kế hoạch sẽ áp dụng cho các
đối tượng sau:
Người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế: Căn cứ vào khoản 2 Điều 36
nghị định số 85/2007/NĐ-CP ,Cơ quan hải quan thực hiện việc thanh tra thuế trong trường hợp phát hiện người nộp thuế có một trong những dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế như : người nộp thuế có hành vi vi phạm pháp luật thuế nhưng đã vi phạm nhiều lần, vi phạm tại nhiều địa bàn khác nhau, liên quan đến nhiều tổ chức cá nhân ; hoặc có dấu hiệu trốn thuế ; hoặc trong khi kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế, người nộp thuế có dấu hiệu tẩu tán tài liệu, tang vật có liên quan nhằm trốn thuế, gian lận thuế; hoặc sau khi tiến hành kiểm tra
Trang 5thuế hoặc sau khi ra hạn thời gian kiểm tra thuế, cơ quan hải quan có căn cứ về việc người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm mới hoặc vụ kiểm tra có tính chất phức tạp nghiêm trọng
Thanh tra theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp, theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ tài chính
Thanh tra để giải quyết khiếu nại tố cáo: Điều 42 Nghị định số 85/2007/NĐ-CP qui
định quyền khiếu nại, tố cáo của người nộp thuế, tổ chức, cá nhân Cụ thể, cơ quan quản lý thuế có thể quyết định thanh tra thuế khi có đơn khiếu nại của các người nộp thuế, tổ chức,
cá nhân hoặc có đơn tố cáo của công dân Khi nhận được đơn khiếu nại, đơn tố cáo, cơ quan quản lý thuế sẽ xem xét nội dung đơn, xem xét các vấn đề có liên quan Nếu có đủ căn cứ thì ra quyết định thanh tra thuế để làm rõ sự việc nêu trong đơn khiếu nại, tố cáo
Qui định như vậy là rất hợp lý bởi lẽ, có nhiều trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức phát hiện được hành vi vi phạm pháp luật của người nộp thuế và nhờ hành vi tố cáo của họ mà cơ quan thuế kịp thời phát hiện hành vi vi phạm của người nộp thuế, và giảm tải được công việc cho cơ quan quản lý thuế
Việc thanh tra thuế được thực hiện khi có quyết định thanh tra Số lần thanh tra thuế
và thời gian thanh tra trong mỗi lần phải thực hiện theo kế hoạch thanh tra đã được thủ trưởng cơ quản lý thuế phê duyệt ( qui định tại điều 37 nghị định số 85/2007/NĐ-CP)
Đặc biệt, Luật QLT dành mục 4 chương X để qui định các biện pháp áp dụng trong thanh tra thuế đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế Cụ thể: Khi người nộp thuế có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế liên quan đến các cá nhân , tổ chức khác hoặc
có dấu hiệu trốn thuế , gian lận thuế có tính chất phức tạp, người có thẩm quyền có thể áp
dụng các biện pháp sau: Thu nhập thông tin liên quan đến hành vi trốn thuế , gian lận thuế;
Tạm giữ tài liệu tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế; Khám nơi cất giấu tài liệu , tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế
2.2 Quy định của pháp luật về kiểm tra thuế.
Kiểm tra thuế bao gồm các nội dung sau:
Chủ thể có thẩm quyền kiểm tra thuế: căn cứ vào khoản 3 điều 9 Luật QLT , chủ thể có thẩm quyền kiểm tra thuế là cơ quan quản lý thuế Cơ quan quản lý thuế bao gồm cơ quan thuế và cơ quan hải quan Cơ quan thuế gồm Tổng cục thuế , cục thuế, chi cục thuế Cơ quan hải quan có Tổng cục hải quan, cục hải quan, chi cục hải quan
Đối tượng bị kiểm tra thuế: Đối tượng bị kiểm tra thuế là người nộp thuế
Người nộp thuế là người có nghĩa vụ nộp các khoản thuế do các luật thuế qui định Người nộp thuế được qui định cụ thể tại Điều 2 nghị định số
Phạm vi tiến hành: Kiểm tra thuế thường được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, với nhiều hình thức và phương pháp kiểm tra thích hợp với yêu cầu, đặc điểm của từng khách thể điều tra.Hoạt động kiểm tra thuế được tiến hành trong thời gian tối đa không quá 5 ngày
Hình thức, trình tự thủ tục kiểm tra thuế: Điều 77 và Điều 78 Luật QLT 2006 nghi nhận
2 hình thức kiểm tra thuế là : Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế và kiểm
tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế.
Kiểm tra thuế ở cơ quan quản lý thuế là kiểm tra dựa trên hồ sơ của người nộp
thuế Việc kiểm tra thuế ở cơ quan quản lý thuế được tiến hành theo trình tự thủ tục sau:
Khi các hồ sơ thuế của người nộp thuế gửi đến cơ quan thuế, công chức thuế tiến hành kiểm tra nội dung kê khai trong hồ sơ thuế, đối chiếu với cơ sở dữ liệu của người nộp thuế và tài liệu liên quan về người nộp thuế, so sánh các dữ liệu nộp thuế cùng nghành nghề, mặt hàng kinh doanh để phân tích, đánh giá mức độ tuân thủ hoặc phát hiện các
Trang 6trường hợp khai chưa đầy đủ thông tin, khai sai thông tin nhằm trốn thuế, lậu thuế, gian lận thuế
Sau khi kiểm tra, công chức thuế xác nhận kết quả kiểm tra thuế vào hồ sơ thuế : Nếu hồ sơ khai thuế bảo đảm tính đầy đủ , chính xác của các thông tin , tài liệu, không có dấu hiệu vi phạm thì chấp nhận Nếu hồ sơ chưa đủ tài liệu theo qui định của pháp luật hoặc khai chưa đầy đủ các chỉ tiêu theo qui định ,cơ quan thuế thông báo cho người nộp thuế biết để hoàn chỉnh hồ sơ
Trường hợp qua kiểm tra đối chiếu so sánh phân tích thấy có nội dung khai chưa đúng , số liệu khai không chính xác hoặc có nội dung cần xác minh liên quan đến số tiền phải nộp thuế, số tiền được miễn thuế, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn, cơ quan thếu ra thông báo bằng văn bản đề nghị người nộp thuế phải giải trình hoặc bổ sung thông tin, tài liệu.Thời gian giải trình hoặc bổ sung thông tin tài liệu trong hồ sơ thuế là không quá 10 ngày Người nộp thuế có thể đến cơ quan thuế giải trình trực tiếp
Sau khi người nộp thuế đã giải trình , bổ sung thông tin , tài liệu theo yêu cầu của cơ quan thếu mà chứng minh số thuế đã khai là đúng thì hồ sơ thuế được chấp nhận Trường hợp người nộp thuế đã giải trình hoặc bổ sung thông tin tài liệu mà không đủ căn cứ chứng minh số thuế đã khai là đúng, cơ quan thuế yêu cầu người nộp thuế khai bổ sung Thời hạn khai bổ sung là 5 ngày kể từ ngày cơ quan thuế có thông báo khai bổ sung Nếu hết thời hạn theo thông báo của cơ quan thuế mà người nộp thuế không giải trình , bổ sung thông tin hoặc không khai bổ sung hồ sơ thuế, cơ quan thuế có quyền ấn định số thuế phải nộp và thông báo cho người nộp thuế biết hoặc ra quyết định kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế nếu không đủ căn cứ ấn định số thuế phải nộp
Kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế: kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp
thuế chỉ được tiến hành khi thuộc các trường hợp qui định tại khoản 1 Điều 78 Luật QLT,
cụ thể gồm: Hết thời hạn theo thông báo của cơ quan thuế mà người nộp thuế không giải trình , bổ sung thông tin hoặc không khai bổ sung hồ sơ thuế và cơ quan thuế không đủ căn cứ ấn định số thuế phải nộp, cơ quan thuế ra quyết định kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế ; kiểm tra sau thông quan
Việc kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế chỉ thực hiện khi có quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế do thủ trưởng cơ quan thuế ban hành
Trình tự, thủ tục kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế được qui định cụ thể tại khoản 2 Điều 78 Cụ thể: Công bố quyết định kiểm tra thuế khi bắt đầu tiến hành kiểm tra thuế; Đối chiếu nội dung khai báo với sổ kế toán, chứng từ kế toán, báo cáo tài chính, các tài liệu có liên quan, tình trạng thực tế trong phạm vi, nội dung của quyết định kiểm tra thuế; Lập biên bản kiểm tra thuế trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn kiểm tra; Xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cấp có thẩm quyền xử lý theo kết quả kiểm tra
2.3 Quy định của pháp luật về xử lí vi phạm pháp luật thuế.
Đối tượng bị xử lí vi phạm pháp luật thuế:
Theo Điều 1 Nghị định 98/2007, đối tượng bị xử lí vi phạm pháp luật về thuế bao gồm: người nộp thuế có hành vi vi phạm pháp luật về thuế; cơ quan thuế, công chức quản lí thuế vi phạm pháp luật về thuế; người có thẩm quyền và trách nhiệm xử lí vi phạm pháp luật về thuế; cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc xử lí vi phạm pháp luật về thuế
Người nộp thuế bị xử lí vi phạm pháp luật thuế khi có các hành vi:chậm nộp hồ sơ
đăng ký thuế, chậm thông báo thay đổi thông tin so với thời hạn quy định; khai không đầy
đủ các nội dung trong hồ sơ thuế; chậm nộp hồ sơ khai thuế so với thời hạn quy định; vi
Trang 7phạm các quy định về cung cấp thông tin liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế; vi phạm quy định về chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và vi phạm chế độ hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá vận chuyển trên đường; chậm nộp tiền thuế; khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn; trốn thuế, gian lận thuế
Theo Điều 16 Nghị định 98/ 2007/ NĐ- CP, cơ quan quản lí thuế, công chức quản lí thuế bị xử lí vi phạm khi có các hành vi quy định tại Điều 112, 113 Luật QLT Cụ thể:
Cơ quan quản lí thuế bị xử lí vi phạm pháp luật thuế khi có hành vi quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 112 - thực hiện không đúng theo quy định của Luật QLT, gây thiệt hại cho người nộp thuế
Công chức quản lí thuế bị xử lí vi phạm pháp luật về thuế khi có một trong các hành
vi theo khoản 1, 2 Điều 113 Luật QLT: gây phiền hà, khó khăn cho người nộp thuế làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế; thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc xử
lý sai quy định của pháp luật về thuế
Tổ chức, cá nhân có liên quan bị xử lí vi phạm pháp luật thuế khi có các hành vi quy
định tại Điều 17 NĐ 98/ 2007/ NĐ- CP: thông đồng, bao che người nộp thuế trốn thuế, gian lận thuế, không thực hiện quyết định cưỡng chế hành chính thuế; không thực hiện trách nhiệm của mình theo Điều 98, 99, 100 Luật QLT
Thẩm quyền xử lí vi phạm pháp luật về thuế được quy định tại Điều 109 Luật QLT
và Điều 18, 19 Nghị định 98/2007/NĐ-CP , chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuế gồm: Cơ quan thuế và chủ tịch uỷ ban nhân dân các cấp
Thời hiệu xử lí vi phạm pháp luật về thuế quy định tại Điều 110 Luật QLT Cụ thể:
“ 1 Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế, thời hiệu xử phạt là hai năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện
2 Đối với hành vi vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi chậm nộp tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế, thời hiệu xử phạt là năm năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện.
3 Quá thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận vào ngân sách nhà nước.”
Như đã nói, các hành vi vi phạm tuy đa dạng nhưng thuộc một trong các loại hành vi
vi phạm chủ yếu : vi phạm hành chính về thuế, vi phạm hình sự về thuế
Hành vi vi phạm hành chính thuế là hành vi làm trái các qui định pháp luật hành
chính trong lĩnh vực thuế , do các tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến các lợi ích mà các luật thuế bảo vệ nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Người vi phạm hành chính thuế phải chịu trách nhiệm hành chính.2
Hành vi vi phạm hình sự về thuế là hành vi làm trái các qui định pháp luật hình sự ,
do các tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý , xâm hại đến các lợi ích phát sinh từ quan
hệ nộp thuế được Bộ luật hình sự năm 1999( sửa đổi bổ sung năm 2009) bảo vệ.3
Điều kiện, trình tự, thủ tục xử lý vi phạm pháp luật thuế:
Đối với xử lý vi phạm hành chính thuế: văn bản pháp luật điều chỉnh xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực thuế là nghị định số 98/2007/NĐ-CP, Nghị định số 13/2009/NĐ-CP
2 Trang 314 giáo trình luật thuế Việt Nam – Trường Đại học Luật Hà nội – NXB công an nhân dân- Hà Nội 2008.
3 Trang 315 giáo trình luật thuế Việt Nam – Trường Đại học Luật Hà nội – NXB công an nhân dân- Hà Nội 2008.
Trang 8Điều kiện để xử phạt vi phạm hành chính thuế : Tổ chức, cá nhân chỉ bị xử phạt hành chính thuế khi :
*Thực hiện các hành vi qui định ở điều 103 Luật quản lý thuế ( vi phạm các quy định về thủ tục thuế; chậm nộp tiền thuế; Khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn; trốn thuế, gian lận thuế.)
*Có lỗi khi thực hiện hành vi: có thể là lỗi cố ý hoặc vô ý
*Hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ Luật hình sự năm 1999
Chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuế: Nhân viên thuế đang thi hành công vụ; Trạm trưởng Trạm Thuế, Đội trưởng đội Thuế; Chi cục trưởng Chi cục Thuế; Cục trưởng Cục Thuế; chủ tịch UBND các cấp
Cách thức xử lý vi phạm hành chính thuế: Người vi phạm hành chính thuế sẽ bị áp dụng các chế tài hành chính thuế: phạt cảnh cáo, phạt tiền Ngoài ra, còn có thể bị áp dụng hình thức phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi
vi phạm pháp luật về thuế
Hình thức xử phạt, mức xử phạt áp dụng với các hành vi vi phạm hành chính thuế được qui định cụ thể tại nghị định 98/2007/NĐ-CP và nghị định số 13/2009/NĐ-CP
Đối với xử lý vi phạm hình sự thuế.
Văn bản điều chỉnh xử lý vi phạm hình sự thuế là Bộ luật hình sự năm 1999 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật tố tụng hình sự năm 2003
Trong đó, Bộ luật hình sự 1999 qui định những hành vi nào là hành vi vi phạm hình sự về thuế, qui định chế tài áp dụng cho hành vi vi phạm hình sự thuế Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 qui định trình tự, thủ tục thực hiện việc xử lý các hành vi vi phạm hình sự về thuế
Khi người nộp thuế , cơ quan quản lý thuế hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan quản lý thuế vi phạm các qui định có liên quan đến lĩnh vực thuế được qui định trong Bộ luật hình sự 1999 thì hành vi đó được xác định là tội phạm Theo qui định tại các điều 161,
278, 279, 281, 282, 285…Bộ luật hình sự năm 1999 , các hành vi vi phạm hình sự thuế được coi là tội phạm bao gồm các tội sau đây: Tội trốn thuế ( Điều 161); Tội tham ô tài sản( Điều 278); Tội nhận hối lộ ( Điều 279); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ ;
Khi có hành vi vi phạm pháp luật hình sự thuế , người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự mà biểu hiện cụ thể là chịu các hình phạt qui định tại điều 28 Bộ luật hình sự bao gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, tù có thời hạn , tù chung thân
Thủ tục xử lý vi phạm hình sự thuế được qui định trong bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 với các qui trình tố tụng trải qua nhiều giai đoạn như: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án Trong nhiều trường hợp có thể còn có xét xử phúc thẩm ; giám đốc thẩm, tái thẩm
Tuy trải qua nhiều giai đoạn tố tụng với sự tham gia của nhiều cơ quan khác nhau như cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án, cơ quan thi hành án nhưng việc tuyên bố một hành vi
vi phạm hình sự về thuế là tội phạm chỉ thuộc thẩm quyền của toà án
3 Đánh giá các quy định của pháp luật về thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế.
Kể từ khi ban hành Luật QLT, vấn đề về kiểm tra thuế, thanh tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật thuế đã có những bước phát triển vượt bậc ,có nhiều điểm mới tiến bộ hơn so với trước đây, cụ thể : pháp luật quản lí thuế đã quy định rõ các nguyên tắc cơ bản về thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế nhằm đổi mới và định hướng cho việc nâng cao
Trang 9hiệu quả của các công tác này; có sự phân định rõ ràng giữa thanh tra và kiểm tra thuế; cách thức kiểm tra thuế, thanh tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật thuế đã có những bước đột phá mới phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay…
Tuy nhiên, pháp luật thanh tra , kiểm tra thuế và xử lý vi phạm pháp luật thuế ở nước ta hiện nay vẫn còn một số hạn chế nhất định:
Thứ nhất, pháp luật thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế còn một số
quy định chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu tính khả thi
Pháp luật thanh tra, kiểm tra quy định về trách nhiệm của cơ quan thuế còn rất chung chung, không cụ thể Tại khoản 3 Điều 85, Luật QLT quy định “ Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trưởng đoàn thanh tra thuế, thanh tra viên đoàn thanh tra thuế phải chịu trách nhiệm trước quyết định và hành vi của mình.” Trong khi Luật QLt đã quy định rất rõ về các quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế và khi người nộp thuế không chấp hành các nghĩa vụ của mình, họ có thể bị áp dụng các biện pháp như: kê biên tài sản, khấu trừ một phần tài sản…Khi thanh tra viên làm trái với nhiệm vụ quyền hạn của mình thì trách nhiệm pháp lí đến đâu và chế tài xử phạt như thế nào thì pháp luật chưa có quy định
Luật QLT và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cơ quan thuế và các thanh tra viên gây ra trong quá trình thực thi nhiệm
vụ quản lí thuế nói chung và thực thi chức năng thanh tra nói tiêng Tại điều 79, điều 86 Luật QLT mới chỉ có quy định đối tượng kiểm tra, thanh tra thuế có quyền được khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại Tại thông tư 49/ 2008/ TT- BTC hướng dẫn về bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế, người khai hải quan do hành vi vi phạm của cán bộ, công chức thuế, cán bộ, công chức hải quan gây ra Nhưng như thế nào được coi là đã gây thiệt hại cho người nộp thuế, người khai hải quan, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ở mức độ nào, các hình thức bồi thường…thì thông tư trên chưa có quy định rõ
Thứ hai, pháp luật thanh tra, kiểm tra thuế hiện nay chưa đảm bảo tính đồng bộ,
thống nhất, còn mang tính chắp vá, tản mạn
Pháp luật về thanh tra, kiểm tra thuế không chỉ được qui định trong luật QLT và các văn bản hướng dẫn thi hành mà còn đựợc qui định rải rác ở trong nhiều các văn bản pháp luật khác có liên quan như : Luật thanh tra và nghị định hướng dẫn thi hành , luật khiếu nại
tố cáo, Do đó mà trong một số trường hợp đã không tạo ra được sự thống nhất Điển hình như, trong qui trình thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp ban hành kèm theo quyết định 1166/QĐ-TCT ngày 31 tháng 10 năm 2005 của tổng cục thuế, tại điểm 2.3 khoản 2 mục III qui định” trưởng đoàn thanh tra , kiểm tra ký kết luận thanh tra, biên bản kiểm tra Điều này là mâu thuẫn với khoản 1 Điều 135 nghị định 41 /2005/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm
2005 của chính phủ qui định huớng dẫn thi hành một số điều của luật thanh tra năm 2004
Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành đã được ban hành Tuy nhiên đến thời điểm áp dụng luật QLT là 1/7/2007 và cho đến nay tổng cục thuế vẫn chưa ban hành qui trình hướng dẫn công tác thanh tra , kiểm tra theo luật QLT, nên hiện này qui trình này vẫn đang thực hiện theo quyết định số 1166, trong đó có nhiều điểm chưa phù hợp với qui định của luật QLT
Thứ ba, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thuế đã bộc lộ một số điểm bất cập
như: nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính thuế chưa đầy đủ; các quy định về hình thức xử phạt hiện hành chưa phong phú, không đáp ứng được đòi hỏi của công tác đấu tranh, phòng chống các vi phạm hành chính trong tình hình mới , Các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm, hình thức xử phạt vi phạm hành chính, chồng chéo, trùng lặp giữa các văn bản
III- Thực tiễn thi hành pháp luật thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế.
Trang 10Với những điểm đạt được và một số hạn chế như trên của pháp luật quản lý thuế về thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế, công tác thực thi pháp luật về thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định và bên cạnh đó còn tồn tại những hạn chế, vướng mắc Cụ thể như sau:
1 Những kết quả đạt được.
Luật QLT được ban hành ngày 29- 11- 2006 tạo cơ sở pháp lí cho việc đổi mới hiện đại hoá toàn diện công tác quản lí thuế, trong đó có công tác thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế Thực tiễn thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế ở các quốc gia cho thấy : khi bộ máy thanh tra, kiểm tra, giám sát thuế đủ mạnh, hoạt động có hiệu quả sẽ làm tăng tính tự giác, tuân thủ pháp luật của người nộp thuế
Trên thực tế mấy năm gần đây, đặc biệt từ khi luật QLT có hiệu lực thi hành ( 1/7/2007), công tác thanh tra, kiểm tra thuế và xử lý vi phạm pháp luật đã đạt được những bước phát triển nhất định Cụ thể : Cơ quan thuế các cấp đã tiến hành áp dụng rỗng rãi kĩ thuật quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế với việc tăng cường thu nhập thông tin về người nộp thuế, các đoàn kiểm tra tiến hành phân tích, đánh giá các thông tin về đối tượng nộp thuế để lựa chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra Vì vậy việc thanh tra có tập trung, trọng tâm trọng điểm chọn đúng đối tượng thanh tra, kiểm tra tiết kiệm được chi phí của cả cơ quan thuế và người nộp thuế và đem lại số truy thu lớn Do kiểm tra, thanh tra thuế có hiệu quả nên giúp phát hiện kịp thời đối tượng vi phạm pháp luật thuế và xử lý vi phạm pháp luật thuế các đối tượng này được nhanh chóng, đúng người, đóng góp vào ngân sách nhà nước những khoản tiền lớn Các con số cụ thể như sau:
Trước khi luật QLT có hiệu lực, năm 2005, toàn ngành thuế đã kiểm tra, thanh tra được 56.700 đối tượng và phát hiện ra 53.567 đối tượng vi phạm phát luật thuế, xử phạt được 1.718 tỷ đồng Trong 9 tháng đầu năm 2006 , toàn nghành thuế đã thanh tra, kiểm tra đựơc hơn 63.000 đối tượng , số thuế ghi thu qua kiểm tra là 2.905 tỷ đồng So với cùng kì năm 2005, số đơn vị được thanh tra, kiểm tra giảm 10% trong khi số thuế truy thu tăng 169% 4 Đến khi Luật QLT có hiệu lực, nửa cuối năm 2007 ngành thuế đã kiểm tra , thanh tra thuế được 32.304 cơ sở kinh doanh, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật truy thu 3776,5 tỷ đồng trong đó, số thuế trốn lậu đuợc phát hiện truy thu qua kiểm tra là 3096 tỷ đồng, số thuế nợ đọng là 680,4 tỷ đồng
Như vậy, số lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra ngày càng giảm bớt nhưng nhờ các qui định trong việc tiến hành kiểm tra tại cơ quan thuế và nâng cao hiệu quả kiểm tra ở cơ
sơ sản xuất kinh doanh mà ngành thuế đã phát hiện và xử lý vi phạm, truy thu được số thuế trốn lậu và gian lận không nhỏ góp phần chống thất thoát thu ngân sách nhà nước
Công tác thanh tra kiểm tra việc hoàn thuế đã được đẩy mạnh chủ yếu vào những đối tượng hoàn thuế có số lượng lớn Năm 2007 đã kiểm tra trước hoàn thuế tại 2869 đơn
vị với số thuế mà doanh nghiệp đề nghị hoàn là 1909,5 tỷ đồng Qua kiểm tra đã phát hiện
số thuế không đủ điều kiện hoàn thuế , loại trừ 77,3 tỷ đồng, kiểm tra sau hoàn thuế tại
4114 đơn vị thu hồi về cho ngân sách nhà nước là 17,7 tỷ đồng Kết quả nêu trên đã chứng
tỏ công tác thanh tra, kiểm tra đã đúng đối tuợng, phát hiện kịp thời các trường hợp vi phạm, qua đó chấn chỉnh thái độ chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế, đảm bảo cho pháp luật thuế được thực thi nghiêm túc hơn
Ngoài ra, một kết quả nữa phải nhắc tới đó là công tác kiểm tra nội bộ với mục tiêu 100% các đơn vị được cơ quan cấp trên kiểm tra hoặc tự kiểm tra nội bộ gắn với công tác chống tham nhũng Chỉ tính riêng năm 2005, toàn ngành thuế đã tiến hành thanh tra, kiểm tra nội bộ 661 đơn vị, qua đó phát hiện và xử lí kỉ luật 96 trường hợp cán bộ vi phạm thu
4 Báo cáo tổng kết công tác quản lý thuế 10 năm từ năm 1995 đến 2005 của Bộ tài chính