Bài tập học kỳ môn Luật Tài chính. Phân tích các quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng về hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng và liên hệ thực tiễn. So sánh hai phương pháp tính thuế này. Đánh giá về ưu điểm và nhược điểm của từng phương pháp dưới góc độ của cơ quan quản lý thuế. Bài tập lớn tài chính Đại học Luật Hà nội 9 điểm
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN:
LUẬT TÀI CHÍNH
ĐỀ 03 :
Phân tích các quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng về hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng và liên hệ thực tiễn So sánh hai phương pháp tính thuế này Đánh giá về ưu điểm và nhược điểm của
từng phương pháp dưới góc độ của cơ quan quản lý thuế
Hà Nội, 2020
Trang 2MỤC LỤC
MỞ BÀI 1
THÂN BÀI 1
I Một số vấn đề lý luận về Thuế giá trị gia tăng 1
1 Khái niệm Thuế giá trị gia tăng 1
2 Đặc điểm của Thuế giá trị gia tăng 2
II Quy định của Luật thuế giá trị gia tăng về hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng và liên hệ thực tiễn 3
1 Phương pháp khấu trừ thuế 3
1.1 Phân tích 3
1.2 Công thức tính thuế: 4
2 Phương pháp tính trực tiếp trên phần giá trị tăng thêm 6
2.1 Phân tích 6
2.2 Công thức tính thuế 7
3 Liên hệ thực tiễn 9
III So sánh phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên phần giá trị tăng thêm 12
1 Giống nhau 12
2.Khác nhau 12
IV Đánh giá về ưu điểm và nhược điểm của từng phương pháp dưới góc độ cơ quan quản lý thuế 13
1 Phương pháp khấu trừ thuế 14
1.1 Ưu điểm: 14
1.2 Nhược điểm: 14
2 Phương pháp tính trực tiếp trên phần giá trị tăng thêm 14
2.1 Ưu điểm: 14
2.2 Nhược điểm: 15
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3MỞ BÀI
Đối với bất kỳ quốc gia nào, thuế luôn đóng vai trò hết sức quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước Và trong cấu trúc các khoản thu về thuế thì thuế giá trị gia tăng đóng một vai trò quan trọng Thuế giá trị gia tăng được thu qua mỗi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh được xác định dựa trên điều kiện thực tế của chủ thế kinh doanh, đồng thời đáp ứng yêu cầu thu đúng, thu đủ thuế và ngân sách Nhà nước Ở nước ta, phương án khả thi xác định số thuế giá trị gia tăng phải nộp được pháp luật Việt Nam ghi nhận và quy định gồm hai phương pháp: khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
Để tìm hiểu sâu hơn về các phương pháp này, em xin lựa chọn đề
tài số 3: “Phân tích các quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng về hai
phương pháp tính thuế giá trị gia tăng và liên hệ thực tiễn So sánh hai phương pháp tính thuế này Đánh giá về ưu điểm và nhược điểm của
từng phương pháp dưới góc độ của cơ quan quản lý thuế” để tìm hiểu và
nghiên cứu
Dưới đây là phần trình bày của em về đề bài Bài làm còn nhiều thiếu xót nên em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô để hoàn thiện hơn và rút kinh nghiệm cho những bài tập sau Em xin chân thành cảm ơn!
THÂN BÀI
I Một số vấn đề lý luận về Thuế giá trị gia tăng
1 Khái niệm Thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng (còn gọi là VAT – từ viết tắt của Value Added Tax) được khai sinh từ nước Pháp và được áp dụng lần đầu từ ngày 10/4/195 Kể từ đó, thuế giá trị gia tăng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Trang 4Ở nước ta, theo quy định tại Điều 2 Luật thuế giá trị gia tăng năm
2008 (sửa đổi, bổ sung 2016): “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá
trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”.
Thuế GTGT được nộp vào Ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ và thông qua giá cả của hàng hóa dịch vụ, là loại thuế gián thu Tính chất gián thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Ưu điểm của thuế gián thu là hạn chế được sự phản ứng
về thuế từ người gánh chịu thuế, nhưng nhược điểm của nó là không tạo
ra sự bình đẳng về điều tiết thu nhập của những đối tượng có thu nhập chênh lệch Thuế GTGT khác với thuế trên doanh số bán hàng ở chỗ nó được áp dụng trên mọi lĩnh vực kinh doanh như là một phần của đơn giá mỗi mặt hàng bán ra phải chiu thuế mà người ta đã thực hiện, nhưng ngược lại người ta lại được hoàn thuế GTGT đối với các mặt hàng đã mua của mình, vì thế thuế GTGT được áp dụng đối với phần giá trị thêm vào (gia tăng) cho sản phẩm tại mỗi công đoạn sản xuất
Thực hiện thuế giá trị gia tăng có thể làm ảnh hưởng tới các vấn đề tiêu dùng, mức độ lạm phát Xác định mối liên quan giữa loại thuế này với chỉ
số giá cả, lạm phát có ý nghĩa đối với nhà lập pháp khi quyết định chính sách thuế suất hợp lí trong những giai đoạn nhất định để đảm bảo khi thực hiện thuế giá trị gia tăng không gây ra những xáo trộn lớn trong dân chúng.1
2 Đặc điểm của Thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT có nhiều điểm tương đồng với các loại thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ khác (như thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu) nhưng có thể nhận diện thông qua các đặc điểm sau:
Thứ nhất, Thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rất rộng, đến tất cả
đối tượng trong xã hội Việc đánh thuế đối với mọi đối tượng trên phạm
1 Trần Thùy Hoài An (2018), Pháp luật về thuế giá trị gia tăng qua thực tiễn tỉnh Quảng Trị, Luận văn
thạc sĩ Luật học, Đại học Huế, tr 8.
Trang 5vi lãnh thổ thể hiện rõ nét sự công bằng của thuế đồng thời thể hiện thái
độ của Nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội
Thứ hai, thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng
hóa, dịch vụ Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với toàn bộ giá trị hàng hóa dịch vụ làm cho số thuế GTGT áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lưu thông không gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt thuế GTGT với những loại thuế gián thu khác
Thứ ba, nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa dịch vụ, số
thuế GTGT phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các giai đoạn lưu thông khác nhau Điều này thể hiện tính ưu việt của Thuế GTGT so với thuế hàng hoá, dịch vụ thông thường (thuế doanh thu) mà Việt Nam áp dụng trước đây
II Quy định của Luật thuế giá trị gia tăng về hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng và liên hệ thực tiễn
Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2016) đã quy định về các phương pháp tính thuế GTGT như sau:
“Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng gồm phương pháp khấu trừ thuế
giá trị gia tăng và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng”.
1 Phương pháp khấu trừ thuế
1.1 Phân tích
Nội dung cơ bản của phương pháp khấu trừ thuế là số thuế giá trị gia tăng phải nộp được tính trên cơ sở số thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ
Theo quy định tại khoản 2, điều 10 Luật Thuế GTGT thì: “Phương
pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn chứng từ…”.
Trang 6Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động Chứng từ kế toán là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ kế toán Hóa đơn GTGT là loại hóa đơn dành cho các tổ chức khai, tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ Như vậy, cở sở kinh doanh được áp dụng phương pháp khấu trừ thuế nếu cơ sở đó thực hiện đầy đủ chế độ kế toán đã nêu trên và có hóa đơn giá trị gia tăng khi bán hàng hóa,cung ứng dịch vụ.2
Theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật Thuế GTGT, cơ sở kinh doanh khi đã đáp ứng được điều kiện nêu trên thì được áp dụng phương pháp khấu trừ thuế nếu thuộc các trường hợp sau:
Thứ nhất, cơ sở kinh doanh có doanh thu hàng năm từ bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên trừ hộ, cá nhân khinh doanh Doanh thu hàng năm từ một tỷ đồng trở lên là doanh thu bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT và được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 12 Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng
Thứ hai, cơ sở kinh doanh đã đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp
khấu trừ thuế, trừ hộ, cá nhân kinh doanh Khoản 3 Điều 12 Thông tư 219/2013/TT-BTC quy định cụ thể cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện
áp dụng phương pháp khấu trừ thuế
1.2 Công thức tính thuế:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Thuế GTGT:
Số thuế GTGT = Số thuế GTGT - Số thuế GTGT đầu vào
2 Nguyễn Thanh Tùng (2017), Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng theo pháp luật Việt Nam, Hà Nội.
Trang 7phải nộp đầu ra được khấu trừ
Trong đó:
a) Thuế GTGT đầu ra là số thuế xuất hiện ở khâu bán ra, chủ thể nộp thuế
đã xác định và tính trong giá bán cho người nhận hàng hoá dịch vụ Luật thuế GTGT quy định:
Theo điểm b khoản 1 Điều 10: “Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng
tổng số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng bằng giá tính thuế của hàng hóa, dịch
vụ chịu thuế bán ra nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ đó.”
Giá tính thuế là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật Thuế suất được quy định rõ cho từng ngành nghề kinh doanh, từng chủng loại hàng hóa dịch vụ Thuế giá trị gia tăng ở khâu bán ra được xác định trên chứng từ hóa đơn hợp lệ của chủ thể nộp thuế Pháp luật cũng quy định chặt chẽ trường hợp chứng từ không phản ánh số thuế giá trị gia tăng hoặc chỉ ghi nhận giá thanh toán của hàng hóa dịch vụ Nếu chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT Những hoá đơn đặc thù như tem, vé cước vận tải, vé sổ xố kiến thiết, trên hoá đơn có thể hiện giá đã bao gồm thuế GTGT thì kế toán phải tách thuế theo công thức:
Giá chưa thuế GTGT = Giá thanh toán (tiền bán tem, vé )
1 + thuế suất của hàng hoá, dịch vụ (%)
=> Số thuế GTGT đầu ra = Giá thanh toán - Giá chưa thuế
b) Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là số thuế xuất hiện ở khâu mua
vào, được tính trong tổng giá mà chủ thể nộp thuế đã trả để nhận được hàng hoá dịch vụ
Trang 8Theo điểm c khoản 1 Điều 10: ”Số thuế giá trị gia tăng đầu vào được
khấu trừ bằng tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng của hàng hóa nhập khẩu” Điều kiện khấu trừ thuế được quy định tại Điều 12 Luật
Thuế giá trị gia tăng
2 Phương pháp tính trực tiếp trên phần giá trị tăng thêm
2.1 Phân tích
Khoản 1 Điều 11 Luật thuế GTGT quy định phương pháp tính trực
tiếp trên phần giá trị gia tăng là phương pháp tính thuế mà theo đó: “Số
thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng bằng giá trị gia tăng nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với hoạt động mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý.”
Nếu phương pháp khấu trừ thuế xác định trực tiếp theo hiệu số thuế thì phương pháp tính trực tiếp xác định theo hiệu số kết quả kinh doanh của chủ thể kinh doanh vàng bạc, đá quý Thuế suất thuế giá trị gia tăng được
áp dụng phù hợp với hoạt động mua bán, chế tác vàng bạc, đá quý
Theo Điều 11 luật Thuế GTGT thì phương pháp tính trực tiếp trên GTGT được áp dụng đối với các đối tượng sau:
Thứ nhất, đối với cơ sở kinh doanh có hoạt động mua bán, chế tác
vàng, bạc, đá quý thì bắt buộc nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT không cần biết có hay không có sử dụng đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định
Thứ hai, doanh nghiệp, hợp tác xã có doanh thu hàng năm dưới mức
ngưỡng doanh thu một tỷ đồng và không tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ
Thứ ba, hộ, cá nhân kinh doanh;
Thứ tư, tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không có cơ sở
thường trú tại Việt Nam nhưng có doanh thu phát sinh tại Việt Nam chưa
Trang 9thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, trừ tổ chức cá nhân
nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiến,
thăm dò, phát triển và khai thác dầu, khí nộp thuế theo phương pháp khấu
trừ do bên Việt Nam khấu trừ nộp thay
Thứ năm, tổ chức kinh tế khác không đăng ký nộp thuế theo phương
pháp khấu trừ
2.2 Công thức tính thuế
a Đối với cơ sở mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý
Thuế GTGT phải nộp = GTGT x Thuế suất thuế GTGT
Trong đó:
GTGT của
vàng, bạc, đá
quý
=
Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra
–
Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào tương ứng
Thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với hoạt động mua bán,
chế tác vàng, bạc, đá quý là 10% căn cứ theo quy định tại khoản 3 điều 8
Luật Thuế GTGT
Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra là giá thực tế bán ghi
trên hóa đơn bán vàng, bạc, đá quý, bao gồm cả tiền công chế tác (nếu
có), thuế giá trị gia tăng và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán
được hưởng Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào được xác
định bằng giá trị vàng, bạc, đá quý mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế
GTGT dùng cho mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý bán ra tương ứng
Trường hợp trong kỳ tính thuế phát sinh giá trị gia tăng âm (-) của
vàng, bạc, đá quý thì được tính bù trừ vào giá trị gia tăng dương (+) của
vàng, bạc, đá quý Trường hợp không có phát sinh giá trị gia tăng dương
(+) hoặc giá trị gia tăng dương (+) không đủ bù trừ giá trị gia tăng âm (-)
thì được kết chuyển để trừ vào giá trị gia tăng của kỳ sau trong năm Kết
Trang 10thúc năm dương lịch, giá trị gia tăng âm (-) không được kết chuyển tiếp sang năm sau
b Đối với các đối tượng còn lại
Đối với các đối tượng còn lại căn cứ theo quy định tại khoản 2, Điều
11 Luật Thuế GTGT thì số thuế GTGT phải nộp bằng tỉ lệ % nhân với doanh thu
Thuế GTGT phải nộp = Doanh thu tính thuế GTGT x Tỷ lệ %
Về tỉ lệ %: tỉ lệ % đối với từng trường hợp là khác nhau, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 11 Luật Thuế GTGT cụ thể như sau:
– 1% đối với hoạt động phân phối, cung cấp hàng hóa
– 5% đối với hoạt động dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu;
– 3% đối với hoạt động sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu;
– 2% đối với hoạt động kinh doanh khác
Về doanh thu: doanh thu để tính thuế GTGT là tổng số tiền bán hàng hóa, dịch vụ thực tế ghi trên hóa đơn bán hàng đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT bao gồm các khoản phụ thu, phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng Trường hợp cơ sở kinh doanh có doanh thu bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT và doanh thu hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu thì không áp dụng tỷ lệ (%) trên doanh thu đối với doanh thu này
Cơ sở kinh doanh nhiều ngành nghề có mức tỷ lệ khác nhau phải khai thuế GTGT theo từng nhóm ngành nghề tương ứng với các mức tỷ lệ theo quy định; trường hợp người nộp thuế không xác định được doanh thu theo từng nhóm ngành nghề hoặc trong một hợp đồng kinh doanh trọn gói bao gồm các hoạt động tại nhiều nhóm tỷ lệ khác nhau mà không tách
Trang 11được thì sẽ áp dụng mức tỷ lệ cao nhất của nhóm ngành nghề mà cơ sở sản xuất, kinh doanh
3 Liên hệ thực tiễn
Trên thực tế, tùy vào từng điều kiện của từng cơ sở kinh doanh mà các cơ sở kinh doanh sẽ lựa chọn những phương pháp tính thuế GTGT sao cho phù hợp
Đối với những doanh nghiệp có số thuế GTGT mua vào gần tương ứng với số thuế GTGT bán ra, có nghĩa là chênh lệch giữa thuế GTGT bán ra và thuế GTGT mua vào không đáng kể, nên số thuế GTGT phải nộp ít, hoặc không phải nộp thuế GTGT Những doanh nghiệp loại này thì nên chọn phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ Trên thực tế, phương pháp khấu trừ thuế thường được áp dụng cho các đơn vị, tổ chức kinh doanh bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, các công ty cổ phần, hợp tác xã và các đơn vị tổ chức kinh doanh khác theo Luật quy định có doanh thu hằng năm từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc có doanh thu hằng năm dưới một tỷ đồng đã thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, sổ sách, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ
Ví dụ: Công ty Bánh kẹo Hải Hà sản xuất kẹo trong tháng 01/2015 bán
ra 200 tấn kẹo, giá bán mỗi tấn là 800.000 đồng/tấn ( giá chưa có thuế) thuế GTGT phải nộp là 10% (giá mua của người thanh toán là 880.000 đồng/tấn) cũng trong tháng công ty đã mua một số nguyên liệu để dùng cho sản xuất,kinh doanh Bánh kẹo3 Căn cứ các chứng từ, hoá đơn GTGT mua nguyên liệu số thu thuế GTGT đầu vào được xác định:
Số lượng mua Đơn vị
tính
Số lượng mua
Giá đơn vị tính
Thành tiền Thuế
GTGT đầu vào
3
Báo cáo tài chính Công ty bánh kẹo Hải Hà: http://www.haihaco.com.vn/bao-cao-tai-chinh-6815.html