Chỉ trường hợp đặc thù biểu hiện rô mới đùng phương pháp "phản “tt tri Ngoài ra, có trường họp nhân bệnh tinh phúc tạp, lấy thuốc hàn để giúp cho thuốc nhiệt, hoặc lấy thuốc nhiệt để
Trang 1VIỆN Y HỌC TRUNG Y BAC KINH
PHUONG TE HOC GIANG NGHIA
Lược địch : DƯƠNG HỮU NAM
PTS DUONG TRONG HIEU _
NHA XUAT BAN Y HOC
HA NOI - 1994
Trang 3LOI TUA
Nhò dường lối đúng đắn, kế thừa, phát huy và kết
hộp vốn cổ, y học ngủy càng phái iriển Thể hiện số người
tin y học cổ tngền (ŸVHCT), mong muốn được điều trị
bằng phương pháp YHCT nói chung và dùng thuốc nói
riêng ngày càng tăng Giữa lúc y học hiện đại (YHHD)
phát triển nhanh, các loại tân dược gia tăng ghê gốm Tuy
tậy xu luướng của thày thuốc và người bệnh ở nhiều nước
đều muốn dùng thang thuốc từ Thảo mộc, động vật hay
khoáng vật tự nhiên, bỏi khú sử dụng thấy an toàn hón, ñ
tác dụng phụ không mong muối
Số người muốn tìm hiểu và ứng dụng Dông được ngày)
càng nhiều Đây cũng là điều nung, vì người bệnh được
nhiều người, nhiều nơi phục vụ - phù hợp với hướng phát
triển y tế cộng dồng Nhưng cũng đáng lo - vì :
"Nhó câu dàng thuốc tựa dùng bình Quan trọng vô cùng việc tử sinh"
(Lãn Ông)
V học phương Đông có phần lý luận sâu sắc rất rộng và
không phải dễ Muốn năm thấu đáo chắc chắn phải mất nhiều
năm Niuớng để giúp người bệnh và các thày thuốc muốn tìm
hiểu các bài thuốc cổ, mà đã được đúc kết qua nhiều đời, đã
dược sản xuất dưới dạng cao dan hoàn tán Cuốn sách giúp
cho người dọc uận dụng lý luận sử dụng thuốc, từ đó cần biết
cách thêm bút thay thế cho thích hợp vúi từng trường hợp cu
thê
Chung tôi nghĩ trước tiên phải tôn trọng lý luận của y học
phương Đông trân trọng các bài thuốc kinh điển, cho nên
§
Trang 4chúng tôi giói thiệu cùng ban doc cuốn "Các bài thuốc cổ vận dụng trong lậm sàng"
H sách dựa chính vào cuốn "phương tẾ giảng
nghĩa" của Học viện Trung y Bắc Kinh biên soạn, để giảng
trong các trường Đại học Trung y ỏ Bắc Khui, Thượng
Hải
— Các thuẬt ngữ của y học phương Đông : TÚ khí, ngũ vị, thăng giáng, phù trầm, khí, huyết, tạng phủ, Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận nên để nguyên người đọc hiểu dần, để hiểu lấy chân giá trị của nó nếu dịch sẽ khó tránh khỏi hiểu lầm, hoặc hiểu không hết nghĩa sâu xa của YHDT
Qua nhiều năm túng dụng cổ phương, chúng tôi cũng thấy
được nhường cái hay, cái sắc sảo, chặt chế trong cấu thành các
bài thuốc của các y gia Nhưưng trí thức của cung tôi về YHCT
còn hạn hẹp, không dám tự ý biên soạn, mà phải dựa vào cuốn
sách dã được tập thể các y gia học viện Trung y biên soạn, lấy
đó làm cơ sở cho cuốn sách này Về liều lượng nhiều bài để nguyên đơn vị cổ, để tham khảo, dựa vào tỳ lệ đó để vận dụng Với ý nguyện muốn góp một phần nhỏ vào việc sưu tầm, thừa kế các đi sản quý của đời xưa, cưng cấp thêm thông tin cho nhưng người chúa có điều kiện sử dụng Trung văn trong
tim hiểu y học
Xuất phát từ thiện chí nhutng trinh dé cé han, nén khong
tránh khỏi thiếu sói
Rất mong quý bạn đọc góp ý phê bình Chúng tôi vô cùng cảm đn Nhà xuất bản Y học giúp đõ để cuốn sách đến tay bạn
đọc
Người dịch
PTS YHOC _ DUONG TRONG HIEU
Trang 5PHAN MOT
Chwong I
MOI QUAN HE GIUA PHUONG: TE
VA PHUONG PHAP DIEU TRI
Phương tế là một khâu rất quan trọng trong phép
dang thuốc Nó là cö sở trong phép biện chứng để vận
dụng cho thích hợp Trước hết là làm sáng tỏ mối quan
hệ giữa phương tế và điều trị ; giải thích một cách toàn
diện học thuyết phương tế là ý nghĩa và cách dùng
I NGUYEN TAC DIEU TRI CHUA BỆNH PHÁI TÌM ĐẾN GỐC.”
Sở đi gọi là gốc vì : Khi phát sinh và hình thành
bệnh, do nguyên nhân của bệnh sinh ra Như bệnh ngoại
cảm, do lục dâm của tả khí xâm nhập vào thân thể con
người, đẫn đến các kinh lạc, tạng phủ ; hoặc là do vệ khí
doanh huyết không thể biến hóa được bệnh lý Đối với
bệnh ngoại cảm ban đầu phải lấy việc khử tà để trị Như
vậy là trị từ gốc ; trạng thái bệnh cũng do bệnh phát
sinh, bệnh xâm nhập vào nội thương và phủ tạng, là khả
năng chống được bệnh phản ảnh ra Chữa bệnh khỏi giúp
tạng phủ trỏ lại bình thưởng, chính là trị bệnh tận gốc
7
Trang 6Trên lâm sàng mà thấy được nguyên nhân của bệnh, thấy được bản chất của bệnh thể hiện, chẩn đoán được như vậy mối có cơ sở để điều trị tốt
Tiêu bản hoãn cấp - Nguồn gốc và bề ngoài cấp hay hòa hoán) Nếu tà xâm nhập là "gốc", rồi sau thấy biểu lộ triệu chúng đó là "tiêu" Trị bệnh phải lấy khủ tà làm chủ yếu Tà đã hết thì chúng cũng được tiêu trừ Theo rõi tà khí đã vào và phân tán thì phải giữ chính khí làm "gốc", bệnh tà làm "tiêu" Cho nên có trường hợp
"ngũ hư làm bản mà ngũ thực lại là tiêu" (bản thảo kinh sơ) Trong lúc chữa bệnh phải biết phân biệt được tà
nhiều hay ít, chính thịnh hay suy, mà khử tà để an chính
khí, hoặc phù trợ chính khí để khủ tà, hoặc khử tà an
chính khí đồng thời Có trường hợp phải phân chia bệnh
mói, bệnh cũ, thì lấy bệnh mới làm tiêu, bệnh cũ làm bản Chữa bệnh mới trước, chữa bệnh cũ sau, làm cho bệnh mới không phát triển được, làm cho bệnh mới không phát triển được để ảnh hưởng đến bệnh cũ, mà
bệnh tình trỏ nên phúc tạp Có khi bệnh mới rất nhẹ,
mà bệnh cũ lại khẩn cấp, trường hợp này lại phải trị từ gốc (bản) Cả bệnh cũ, bệnh mới đều khẩn trương, thì
phải đồng thời coi trọng cả tiêu lẫn bản (gốc và ngọn)
mà điều trị Phân biệt giữa nội và ngoại, lấy ngoại làm
ngọn, nội làm gốc Nếu do ngoại cảm tà ở biểu là nhẹ, nhập vào lý là nặng Cho nên lấy biểu (ngoài), làm tiêu, lấy trong làm gốc Bệnh nội thương, thì lấy triệu chứng của bệnh nội làm gốc Triệu chứng bên ngoài làm tiêu (ngọn) Trường hợp này chữa lý chứng là chính Lý chứng lui thì ngoại chứng cũng được trừ — Do đó phân chia ngọn gốc bệnh là chủ yếu, để thấy được tình hình bệnh phức tạp, nghiên cứu kỹ để trước sau quyết định chữa vào đâu trước Tiêu bản hoán hay cấp là rất hệ trọng 8
Trang 7Có thủyết nói rằng “gốt cáp bội ngọn, nên trước “hết chøa'
góc" chính khí đuọc giỏ Bền vidgthữ t3 khỉ không có đất
mà lưu Tại được, ‘va’ bệnh ngọn "cũng: được trừ Có khi
ngọn cấp bôi gốc, cấp thì cHữa' ndọn, hoán thĩ chữa gốc
Đó chính 1a: nguyên tắc xử lý.-
Hư, thực, bổ tả -
Sách Tố Vân bàn về hư thực nói : "Tà khí thịnh
hao tổn thời thực, tính khí bị tước đoạt là hư”: Cách nói
như vậy chỉ là tổng khái niệm về hư thực "Sách Tam bộ
Củu hầu luận" có nói : "thực thì tả ; hư thì bổ" Cách
nói này là tổng quát phép tắc chữa bệnh hự thực Cách
điều trị phải vận dụng tùy theo từng lúc cấp hay hoãn là
rất hệ trọng - có thuyết lại nói : "chính khí làm gốc, ta
khí làm ngọn Chính khí hư phải dùng bổ Tà thực thì
dùng công, hư thực đều hiện ra, thì công và bổ phải làm
đồng thời - Nếu hư nhẹ, thực nhẹ thì trị thực ; thực nặng,
hu nang thì trị hu Tức là chính khí hu, ta khí thực thì
không nên công Chính khí thịnh, tà khí nhẹ thì không
nên bổ - Nếu hai phần hư, một phần thực thì trị hư làm
chủ yếu, đồng thời kiêm trị thực ; nếu hai phần thực, một
phần hư lấy chữa thực là chủ yếu, kiêm chữa cả hư Trình
độ phân biệt được hư thực, nặng nhe, đối chứng mà chữa
bệnh là rất có ý nghĩa
Trương Cảnh Nhạc nói : "Không có hư, cấp 6 tà
khí, mà không duổi tà nhanh, tà ö lâu sinh biến ; hư
nhiều, cấp ở chính khí, bổi bổ không nhanh, đến lực biến
chạy không kịp nữa", Như thế càng thấy rõ cách lập
phương vô cùng quan trọng
Chính trị phản trị
Trên đây đã nói về chữa bệnh cần tìm đến gốc, tiêu,
bản, hoãn, cấp, hu, thực, bổ, tả, đều là nêu lên những
9
Trang 8nguyên tắc thường phải dùng để chữa bệnh — chính trị
và phản trị Nên dùng thuốc ham lượng (thuốc tính lạnh)
để chữa bệnh nhiệt, hoặc dùng thuốc nóng chữa bệnh hàn, như thế gọi là "chính trị Sách "Tố Vấn chí chân yếu đại luận" có bàn : phép tắc lấy hàn chữa nhiệt, lấy
nhiệt chữa hàn Nhân-lấy loại thuốc có tính cùng với bệnh
trái ngược nhau (tương phản) cho nên gọi là phép trị
nghịch ; túc là phương pháp dùng thuốc chữa ngược lại với bệnh Như trên đây là dùng tưởng phản Như dùng bài "tứ nghịch thang" chữa khỏi bệnh âm thịnh cách dương túc là chứng giả nhiệt - thang "bạch hổ" trị bệnh nhiệt nặng, quyết nặng, chính là chúng giả hàn Như thế gọi là "phản trị Sách "Tố Vân chí chân yếu đại luận" nói : Theo phép phản trị Dùng các loại thuốc mà tính
chất thuốc và bệnh cùng loại thì gọi là "tỏng trị pháp"
Ô trong lâm sàng thường hay dùng "chính trị" Chỉ trường hợp đặc thù biểu hiện rô mới đùng phương pháp "phản
“tt
tri
Ngoài ra, có trường họp nhân bệnh tinh phúc tạp,
lấy thuốc hàn để giúp cho thuốc nhiệt, hoặc lấy thuốc nhiệt để giúp thuốc hàn, hoặc thuốc nhiệt chữa lạnh, thuốc lạnh chữa nóng, đó cũng nằm trong phạm vi phương pháp "phản trị' mà sách "Tố Vấn ngũ thường
chính đại luận” có nói : "Trị nhiệt dùng hàn, ôn Trị hàn
dùng nhiệt, lương"
Trị quý quyền biến
Trong chữa bệnh, ngoài nguyên (ắc, còn thì tùy cơ ứng biến ; tùy theo chứng bệnh chuyển biến, thường thì
chứng bệnh chuyển biến thì bản thân cũng chuyển biến
Những chuyển biến ấy thường là thủy thổ không hợp,
hoặc bẩm sinh hoặc khöe hoặc yếu, hoặc ảnh' hưởng khí
10
Trang 9hậu, hoặc tình chí biến Hoá, an w6ng‘khéng tit do ma -
sinh rả : bệnh %ật Chuyển: biến: thñ-cáchtđiềø trị công :
chuyển biển theo Cũng có trường họp bệnh chứng chuyển
biến nửa: phương điều không chuyển biến theo ; hoặc trạng thái bệnh tật chuyển biến mã phương pháp đều trị cũng chuyển biến theo
"Sách Tố Vấn dị pháp phương nghị luận” nói : sinh hoạt của bốn phương không đồng nhất thì cách chữa bệnh cũng phải khác nhau — Tôn Tư Mạo "Thiên kim phương" cũng nói : "người phương bắc khí hậu rét, đất khô táo ; thân thể con người tấu lý thường bế, thực ; thưởng hay
cảm thụ gió lạnh ; tà khí thời tiết Trước hết dùng thuốc
sơ tán nhẹ ; sau sơ tán nhẹ, sẽ chuyển nặng Không phải với người nào cũng như người thế Y học lưu luận nói : Tây bắc khí rét nên dùng thuốc ôn, nhiệt Tà thường ẩn bên trong, mà trong thường phan ung rất nóng, nên dùng thuốc cay, hàn Dông nam đất ôn, dùng thuốc thanh
lương, cho nên khí theo tà tan đi, nên dễ sinh vong
dương, nên dùng thuốc tân ôn — thân thể con người do bẩm sinh khoẻ, yếu đều không giống nhau, sau khi cảm
thụ tà khí, bệnh tỉnh chuyên biến tùy theo tạng khí thịnh
mà di chuyển Vì thế khi biến chứng cần xem đến bẩm sinh, đương tàng hay âm tàng, thể khỏe hay thể yếu, tùy theo địa phương mà dùng thuốc cho thích hợp, theo thời
kỳ thích hợp với bệnh tình, phù hợp với tùng ngày mà chế biến, đó là đạo lý làm thuốc
Bốn mùa khí hậu thay đổi, có ảnh hưởng nhất định đối với từng người, thân thể con người chính khí không
đủ ứng phó với thời tiết, mỗi khi thồi tiết thay đổi, mà
chịu ảnh hưởng sinh bệnh Vị vậy lâm sàng phải chịu
nghiên cứu thời tiết mà trị bệnh cho thích hợp Khí hậu
11
Trang 10biến hóa cũng không đồng đều, mùa hạ không phải không
có rét, mùa đông không phải không có ấm Nên phải xem
bệnh tình cụ thể mà định cho đúng lúc Không nên câu
nệ Tóm lại lập phương dùng thuốc đã, chú ý xem xét thöi tiết từng mùa, nhưng cũng phải xét đến nhưng điểm
cụ thể của chứng bệnh để mà phối hợp đội ngũ thuốc thích hợp
Ngoài ra, ảnh hưởng của trạng thái tính thần, ăn uống không điều độ, dùng thuốc cũng phải nghiên cứu các mặt ấy Nếu không có thể gây bệnh nặng thêm, thậm chí có thể làm thay đổi bệnh tinh
I PHUONG PHAP DIEU TRI
Han pháp - Phương pháp:cho ra mồ hôi, là thông
qua việc mổ các lỗ chân lông ö da cho mồ hội thoát ra,
để đuổi tà khí ra ngoài, điều hòa vinh vệ Sách Tố Vân
âm dương ứng tượng đại luận nói : "mồ hôi toát ra tại
bì phu” Vì thế phương pháp cho ra mồ hôi căn cứ vào lập luận ấy Phép cho ra mồ hôi đều có tác dụng giải biểu, thấu chẩn, thoái thũng tiêu tán, thương đương Đối với chừng ngoài cảm lục dâm thì tà ö biếu chứng, lấy xoa sát lúc đầu, điểm chẩn ẩn sâu không thấu, thủy thũng từ
thất lưng trỏ lên, các bệnh thương dương (sang đạng) lúc
đầu có biểu hiện nóng, lạnh Muốn cho thấu đến đuôi
được tà khí ra ngoài phải dùng phương pháp cho ra mồ
hôi Do bệnh tình nóng lạnh tà khí ẩn nấp, thể chất khỏe hay yếu, cho nên phép cho ra mồ hôi lại có cay, ôn, cay, mắt các loại, lại còn đến cho ra mồ hôi phải dùng đến
bổ Các phương pháp ấy đều tùy nghỉ vận dụng Có thể phải xông nóng làm thuốc tắm, hoặc châm cứu các phép
12
Trang 11déu-nham: lam:cho:ra-md hoidé-chita bệnh không thuộc
Thổ pháp - Phương pháp ding’ "hề pháp" cũng là
riột cách tùng thuốc làm chó bệnh nhân nôn mủa"ra để
giải trừ bệnh :tật Phương pháp áp dung cto non mia,
thường đùng cho chứng tà đình lưư ö yết hầu, ö bụng
cách, ở vị quản, qua các bộ vị ấy các chất lạ độc hại,
theo nôn mửa mà ra, với các chứng đồm, nước dãi ung
trổ Ö cưống họng hoặc đỉnh trệ 6 hung cách, hoặc ăn
lúc đi ngũ, thức ăn đình lưu ở vị quản, hoặc ăn phải chất
độc còn nầm trong da dây, các chúng ấy đều: phải đùng
đến phương pháp cho nôn mửa, và phải làm cấp cứu để
bài tiết ra, không thể chậm trẻ được Dùng cách cho nôn
tiửa cấp đối với bệnh thực
Hạ phi: - Hạ pháp là phép rửa ruột, dạ dãy, đại
tiện tống hạ, đuổi tà khí xuống dưới tống ra ngoài để
chữa Bệnh, đều là bài trừ bệnh táo bón, tẩy rửa tà nhiệt,
đốc nước tả ứ đọng, công hà túc thực, đàm kết, lãnh tích,
làm cho đường ruột thống các chất kết trệ Phàm là tà
Ỏ trăng vị, táo, niệu kết ở bên trong, tà nhiệt hoành hành;
cho đến chứng đồm đình trệ, chất uống lưu ít lại, lãnh
tích, túc thực (än lúc sắp đi ngủ), ứ huyết, đều là chúng
tả khí chính khí đều thực đều có thể dùng phép này Còn
như ứ bệnh hàn nhiệt sinh ra, chính khí hư thực, bệnh
ta kiêm giáp, vi thé ma dùng các phép hạ khác nhau như
hàn hạ ôn lạ hoàn hạ, trần hạ cho đến cũng cho ra mồ
hỏi, công và bổ cũng phải phối hợp với các biện pháp
khác
Hòa pháp - Cách dùng hòa pháp không như cho ra
mồ hôi hoặc nôn mửa, hoặc phép hạ là những phép
chuyển để công tà, hòa pháp mà là để hòa giải điều hoà,
13
Trang 12nhằm mục đích làm cho những chứng hư, thực, hàn, nhiệt
phúc tạp đã tác động đến tạng phủ âm dương, khí huyết, hoặc thiên về quá thịnh, hoặc thiên về quá suy, được trỏ
lại bình thường sau: khi đã đạt được yêu cầu đuổi hết tà
khí Trình Xung Linh nói : bệnh thương hàn còn ở biểu
có thể cho ra mồ hôi, nếu đã vào lý có thể cho hạ nếu
tà ở đỏ dang nửa biểu, nửa lý, duy nhất chỉ dùng phép
hòa giải Trọng Cảnh dùng bài tiểu sài hồ gia giảm để
chữa, đó là chỉ định về phương pháp hòa giải Dái Bác
Sơn nói : Hoài là kiêm chữa hàn và nhiệt ; vừa bổ vừa
tả gọi là hoà ; bình ổn những hiện tượng quá căng cũng
là hoà Căn cú vào đó mà nói là "điều hoà" "Thương hàn
luận" nói : Dối với những bệnh đã qua cho ra mồ hôi,
hoặc thổ, hoặc thổ tả mà sau đó còn dư tà, bệnh chứng
chưa giải được, thì không cho ra mồ hôi nữa, hoặc tả hạ,
mà dùng hoản hóa thế bệnh, thanh trừ dư tà, như vậy
cũng gọi là hoà Phép hóa được dùng trong phạm vi rộng
rãi Phàm bệnh thương hàn tà tại thiếu dương kinh, bệnh
ôn dịch tà còn phục ö mô nguyên, bệnh ôn nhiệt tà còn
lưu ở tam tiêu, cho đến các chứng ngược tật can tỳ không
hoà, can vị không hoà, khí huyết không hoà, đều có thể
dùng phương pháp hòa giải :
Vì thế phép hòa giải có nhiều loại, thường dùng nhất là hòa giải ö thiếu đương, khai đạt mô nguyên, phân
tiêu trên dưới, điều hòa hàn nhiệt, hoà giải tạng can tỳ,
Thanh pháp - Thanh pháp là chữa bệnh bằng cách thanh giải nhiệt để trừ tà khí Tố Vấn chí chân yếu đại
luận nói : "Chữa nhiệt thì dùng hàn", "Ôn thì dùng thanh",
căn cứ vào đó mà nói - ôn pháp là phép cơ bân để chữa
chúng hàn Chứng hàn do ngoại cảm hay nội thương,
14
Trang 13không đồng đều Bệnh chuyển biến hộ vị khi hàn ở biểu,
khi hàn ở lý ; biểu lý đều "hàn, ôn pháp còn đùng hồi
dương, cứu nghịch; ôn trung kRở-hàn, ồn đương hóa, Ám
ôn thận thì nạp khí, ôn hạ hàm tích ; ôn vô giáng nghịch,
on trung hóa đấm, ðn tạng an hồi, chờ: đến cát chúng ôn,
tán biểu hàn Trong ôn: tán: biểu "hàn, ôn hạ: Tiàn tích,- ôn
trung khử hàn, ôn tỳ nạp khí lại còn ốn” 'phấp cùng: hạ
pháp Thường Hay ding bổ pñháp cũng ôm pháp
Tiêu pháp - Tiêu pháp có tác dụng bao duát chữa
tiêu đạo, tán kết Đối với các chứng do khí, huyết, đồm,
ăn uống, nước, run kết thành bệnh hữu hình, đùng tiêu
pháp để đần dần tiêu đi hoặc tan đần đi: Tiêu phát có
tác dụng như thể chủ yếu là từ thực có Hình tích khác
với hạ pháp Hạ pháp là: đổi:với bệnh: táo kết, đức thực,
dam đình trệ, lưu ẩm, ứ trở co.hình tích, mà bệnh thế
cấp bách, hình chứng đều thực, phải cấp tốc bài trừ, và
lại là xét tình huống cho phép dùng được hạ pháp Tiếu
pháp là đối với các chứng bệnh tả tích dan dan mà thành
hình, bệnh thế hỏa hoản, không cấp bách; mà lại còn 'hư
thực phức tạp, không cần phải dùng hạ pháp để giải quyết
cấp bách Trước hết dùng hạ pháp cấp bách để công
mãnh liệt, sau tiêu tán đần đần, phải xét ký nguyên nhân
gây bệnh mà áp dụng Nhân đó mà: thấy rằng tiêu phát,
tùy theo trường họp mà chỉ đạo Thưởng thường dùng
tiêu pháp cho các chứng bệnh đạo thực trệ, tiêu bĩ hóa
tích, tiêu cam hóa trùng, tiêu tán bệnh ngứa lỏ,
Bồ pháp - Bổ pháp Tà phương pháp bổ đường cho
những người thân thể, khí huyết, âm dương hoặc một tạng
phủ nào đó bị hư tổn Tố Vấn, Tam bộ củu hậu luận
nói : "hư tất phải bổ" ; "chí chân yếu đại luận" nói : "bị
hao tổn phải bồi bổ" - "âm dương ứng tượng đại luận"
15
Trang 14nói : "hình hài bất túc, phải để tăng khí ; tỉnh bất túc,
bổ để thêm vị Bổ pháp có tác dụng bồi bổ cho thân thể con người khí huyết không đủ, điều hòa âm dương không cân bằng, làm cho âm dương cân đều Đồng thời, khi huyết -hư tổn không chống được bệnh tật, hoặc khu trù
tà khí, lại kiêm dùng bổ pháp để hồ trọ chính khí, đạt
mục đích phù chính, khử tà Bổ pháp cụ thể thường vận
dụng cơ bổ âm, bổ dương, bổ khí, bổ huyết, hổ tâm, bổ
can, bổ tỳ, bổ phế, bổ thận Như âm dương đều suy khí huyết cả hai đều hư tổn, phải dùng điều trị đồng thời cả
âm dương, bồi bổ cả khí huyết
Như trên đã nói, dùng tám phương pháp điều trị
- không nên dùng một pháp Vì bệnh tật thường phức tạp,
trỏ đi trỏ lại thường phải vận dụng dùng nhiều phương
pháp đồng thồi, phải có lưu ý nhiều mặt Trình Xung
Linh nói : Trong một phương pháp, thì cả tám phương
pháp đều chuẩn bị đầy dù Trong tám phép, một trăm
phép đều chuẩn hị sẵn Lại nói thêm : Bàn đến tình hình
bệnh tật thường lấy hai chữ hàn, thực, hư, nhiệt, biểu lý,
âm dương mã thống kê
Mà luận về phương pháp điều trị thường lấy hết cả
các phép : cho ra mồ hôi, (hân) hoà, hạ, tiêu, thổ, thanh,
ôn, bổ Vĩ thế khi lập phương điều trị phải căn cứ vào
bệnh tình cụ thể
16
Trang 15Chirong I
CACH CAU TAO PHUONG TE
VA CACH GIA GIAM
Phuong tế là một bước phát triển tiến bộ trong vận dụng các vị thuốc để chữa bệnh tật Các vị thuốc phối
hợp: tổ chức thành tế đã có khả năng tìng cường sức
mạnh về tác dụng lại diều hòa những thiên lệch hoặc
chế ngự trừ độc tính của thuốc hoặc tiêu trừ hoặc hoàn
hòa thân thể con người không để bị ảnh hưởng Nhân
thể, phối hợp các vị thuốc thành tế, đến cùng một đón
vị mà hiệu quả không giống nhau làm cho thích ứng toàn
diện với các bệnh chứng phức tạp Những nhà làm thuốc
lâu đỏi, trong thực tiến đã tích luỹ dude những kinh nghiệm quí báu ; thông qua những kinh nghiệm thực tiền tổng kết lại, qua thục tiền tổ chúc lại thành “phường tế”
A NGUYÊN TẮC CẤU TẠO PHƯƠNG TẾ
Các vị thuốc phối hợp tổ chức thành "phương tế,
chủ yếu căn cứ vài bệnh tình, dùng phương pháp biện
chứng lập phương làm cơ sở, phối hợp đội ngũ Các vị thuốc thích ứng, quy định liều “lượng thiết yếu Tại Nội Kinh, như Tốc Vân chí chân yếu đại luận có nói : "Lấy
chủ bệnh làm "quân", giúp cho quân gọi là "thân", ứng
hop vdi thần gọi la “su” Lai noi "Quan mot phan, than hai phần là tiểu chế vậy ; quân 1, thần 3, tá 5 là trung
17
Trang 16ché ; quân 1, thần 3, tá 9 là đại chế vậy Lại nói : "Quân
1, thân 2 là kỳ chế ; quân 2, thần 4 là ngẫu chế, quân
2, thần 3 là kỳ chế ; quân 2, thần 6 là ngẫu chế (ngẫu
nhiên mà chế thành) Đó là có bản nguyên tắc chế
phương Lý Đông Viên nói : "chủ bệnh gọi là quân, nếu
phát hiện bệnh gì thì lấy tá, sứ, được mà phân biệt, đó
là điều cốt yếu chế phương "quân, thần, tá, sứ", ý nghĩa
rất rộng Quân dược là vị thuốc chủ yếu trong bài thuốc,
đối với bệnh thì là thuốc chủ yếu để chữa chứng chính
của bệnh, thần dược là phụ trọ quân được va tăng thêm
sức mạnh cho quân được làm cho thuốc có công hiệu
mạnh mẽ Tá được có hai ý nghĩa ; một là giúp sức chủ
dược chữa khỏi, một phần thứ yếu chứng trạng của bệnh
Trước hết thích dùng thuốc có độc, hoặc tính vị rất thiên
về một mặt, sau dùng thuốc kiêm chữa nhiều chúng bệnh
Ngoài ra còn có "phản ta", cũng thuộc ý nghĩa của tá
được ; một thuyết giải thích laà.đùng tá dược để dẫn thuốc
vào kinh, cụ thể là din đường cho thuốc tói bệnh Cũng
có lúc không phải dùng tá được để dẫn đường, mà để
điều hòa mọi công dụng của các vị thuốc Trong phương
tế quân thần, tá sứ chính là hướng dẫn dùng các vị thuỐc
nhiều hay ít Có trường hợp quân được ít mà thần, sứ
dược lại rất nhiều Trong các phương ở thương hàn, kim
quý, quân thần tá sứ đúng là đã chế phương Thí dụ bài
ma hoàng
Bài ma hoàng thang gồm có 4 vị ma hoàng, quế chỉ,
hạnh nhân, cam thảo, để diệt chúng thương hàn-ö biểu
Biểu hiện chứng phát nóng, sợ rét, nhức đầu, các khóp
xương buồn, đau, không ra mồ hôi mà ho suyến, mạch
phù khẩn Công dung phát tán hàn tà, định phế bình
suyễn, khiến cho tà ở biểu theo mồ hôi mà thoát ra:
18
Trang 17Trong ¡đó : quân dược : ma: hoàng, cay, ôn.để phát han; giải biểu, nghỉ phế,-bình:suyến - Em thái Thần dược : quế chỉ : cay, ngọt, ôn : ôn kinh, giải
có, trọ ma hoàng phát hàn, giải biểu ` : mo
Tá được : hạnh nhân, khổ, ôn, trợ ma hoàng, nghỉ
Sứ dược : cam thảo (trích) ngọt, ôn, điều hòa các
vị thuốc (trong phương thuốc ma hoàng hạnh nhân đều
là thuốc vào phế kinh cho nên là sứ được:lại không cần
Thông qua bài ma hoàng, lập phương tế chính là trực tiếp xem xét sự phối hợp đội ngũ các vị thuốc để phát huy hiệp động tác dụng đạt hiệu quả trị bệnh cao, sau khi đã thông qua sự phối hợp một cách nghiêm mật làm cho phương tế đạt mức hoàn chỉnh
B CẤU TẠO, BIẾN HOÁ
Lập phương tế chính là một nguyên tắc tổ chức tạo thành Nhưng không phải một khi đã thành rồi không có
sự thay đổi Dến khi lâm chứng, tùy theo thời gian, bệnh tình mà biến hoá, căn-cứ thể chất người khỏe hay yếu, gia hay trẻ, người lón hay trẻ con còn phải chiếu cố cả đến thói quen của địa phương không đồng đều mà linh hoạt gia giảm vận dụng, không câu nệ về phương Tù Linh Thai "Chấp phương trị bệnh luận" có nói : Muốn dùng cổ phương, trước hết phải thẩm tra bệnh tình, lo liệu đên các chứng, rồi củng cố phương trước hết bày ra xem xét đối chiếu với chứng bệnh xem có hợp hay không, lại xem xét các vị thuốc trong phương, không thể không
19
Trang 18dùng hiện thực chúng bệnh mà vận dụng cho hợp, rồi
sau đó mới dùng căn cú vào đó phải có gia giảm, nếu
không biết gia giảm, chỉ chọn một phương ; phải biết vận
dụng thuốc tùy thói, thêm bót từng vị
1 Gia giảm một vị thuốc tức là biến hoá
Đối với phương tế cần nghiên cứu gia, giảm vị thuốc
trong phạm vi thích hợp
Lệ quy định như : Bài quế chỉ thang là đo các vị
quế chỉ, thược được, cam thảo, sinh khương, đại tảo, có
tác dụng giải có, phát hàn điều hòa danh vệ, chữa các
bệnh ngoại cảm phong tà ö biểu chúng, người bệnh thấy
nhức đầu, phát nóng, tự ra mồ hôi, sọ gió, mạch phù
hoãn hoặc phù nhược, lưỡi đẳng, có réu trắng mà hoạt
Bệnh mới phát, là dưỡng bệnh sinh suyễn, thổ Dến khi
gia hậu phác để hạ khí, bót đầy, hạnh nhân để giáng
nghịch, định suyễn (tức là bài quế chỉ gia hậu phác, hạnh
nhân thang) Lại như thang quế chí, nhân người hạ nhầm
sinh đầy bụng Lúc nay thang quế chỉ tuy tồn tại, mã tuy
phương có vị thuốc dược tỉnh chua thu Hẻm không lợi
cho chứng bụng đầy, nên hỏ vị thước dược đi để thanh
giải có, tán tà (tức là quế chỉ khử thước được thang)
Nên chú ý, trong bài các vị thuốc gia giảm là theo
chủ chứng, tình huống chưa thay đổi, thì cú dùng Giả sử
chủ chứng đã thay đổi, thì các vị thuốc cũng phải gia
giảm, biến hoá Đó chính là vấn đề thuộc phương pháp
chữa bệnh, hoặc để' nguyên phương, hoặc cải biến
2 Cách phối ngũ và gia giảm
Phương tế chủ yếu là tùy thời mà phối hợp đội ngũ
các vị thuốc để sử dụng cho-tốt Thí.dụ hệnh thương hàn,
20
Trang 19tà ò biểu thực chứng, nên dùng biện pháp phát bản Ma
chỉ để giải biểu Vậy dùng quế, chỉ: phối hợp Hai vị, đều
tân ôn, mà tân ôn là để phát hân ; nhưng chỉ được dùng
chữa bệnh thương hàn tà ö biểu, thực chúng Giả sử biểu chưa được giải mà nhiệt vào lý bệnh phát nóng, thời ma
hoàng không thể phối hợp với quế chỉ được nữa, mà phải phối hợp với thạch cao để chữa nhiệt, đương :nhiên trô thành một tế thuốc thanh nhiệt, thích ứng với bệnh nóng
nhiều, không có mồ hỏi, hoặc có mồ hôi mà lại phát suyễn Như sợ rét, phát nóng nhiều, mạch trầm, tức là bệnh thương hàn ở kinh thiếu âm, thồi ma hoàng lại phối hợp với phụ tử mới cö tác dụng Nhân sợ rét, phát nóng
ấy là biểu chứng, mạch trầm, bệnh thương hàn Ò kinh thiếu âm, khí bất túc, đã dùng ma hoàng giải biểu, tất nhiên phải ra phụ tử để ôn lý
Bệnh ở lý mà thuộc thực chứng thï phải dùng hạ
pháp, đại hoàng lại là chủ được Giả sử như nhiệt thịnh
mà kết chưa thực, tâm phiền phúc tưởng, thời đại hoàng
nên phối hợp với mang tiêu là lạnh để tiết nhiệt Nhu
thang điều vị thừa khi Nếu, kết thực mà nhiệt chưa thịnh lắm, bụng đầy, đại tiểu tiện khó, cần phối hợp với hậu phác, chỉ thực, lấy trắng để tả kết, như bài tiểu thừa khi thang Nếu kết và nhiệt đồng thồi rất thịnh, biểu chúng
hai mặt đã: rõ ràng, hoặc truyền đi phức tạp phải hạ lợi,
thanh thuỷ, nên phác thực tiêu hoàng phải kiêm đùng để
cấp hạ mnà giữ lấy âm lịch không tổn: thương, như ›bài đại
Trang 20thiết lên quan với nhau Càng thấy rằng chủ dược cũng
phải phối hợp đội ngũ, để biến hóa thời mói có tác dụng,
chính là nhò tính mâu thuẫn không đồng thời của vị
thuốc
3 Thay đổi lều lượng
Trong phương tế có vị thuốc cùng một giống, nhưng
phải gia giảm, thêm bót căn cú vào đối tướng bệnh không
giống nhau Như bài tiểu thừa khi, hậu phác tam vật
thang, hậu phác dại hoàng thang Ba bài thuốc đó đều
do đại hoàng chỉ thực hậu phác cấu tạo nên Thang tiểu
thừa khí dùng đại hoàng 4 lạng làm quân dược, chỉ thực
ba quả làm thần dược, hậu phác hai lạng làm tá sứ được
cốt chữa chúng thục ở kinh dương minh, đại tiện bí kết,
chiều nhiệt, nói me Bài hậu phác tam vị thang dùng hậu
phác 8 lạng làm quân dược, chỉ thực 5 qua làm thần được,
đại hoàng 4 lạng làm tá sứ được, chủ yếu chữa bụng đầy,
đại tiện bí kết Hậu phác dài hoàng thang lấy hậu phác
một thước, đại hoàng 6 lạng làm quân dược, chỉ thực 4
quả làm thần sứ dược, chủ yếu để chữa bệnh bụng đầy,
đõ khát Trong bài tiểu thừa khí, khi mà bệnh ở kinh
dương minh, phủ thực, căn cú vào mục được để hạ nên
phải dùng đại hoàng làm quân được
Bài hậu phác đại hoàng thang chính để chữa bệnh
bụng đầy, bệnh ỏ bụng trừ chúng đầy, mà dùng hậu phác
làm quân dược Bài hậu phác đại hoàng, bệnh ¢ hung có
khát, theo mục dược các vị thuốc khai hung đõ khát, nên
dùng đại hoàng, hậu phác làm quân được, tuy trong
phương tế cấu tạo, nhưng căn cứ vào nguyên lý "quân
thần, tá sứ" mà biến hoá
22
Trang 214 Hinh thái tế thuốc biến hoá Hình thài tế thuốc cũng phải căn cứ vào bệnh mà quyết định Không nên dùng'cấp cứu để chữa, phần nhiều phải đùng hòa hoãn để chữa Như thương hàn luận, trung tướng để đương thang (thủy diệt, mang trùng đào nhân, đại hoàng), đổi làm để đương hoàn, trương két Cổ lưỡng
"kim quỹ yếu lược" Bài "chỉ truật thang" (chỉ thực, bạch truật) đổi làm chỉ thuật hoàn rõ ràng là hình thức phương
tế cũng thay đổi theo quy định
Tóm lại, phương tế biến hóa nhiều hình thức rất linh hoạt Mọi việc trong lâm sàng đều phải cân cú vào bệnh chúng thay đổi mã biến hóa phương tế cho thích hợp
Trang 22Chương HI
PHÂN LOẠI PHƯƠNG TẾ
Cĩ phân loại bệnh, phân loại phương tương ứng ;
nhân cĩ phân loại bệnh, nên cĩ phân loại các khoa chữa
bệnh ; cĩ phân loại tạng phủ nên phải phân loại các
phương pháp điều trị Sự phân loại này hoặc phiền phúc,
hoặc đơn giản đều cĩ ý nghĩa Và lại phiền phức thời lại
để thấy ; giản đĩn thồi khĩ vì rải rác vương vãi mất Nên
làm thể nào phân loại được thích họp ; lại cũng nên chiếu
cố đến mọi mặt, lại nên so sánh tính chất yếu: mạnh mà
hệ thống lại ; đĩ là vấn đề rất cần thiết để nghiên cứu
Phân loại phương tế, trong nội kinh sách Tố Vấn
Đến chân yếu đại luận nĩi : trị bệnh cĩ cấp và cĩ hỗn,
phương thuốc phải cĩ to, cĩ nhỏ Dùng thuốc bổ hay trị
bệnh hư thì dùng thuốc hỗn Bổ hoặc trị các ching 6
dưới thì dùng thuốc cấp Lại nĩi : "quân nhất, thân nhị,
là kỳ chế vậy ; quân nhị, thần tú là ngẫu chế vậy Lạ mà
chẳng bỏ được, cũng như ngẫu nhiên vậy, cho nên mới
gọi là trong phương Nĩi như thế tức là cách lập phương
cần cứ vào bệnh nặng, nhẹ, hộn hay cấp, mà phối ngũ
các vị thuốc, châm chước các liều lượng
Nĩi về "to", "nhỏ" cĩ hai cách diễn đạt : một là dùng
nhiều vị thuốc gọi là thang thuốc to ; dùng ít vị thuốc
gọi là thang thuốc nhỏ ; một cách khác là lượng thuốc
nhiều, vị thuốc ít cũng gọi là đại phương, vị thuốc nhiều
lượng thuốc ít cũng gọi là tiểu phương Như bệnh tăng
cường thịnh, so sánh lực thuốc khơng đủ, nên dùng đại
24
Trang 23phương, Hoặc trị hạ tiêu tật hoạn ở can thận, phân dùng đại phương mã điều trị Hoặc ngược lại _bệnh tá nhẹ dùng
tế nhẹ điều trị gọi là tiểu phương ; hoặc trị bệnh ö thượng tiêu, lượng thuốc tùy trọng mà chia làm nhiều tần điều trị, như thế cũng gợi là tiểu phương:
Bệnh hoạn hư nhược lâu ngày, không nên cầu mong cấp cứu chóng khỏi, mà phải đùng phương tế hòa hoãn, chữa dài ngày, bệnh khỏi dần “din, phương này gọi là
“hoan phuong" Nhu với bệnh nguy cấp, yêu cầu phải chữa cấp tốc, phải dùng phương thuốc có hiệu quả ngay, phương này gọi là cấp phương
Phương thuốc có một vị thuốc gọi là kỳ phương, hoặc các vị thuốc hợp lại thành dương số (tức là số đơn) cũng gọi là kỳ phương Ngược lại hai vị thuốc hợp thành
số âm (số chãn) gọi là ngẫu phương
Họp số phương mà cấu tạo thành một phương tế gọi là phức phương Tóm lại, thất phương là do phân loại chủ yếu để thích ứng với bệnh nặng, nhẹ, vị trí của bệnh
ở thướng tiêu hay hạ tiêu, bệnh thế khẩn cấp hay hòa hoãn, số vị thuốc kỳ hay ngẫu chính là chế hương có căn
cu
"Thập phương" phân loại Nguyên lai của quan hệ
"thập tế" là chỉ công dụng các vị thuốc mà nói hap chung’ ấy là, bay gid ra tay giấu đi mà nói rằng : "thuốc
có "thích hợp (II) thông, bổ, tiết, nhẹ, nặng, sát, hoạt, táo, thấp” Thế gọi là 10 chủng loại Đến "thánh tế kinh" thêm
CÓ "tế tử” mà thành gọi là "thập tế" tức 14 “minh lý luận"
có nói : "các thể chế phương là : nghỉ (thích hợp) thông,
bổ, tiết, khinh, trọng, sát, hoạt, táo, thấp, thập tế phân loại như dưới đây :
25
Trang 24+ Nghi tế : Nghỉ là có khả năng quyết định khai
thông ủng bế như bài "qua để tán" đình chỉ ngay được
bệnh thổ
+ Thông tế : Thông nghĩa là thông được ứ trệ - như
bài ngũ linh tán (trừ được thấp)
+ Bé té : bổ là có khả năng phù trọ được yếu kém
như bài tú quân tử thang (thuốc bổ ích)
+ Tiết tế : Tiết là có khả năng khai thông được bế
tắc như bài đại thừa khí thang
+ Khinh tế : Khinh là có khả năng trừ được thực
như bài ma hoàng thang (hiện là thuốc giải biểu)
+ Trọng rễ : Trọng là có khả năng trấn an được sự
khiếp sợ như bài an thần hoàn (hiện ià thuốc chấn an
+ Hoạt tế : Hoạt là có khả.năng bỏ được cái khó
khăn như thang ngũ nhân hoàn (hiện là tả hạ tế)
+ Sdt té : Sat la cO khả năng thoát, như bài đào
nhân thang (hiện là cố sát tế
+ Tío rễ: Táo là có khả năng trừ thấp, như bình
vị tán hiện là khủ thấp tế
+ Thấp tế : Thấp là có khả năng nhuận táo, như
bài quỳnh ngọc cao (hiện là nhuân tái tế)
Tuy đã phân chia 10 loại nhương tế như trên, nhưng
trong lâm sàng chưa đủ Về sau các nhà làm thuốc còn
thêm như tống, khâu tốc quy gia hàn, nhiệt nhị tế, làm
thành 12 tế ; Minh, Mục Trọng Thuân lại tăng lên gia
thăng, giáng 2 tế, thành 14 loại tế Từ Tư Hạc từ cơ sở
10 tế gia thêm : hoà, giải, lợi, hàn, ôn, thử, hoà, bình,
doat, an, hodn, dam, thanh, cộng thành 24 loại tế
26
Trang 25_ Đến ngày Trương Cảnh Nhạc nhận làm : "Dai do phượng nghĩ ‘tang quản" cha loại lim :tữn: trần.: Trước
khi có: bát trấn; còn thêm "bát hước" để mã: thuyết minh
Bát trận là : bổ; hoà, công, tán, hàn, nhiệt, cố, nhân
Nhung bat trận cũng chưa đủ khái “quát hết các phương
tế Mật sau lại phục thêm phụ, nhân, tiểu nhí, đậu chẩn, ngoại khoa gồm 4 môn phương tế
Thanh Uông Ngang trước y phương tập giải lại tổng hợp những thành tựu của người xưa, rồi lập phân loại phương pháp chia ra : bổ dưỡng, phát biểu, không thổ, công lý, biểu lý, hòa giải, lý khi, lý huyết, khử phong, khử
han, khủ thử, khử thấp, khủ táo, tả hoà, trừ đàm, tiêu
đạo, thu sát, tạp trùng, minh mục, thông dương, kinh sản
thành 21 loại tế gồm phụ cúu cấp lương phương Cách phân loại này thuận tiện cho kết hợp biện chúng 6 lâm sàng Về sau Ngô Nghị Lạc đặt là "Thành phương thiết dụng", Trương Bình Thành, gọi "Thành phương tiêu độc" các cách phân loại tế như trên đều lấy y phương tập giải làm gốc ,
Trước tác của Trình Trung Linh "Y học tâm ngộ"
lấy bệnh nhân, bệnh tình, trị bệnh để chia phương thuốc,
nhận định gốc của việc bàn luận đến bệnh chứng Lấy nội thương, ngoại cảm bốn chữ để khái quát, bàn đến
bệnh tình thì lấy hàn, nhiệt, hư, thực, biểu, lý, âm, đương
tám chữ mà hệ thống lại ; bàn phương thuốc thì lấy hoãn, hoà, hạ, tiêu, thổ, thanh, ôn, bổ tám phép là hết Nhân
đó mà Trình Thự phân loại thành tám phương vậy
Bản giải nghĩa về phân loại phương tế này chủ yếu lấy thống kê phương pháp ö phương diện phân loại, y phương tập giải chia làm : giải biểu, thống thổ, tả hạ, hòa giải, biểu lý, song giải thanh nhiệt tả hoà, khủ thử,
27
Trang 26khai khiếu thông quan, ôn lý hồi đương, tiêu đạo hóa tích,
bổ ích, trọng chấn an thần, cố sát, lý khí, lý huyết, trị
phong, khử thấp, nhuận táo, khử đàn, khử trùng, thông
dương, tất cả 21 chương, Mối chương có liệt kê phương
tế trước sau, đối chiếu công dụng, chủ trị lệ thuộc vào
các phương pháp dudi sỹ
28
Trang 27:Chương IW -
HÌNH THỨC TẾ VÀ CÁCH DUNG
Các hình thức phối hợp đội ngũ thành phương tế, lại phải nghiên cứu hình thúc phương tế và cách dùng múc thích hợp đối với bệnh tình, đó là yêu cầu cần thiết Qua nhiều năm ở lâm sàng các nhà làm thuốc nghiên cứu thời gian dài qua thực tiến mà sáng chế ra nhiều chủng
loại hình phương tế như : thang, tán, hoàn, cao, đan,
rượu, lộ, đỉnh, bánh, điều, tuyến, lại còn tẩm, tẩy, trích
ty toạ dược, đạo dược, luân tế Những hình thái của tế thuốc đều có đặc điểm riêng để chữa bệnh, vả lại ö lâm sàng rất được thực dụng, chế biến tế và cách dùng Một cách chia ra nội phục và ngoại dụng "Thánh Tế Kinh"
có nói : trị nội (chữa bên trong) đạt đến bên ngoài, thang rượu, hoàn, tán, đan, các loại cùng đều là dùng để uống ; chữa bên ngoài (trị ngoại) cũng là để thông bên
trong, cao, uất, chương, dục, phấn các loại, giúp cho đạt
được khí Các cách này đều lấy nội phục làm chủ yếu Thang tế - Các vị thuốc đã phối hợp thành tế cho
nước vao dun chín thành nước uống để điều trị, thì gọi
là "thang tế” Như ma hoàng thang, thừa khí thang, tứ nghịch thang, lâm úc Đẳng "thiên kim phương" có nói : bệnh sắp chết tà khí làm giặc - Bệnh quá nặng nguy
hiểm, nên dùng tế thang (thuốc để sắc uống) để tẩy rua cho sạch
"Thánh Tế Kinh" nói : "Thang thuốc sắc lấy nước
uống chủ trị tận gốc, phàm tẩy rửa, trừ hết tà khí, chữa
thương hàn là nên đùng và trước hết là nên dùng loại tế
này (thang tế) Lý Trần Viên nói : "Thang có nghĩa là
29
Trang 28rộng rãi, là tẩy rửa cho sạch Muốn chữa bệnh nặng phải dùng nó Thang tế có đặc điểm là làm cho người bệnh hấp thụ nhanh chóng, có tác dụng cấp tốc, thầy thuốc gia giảm dễ dàng Cho nên đối với những bệnh nặng là phải
aw
dùng hình thái "thang tế”
Dùng thuốc thang, cổ phương thường có chú thích
là phải nhai kỹ, chính cũng là sử dụng ý ấy, mà đến đời Tống, Kim, phần nhiều đùng chầy đập nát các vị thuốc Cho đến thời này người ta dùng thái thành miếng mỏng
sắc uống, mục đích sắc uống rất thuận tiện và phát huy được tác dụng nhanh chóng của vị thuốc
Tan té - Co hai chủng loại : nội uống và ngoại bôi
Tân tế dùng nội, chính là đem nghiền nhỏ các vị thuốc
để dùng điều trị Như để thô sơ thường dùng nước nấu chín uống Phương pháp tán nhỏ có thể dùng pha như
pha nước, hoặc uống với nước, hoặc uống với rượu, căn
cú yêu cầu của bệnh mà quy định cách sử dụng "Thành
Tế Kinh" nói : "Tán tức là lấy ý ngâm trong nước để mà tán giải, sâu thấm vào bên trong",
“Trần Quát”" nói : "Muốn lưu thuốc tại hoành cách
mo, da day khong gi bang thuốc tán Tán tế phát huy tác dụng trực tiếp và rất tiện cho sử dụng, như bài "ngũ linh tán, hạnh quân tán, v.v Dùng điều trị bên ngoài cũng
dùng tán tế tức là thuốc đã tán nhỏ, đem rắc, bôi vào
chỗ đau như bài ngoại khoa sinh có tán, kim hoàn tán,
VV
Hoàn té - thuốc sau khi nghiền nhỏ, rôi dùng nước hoặc đường, mật làm hồ, hoặc hồ làm bằng Bao, ngào chế rồi viên lại thành "hoàn", dùng để điều trị hòa hoản lâu dài Lý Trần Viên nói : "hoàn có nghĩa là hòa hoãn
vậy, không đi vội vàng, dùng thuốc chữa thư thái thì dùng 30
Trang 29
thuéc hoan là ý nghĩa như, thế, Nhựng đối với
tính không,, nên dùng thuốc hoàn, vì nó hòa h thì ,hiệu nghiệm chậm Dối với rhững thứ thuốc, có c rất độc cũng -không, làm ,thuốc tán, nên dùng hoàn tế để sử dụng Đan Ba Nguyễn Kiêu nói : “thuốc đã, hoàn thì thể đã kết lại, thế không đạt được nhanh, chỉ có thể, ạ hóa dần đần, vì lực thuốc đã hòa hoán, Nếu ding bổ hiệu quả vừa, tả thi vướng mắc như hạ chữa bệnh bang bung Déc thì không dùng tán tế mà dùng hoàn tế, thấy kết quả khác hẳn
Vận dụng hoàn tế trong những tình huống sau đây :
bệnh cấp
1) Bệnh hoạn lâu ngày hư, nhược, nên dùng phục dược lâu ngày, chữa hoàn hoãn thì ding h hoan té nhu bai
“luc vi dja hoan hoan, than khi hoan v.v
2) U huyét, bénh báng, hoặc bệnh tích nước, không thể dùng thang tế để chữa mạch được, phải thay đổi dùng hoàn tế để đối phó, như bài "đại hoàng ma trùng hoàn,
chu sa hoàn"
3) Thuốc có chất độc cũng không dùng sắc thay được mà dùng hoàn tế để chữa, như bài "bị cấp hoàn" 4) Đối với một số vị thuốc như băng phiến, sạ hương, không thể cho vào nước sắc được, phải dùng hoàn
tế như "chí bào đan, tô hợp hoàng hoàn, v.v Dến việc viên thuốc to, nhỏ, hay thực vật làm tiêu chuẩn như bằng hột gạo nếp to, hột đậu xanh, hột ngô to, bằng quả long nhãn, bằng viên đạn to v.v ; có thư hoàn ướt, có thư hoàn khô, nhưng mỗi viên dù ướt hay khô cũng có trọng
lượng ước 5 phan, hay 1 tiền Lại cũng định lượng thuốc
căn cứ vào dược vật làm chuẩn mà quy định liều thuốc
31
Trang 30Cao tế - Cũng có hai thú, phục bên trong hay bên
ngoài Dùng phục hên trong nghĩa là mỗi lần uống từng
miếng hoặc hai ba miếng hòa với nước sôi, rồi bỏ bã,
hoặc hở lửa đốt nhẹ cho giảm bớt nồng độ, hoặc gia
thêm đường, mật ong vào cao, uống lâu dài Dùng để tu
bổ nhiều mặt cúng dùng cao tế, cũng gọi thuốc cao-bổ
như quỳnh ngọc cao Dùng chữa ở bên ngoài, dùng thuốc
cao thời xưa gọi là : "bạc thiếp" thuốc cao mỏng để dán
Dùng đầu nấu với thuốc, rồi bỏ bã cho thêm hoàng đơn,
hoặc sáp ong vào thành cao rồi phết mỏng ra mật giấy
hay vải mỏng dùng để đám vào các mụn nhọt, hoặc chỗ
bị phong hàn tí thống
Đan tế - Có hai thú, dùng chữa bên trong và ban
ngoài Hình thúc không cố định Có thứ nghiền nhỏ là
thành phẩm, có thứ thân hồ, hoặc nước thuốc chế vào
thành các loại hình, có thể để uống bên trong Có lúc
dan tế cũng giống như hoàn tế, tùy theo tính chất của
dược phẩm, hoặc do được phẩm quý trong mà chế thành
dan tế mà không gọi là hoàn mà gọi là đan như "Hắc
tỉnh đan" - "chí bảo đan"v.v Dến như việc phục lược ở
bên ngoài như "hồng thang đan" - "bạch giang đan” chỉ
có ngoại khoa sử dụng
Tửu tế - Ngày xưa thường gọi là "tửu lế" (rượu ngọt)
đời sau gọi là rượu thuốc Chính là dùng các" vị thuốc
ngâm vào rượu một thời gian nhất định, hoặc cho vao
dun cách thủy rồi bỏ bã uống nước rượu, thường dùng
chữa các bệnh phong thấp, tê thấp Nhưng người âm hư,
hỏa vượng không nên dùng Tửu tế đã thấy có từ lâu
theo văn hiến, như nội kinh đã có "kê thử tửu", Kim quý
yếu lược có "hồng lam höa tửu", vxv
Dược lộ - Dùng một ít thuốc chưng khô như hạt
32
Trang 31xương, khí vị rất thanh đạm, thơm, không có mau sắc,
tiện dùng ngậm trong: mồm ; cũng lã'một loại Thuốc dùng
we mùa hè thường hay ‘ding như “kim niga ‘hea lộ
~ "tường vi hoa 16" vv ”
Đĩnh tễ - Bính tễ - Dùng thuốc nghiền nhỏ như
phần, rồi phả hồ quấy đều chế thành đính tế, để rồi khi
dùng chữa bệnh có thể nghiền nhỏ, hoặc có thể mài vỏi
nước mà dùng Có thể mài với nước để bôi vào chỗ đau
Hoặc còn chế thành bánh, thường gọi là bánh thuốc
Điều tế - Thuốc tán nhỏ, hòa với hồ đính để bôi
vào chỗ đau ; hoặc tán nhỏ pha vỏi nước thành điều tế
hoặc để bôi vào miệng sang nhọt, hoặc dan dé cho võ
Tuyến tễ - Dùng giây tơ tầm, hoặc tơ bông tẩm vào
thuốc đã chế thành nước, rồi buộc chỗ thịt thừa (chúc
nhục = thịt thừa) để ít lâu rồi tự rụng di
Xam tay tế - Dùng thuốc sắc, tẩy rửa toàn thân
hoặc cục bộ "Thánh tế tổng lục" nói : phép tẩm tẩy có
thể làm cho ra mồ hôi để khu trù tà khí Như kim quỹ
yếu lược bài bạch hợp tẩy phương, khổ sầm thang
Huân tế - Dùng thuốc đốt hun vào chỗ bệnh Như
"Kim quỹ yếu lược" có bài hùng hoàn luân pháp Thời
xưa dùng thuốc sắc, đun sôi, đổ vào thùng gỗ, người bệnh
ngồi lên trên huân nóng cho ra mồ hôi xõng như thế cũng
gọi là huân tế
Thương hàn luận nói : Dương khí con 6 biểu, dùng
xông nóng tức là phép huân chứng để chữa
' Tọa dược - Dùng thuốc chế thành hoàn hay đĩnh,
hoặc thành tuyến, áp vào âm đạo để chữa bệnh bạch đói
hoặc chứng âm dạng "Kim quỹ yếu lược" có bài phúng
33
Trang 32thạch hoàn, sà ma tử tán v.v
_ Đạo phấp - Dùng thuốc chế thành dạng đỉnh, nhét vào lỗ đít, để cho tan ra thành nước, làm cho đường ruột hoạt khiến phân táo bón thoát ra được "Thương hàn luận" có bài "mật tiền đạo pháp", bài "chu dom chấp -
thể qua căn chấp, đều có khả năng dẫn thuốc
Tóm lại hình thái của phương tế thường ding trong
lâm sàng : thang sắc, hoàn, tán, cao, rượu thuốc Hình
thái không đồng đều, chủ yếu là căn cứ vào bệnh tỉnh
mà quyết định Có khi nói phàm bệnh cấp, muốn chóng khỏi phải dùng thuốc sắc (thang tế) ; bệnh mạn tính điều phục một cách hòa hoãn thường hay dùng hoàn tế hoặc cao té, tán tẾ có công hiệu hơn So sánh thuốc sắc (thang tể) với thuốc hoàn là nhanh chóng hay hòa hoãn Bệnh phong thấp thường dùng rượu thuốc
Trong lâm sàng hay dùng thang tế là hình thức chủ yếu Lý Tần Hồ nói dùng thuốc sắc, phẩm vật thanh tỉnh, giúp cho cách chữa bệnh, nếu như trong đem nấu lỗ mang cẩu thả, nước lửa không nghiêm chỉnh thì thuốc cũng ít công hiệu Từ Linh Thai nói : "Cách sắc thuốc phải giảng _ dạy cẩn thận, thuốc hay thành không hay cũng do khâu đem nấu, cho nên phép sắc thuốc khái quát những quy tac dudi day :
Cách sắc thuốc - Căn cứ vào tính chất dược phẩm
không giống nhau nên cách sắc thuốc cũng không giống nhau, dùng thuốc phát tán để cho ra mồ hôi thì không đun lâu Vị thuốc để tú bổ thì nên đun kỹ Các vị thuốc khoáng vật nên nấu trước Những vị thuốc thuộc khí vị,
có hương thơm không dun lâu Những loại thuốc như"keo
a giao, mang tiêu, thì đợi khi các vị thuốc khác đã sắc được: rồi, bỏ bá dí, mới cho vào nước thuốc hòa tan
34
Trang 33
nên me a nhỏ, tê mae
dem né4u thì mất hết khí vị, cho rên khi sắc được ‘thud rồi, lúc nào uống mới mài vào nước thuốc Một số-ít vị: thuốc có nhiều nước như sinh địa, mía ngọt, có thể mang
ép lấy nước uống Những thứ như đất nung, bùn khô -v.v thì đem rửa lấy nước, rồi đun kỹ lấy nước, lọc nước đó rồi lại cho vào -đun lần thứ hai để dùng Có vị thuốc trước khi nấu phải tầm nước gạo, hoặc tẩm rướu rồi mới cho vào nấu, làm như thế là thay đổi tính chất của thuốc rồi mới dùng Như vị ma hoàng, khi nấu phải hót bỏ bọt
để khỏi gây ra tâm phiền Cũng có vị thuốc phải sắc trước
để lấy hiệu lực nhanh chóng Cúng có vị sắc xong bỏ ba
để hòa giải Có vị tẩm rượu để khiến cho tỉnh chất trổ
thành ôn Döi xưa sắc thuốc còn phải chọn nước ; cần
chú ý có rất nhiều thứ nước, tên khác nhau Như.trường lưu thủy (nước suối chảy luôn, không đọng), nước mói múc ỏ giếng lên, nước luộc cây gai làm thang, nước suối
ngọt, nước đậu, âm dương thủy (nửa nước sôi, nủa nước
kạnh), nước mưa hòa với tuyết Dến dụng cụ dùng sắc thuốc cũng phải chọn Người xưa thưởng nói : dùng bạc
là nhất hạng, dùng đồ sành là thú yếu ; không chủ trương dùng những dụng cụ bằng đồng, sắt, thiếc, nồi đồng Như nồi đã dùng qua sắc thuốc thì phải đánh rửa thật kỹ Đồ thưởng đùng là đồ sành Phải chú ý đề phòng các chất hóa học tan vào thuốc Ahi sắc - Nay dùng xoong nhôm
Phương pháp uống thuốc -
Uống thuốc có hai cách : một là chia làm hai hoặc
ba lần uống Bệnh tình cấp bách thi uống một lần Đồng
thời cũng cần căn cứ vào bệnh tình mà đặt yêu cầu ; có
35
Trang 34thể uống liên tục để giữ gìn hiệu quả Trong dược mục,
có thứ thuốc uống một ngày một thang chia ra nấu 2 lần
mà uống Có trường hợp ngày uống hai thang dé tang sức thuốc cho mau khỏi :
Có thứ thuốc sắc phải uống nóng, đó là thuốc dùng
cho ra: mồ hôi, trừ ngoài cảm côn ả biểu Như uống bài quế chỉ thang, sau đó phải tiếp cho ăn cháo nóng để giúp cho ra mồ hôi Như bệnh ngộ nhiệt phiền táo quá hoặc
có chứng âm thịnh; cách dương, đến nối người bệnh sinh nôn mửa, phải cho uống thuốc nguội lạnh, hoặc cho uống đần đần nhiều lần để điều trị
Ngoài ra còn phải căn cứ vào bệnh tình nên cho uống thuốc vào lúc nào cho có lợi Có thuyết nói : Nếu như bệnh ở thượng tiêu, muốn cho thuốc dừng lại 6
thượng tiêu lâu, thì nên uống sau khi ăn cơm Nếu bệnh
tại hạ tiêu, nểu muốn chơ lực thuốc phát huy mau chóng
thì cho uống trước khi ăn cơm Nếu là uống thuốc bổ thì
nên uống lúc đói
Trang 35Cheng ¥v
“uu LƯỢNG THUỐC
Từ xưa đến nay liều lượng thuốc dùng thường thay
đổi.:Do vậy các cổ phương chia liều lượng thuốc để dùng
và ngay cả tên gọi liều lượng cũng không thống nhất,
Đồi xưa (thồi Hán) lấy 10 hạt thóc nếp làm một
luy ; 10 luỹ là một thù Gộp lại làm thành lạng, thành
cân Dương thỏi thường dùng là cân Trong phương thuốc
thưởng dùng một phần mười Tức là mười "thủ" là một
thù (tức lấy thù, lạng, cần làm đơn vị đo)
Cân đời xưa chỉ có thù, lạng, mà không chia đặt
tên Đến đời Tấn thì lấy mười thù làm một lạng, sáu thù
làm một phân, bốn phân làm một lạng ; mười sáu lạng
làm một cân (tức là lấy thù, phân, lạng, cân làm đơn vị)
Sau đồi Tấn đến đòi Lương, trần đều dùng đơn vị
trên Dói Tùy dùng cái cân cũ (tức là cân từ đời Hán,
đời Tấn) - ba cân làm một cân Đồi Đường dùng cân to
Đến dùng trong việc lón lại khôi phục cân đồi Tấn cổ
(tức là đỏi Đường cân nhỏ, thực ra là một cân to chia
làm ba lấy một phần, mà trong cân đong thuốc thường
dùng (nhưng củng với đöi Hán ding can đương thời chia
làm 10 phần bằng nhau)
Đến đòi Tống cất một lạng thành 10 tiền bèn lập
ra "Liền", phân, ly, hào Túc là mười hào làm một ly,
mười ly làm một phân, mười phân làm một tiền, mười
tiền làm một lạng Đến I0 thi tính "luy kế" tập trung 16
37
Trang 36lạng làm một cân Trong cổ phương nói đến phân, tức là
hai tiền rưỡi thành một phân ; nói một lạng, tức là bốn
phân thành một lạng Nói một cân tức là 16 lạng làm một cân Từ đời Nguyên, Minh rồi đến đời Thanh, rất ít
thay đổi Cho nên phương pháp Minh Thanh co phan
chia đây là phân: ly (không phải đồi Tấn lấy hai tiền rudi
Tùy Duong} 1 lạng 1/0075 - 1 - U.5§ - cường
{ Tống Dại | 1 ling | 1,1936 - 1 0.65 - cường
Minh Đại | 1 lạng 1936 - 1 - 0,07 - cuong
Thanh Dai} 1 lạng 1994 - I can 1,0656 thi can
doanh
tạo
Phụ chú : Biểu trên đây từ xua đến nay vẫn dùng
so sánh quan hệ số trị gần giống nhau
38
Trang 37
Cho đến cổ phương có nói rằng "những phân này
không phải là phan chia trọng lướng thành “phân”, Chính
là nói rằng các cân, lạng thuốc nhiều ít đều giống nhau,
nhưng tên liều lượng thường dùng trong hoàn tán còn
như trong thang sắc thì ít khí dùng”
Cổ phương có dao khuếẻ, có thìa, muôi, đều cùng
dùng trong hoàn tán Dao Khuê là một phân muối của
Thốn Thuỷ Mười Thủy là một Thốn Khi sao tán không
để roi vải Người xưa chế ra các muôi múc thuốc Dùng
mudi múc năm thìa để sao mà không vương vải chút nào
Lấy nước để phân lượng thuốc, so sánh phương thốn trủy
nhỏ bé Một phương thốn bing 6,7 phần mười của một
truỷ Lại côn gọi là "tự" Bỏi vì lúc đó đặt ra thông báo
tiền thị (Ó ngoài thị trường có thông nguyên báo tư tự)
Dong thuốc đã tán nhỏ khi đầy thì bỏ bót đi một tụ, tức
là đúng liều lượng thuốc dang
Vấn đề liều lượng tế đã có nhiều khảo chứng nhưng
cho đến nay chưa có kết lúận Khâu thế chúng ta khi
trong sách phân lượng cũng đủ để tham khảo, hoặc có
thể lấy đó làm căn cú để phối họp đội ngũ các vị thuốc
Trong lâm xăng phải tùy từng lúc mà vận dụng liều lượng;
thồi kết hợp với địa phương, tuổi tác bệnh nhân, bản chất
bệnh tình các thứ, những tình huống không giống nhau,
mà quyết định liều lượng
Trang 38PHAN HAI
Chương ĩ
_ TẾ GIẢI BIỂU
Dùng thuốc cay, tán, nhẹ, tức là loại thuốc chủ yếu
đã trỏ thành dành riêng cho bộ phận, đều là để cho ra
mồ hôi, giải cơ, thấu chẩn, đều có khả năng giải trừ được
biểu chứng, đều gọi là "thuốc giải biểu" "Phép hân" năm trọng tâm phép dùng thuốc
C6 biểu của thân thể người ta cũng vỉ như là phên dậu để che ; một khí xuất hiện biểu chứng, lúc đó tà khí nhe va 6 nông, dùng ngay phép giải biểu để dudi ta khi ngay Ỏ cơ biểu "sách Tố Vấn - Âm dương ứng tượng đại
luận" có nói : "Nhân lực bệnh còn nhẹ mà làm ngay" ;
bệnh còn ở ngoài da, thì mồ hôi ra, tà theo ra ngay Đó
là nguyên tắc trị bệnh khi tà còn Ö ngoài biểu Nếu không trị kịp thời, hoặc trị không đúng phương pháp tà khí không thoát ra ngoài mà ngược lại chuyển sâu vào trong
gây nên biến chuyển đáng lo ngại "sách Tố Vấn - Âm
dương ứng tướng đại luận" có nói : "khéo trị bệnh, thì trị ngay Ở ngoài bì mao, rồi đến trị Ö có phu, thứ câm mạch,
rồi đến lục phủ thứ nữa đến ngũ tạng Khi đã phải trị bệnh ở ngũ tạng là nửa sống, nửa chết rồi.,Phép cho ra
mồ hôi là phép đầu tiên trị bệnh rất có ý nghĩa Vậy mà trong lục dâm có hàn hóa nhiệt, biến hóa khác thường Thân thể con người có âm dương khác nhau, địa phương
khác nhau, thời tiết khác nhau, nẻn thuốc giải biểu cũng
40
Trang 39có lấy tân ôn để-giàf hăn' Biểu, -lấy tần đương để trị nhiệt
tà còn Ö ngoài, lại còn phải phân biệt tư âm, trợ dương,
ích khí, dưỡng huyết, lý khí, hóa ẩm, tùy mà phối hợp sử
dụng Dồng thời, tân ôn và tân lương có lúc phải phối
hợp lâu dài Như bài "Đại thanh long thang", tuy có vị
"thạch cao" không được bỏ tân ôn
Bài ma hanh cam thạch thang, tủy dùng ma hoàng,
mà không được rồi phép tân lương Tất nhiên có chia
phân thanh làm chủ yếu và thứ yếu
Giải biểu thường hay đùng thuốc nhẹ, nên khi sắc
cũng nhẹ, không đun quá lâu Nên không làm giảm mất
tỉnh dược thì tác dụng của thuốc kém hiệu nghiệm Đồng
thời khi gặp phép giải biểu thì lại ky phong hàn, cho nên
phải mặc áo ấm, đắp chăn để giúp cho việc ra mồ hôi
Trong phép cho ra mồ hôi là làm cho mồ hôi rá khắp
người mà dâm dấp ướt là tốt Nếu như mồ hôi không ra
khắp thân thể, hoặc ra quá nhiều, hoặc đầm địa đều là
không lợi Nếu mồ hôi không ra khắp người là tà khí
chưa giải được Nếu mồ hôi lại ra quá nhiều là chính khí
bị tổn thương, nếu nghiêm trọng có thể dẫn tới vong
dương Phép dùng thuốc giải biểu, là giải ngoại cảm 6
biểu chứng Nếu như tà ð biểu không ra hết, lại còn lý
chúng, thì phải lo ngay đến việc đồng thời trị biểu lý song
song Bệnh tà còn vào lý thì Không nên dùng giải biểu
nữa Nếu thấy là bệnh sổi (ma chẩn) đã xuất hiện, hư
chứng thủy thũng (bệnh phù thũng) hoặc bệnh sang dương
(mụn nhọt) đã loét lỏ (hội đương) cho đến bệnh tý chúng
(chứng tý là các chứng bệnh do ba thú tà khí phong hàn
thấp, thừa lúc có thể hư xâm nhập vào sinh ra bệnh đau,
sung hoặc nặng, mỏi ở các khóp, Ö cơ nhục) mà không
ra mồ hôi, không có biểu chứng đều không nên dùng
thuốc giải biểu
41
Trang 40A TAN ON GIAI BIEU
Ding: tan 6n giải biểu, là thích nghỉ dùng cho các chứng ngoại cảm phong hàn ở biểu chứng, do tà khí dang tranh chấp ở kinh lạc bì mao Cho nên sọ rét, phát nóng, đầu và cổ cúng đau, chân tay mỏi, mạch phù khẩn hoặc
phù “hoán, không có mồ hôi, hoặc có mồ hôi
Thưởng dùng ma hoàng, quế chỉ khương hoạt, phong phong, bạch chỉ, sài hồ làm chủ được, bài đại biểu như "ma hoàng thang, đại thanh long thang, quế chỉ
thang, củu vị khướng hoạt thang”, tức là một phương lâm sàng vận dụng, hàn biểu mà không ra mồ hôi dùng bài
"ma hoàng thang": nếu không có nhiệt ở lý phận thi ding
tân lương để hổ trọ như thang "Đại thanh long thang" Nếu có mồ hôi, sở gió, dùng quế chỉ thang Chứng hàn
biểu nhẹ dùng thông thị thang Bệnh tình không giống
nhau mà còn kiêm các chúng thi phải tuỳ bệnh mà gia
giảm
1 Ma hoàng thang
(Thương hàn luận)
Thành phần : Ma hoàng (bỏ đốt) 3 lạng (1 tiền rưỡi) Quế chỉ 2 lạng (1 tiền), hạnh nhân bỏ đầu nhọn,
70 hột (bằng 2 tiền), cam thảo chích một lạng (1 tiền)
- Cách đùng : Lấy 4 vị thuốc trên đây, và 9 cân nước,
nước hết cho hai cân nước dun với ma hoàng, khi nước sôi gạt bỏ bọt, cho thuốc vào đun lấy hai cân rưỡi, bỏ
bã thuốc, uống nóng để cho mồ hôi sâm sấp ra, không nên cho ăn cháo, như dùng bài quế chỉ thang chữa khẩn cấp
42