Thuốc bổ khí là những thuốc chữa các chứng bệnh gây ra do khí hư. Khí hư thường thấy ở các tạng phế và tỳ: Phế khí hư: tiếng nói nhỏ, ngại nói, hơi thở gấp, khi lao động, làm việc nặng khó thở tăng. Tỳ khí hư: chân tay người mệt mỏi, ăn kém, ngữ bụng đầy chướng, tiêu lỏng. Bổ khí lấy bổ tỳ làm chính, tỳ khí vượng thì phế khí sẽ đầy đủ. Vì vậy các thuốc bổ đều có tác dụng kiện tỳ. II. Chỉ định điều trị 1. Toàn thân Nâng cao thể trạng, chữa chứng suy nhược cơ thể: ăn kém, ngủ kém, sút cân, mệt nhọc sau khi ốm, lao động quá sức,... Chữa phù thũng do viêm thận mạn, phù dinh dưỡng do thúc đẩy lợi tiểu. An thần: chữa mất ngủ, hồi hộp tỳ vị không nuôi dưỡng được tâm huyết. Một số trường hợp thiếu máu cơ năng lâu ngày như rong huyết, rong kinh, chảy máu do huyết tán... do tỳ vị không nhiếp huyết.
Trang 1THUỐC BỔ KHÍ
I Khái niệm
Thuốc bổ khí là những thuốc chữa các chứng bệnh gây ra do khí hư Khí hư thường thấy ở các tạng phế và tỳ:
- Phế khí hư: tiếng nói nhỏ, ngại nói, hơi thở gấp, khi lao động, làm việc
nặng khó thở tăng
- Tỳ khí hư: chân tay người mệt mỏi, ăn kém, ngữ bụng đầy chướng, tiêu
lỏng
Bổ khí lấy bổ tỳ làm chính, tỳ khí vượng thì phế khí sẽ đầy đủ Vì vậy các thuốc bổ đều có tác dụng kiện tỳ
II Chỉ định điều trị
1 Toàn thân
- Nâng cao thể trạng, chữa chứng suy nhược cơ thể: ăn kém, ngủ kém,
sút cân, mệt nhọc sau khi ốm, lao động quá sức,
- Chữa phù thũng do viêm thận mạn, phù dinh dưỡng do thúc đẩy lợi
tiểu
- An thần: chữa mất ngủ, hồi hộp tỳ vị không nuôi dưỡng được tâm
huyết
- Một số trường hợp thiếu máu cơ năng lâu ngày như rong huyết, rong
kinh, chảy máu do huyết tán do tỳ vị không nhiếp huyết
2 Bệnh về hệ tiêu hóa
- Ăn kém, chán ăn, chậm tiêu hay đầy bụng.
- Ỉa chảy kéo dài do tỳ hư.
- Viêm đại tràng mạn, viêm loét dạ dày - tá tràng, viêm gan mạn tính.
3 Bệnh về tuần hoàn
- Suy tim, thiếu máu, tâm phế mạn.
4 Bệnh về hô hấp
- Giãn phế quản, hen suyễn, viêm phế quản mạn.
- Phế khí thũng.
Trang 25 Bệnh về trương lực cơ giảm
- Sa dạ dày, sa trực tràng, táo bón, người già, phụ nữ đẻ nhiều lần, sa sinh
dục, giãn tĩnh mạch
III Các vị thuốc
1 Các vị thuốc trong nước
1.1 Đảng sâm
Tên khoa học: Codonopsis pilosula (Franch) Nannf.
Họ khoa học: Họ Hoa Chuông (Campanulaceae)
Phân bố tại Việt Nam:
Ở Việt Nam, trong thời gian 1961-1985 viện Dược liệu đã phát hiện Đảng sâm ở 14 tỉnh miền núi phía Bắc, còn ở phía Nam, chỉ có ở khu vực Tây nguyên Vùng phân bố tập trung nhất ở các tỉnh Lai châu, Sơn la, Lào cai, Hà giang, Cao bằng, Lạng sơn, Gia lai, Kon tum, Quảng nam, Đà nẵng, Lâm đồng
Một số tên gọi khác:
- Tây đảng sâm: Loài này sản xuất chính ở tỉnh Cam Túc (huyện Dân, Lâm
Đàn, Đan khúc), tỉnh Thiển Tây (Hán Trung, An Khang, Thương Lạc), tỉnh Sơn Tây (khu Phổ Bắc, Phổ Trung) tỉnh Tứ Xuyên (Nam Bình)
- Đông đảng sâm: Loài này chủ yếu sản xuất ở tỉnh Cát Lâm (khu tự trị dân
tộc Triều Tiên, Diên Biên, chuyên khu Thông Hóa), tỉnh Hắc Long Giang (Khánh an, Thượng chi, Ngũ thường Tấn huyện), tỉnh Liêu Ninh (Phong thành, Khoan điện)
- Lộ đảng sâm: Sản xuất chính ở Sơn Tây huyện khu Phổ đông, Khốn xá
quan, Lê Thành), tỉnh Hà Nam (chuyên khu Tân Hương)
- Điều đảng sâm: Nơi sản xuất chính là tỉnh Tứ Xuyên (Đạt huyện, Vạn
huyện, Thành khẩu), tỉnh Hồ Bắc (An Toàn, Lợi Xuyên), tỉnh Thiểm Tây (Tín dương)
Trang 3- Bạch đảng sâm: Nơi sản xuất chính là tỉnh Quý Châu (khu Hoa Tiết, An
Thuận), tỉnh Vân Nam (Chiêu thông, Mỹ giang, Đại lý), tỉnh Tứ Xuyên, (phía Tây Nam)
Thu hái và sơ chế:
Vào mùa đông, lúc cây đã úa vàng, rụng lá hoặc tới đầu xuân năm sau lúc cây chưa đâm chồi nảy lộc là có thể thu hoạch Tốt nhất là thu hoạch vào nửa tháng trước sau tiết Bạch lộ, lúc này phẩm chất Đảng sâm tốt nhất, sản lượng cao Đào rễ phải dài sâu trên 0,7m, vì rễ rất dài, không làm trầy xát Rửa sạch đất cát, phân loại rễ to nhỏ để riêng Nhiều nơi lấy lạt hoặc chỉ xâu
rễ thành chuỗi ở đầu củ đem treo ở nơi thoáng gió, phơi khô rồi cuộn lại thành bó
Phần dùng làm thuốc: rễ.
Bào chế:
Theo Trung quốc: Thu hái xong, phơi âm can, lăn se cho vỏ dính vào thịt, khi dùng, sao với đất hoàng thổ hay với cám cho thuốc hơi vàng xong bỏ đất hoặc cám chỉ lấy Đảng sâm (Trung Dược Đại Từ Điển)
Theo Việt Nam: Rửa sạch bụi bặm, ủ nước một đêm, hoặc đồ thấy bốc hơi là được, khi mềm, bào mỏng 1-2 ly, tẩm nước gừng để khỏi nê Tỳ và bớt hàn, thường có người sao qua để dùng (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược)
Bảo quản: Đậy kín, tránh ẩm, cần để nơi thoáng gió, khô ráo để phòng
sâu mốc vì Đảng sâm rất dễ bị mọt Có thể sấy hơi diêm sinh
Thành phần hóa học:
Trong rễ Đảng sâm có: Sucrose, Glucose, Inulin, Alcaloid, Scutellarein Glucoside (Trung Dược Học), Furctose, CP1, CP2, CP3, CP4 ,Galactose, Arabinose, Mannose, Xylose, Rhamnose, Syringin, N-Hexyl b-D-Glucopyranoside, Ethyl a-D-Fructofuranóide, Tangshenoside I, Choline
1.2 Thổ cao ly sâm
1.3 Bố chính sâm
Trang 41.4 Hoài sơn
1.5 Bạch truật
2 Các vị thuốc phải nhập
2.1 Nhân sâm
2.2 Hoàng kỳ
2.3 Cam thảo
2.4 Đại táo