Hoặc trong cùng một hoàn-cảnh, tôi có nhiều hoặc ít cảm-xúc hơn bạn, xin đừng tìm cách bảo tôi phải có Chủ-điểm cốt-yếu của cuốn sách này là người này khác người kia, và cho dù cố-gắng b
Trang 1Nguyên-tác
PLEASE UNDERSTAND ME
Character & temperament types
David Keirsey & Marilyn Bates
Trang 21.- DẪN NHẬP (thay lời tựa)
Nếu tôi không muốn những điều bạn muốn như bạn muốn, xin đừng vội tìm cách bảo cho tôi biết rằng điều tôi muốn là sai quấy
Hoặc nếu tôi tin người khác hơn tin bạn, ít nhất xin bạn cũng bình-tâm suy-nghĩ trước khi sửa đổi quan-điểm của tôi
Hoặc trong cùng một hoàn-cảnh, tôi có nhiều hoặc ít cảm-xúc hơn bạn, xin đừng tìm cách bảo tôi phải có
Chủ-điểm cốt-yếu của cuốn sách này là người này khác người kia, và cho dù cố-gắng bao nhiêu cũng không thể thay đổi họ được Mà cũng chẳng có lý-do gì để thay đổi họ nữa, bởi lẽ những khác biệt đó có
lẽ là một điều tốt chứ chưa hẳn đã là một điều xấu
Người này khác người kia trên những quan-điểm nền-tảng: khác nhau về ước muốn, động-lực, chủ-tâm, mục-đích, giá-trị, nhu-cầu, khuynh-hướng, bản-năng, năng-động Thực ra không có quan-điểm nào nền-tảng hơn các quan-điểm vừa kể đó Rồi người ta lại khác nhau về niềm tin, suy-tư, nghĩ-tưởng, quan-niệm, nhận-thức, hiểu biết, lĩnh-hội, lý-luận Dĩ nhiên những cách thế hành-động và cảm-xúc bị chi-phối bởi những ước muốn và tin-tưởng cũng trở nên khác và thay đổi tận gốc tùy người
Trang 3Có rất nhiều khác biệt và chỉ cần quan-sát một chút là có thể nhận ra không khó khăn gì cả Chính những thay đổi này trong hành-động và thái-độ làm cho mỗi người chúng ta có khuynh-hướng phản-ứng đại-khái như sau: nhìn thấy những người chung quanh chúng ta khác biệt với chúng ta, chúng ta phải kết-luận rằng những khác biệt tính tình cá-nhân này chỉ là những biểu-lộ tạm thời của dại dột, xấu xa, ngu-đần và bệnh hoạn Nói cách khác, chúng ta có khuynh-hướng tự-nhiên coi những thay đổi tính tình này là thiếu sót đáng tiếc Vì thế, chúng ta cảm thấy như có nhiệm-vụ phải sửa sai cho những người gần chúng ta Kế-hoạch của chúng ta hình như là muốn làm sao cho những người gần chúng cũng trở nên giống như chúng ta vậy
Cũng may là kế-hoạch đó chẳng bao giờ có thể thành sự thực hoàn toàn cả Nhào nặn chạm trổ người khác làm cho họ trở nên giống y như chúng ta là một kế-hoạch phải thất-bại trước cả ngay khi bắt đầu Không ai có thểâ thay đổi hình-thái của một ai, cho dù người ta có đòi hỏi nhiều cách gì đi chăng nữa Hình-thái là một cái gì dính liền ăn sâu vào mỗi người, khó mà xóa bỏ đi được Bắt mèo tự cắn đuôi cũng giống như bắt buộc một người phải thay đổi hình-thái, suy-tư, ước muốn khác đi Đó là một việc không thể làm được Nếu cần phải thay đổi, phải thay đổi suy-tư và ước muốn, chứ hình-thái không thể tự thay đổi
Dĩ nhiên cũng có khi có thay đổi, nhưng đó là bóp méo vặn vẹo hình-thái tiềm-tàng Bạn có thể đủ sức để
bẻ gẫy răng nanh một con sư-tử, và bạn có được một con sư-tử mất răng, chứ bạn không thể có được một con mèo Chúng ta có thể tìm cách thay đổi người vợ/chồng, con cái, hoặc bất cứ ai khác, nhưng hậu-quả chỉ cho thấy những vết thương trên một con người, chứ không phải là một con người mới đã được biến-hóa đổi thay
Quan-niệm rằng tất cả mọi người đều giống nhau từ nền-tảng căn-bản, hình như là một quan-niệm của thế-kỷ 20 này Có lẽ quan-niệm phát-sinh do các tư-tưởng liên-hệ tới các nền dân-chủ phát-triển ở các nước Aâu-Mỹ Vì mọi người bình-đẳng, nên mọi người phải giống nhau từ nền-tảng căn-bản
Sigmund Freud tin rằng tất cả chúng ta đều bị chi-phối bởi tính-dục (eros), và ông suy-luận rằng cho dù ai
có những lý-tưởng cao-thượng, những ý-nghĩ tốt đẹp mấy đi chăng nữa, chung quy cũng chỉ là hình-thức ngụy-trang của tính-dục Các bạn đồng-nghiệp và các đồ-đệä của ông đặt vấn-đề thắc-mắc, để rồi không đồng-ý với ông hoàn-toàn, nhưng đa-số vẫn duy-trì quan-niệm tính-dục là động-lực duy-nhất đó Alfred Adler nhận thấy chúng ta chỉ đi tìm kiếm quyền-lực H Sullivan lại nhận chủ-đề cuối đời của Adler và coi liên-đới xã-hội như là ước-vọng căn-bản của bản-năng Sau cùng các nhà hiện-sinh như Erich Fromm lại bắt chúng ta tìm kiếm bản-ngã của chính mình Mỗi vị đều cho bản-năng là cứu-cánh của con người,
và coi bản-năng là căn-bản nền-tảng
Năm 1920 Carl Jung tỏ ra bất-đồng ý-kiến và cho rằng người này khác người kia trên quan-điểm nền-tảng, cho dù họ có thể có chung những bản-năng tổng-thể (archetypes) giống nhau thúc đẩy từ bên trong Bản-năng này không quan-trọng hơn bản-năng kia Điều quan-trọng là chúng ta lựa chọn và thích hành-động ra sao thôi Điểm khác-biệt chính-yếu là tùy như chúng ta sẽ lựa chọn và thích hành-động ra sao, và chính vì thế mà chúng ta thuộc về những loại hoạt-động khác nhau Ông đã sáng-chế các từ ‘loại hoạt-động’, hoặc ‘mẫu tâm-lý’
Năm 1907 E Adickes nói rằng nhân-loại có thể được chia thành 4 loại tùy theo 4 quan-niệm về thế-giới
và nhân-sinh-quan: cuồng-tín, bất-tín, truyền-thống và sáng-tạo Năm 1920 E Kretschmer nói rằng con người hoạt-động bất-bình-thường là do tâm-tính giống như 4 loại của Adickes phân-tích tìm hiểu: mẫn-cảm (hyper-esthetic), bất-cảm (an-esthetic), đa-sầu (melancholic) và nhược-cảm (hypo-maniac) Như vậy có người sinh ra là đã quá nhạy cảm, bất-cảm, nghiêm-nghị hoặc cảm-xúc Năm 1920 Adler cũng nói đến một quan-niệm tương-tự và chỉ cho biết có 4 mục-đích sai lầm mà những người có tâm-tính
Trang 4khác nhau thường theo đuổi Đó là: danh-vọng, uy-quyền, phục-vụ và báo-oán Cũng vào năm 1920
E Spranger nói đến 4 giá-trị nhân-sinh thường làm cho người ta chia rẽ nhau: tôn-giáo, thuyết-lý, kinh-tế
và nghệ-thuật Như vậy đầu thế-kỷ 20 này đã chứng-kiến một cố-gắng ngắn ngủi để làm sống lại
quan-niệm mà Hippocrates đã trình bày từ 25 thế-kỷ trước ở Hy-lạp Ông cố-gắng tìm hiểu hành-động của con người và đã đề-cập tới 4 loại tính-tình, tương-ứng với những lối phân-loại của Adickes, Adler, Kretschmer và Spranger : vượng-huyết (sanguine), lãnh-đạm (phlegmatic), đa-sầu (melancholic), đa-cảm (choleric)
Vào năm 1930 những quan-niệm của Jung, Adickes, Kretschmer, Spranger và Hippocrates đều bị rơi vào quên lãng, và thay vào đó có các ngành tâm-lý năng-động (dynamic psychology), tâm-lý tác-hành (behovioral psychology) Thời-kỳ này người ta giải-thích rằng mọi hành-động là do một nguyên-do vô-thức, hoặc do kinh-nghiệm, hoặc có khi do cả hai Quan-niệm về tính-tình hoàn toàn bị bỏ rơi vào quên-lãng
Vào những năm 1950 tình-cờ quan-niệm tâm-lý về tính-tình được làm sống lại Isabel Myers mở lại cuốn sách của Jung về các loại tâm-lý và cùng với bà mẹ là Katharine Briggs thiết-lập nên bảng phân-loại tính-tình theo Myers-Briggs) Đây là một dụng-cụ để nhận-định 16 loại tính-tình mẫu Bảng phân-loại này được nhiều người dùng khắp nơi, nên người ta lại bắt đầu để ý đến việc nghiên-cứu về phân-loại tính-tình
và tìm hiểu thêm lý-thuyết của Jung về các loại tâm-lý.Nhờ đó người ta cũng làm sống lại thuyết-lý cổ-truyền xa xưa về 4 mẫu tính-tình, bởi vì 16 loại của Myers-Briggs thích-hợp với 4 mẫu tính-tình của Hipporates, Adickes, Krestchmer, Spranger và Adler
Bắt đầu từ giả-dụ như mọi người khác nhau về tính-tình để đi đến suy-đoán kết-luận rằng họ sinh ra là đã khác nhau rồi Do đó, nếu chúng ta coi những khác biệt về tính-tình như là thiếu sót, lầm lẫn, thì quả là bắt bí nhau quá! Hiểu lầm người khác như vậy, chúng ta sẽ mất cơ-hội dự-đoán trước những gì họ sẽ hành-động Cũng thế chúng ta không thể khen ngợi tưởng-thưởng ai, vì lời ca-ngợi đó có thể chỉ là vô-vị dửng dưng đối với người khác ‘Bá nhân bá tính’ (trăm người, trăm tính): mỗi người một vẻ muời phân
vẹn mười (truyện Kiều) Muốn thực-hiện được ý-nghĩa của câu nói trên, chúng ta phải cố-gắng thật nhiều mới có thể thực sự nhìn nhận được rằng khiếm-khuyết không phải là lỗi lầm
Phần thưởng của lối nhận-định trên là bạn có thể nhìn thấy nơi vợ chồng, con cái, bạn hữu của bạn một con người KHÁC, một con người mà bạn chưa bao giờ tìm hiểu được hoàn toàn trọn vẹn, nhưng đồng-thời lại cũng là một con người bạn có thể bắt đầu khám-phá để khâm-phục với những ngạc-nhiên thích-thú Cũng vậy bạn sẽ được người khác như con cái, cha mẹ, người trên, kẻ dưới, đồng-nghiệp, bạn-hữu, ca-ngợi thán-phục Chỉ được lợi ích chứ không mất mát gì đâu mà phải lo sợ
Trang 5Thế nhưng, trước tiên bạn cần phải tìm hiểu chính mình bạn đã Nếu bạn không nhìn nhận ra con người của chính mình bạn một cách chính-xác trung-thực, không có cách gì bạn có thể nhìn nhận ra con người của kẻ khác được Cách tốt nhất hiện-thời là bạn hãy làm bảng phân-loại tính-tình theo Myers-Briggs bằng cách tham-dự một khóa hội-học, hoặc xin một người hướng-dẫn tâm-lý giúp bạn làm bảng phân-loại này Trong khi chờ-đợi, mong bạn có thể đọc cuốn sách này một cách thích-thú Nên nhớ cho rằng không
có chuyện câu trả lời nào câu trả lời nào sai, bởi vì mỗi người mỗi khác, và cùng lắm thì cũng chỉ có 50-70% có loại tính-tình khác bạn, còn 50-30% kia là giống bạn mà
Sau khi đã biết loại tính-tình của bạn rồi, xin bạn hãy coi phần nội-dung để tìm hiểu loại tính-tình của bạn, coi xem có thích-hợp với bạn không Nếu bạn có chữ X có nghĩa là loại tính-tình hỗn-tạp, xin bạn đọc cả hai loại tương-ứng t.d XSFJ, bạn phải đọc ESFJ và ISFJ Bạn cũng có thể đọc loại tính-tình đối-lập với mình xem người ta có gì lạ không? Nếu bạn phân-biệt được nền-tảng 4 loại tính-tình căn-bản, bạn sẽ dễ nhận-định ra 16 loại tính-tình kia Bạn không cần phải nhận xét tinh-vi hay kỹ-lưỡng, mà chỉ cần học hỏi làm quen một thời-gian, bạn sẽ nhận thấy những khác biệt của mỗi loại, và nhờ đó hiểu được từng loại tính-tình
MBTI, MYERS-BRIGGS TYPE INDICATOR
Consulting Psychologists Press, Inc
577 College Avenue, Palo Alto, CA 94306
Trang 6
2.- TRẮC-NGHIỆM TÌM HIỂU TÌNH TÌNH
Để dễ tẩy xóa, nên dùng bút (viết) chì số 2 đánh dấu vào tờ trả lời
1.- Khi dự tiệc trà tiếp-tân, bạn thích
a.) giao-thiệp nói chuyện với nhiều người, kể cả những người chưa hề quen biết b.) chỉ giao-thiệp nói chuyện với một số ít người, thường là những người đã quen
2.- Bạn có óc
a.) thực-tế hơn là lý-thuyết
b.) lý-thuyết hơn là thực-tế
3.- a.) ‘thả hồn mơ mộng theo mây gió’
b.) ‘ráng chịu trận để gắng sống gượng’ đàng nào tệ hơn?
4.- Bạn thích nghe theo
a.) lý-luận chinh-phục
b.) ngỏ lời tâm-tình
5.- Bạn dễ bị lôi cuốn khi người ta
a.) lý-luận chinh-phục bạn
b.) ngỏ lời thỏ thẻ tâm-tình với bạn
6.- Bạn thích làm việc
a.) theo thời-khắc-biểu, lịch-trình rõ ràng
b.) linh-động tùy hứng, tùy thời-cơ
7.- Bạn có khuynh-hướng lựa chọn
a.) cẩn-thận tính toán kỹ-lưỡng
b.) tùy theo ngẫu-hứng, tùy lúc
8.- Khi dự tiệc trà liên-hoan, bạn thường
a.) ở lại lâu, vì càng lâu càng thích-thú
b.) ra về sớm, vì càng lâu càng chán
9.- Bạn dễ làm quen thân-thiết với
a.) những người giầu tình-cảm
b.) những người giầu tưởng tượng
10.- Bạn hay để tâm chú ý đến những điều, những việc
a.) thực-tế, hiện-tại
b.) tương-lai, khả-hữu
11.- Khi nhận-định phán-đoán về người khác, bạn căn-cứ
a.) theo luật-lệ tổng-quát hơn là hoàn-cảnh cá-nhân
b.) theo hoàn-cảnh cá-nhân hơn là luật-lệ tổng-quát
Trang 712.- Khi tiếp-xúc với người khác, bạn có khuynh-hướng a.) khách-quan không thiên-vị
15.- Trong nhóm bạn bè chơi với nhau
a.) bạn biết được diễn-tiến mọi sự
b.) bạn ít để ý đến những gì đang xẩy ra
16.- Bạn làm những công việc thường ngày
a.) một cách bình-thường như mọi người quen làm b.) theo cách-thức đặc-biệt riêng của bạn
17.- Các văn-sĩ phải
a.) viết y như họ suy-nghĩ, và hiểu như lời họ viết b.) diễn-tả cảm-tình ý-nghĩ bằng những lời hoa-mỹ
18.- Bạn muốn làm sao cho
a.) tư-tưởng thuần-nhất có đầu có đuôi
b.) mọi người hòa-đồng vui vẻ với nhau
19.- Bạn cảm thấy thoải-mái khi
a.) nhận-định theo suy-luận của lý-trí chung
b.) nhận-định theo giá-trị của vấn-đề riêng
20.- Việc gì bạn cũng muốn
a.) giải-quyết rõ ràng, quyết-định dứt-khoát
b.) để bỏ ngỏ đó không cần quyết-định
21.- Bạn cho rằng con người của bạn
a.) chín-chắn cương-quyết nhiều hơn
b.) dễ tính chịu chơi nhiều hơn
22.- Khi gọi điện-thoại (hoặc viết thư thăm hỏi ai) a.) ít khi bạn đặt vấn-đề phải nói hết mọi sự
b.) phải nhẩm đi nhẩm lại những gì sẽ nói/viết
23.- Có những sự-kiện và sự việc thực-tế là
a.) đủ để chứng-minh hùng-hồn
b.) để làm sáng-tỏ nguyên-tắc
Trang 824.- Những người ước mơ hoài-bão nhiều
a.) thực ra chỉ làm phiền người khác
b.) là những người rất đáng khâm-phục
25.- Thông-thường, bạn là một con người
a.) bình-thản, lạnh-nhạt nhiều hơn
b.) niềm-nở, chào đón nhiều hơn
26.- a.) ‘bất-công vô-lý’
b.) ‘thẳng tay tàn-bạo’ đằng nào tệ hơn?
27.- Nên để cho công việc diễn-tiến
a.) sau khi lựa chọn tính toán cẩn-thận
b.) theo ngẫu-nhiên tình-cờ
28.- Bạn cảm thấy dễ chịu nhiều hơn
a.) sau khi đã mua sắm xong
b.) khi còn tự-do lựa chọn, muốn hay không
29.- Khi gặp ai, bạn cũng
a.) bắt đầu khơi-mào câu chuyện
b.) đợi người ta chào hỏi rồi mới nói
30.- Bạn nghĩ a.) ít khi nên đặt vấn-đề
hoặc b.) nên đặt vấn-đề thường-xuyên về lương-tri, lương-tâm của quần-chúng?
31.- Thường thường trẻ em không
a.) hoạt-động tích-cực giúp ích cho đời
b.) thực-tập trí tưởng-tượng cho đủ
32.- Khi đi đến một quyết-định nào, bạn thích
a.) dùng yếu-tố tiêu-chuẩn, chỉ-tiêu
b.) dùng tình-cảm, con tim con người
33.- Con người của bạn thì
a.) cương-quyết hơn dịu dàng
b.) dịu dàng hơn cương-quyết
34.- a.) ‘có tài tổ-chức, làm việc có phương-pháp’
b.) ‘có tài thích-ứng, biết huy-động người khác’ đằng nào đáng thán-phục hơn?
35.- Bạn đặt giá-trị nhiều vào
a.) những gì chắc chắn dứt-khoát
b.) những gì linh-động tự-do
36.- Giao-thiệp với những người mới, ngoài khuôn khổ cũ
a.) bạn thêm phấn-khởi và tăng thêm nghị-lực
b.) bạn tỏ ra do-dự và dè-dặt hơn
Trang 937.- Thường thường bạn là con người
a.) có óc thực-tế nhiều hơn
b.) giầu tưởng-tượng nhiều hơn
38.- Thường thường bạn muốn biết
a.) người khác có giúp ích gì cho bạn không?
b.) người khác tỏ ra thái-độ quan-niệm gì?
39.- Bạn cảm thấy đằng nào thoải-mái dễ chịu hơn?
a.) phải thảo-luận một vấn-đề cho thấu-đáo
b.) phải đi tới một quyết-định
40.- Bạn để cho
a.) trí óc
b.) con tim chế-ngự con người của bạn?
41.- Bạn cảm thấy thoải-mái dễ làm việc
a.) theo giao-kèo khế-ước
b.) theo đồng-ý tuỳ nghi
42.- Bạn có khuynh-hướng muốn mọi sự
a.) khía cạnh sản-xuất tiêu-thụ
b.) phương-pháp điều-tra nghiên-cứu
46.- Ai là người đáng ca-tụng hơn?
a.) một người có lý-luận vững chắc
b.) một người có tình-cảm sâu-đậm
47.- Bạn nhận thấy bạn có giá-trị nhiều hơn vì bạn
a.) kiên-vững lập-trường
b.) tha-thiết dấn-thân
48.- Thường thường bạn thích có một lập-trường
a.) dứt-khoát không thay đổi
b.) tạm-thời, sơ-khởi
Trang 1049.- Bạn cảm thấy thoải-mái dễ chịu
a.) sau khi đã quyết-định một điều gì
b.) trước khi quyết-định một việc
50.- Đối với người xa lạ chưa quen
a.) bạn bắt chuyệïn dễ dàng và nói lâu
b.) bạn chẳng có gì để nói cả
51.- Thường thường bạn tin tưởng vào
a.) kinh-nghiệm của chính mình
b.) trực-giác linh-cảm của mình
52.- Bạn cảm thấy bạn có bộ óc
a.) thực-tế nhiều hơn sáng-tạo
b.) sáng-tạo nhiều hơn thực-tế
53.- Ai là người đáng ca-ngợi hơn?
a.) người có lý-luận minh-bạch
b.) người có tâm-tình đậm-đà
54.- Bạn có khuynh-hướng
a.) vô-tư nhiều hơn
b.) thông-cảm nhiềâu hơn
55.- a.) ‘Phải sắp đặt mọi sự cho đâu vào ‘
b.) ‘Cứ để mặc kệ sự việc xẩy ra tới đâu hay tới đó’ đằng nào nên làm hơn?
56.- Trong liên-hệ tình-nghĩa, đại-để chuyện gì cũng nên
a.) thương-lượng dàn xếp với nhau
b.) cứ để hoàn-cảnh chi-phối, tình-cờ xẩy đến
57.- Khi điện-thoại reo (có người gõ cửa, bấm chuông)
a.) bạn vội vàng trả lời ngay
b.) bạn chờ mong cho có ai trả lời trước
b.) chi-tiết ngoại-cảnh phụ-thuộc
60.- Đằng nào lỗi lầm nguy-hiểm hơn?
a.) thiên về tình-cảm quá nhiều
b.) chủ-trương khách-quan quá nhiều
Trang 1161.- Bạn nhận-định về chính mình là con ngườiø a.) cứng đầu cứng cổ
a.) theo tập-quán hơn là ngẫu-hứng
b.) theo ngẫu-hứng hơn là tập-quán
64.- Thường thường người khác dễ
a.) tiếp-xúc với bạn
b.) thấy bạn dè dặt đắn-đo
65.- Khi viết (nói), bạn thích viết (nói)
a.) chữ nào nghĩa đó phải hiểu theo nghĩa đen b.) những lời bóng bẩy hoa-mỹ theo nghĩa bóng
66.- Bạn nhận thấy điều nào khó hơn?
a.) ‘hòa-đồng với người khác’
b.) ‘biết dùng người’
67.- Bạn mong ước cho mình được
a.) biết cách lý-luận minh-bạch hơn
b.) biết thông-cảm thành-thực hơn
68.- Bạn nhận thấy đằng nào nguy-hiểm hơn? a.) không phân-biệt ất giáp trắng đen gì cả b.) chỉ biết phê-bình chỉ-trích
69.- Việc gì bạn cũng thích
a.) sắp đặt chuẩn-bị đàng-hoàng đâu vào đó b.) cứ để tùy thời-cơ ứng-biến, không hẹn mà hò
70.- Bạn có khuynh-hướng
a.) suy-nghĩ tính toán hơn là để tự-nhiên
b.) để tự-nhiên hơn là suy-nghĩ tính toán
Trang 1216 MẪU TÍNH-TÌNH CĂN-BẢN do các thành-tố E/I, N/S, T/F, J/P tạo nên
INFP ENFP INFJ ENFJ
ISFP ESFP ISFJ ESFJ
INTP ENTP INTJ ENTJ
ISTP ESTP ISTJ ESTJ
Khi 2 thành-tố trong một cặp (đôi) bằng nhau, xin ghi chữ X, do đó sẽ có 32 mẫu tính-tình hỗn-tạp như sau:
XNTP XNTJ XNFP XNFJ
XSTP XSTJ XSFP XSFJ
EXTP EXTJ EXFP EXFJ
IXTP IXTJ IXFP IXFJ
ENXP INXP ENXJ INXJ
ESXP ISXP ESXJ ISXJ
ENTX INTX ENFX INFX
ESTX ISTX ESFX ISFX
Tùy theo câu bạn trả lời, xin ghi dấu (v) vào cột (a) hoặc (b)
Nên dùng bút (viết) chì số 2 để có thể dễ tẩy xóa và thay đổi
Xin đọc kỹ câu hỏi và trả lời cho thật đúng ý của bạn
* C là tổng-số của A và B cộng chung lại theo như mũi tên chỉ
* Xin khoanh tròn mẫu-tự nào có trị-số lớn hơn của mỗi cặp (đôi) chữ E-I, S-N, T-F, J-P
* khi gặp cùng một trị-số, xin đọc một lần nữa cho chắc rồi ghi chữ X nếu vẫn giữ y như lần trước
* Loại tính-tình của bạn là những mẫu-tự đã khoanh tròn được ghép lại, từ phía tay trái qua phía tay phải Chúng tôi vẫn giữ y nguyên các ký-danh và từ của Anh-ngữ, vì tiện việc ghi chép và dễ nhớ hơn, trong khi chúng ta chưa có các từ chuyên-môn Việt-ngữ duy-nhất và chính-xác về khoa này
Trang 133.- BỐN CẶP KHUYNH-HƯỚNG
Sau khi đã đọc phần diễn-tả loại tính-tình của bạn và một vài loại tính tình khác, bạn có thể đặt những câu
hỏi như đâu là nền-tảng cho bảng chia loại tính-tình này cũng như bảng phân-loại của Myers-Briggs?
Jung hiểu thế nào khi dùng những chữ hướng-ngoại (E: Extrovert), hướng nội (I: Introvert), cảm-giác (S: Sensation), trực-giác (N: iNtuition), suy-tư (T: Thinking), tâm-tình (F: Feeling), nhận-thức (P: Perceiving), phán-đoán (J: Judging)
Trước hết chúng ta nên nhớ: Carl Jung không nói rằng một người chỉ là một trong các cặp tính-tình đó
Đúng ra, mỗi người có thể hướng-ngoại một phần và hướng-nội một phần, suy-tư một phần và tâm-tình
một phần
Thứ đến, Jung không nói rằng người ta không thể thay đổi khuynh-hướng này qua khuynh-hướng khác
Với thời-gian, khuynh-hướng này có thể mạnh lên, khuynh-hướng kia có thể yếu đi
Điểm thứ ba: chưa có giải-quyết dứt-khoát về vấn-đề tranh-luận xem khuynh-hướng nào có từ khi bẩm-sinh, hay là phát-hiện tình-cờ thời thơ-ấu Jung tin rằng đó là khuynh-hướng bẩm-sinh, cho dù ông
không dám quả-quyết rõ ràng về vấn-đề này Theo Jung, dù là bẩm-sinh hay do lựa chọn sau này, những
hành-động đó phát-triển và trở nên mạnh mẽ hơn nhờ việc năng sử-dụng T.d một người năng sử-dụng
trực-giác nhiều, trực-giác sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, một người dùng tâm-tình nhiều hơn, tâm-tình sẽ trở
nên mạnh mẽ hơn Đảo lại, một người không dùng suy-tư và phán-đoán hoặc bất cứ khuynh-hướng nào
khác, khuynh-hướng đó cũng không phát-triển được và giống như bị cùn, rỉ sét đi vậy Đây là một giả-thuyết đáng được nghiên-cứu thêm
Dù sao điều quan-trọng về cách Jung phân-loại tính-tình là những lối diễn-tả cách-thức người ta hành-động khác biệt với nhau làm sao, chứ không phải việc chọn từ-ngữ đúng hay không đúng cho những
khác biệt này
A.) HƯỚNG-NGOẠI và HƯỚNG-NỘI
Người nào coi người khác như nguồn năng-lực của mình, có lẽ đã đi theo khuynh-hướng hướng-ngoại,
còn người nào thích yên-tĩnh trầm-lặng, để lấy lại sinh-khí, có lẽ đã đi theo khuynh-hướng hướng-nội
Hướng-ngoại được viết tắt là E do chữ Extraversio (quay ra ngoài), còn hướng-nội được viết tắt là do chữ
Introversio (quay vào trong) của các ngôn-ngữ gốc La-mã
1.- Nguồn gốc gây hiểu lầm
Những người hướng-ngoại có nhu-cầu tiếp-xúc ngoại-giao, có vẻ như được thêm nghị-lực, được sung-súc
khi có người khác liên-hệ Họ thêm nghị-lực khi nói chuyện, chơi dỡn, làm việc với người khác Người
hướng-ngoại chỉ cảm thấy cô-đơn khi không được tiếp-xúc với người khác Người hướng-ngoại cực-đoan
vừa dự tiệc tiếp-tân này xong là y như đã sẵn sàng chuẩn-bị đi dự tiệc tiếp-tân khác Máy phát điện của họ
hầu như lúc nào cũng đầy nhiên-liệu tới mức tối-đa
Trong khi người hướng-ngoại dễ cởi mở xã-giao bao nhiêu thì người hướng-nội lại đóng khung gò bó bấy
nhiêu Họ chỉ muốn có chỗ đứng riêng, trong tâm-trí cũng như trong không-gian Người hướng-nội hình
như chỉ tìm được nghị-lực từ một nguồn suối khác với người hướng-ngoại Họ theo đuổi những hoạt-động
Trang 14đơn-độc, làm việc một mình âm-thầm, đọc sách, suy-niệm, tham-dự vào các sinh-hoạt chỉ địi hỏi một nhĩm ít người Đĩ là những cách người hướng-nội thêm nghị-lực Vì thế, nếu như một người hướng-nội
đi dự tiệc liên-hoan, chỉ sau một thời-gian ngắn, họ đã nghĩ là đủ rồi và tìm đủ mọi cách để kiếu-từ ra về Đối với họ, như vậy là tham-dự đủ rồi Họ khơng phải là loại người làm cho bữa tiệc trở nên chán ngán, nhưng chính họ chán ngán bữa tiệc
Người hướng-nội dễ cảm thấy lẻ loi đơn-độc khi ở giữa đám đơng Đám đơng càng lớn, họ càng cảm thấy
lẻ loi đơn-độc, nhất là khi cĩ những người xa lạ, như khi ở phi-trường, bến xe đơng người, hoặc ở đám tiệc cĩ lắm người đi qua đi lại nhộn nhịp Như thế khơng cĩ nghĩa là người hướng-nội khơng thích cĩ bạn
bè chung quanh Người hướng-nội cũng muốn cĩ những liên-hệ với người này người khác, nhưng những liên-hệ đĩ làm cho họ mất nghị-lực, khơng giống như người hướng-ngoại Người hướng-nợi cần phải tìm cho được một chỗ yên-lặng thanh vắng để tìm lại nghị-lực, trong khi những nơi chốn như vậy sẽ làm cho người hướng-ngoại mất sức Nếu người hướng-ngoại phải vào thư-viện để nghiên-cứu một vấn-đề gì, họ
cĩ thể phải huy-động ý-chí để cố-gắng khơng tìm dịp nĩi chuyện với người quản-thủ thư-viện
Đối với người hướng-nội thì hồn tồn ngược lại: họ chỉ cĩ thể tiếp-xúc với người khác trong khi họ chưa hết nghị-lực mà thơi Một vấn-đề phải được đặt ra là: phải chăng người hướng-ngoại khơng cĩ khuynh-hướng hướng nội, và người hướng-nội khơng cĩ khuynh-hướng hướng-ngoại? Dĩ nhiên là cĩ, tuy nhiên thái-độ và khuynh-hướng mãnh-liệt hơn, dù là hướng-nội hay hướng-ngoại, cũng sẽ cĩ ảnh-hưởng nhiều hơn và khuynh-hướng kia sẽ bị giảm bớt đi Thái-độ mãnh-liệt hơn sẽ được biểu-lộ nơi hành-vi ý-thức của con người và sẽ ảnh-hưởng tới mục-đích, ý-chí, hoạt-động của con người ý-thức Khuynh-hướng yếu kém hơn chỉ cĩ một phần nào trong ý-thức và chỉ ảnh-hưởng tới những gì tình-cờ ngẫu-nhiên xẩy đến Khuynh-hướng yếu kém này sẽ khơng phát-triển được và ít cĩ ảnh-hưởng trên tính tình của con người, và thường chỉ ở trong tình-trạng sơ-khai chớm nở thơi Jung cịn chủ-trương rằng nếu người mẹ bắt ép đứa con sống theo khuynh-hướng yếu kém đĩ, sau này khi đứa con lớn lên sẽ bị nhiều khĩ khăn trở ngại
Theo như nhận-định của K Bradway, 1964 thì cĩ chừng 75% người thuộc loại hướng-ngoại và 25% người thuộc loại hướng-nội (Theo như chúng tơi nhận-định, cĩ lẽ Việt-nam là 30%-40% hướng ngoại và 70%-60% hướng nội).Thực vậy nền văn-hĩa Âu-Mỹ đề-cao con người cởi mở, xã-giao, biết cách ăn nĩi,
cĩ tinh-thần tập-thể, cịn những ai thích yên lặng trầm-tĩnh thì bị coi như là khĩ tính, khơng thân-thiện
Trang 15Người ta coi những hoạt-động đơn-độc chỉ là cách câu giờ, chờ-đợi những gì tốt đẹp hơn sẽ đến, và tốt đẹp đây có nghĩa là giao-tiếp liên-hệ giữa người với người Chính vì thế người hướng-nội bị coi như chim lạc đàn trong một đám đông chỉ thích xã-giao và tiếp-xúc liên-hệ Một bà mẹ đã phản-đối lời nhận xét coi
cô con gái cưng của bà là người hướng-nội như sau: “Nó không phải là người hướng-nội, vì nó dễ thương lắm” Con người hướng-nội cho biết rằng đa-số trong mẫu người này nhận thấy họ cần phải tiếp-xúc xã-giao nhiều hơn, nhưng vì họ không thể tự mình làm được như vậy , nên muôn đời họ vẫn chỉ là những con chim chưa ra ràng trong xã-hội muôn mầu, họ không bao giờ đủ lông đủ cánh để bay bổng tới trời cao của người khác Hậu-quả tất-nhiên là ít khi họ dành để cho họ đủ chỗ để thở mà không cảm thấy mặc-cảm tội lỗi một chút
2.- Những chữ mồi quan-trọng
Chữ quan-trọng nhất để phân-biệt người hướng-ngoại là giao-thiệp tiếp-xúc, người hướng-nội là đóng kín một mình Điều hấp-dẫn nhất cho người hướng-ngoại là chiều ngang, đi tới người khác, cho người hướng-nội là chiều dọc, đi lên cao hoặc đào sâu một vấn-đề Người hướng-ngoại quan-niệm những gì bên ngoài, ngoại-tại, người hướng-nội quan-niệm những gì bên trong, nội-tại Người hướng-ngoại để ý tới lượng, người hướng-nội để ý tới phẩm Người hướng-ngoại để ý tới liên-hệ, phản-ứng, người hướng-nội
để ý đến chủ-điểm, mục-đích Người hướng-ngoại muốn có càng nhiều giao-tiếp liên-hệ càng tốt, người hướng-nội hạn-chế tối-thiểu những xã-giao tiếp-xúc Người hướng-ngoại sử-dụng nghị-lực, người hướng-nội tìm cách tiết-kiệm Người hướng-ngoại thích để ý đến những gì xẩy ra bên ngoài, người hướng-nội chú ý tới những gì diễn-tiến bên trong
B.) TRỰC-GIÁC và CẢM-GIÁC
Người có khuynh-hướng thiên về cảm-giác tự nhận mình có óc thực-tế, trong khi đó người có khuynh-hướng thiên về trực-giác coi mình có nhiều sáng-tạo Theo như Bradway nhận-định năm 1964, có 75% thiên về cảm-giác (viết tắt S: sensatio), và 25% thiên về trực-giác (viết tắt N: intuitio)
1.- Nguồn gốc gây hiểu lầm
Hướng-ngoại và hướng-nội là hai khuynh-hướng quan-trọng giúp chúng ta hiểu những khác-biệt giữa ta với người, nhất là những người sống chung quanh, nhưng trực-giác và cảm-giác còn quan-trọng hơn nhiều, vì đây là những đường lối khác-biệt về cách nhận-định và suy-tư Đường lối trực-giác và cảm-giác
là nguồn của đa-số những hiểu lầm, ngộ-nhận, hiểu xấu, ý xấu, nghĩ xấu Sự khác-biệt giữa cảm-giác và trực-giác tạo nên khoảng cách lớn lao giữa người với người Thực vậy, Kretschmer nhận thấy sự khác-biệt này quá lớn lao, nên đã phân-chia tính-tình thành hai loại bộc-trực (schizothyme) và mẫn-cảm (cyclothyme) Người bộc-trực có thể là nhạy cảm hoặc lạnh cảm, ý-thức hoặc vô-ý-thức, còn người mẫn-cãm có thể là dễ vui dễ buồn, lạc-quan hoặc bi-quan Ông cho đó là nền-tảng của những khác-biệt về tính-tình, còn Jung lại chỉ coi đó là 1 trong 4 khuynh-hướng khác biệt nền-tảng
Người có khuynh-hướng cảm-giác muốn có sự-kiện đàng-hoàng, tin-tưởng và ghi nhớ các sự việc đã xẩy
ra Họ tin vào kinh-nghiệm, và hiểu biết nhờ kinh-nghiệm lịch-sử, kinh-nghiệm cá-nhân cũng như kinh-nghiệm quần-chúng Con người của họ vừa được mô-tả như dính liền với trái đất, đi sát với thực-tế, gần đất và xa trời Khi con người cảm-giác nói chuyện, họ thích nói về kinh-nghiệm, về quá-khứ, t.d khi phỏng-vấn người xin việc, họ sẽ hỏi đầy đủ chi-tiết về kinh-nghiệm việc làm trong quá-khứ Đối với họ, đây thật là một điều quan-trọng, vì quá-khứ làm việc tốt sẽ bảo-đảm cho tương-lai biết làm việc kết-quả
Trang 16Ngược lại, người trực-giác không quan-tâm đến dĩ-vãng của người xin việc, nhưng lại muốn cái nhìn về tương-lai, hướng đi mới của người muốn làm việc, xem người này có thể làm gì để giúp cho hãng mở mang, cho công việc phát-triển, cho giải-quyết một vấn-đề
Người cảm-giác để ý đến công việc hiện-tại và tìm cách đối-phó Họ đặt trọng-tâm vào việc đang hoặc sẽ xẩy ra, hơn là lo lắng về những gì biết đâu có thể xẩy ra trong tương-lai Họ sống trong thực-tế, và họ không muốn làm một công việc gì coi như vô-nghĩa Họ nhận xét chi-tiết rất tinh-vi chính-xác sâu-sắc, có
lẽ bởi vì khi họ để ý tới một cái gì, con mắt của họ thường để ý đến một vài chi-tiết đặc-biệt Người trực-giác thì lại khác: khi họ tìm hiểu một hoàn-cảnh nào, họ nhìn ngắm, đắn-đo, suy-nghĩ, tìm tòi để xem
có những gì liên-hệ tới điều mà họ đang để ý, chứ không màng tới những chi-tiết như người cảm-giác thường nhận ra
Người trực-giác dùng loại ngôn-từ không có ảnh-hưởng gì tới người cảm-giác Người trực-giác thích nói những lời bóng bẩy, dùng những hình ảnh sống động Họ hay thích mơ mộng, ngâm thơ, yêu giả-tưởng và ảo-giác, coi việc nghiên-cứu chiêm-bao là thú-vị Người trực-giác hành-động y như là một người từ tinh-tú xa xôi, như một phi-hành-gia trong không-gian đi thám-hiểm những gì vượt quá hiện-tại và quá-khứ Trí tưởng-tượng của họ bị thu hút bởi những gì có thể xẩy ra trong tương-lai Mà bởi lẽ đầu óc của họ chỉ thích đi trên mây, dạo trên cung trăng, nên người trực-giác dễ bị sai lầm lớn về các sự-kiện hơn
là người cảm-giác, vì người cảm-giác để ý nhiều hơn về những gì xẩy ra cho mình Người trực-giác nhìn thấy cuộc sống chạy vòng quanh, vượt qua núi đồi, xa hơn nhãn-giới chân trời chúng ta đang sống Họ có thể ngồi hằng giờ hằng ngày để suy-nghĩ về những gì có thể xẩy ra Họ hành-động theo chiều hướng tương-lai, biết nhìn đường cong hơn là đường thẳng, và biết được cả cõi vô-thức nữa Người trực-giác có khi nhận thấy tư-tưởng đến với họ như một hệ-thống toàn bộ, mà họ không thể giải-thích nổi tại sao họ biết được như vậy Đây là những viễn-tượng, những trực-giác, những sáng-kiến ta gặp thấy trong bất cứ một lãnh-vực nào như kỹ-thuật, khoa-học, toán, triết-lý, nghệ-thuật, và sinh-hoạt xã-hội
Dĩ nhiên người cảm-giác cũng có trực-giác và sáng-kiến, nhưng họ không để ý tới bao nhiêu, và qua nhiều năm không sử-dụng hoặc coi thường, trực-giác của họ chỉ còn là một tiếng kêu trống rỗng Hậu-quả
là tiếng nói âm-thầm của trực-giác bị giảm-thiểu, không còn nghe thấy được nữa Rút cục người trực-giác giầu tưởng-tượng dễ quên đi thực-tại của cuộc sống và khó thích-ứng với những thực-tế chung quanh họ
Người trực-giác sống trong chờ đợi, phỏng-đoán Đối với họ, cái gì hiện-tại cũng có thể khác hoặc khá hơn, và hiện-tại chỉ là một chỗ dừng Do đó người trực-giác thường cảm thấy bực tức một cách vô-lý, áy náy bồn chồn một cách vu vơ Hình như họ khó chịu vì thực-tại, nên họ chỉ tìm cách thay đổi hoặc cải-tiến thực-tại
Người trực-giác có thể chạy từ hoạt-động này tới hoạt-động khác mà có khi rút cục chẳng hoàn-tất được hoạt-động nào cả Năm 1923, Jung mô-tả người trực-giác như một nhà nông trồng lúa nơi cánh đồng này rồi chạy tới cánh đồng khác, chẳng chịu đợi cho lúa trổ bông nẩy hạt Thay vì chờ đợi công khó của họ thành-tựu, họ vội vã lên đường đi tìm một cánh đồng mới để khởi-sự nữa, trong khi đó người khác đến đúng lúc có thể được hưởng hoa mầu của sáng-kiến người trực-giác đã dầy công gieo rắc vun trồng
Vì thế đối với người cảm-giác, người trực-giác bị coi như là hay thay đổi, không thực-tế, không thiết-thực Đảo lại có lúc người trực-giác coi người cảm-giác như trì-trệ chậm chạp, không biết hướng về tương-lai, không biết tạo nên cơ-hội thuận-tiện
Sự khác biệt giữa người trực-giác và người cảm-giác trở nên rõ ràng nhất trong cách thức nuôi con Nếu
cả hai cha mẹ đều là người trực-giác, họ sẽ khó chịu khi thấy đứa con không chịu mơ mộng, tưởng-tượng, thả hồn theo mây gió, hoặc không thích nghe chuyện thần-thoại Cha mẹ trực-giác chỉ muốn cho con cái
Trang 17tìm cách phát-triển óc tưởng-tượng hằng ngày Đối với người trực-giác cực-đoan, không có gì quý giá hơn là óc tưởng-tượng phong-phú
Ngược lại, hai cha mẹ cảm-giác sẽ lo lắng khi thấy đứa con chỉ mơ mộng viển vông mất thời giờ Họ tin rằng mỗi người phải trở nên hữu-dụng, khi còn trẻ phải dùng thời-giờ chơi thể-thao, hoạt-động ngoài trời, khi lớn lên phải làm việc
2.- Những chữ mồi quan-trọng
Nếu lắng nghe lời mỗi người nói, chữ mỗi người lựa chọn, ta có thể nhận thấy tính-tình khác biệt Mỗi người đều để biểu-lộ phát-hiện ra một hệ-thống giá-trị qua chữ viết và lời nói, giọng nói điệu-bộ nhấn mạnh
Người cảm-giác thích dùng những chữ kinh-nghiệm, hay nói đến túi khôn của người xưa, và muốn tỏ ra
óc thực-tế, trong khi người trực-giác nhấn-mạnh đến sáng-kiến, cái nhìn về tương-lai, và có tính cách suy-tư Người cảm-giác lệ-thuộc vào việc làm, kinh-nghiệm, còn người trực-giác tùy-thuộc vào sáng-tạo, ý-kiến mới Người cảm-giác thích dùng những chữ như hiện-tại, thực-tế, có lý, sự thực, hữu-dụng, còn người trực-giác thích dùng những chữ như có thể, hấp-dẫn, sáng-tạo, giầu tưởng-tượng, nhiều khả-năng
C.) SUY-TƯ và TÂM-TÌNH
Jung gọi là loại suy-tư (T viết tắt của chữ Thinking), những người dùng tiêu-chuẩn khách-quan vô-tư khi phải lựa chọn quyết-định, còn những người theo chủ-quan và ý riêng mình là loại tâm-tình (F viết tắt của chữ Feeling) Cả hai khuynh-hướng lựa chọn quyết-định đều cần-thiết và hữu-ích Vấn-đề chỉ là người này thích thế này, người kia ưng kiểu kia Có người thích nhận-định một cách khách-quan, vô-tư, và khó chịu với những ý-kiến riêng tư Người khác lại thích những phán-đoán theo cảm-tình, thiên-kiến, và không quan-tâm bao nhiêu tới giá-trị của lý-luận Người tâm-tình quá-khích sẽ không hài-lòng với những lựa chọn tựa theo lề-luật, vì coi như thế là khắt khe, dã-man, vô-nhân-đạo Người suy-tư cực-đoan sẽ coi những quyết-định tựa theo tình cảm là hời hợt, giả-trá, mau qua Thực ra ai cũng có thể quyết-định theo suy-tư hoặc tâm-tình, nhưng vấn-đề chỉ là thích hoặc không thích cách này hoặc cách khác, lúc này lúc kia thôi
1.- Nguồn gốc gây hiểu lầm
Đa-số phái nữ (chừng 60 trong 100 người) cho biết họ thích quyết-định theo ý-muốn cá-nhân, theo tâm-tình: họ nghiêng về phía ‘tình’ hơn ‘lý’ Ảnh-hưởng văn-hóa mỗi dân-tộc lại có thể khác hơn nữa (Người Việt-nam có lẽ sẽ nhiều ‘tình’ hơn ‘lý’: có thể tới 70%-80%) Đa-số phái nam (chừng 60 trong
100 người) cho biết họ thích quyết-định theo nguyên-tắc, luật-lệ, một cách khách-quan và hữu-lý Như thế phái nam nghiêng về phía ‘lý’ hơn, và phái nữ nghiêng về phía ‘tình’ hơn, cho dù sự khác biệt phái-tính này không rõ ràng bao nhiêu, và khó có thể nhờ đó mà đoán trước hành-động của mỗi người Hai khuynh-hướng suy-tư và tâm-tình có mang mầu sắc phái-tính nam nữ (Myers, 1963), và chia nhau đồng đều mỗi bên một nửa (Bradway, 1964)
Người tâm-tình có lúc cho rằng loại người suy-tư là cứng dắn, chai đá, lạnh nhạt, lì lợm, xa cách, chỉ biết suy-tư trong đầu óc, trên sách vở mà không biết hiền-hòa từ-tốn Trong khi đó người suy-tư lại cho rằng người tâm-tình dễ yếu đuối, mềm lòng, thiếu ý-chí nghị-lực, không biết suy-nghĩ chín chắn, không hiểu
Trang 18căn-bản luận-lý, mau nước mắt Hiểu lầm sẽ xẩy đến khi một người tâm-tình và một người suy-tư cùng phải quyết-định ngược lại với thói quen của họ, làm cho họ khó chịu., t.d người vợ tâm-tình muốn người chồng suy-tư phải bộc-lộ tâm-sự tình-cảm của chàng, trong khi chàng lại ước sao cho nàng biết suy-luận
có lý một chút Dĩ nhiên chẳng có cách lựa chọn nào đáng chê cả
Người tâm-tình có lợi-điểm hơn người suy-tư trong việc chấp-nhận và phát-triển những gì họ không thích Học-đường là môi-trường thích-hợp phát-triển khả-năng suy-tư hơn là biểu-lộ tâm-tình, nên chi người tâm-tình đi học có cơ-hội làm triển nở khả-năng suy-tư của họ, còn người suy-tư đi học ít có cơ-hội làm triển nở lãnh-vực tâm-tình, do đó nên lãnh-vực tâm-tình của họ vẫn chỉ ở giai-đoạn phôi-thai
Đôi khi người tâm-tình coi bộ ra vẻ nhiều tình-cảm dễ xúc-động hơn người suy-tư, nhưng thực-tế không hoàn toàn đúng như vậy Cả hai loại người đều có thể dạt dào tình-cảm và tâm-tình chứa chan
Người tâm-tình có khuynh-hướng biểu-lộ tình-cảm của mình ra bên ngoài và người ta có thể coi họ như con người thân-mật, đầy tình-cảm đậm đà hơn người suy-tư Khi một người tâm-tình xúc-động, như khi tay họ toát ra mồ hôi, khi họ đổi sắc mặt, khi thân mình rung động, khi tim đập mạnh hơn và nhanh hơn, hoặc khi họ không còn làm chủ được con người của chính mình nữa, người khác dễ bị ảnh-hưởng lây Những rung động tình-cảm của người tâm-tình có phản-ứng dây chuyền và tạo nên ảnh-hưởng nơi người khác Còn khi người suy-tư xúc-động, ít thấy gì thay đổi nơi con người của họ, và người khác cũng khó
Trang 19nhận xét được Chính vì thế mà người suy-tư được mô-tả là ‘lạnh như tiền’, ‘khô như ngói’, ‘cứng như đá’, cho dù trên thực-tế họ cũng có thể có những tâm-tình sâu-đậm y như người tâm-tình Có khi người suy-tư cảm thấy xấu-hổ vì có cảm-xúc mãnh-liệt, trong khi đó người tâm-tình có khi lại lấy làm vui vì cảm-xúc tràn trề
Trong liên-hệ giao-tiếp giữa người với người, khi phải lựa chọn quyết-định, sự khác biệt giữa đường lối suy-tư và đường lối tâm-tình không tạo nên nhiều khó khăn lắm, một khi đã hiểu biết và nhận chân giá-trị của mỗi đường lối Thực ra hai người với hai đường lối khác biệt về suy-tư và tâm-tình này có thể bổ-túc cho nhau hơn là những cặp khuynh-hướng khác, t.d hướng-nội và hướng-ngoại, trực-giác và cảm-giác dễ tạo nên nhiều hiểu lầm hơn là bổ-túc cho nhau Người tâm-tình cần người suy-tư để nhìn thấy một đường lối mới, và đảo lại người suy-tư cần người tâm-tình để hiểu thêm một cách-thức khác Một khi người tâm-tình hiểu được rằng người suy-tư cũng có những tâm-tình sâu xa, cho dù họ không biểu lộ ra, và một khi người suy-tư biết cho rằng người tâm-tình cũng có khả-năng lý-luận rành mạch, cho dù họ không diễn-tả ra được bằng ngôn-từ chính-xác, lý-do để hiểu lầm sẽ không còn nữa
2 Những chữ mồi quan-trọng
Người suy-tư T thích quyết định theo đường lối vô-tư, thích dùng những chữ như khách-quan, nguyên-tắc, chính-sách, chủ-trương, luật-lệ, tiêu-chuẩn, cương-quyết; trong khi người tâm-tình F muốn lựa chọn theo sở-thích riêng tư cá-nhân, lại thích dùng những chữ như chủ-quan, giá-trị, trường-hợp gia-giảm, môi-trường, hoàn-cảnh, xã-hội, cộng-đồng, tình-thân, thuyết-phục Khi đối-phó với người khác, với dự-án kế-hoạch, người suy-tư T có khuynh-hướng dùng phương-pháp tổng-luận, còn người tâm-tình F lại dùng phương-pháp cá-biệt Người suy-tư thích những chữ công-lý, phê-bình, tiêu-chuẩn, chỉ-tiêu, phân-tích; còn người tâm-tình ưa dùng những chữ nhân-đạo, hoà-hợp, tốt xấu, thiện-cảm, quý-trọng, dấn-thân Người suy-tư đặt ưu-tiên vào các tiêu-chuẩn khách-quan, và có tài lý-luận, thuyết-phục người khác theo quan-điểm của họ, bằng lý-luận hơn là tình-cảm Người tâm-tình có tài thuyết-phục người khác và lựa chọn quyết-định vì ảnh-hưởng của người chung quanh
D.) PHÁN-ĐOÁN và TRI-THỨC
Vấn-đề: muốn mọi sự kết-thúc dàn xếp đàng hoàng hay muốn để linh-động tuỳ nghi?
Người nào muốn mọi sự kết-thúc dàn xếp đâu vào đó hơn là để tuỳ nghi linh-động, chính là mẫu người thuộc loại phán-đoán J, còn người nào có khuynh-hướng để mọi sự tuỳ nghi linh-động, chính là mẫu người thuộc loại tri-thức P Người phán-đoán J chỉ muốn làm sao để đưa vấn-đề tới kết-thúc, và chỉ khi nào quyết-định xong đâu vào đó rồi họ mới cảm thấy yên lòng Ngược lại, người tri-giác cảm thấy ái-ngại mỗi khi phải quyết-định một điều gì, vì họ chỉ muốn sao cho thu thập được thật nhiều sự-kiện, càng nhiều càng tốt Do đó khi người tri-giác quyết-định một điều gì, họ tỏ ra bối rối, do dự, khó chịu, còn người phán-đoán cảm thấy thoải mái an-tâm
Người phán-đoán có khuynh-hướng thiết-lập thời-biểu, ấn-định giờ giấc, và họ muốn mọi người phải làm
y như vậy Người tri-giác có khuynh-hướng coi thời-biểu y như một chiếc đồng-hồ báo thức, reo hay không reo là tuỳ người ta có ấn nút hay không, và họ coi thời-biểu chỉ là để nhắc nhở ta phải làm việc hơn
là bắt buộc phải hoàn-tất việc đó
Ta có thể quan-sát một hiện-tượng kỳ-lạ này là khi nào người tri-giác P có nhiệm-vụ giữ đúng hẹn với người trên, họ không tin được người khác giữ đúng giờ, nên họ thường hẹn sớm hơn giờ họ tính toán
Trang 20Trong khi đó, người phán-đoán J chỉ bảo cho người khác biết giờ khắc đàng hoàng và muốn mọi người phải theo đúng giờ khắc đó một cách nghiêm-chỉnh
Chúng ta dễ dàng nhận thấy sự khác-biệt giữa người phán-đoán và người tri-thức trong trường-hợp cực-đoan Rất tiếc là Jung không ấn-dịnh rõ ý-nghĩa của mấy chữ phán-đoán và tri-thức Phán-đoán có nghĩa là có một quyết-định, một kết-luận, còn tri-thức có nghĩa là biết, là ý-thức Định-nghĩa như trên chỉ
là để tránh né một số quan-niệm mơ hồ về phán-đoán và tri-thức Rất may là Jung có những nhận xét tinh-vi về cách hành-động của hai loại tính tình này mà không bị lệ-thuộc về đường lối suy-tư của ông, nên chúng ta có thể phát-hiện và mô-tả hai loại tính tình này mà không bị chi-phối vì quan-niệm của ông
1.- Nguồn gốc gây hiểu lầm
Bradway, 1964, cho biết hai loại tính tình này phân-chia đồng đều mỗi bên một nửa Chính vì vậy mà dễ gây nên bực tức khó chịu: người phán-đoán J muốn đi tới quyết-định, còn người tri-thức P cứ dùng dằng trì-hoãn, chẳng chịu dứt-khoát Ngoài ra, những chữ phán-đoán và tri-thức dễ gây ngộ nhận Phán-đoán
dễ đi đôi với thiên-kiến, tri-thức dễ được coi là tri-giác Thực ra, người phán-đoán cũng có thể chẳng có nhiều thiên-kiến hơn gì người tri-thức, và người tri-thức cũng chưa chắc đã có nhiều tri-giác hơn người phán-đoán Để tránh ngộ-nhận, nên hiểu phán-đoán là khuynh-hướng kết-thúc một câu chuyện, kết-luận một vấn-đề, còn tri-thức là khuynh-hướng muốn biết rõ hơn, muốn cảm được nhiều hơn
Nhìn bề ngoài, tất cả các mẫu người phán-đoán, dù hướng-nội hay hướng-ngoại, dù suy-tư hay tâm-tình,
dù trực-giác hay cảm-giác, cũng có một thái-độ làm việc và nghỉ ngơi như nhau, khác hẳn với loại người tri-thức Người phán-đoán hình như coi hành-động là luật tối-thượng, và muốn ai cũng phải hành-động, làm việc rồi mới được nghỉ ngơi giải-trí Diện bên ngoài này có ảnh-hưởng rõ rệt trên người phán-đoán: làm tất cả những gì có thể để cho xong một công việc Người phán-đoán chuẩn-bị sửa soạn mọi sự đầy đủ, bảo-toàn duy-trì cẩn-thận, và thu quén quét dọn đàng-hoàng vì họ coi như thế là cần-thiết
Người tri-thức không hành-động như vậy Dù là trực-giác hay cảm-giác, suy-tư hay tâm-tình, hướng-nội hay hướng-ngoại, người tri-thức hình như theo triết-lý chữ nhàn: họ chịu chơi hơn là nghiêm-trang đứng đắn Người tri-giác không chịu cố-gắng làm những gì ít liên-quan trực-tiếp tới hành-động hiện-thời: họ ngại chuẩn-bị sửa soạn, bảo-toàn duy-trì, hoặc thu quén dọn dẹp Cùng lắm họ sẽ kiếm người khác làm thay cho họ Người tri-thức muốn tìm thấy cái thú của làm việc Có thể nói rằng người tri-thức làm việc
để tìm cái thú, lợi trong công việc, còn người phán-đoán làm việc để nhằm tới kết-quả của công việc
Hai người tri-thức và phán-đoán nếu làm việc chung sẽ phê-bình chỉ-trích nhau rất nhiều Người phán-đoán có thể mô-tả người tri-giác là không cương-quyết, chậm chạp, lần lữa nay mai, không có chương-trình mục-đích, hay chống-đối, phê-bình, lý-thuyết suông, không theo quyết-định chung Người tri-thức có khi không tỏ ra kiên-nhẫn được với người phán-đoán, vì họ nhận thấy người phán-đoán có khuynh-hướng đi tới kết-luận vội vàng, cẩu-thả, làm cho chính họ, ngươì tri-thức bị hối-thúc và áp-lực
Người tri-thức có khi lại cho rằng người phán-đoán hay quyết-định cấp-tốc, bị áp-lực nào đó rồi hối-thúc người khác, chỉ biết đạt cho được chỉ-tiêu mà không để ý tới yếu-tố nào khác, có thái-độ cứng nhắc khó thay đổi, độc-tài thiên-kiến, đặt kế-hoạch và quyết-định vội vàng Thông thường nếu nghiên-cứu cẩn-thận
sự khác biệt về đường lối tri-thức và phán-đoán, người ta có thể phá tan cả những khác biệt khác nữa Phần nhiều những khác biệt này dễ làm cho người ta phấn-khởi thích-thú, và chịu khó tìm hiểu một chút,
ai cũng có thể thích-ứng với người khác được
2.- Những chữ mồi quan-trọng
Trang 21Người phán-đoán thích những chữ : quyết-định, ổn-thoả, cố-định, dự-tính, chuẩn-bị, kết-thúc, đặt kế-hoạch, hoàn-tất, khẩn-trương, cấp-tốc, hạn chót, ra tay
Người tri-thức thích những chữ: chờ xem, tìm hiểu thêm, linh-động, tuỳ nghi thích-ứng, để chân trời rộng
mở, cứ tiếp-tục tìm hiểu, kế-hoạch tạm thời, còn nước còn tát, ngày dài tháng rộng, biết đâu bất ngờ, đâu cần phải hẹn, chờ xem
Nói tóm lại, 4 cặp khác-biệt về tính tình có thể được thu gọn lại như sau:
E (Mỹ 75%; Việt 40%) I (Mỹ 25%; Việt 60%)
ngoại-giao đặt giới-hạn
hòa-đồng tập-trung một nơi
hướng ngoại hướng nội
trải rộng, chiều rộng đi sâu, chiều sâu
hướng ngoại-diện hướng nội-tâm
nhiều bạn bè liên-hệ bạn bè liên-hệ giới-hạn
thực-dụng, thông-thường mơ mộng viển vông
có ích, công-hiệu thần-tiên, tưởng-tượng
sự-kiện thực chuyện giả-tưởng
hữu-ích, thực-nghiệm độc-đáo, sáng-tạo
có nghĩa lý giầu tưởng-tượng
T (Mỹ: 50%; Việt: 25%) F (Mỹ: 50%; Việt: 75%)
khách-quan chủ-quan
nguyên-tắc giá-trị
chính-sách giá-trị xã-hội
luật-lệ trường-hợp gia-giảm
theo tiêu-chuẩn theo tình-thân
cương-quyết chinh-phục
vô-tư tâm-tình
công-lý nhân-đạo
chia loại hòa-hợp
chỉ-tiêu tốt hoặc xấu
phê-bình mộ mến
Trang 22kế-hoạch dự-liệu trước tùy-nghi thích-ứng
điều-hành nếp sống để cuộc sống diễn-tiến
T Thinking suy-tư lý-luận
F Feeling tâm-tư tình-tư
J Judging phán-đoán kết-luận
P Perceiving tri-thức nhận-định
Như vậy là chúng ta đã có dịp tìm hiểu 4 tầm-kích (khuynh-hướng) khác nhau của tính tình theo lý-thuyết của Jung: từ 4 tầm-kích khác nhau đó, người ta chia tính tình thành 16 loại Muốn dùng bản chia loại này
để hiểu tính tình người khác, chúng ta phải làm quen với cả 16 loại Đây là một công-trình khá lớn lao
Điều hữu-ích không phải là học thuộc lòng tất cả chân-dung (hình ảnh) của 16 loại tính tình này, nhưng là hiểu biết nền tảng căn-bản của mỗi loại Nói chung, hình như chỉ có 4 loại tình tình như Hippocrates đã cho biết từ bao nhiêu thế-kỷ trước, và Spranger mới lặp lại gần đây
Trong chương sau chúng ta sẽ nghiên-cứu về quan-niệm này
Trang 23Muốn theo thuyết của Kretschmer về tính-tình, chúng ta phải gạt bỏ quan-niệm của Jung về nhiệm-vụ hành-sử, nhưng đừng bỏ cách Jung mô-tả các hành-động, vì lối mô-tả của Jung giúp ích rất nhiều để đoán trước một hành-động Khi biết một người thuộc mẫu tính-tình nào, ta có thể phỏng-đoán khác chính-xác hành-động của họ Ta không nên bỏ qua điều khám-phá quý-giá đó Thực ra, không phải chúng ta bỏ đi quan-niệm về loại hành-tác, nhưng là đặt quan-niệm đó vào quan-niệm về tình tình, vì quan-niệm tính-tình có lãnh-vực rộng lớn hơn và giúp giải-thích các hành-vi của con người
Trước hết tính-tình là gì? Câu hỏi này không dễ như ta tưởng, vì ngành tâm-lý-học ít nghiên-cứu về vấn-đề này, và các nhà tâm-lý chưa hoàn-toàn đồng-ý với nhau về định-nghiã cũng như về công-dụng của tính-tình Tính-tình cho thấy một cố-gắng dung-hoà các nghị-lực đây đó của con người, kết-nạp và hoà-đồng các ảnh-hưởng đối-nghịch nhau, tạo nên một mầu sắc và âm-điệu duy-nhất, y như thể cấu-kết thành một chủ-đề, gầy dựng sự thuần-nhất trong hành-động Tính-tình cũng giống như chữ ký trên một văn-kiện, minh-chứng rằng đây là hành-động của người này chứ không phải của người kia
Ta có thể quan-sát tính cách thuần-nhất trong hành-động của một người từ thuở nhỏ: có những yếu-tố xảy đến sớm hơn có những yếu-tố chậm hơn, đôi khi còn trước cả khi gây nên ảnh-hưởng nơi con người Như thế có nghĩa là đây là những yếu-tố bẩm-sinh, chứ không phải những hình-thức thu lượm được Maslow,
1954, nói rằng động-lực này thay thế động-lực kia tùy theo tuổi lớn lên của con người Ông nói: chúng ta bắt đầu với nhu-cầu thể xác Chúng ta coi đó là nhu-cầu tự-nhiên và khi thoả-mãn được những nhu-cầu tự-nhiên này, chúng ta không còn cảm thấy động-lực nào thôi-thúc nữa Sau đó chúng ta tiến đến nhu-cầu an-ninh, rồi chúng ta lại thoả-mãn được những nhu-cầu an-ninh này, và coi là phần tự-nhiên không còn thấy động-lực thôi-thúc nữa Rồi chúng ta tiến thêm đến nhu-cầu xã-hội: yêu thương, chăm sóc Đa-số có thể sắp xếp cuộc sống để thoả-mãn những nhu-cầu yêu thương và chăm sóc để đi tới nhu-cầu tự-trọng: tôn-trọng chính mình và được người khác tôn-trọng Maslow cho biết rằng chỉ một số ít người có đủ tư-cách để biết tự-trọng và coi đây là thoả-mãn nhu-cầu tự-nhiên để tiến-tới nhu-cầu cuối cùng là thành-nhân Một người tới giai-đoạn thành-nhân, không còn bị thôi-thúc bởi những nhu-cầu hạ-đẳng như thể xác, an-ninh, hoặc nhu-cầu xã-hội như yêu thương, chăm sóc, tự-trọng nữa Maslow muốn hiểu rằng những người chưa đạt được giai-đoạn thành-nhân, cũng có nhu-cầu để thành-nhân, và vẫn có khả-năng để tiến-tới, một khi họ vượt qua những nhu-cầu hạ-đẳng
Hệ-thống nhu-cầu của Maslow làm ta nhớ tới những giai-đoạn phát-triển tâm-lý của Freud, cho dù không
có mầu sắc phái-tính chút nào Trước Maslow 14 năm, William Sheldon cũng đã đề-nghị một thuyết về động-lực gần giống như vậy Theo ánh-sáng của việc Harlow thí-nghiệm với loài khỉ, có lẽ nên sắp xếp thứ-tự các nhu-cầu lại một chút: 1.- nhu-cầu xã-hội, 2.- nhu-cầu an-ninh, 3.- nhu-cầu thể xác Dù sao cũng phải công-nhận rằng người ta không hẳn vẫn tiếp-tục đòi hỏi nhu-cầu xã-hội, an-ninh, thể xác, vì phần lớn người ta đã có những nhu-cầu đó Maslow đáp lại rằng đó là vì người ta đi tìm thoả-mãn nhu-cầu tự-trọng
Có lẽ chúng ta không nên theo Maslow về quan-niệm này, bởi lẽ không phải ai cũng ý-thức và ước muốn
Trang 24được nhu-cầu thành-nhân, sau khi đã thoả-mãn nhu-cầu tự-trọng Đa-số chúng ta muốn những điều gì khác nữa Chỉ có mẫu người đa-nộ mới để ý tới con người thực của mình
Nói như thế không có nghĩa là thành-nhân vượt quá tự-trọng, đúng ra thành-nhân là phương-thế để tỏ ra tinh-thần tự-trọng Loại người đa-nộ chỉ muốn thành-nhân, yêu thích con người của họ hơn nữa khi họ thấy họ đạt được mục-đích Dĩ nhiên ai cũng phải biết tự-trọng như Maslow nói thật đúng, nhưng thay vì vượt quá giai-đoạn tự-trọng, thực ra thành-nhân chỉ là một trong nhiều đường lối đưa tới tự-trọng
Tất nhiên có những đường lối khác nhau nữa t.d Freud , 1920, nói thật đúng khi ông quả-quyết thú vui là một đường lối, nhưng không phải là đường lối cho hết mọi người như ông chủ-trương, và thú vui càng không phải là cứu-cánh, mà chỉ là một phương-tiện, một đường lối đưa tới tự-trọng
Chỉ có người đa-huyết mới yêu thích họ nhiều hơn khi họ sống tự-do không bị ràng buộc Sullivan nói đúng: đối với một số người thì địa-vị xã-hội là quan-trọng để có tinh-thần tự-trọng Người đa-sầu đa-cảm thấy đời họ lên hương khi họ thực-hiện được giấc mơ ăn trên ngồi trốc, khi họ có điạ-vị cao Cũng thế Adler có lý khi nói rằng một số người lại đi tìm uy-quyền Người lãnh-đạm coi họ là quan-trọng khi thấy
có thêm quyền-hành này nọ
Từ-ngữ Hippocrates dùng để chỉ 4 mẫu tính-tình dễ gây hiểu lầm Ông dùng 4 chất lỏng trong thể xác con người là máu, nước đạm, mật vàng và mật đen để chỉ người đa-huyết, lãnh-đạm, đa-nộ và đa-sầu Theo thần-thoại Hy-lạp, có 4 vị thần được thần chúa Zeus (Trời) sai đi với sứ-mệnh làm cho loài người trở nên giống thần-minh hơn: tên 4 vị thần này nói lên khá đúng 4 mẫu tính-tình Đó là Apollo, Dionysius, Promotheus, và Epimetheus Thần-thoại Hy-lạp cho biết: Apollo có sứ-mệnh làm cho con người có tinh-thần, Dionysius có sứ-mệnh dạy cho con người biết vui chơi, Promotheus có sứ-mệnh trau dồi kiến-thức con người, Epimetheus có sứ-mệnh dạy con người có tinh-thần trách-nhiệm Đặt tên cho 4 loại tính-tình theo 4 vị thần có cái hay là mỗi vị thần cũng như mỗi tính-tình đều có người theo Người tôn-thờ Apollo (tinh-thần) thì không thờ Promotheus (khoa-học), và người ước muốn Dionysius (thú vui) sẽ không hài-lòng với Epimetheus (trách-nhiệm) Như vậy ta thấy 4 mẫu tính-tình có nền-tảng căn-bản rất khác nhau
Có một điểm nữa trong thuyết của Jung về phân-loại tính-tình cần được điểu-chỉnh lại Các mẫu tính-tình của Jung phát-xuất do sự khác-biệt chứ không phải do tổng-hợp của các hành-động Theo Jung, tính-tình phát-triển là do sự phân-hoá, tách-biệt, cá-nhân-hoá hơn là tổng-hợp, liên-kết, thu góp Như vậy một người trở nên ENFJ hoặc INFP hoặc mẫu tính tình gì chăng nữa là vì tính-tình của họ sẵn có như vậy hơn
là một yếu-tố nào đó t.d hướng-ngoại liên-kết với trực-giác Như thế, thuyết về tính-tình thay thế các nguyên-tắc về tổng-hợp bằng nguyên-lý phân-hoá
Ngoài ra, các phân-loại của Jung cần phải được sắp xếp lại để thích-hợp với các mẫu-tính-tình này Hình như mẫu trực-giác (N = iNtuition) của Jung thì tương-đương với loại khuynh-hướng bộc-trực (schixothyme) của Kretschmer Trực-giác hoặc bộc-trực thích-hợp với nếp sống tinh-thần của Apollo (thành-nhân) hoặc cuộc đời khoa-học Promotheus Mẫu cảm-giác (S = sensation) của Jung tương-đương với khuynh-hướng mẫn-cảm (cyclothyme) của Kretschmer Mẫu cảm-giác hoặc mẫn-cảm sẽ lưạ chọn niềm vui Dionysius (tự-do hành-động) hoặc trách-nhiệm Epimetheus (địa-vị xã-hội) Nên nhớ rằng theo Jung, mẫu tâm-tình (F = feeling) cho thấy sự khác-biệt giữa động-lực thành-nhân Apollo và mẫu suy-tư (T = thinking) với động-lực uy-quyền; và mẫu phán-đoán (J = judgment) với động-lực trách-nhiệm Epimetheus cũng khác mẫu tri-thức (P = perceiving) với động-lực tự-do Dionysius
Spranger sống đồng-thời với Jung nên quan-điểm của ông về nhân-cách tính-tình rất hữu-ích Ôâng nói về giá-trị hơn là về nhiệm-vụ Trong cuốn ‘Types of men’ (1928, các mẫu người), ông đặt tên 4 giá-trị để
Trang 25đánh giá các mẫu người khác nhau: thẩm-mỹ, kinh-tế, thuyết-lý, và sùng-đạo Còn 2 giá-trị nữa mà ông gọi là xã-giao và chính-trị, thì có liên-hệ tới tất cả, nên không thể dùng mà đánh giá các mẫu tính-tình khác nhau được Đọc kỹ tác-phẩm trên, ta có thể thấy cách đánh giá trên cũng tương-đương với các phân-loại của Jung:
NF quý-trọng tôn-giáo (luân-lý), NT quý-trọng lý-thuyết (khoa-học), SP quý-trọng thẩm-mỹ (nghệ-thuật),
và SJ quý-trọng kinh-tế (thương-mại)
Đầu thế-kỷ này ở Âu-châu, không có lý-thuyết nào chắc chắn về nhân-cách và tính-tình: nhiều nhà nghiên-cứu đã tạo được ảnh-huưởng trên thuyết của Jung, Kretschmer và Spranger Có nhiều quan-niệm giống nhau như Adickes (1907), Apfelbach (1924), Levy (1896), Stenberg (1907) 8 mẫu tính-tình của Bulliot (1901) rất giống cách phân-loại của Jung Nói một cách thật đơn-giản, tính-tình ấn-định hành-động, bởi vì hành-động chỉ là một dụng-cu để đạït được những gì ta cần có, để thoả-mãn nhu-cầu ta mong muốn Y như thể khi mỗi người được sinh ra dưới quyền một vị thần, và vị thần này để mặc cho ta phải đói luôn, nên phải ăn mỗi ngày mới sống nổi Cũng giống như thần Zeus phạt Sisiphus bắt phải lăn tảng đá đi dưới chân núi lên đỉnh núi, nhưng cứ mỗi lúc chàng nghỉ ngơi để lấy sức thì tảng đá lại rơi xuống chân núi Có lẽ chúng ta cũng chỉ giống như Sisiphus,
Dã Tràng xe cát biển đông,
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì
Hôm nay ta thoả mãn nhu-cầu đói khát uy-quyền, địa-vị, tự-do, ý-nghĩa, hoặc bất cứ nhu-cầu nào mà tính-tình ta đòi hỏi, để rồi lại thấy ngày mai ta lại phải bắt đầu làm lại từ số không Thành-quả của ngày hôm qua chẳng có ích gì cả
Trang 26
1.- TÍNH TÌNH CHỊU CHƠI (SỐNG PHÊ): SP
Vừa thoạt leo lên xe là khí-huyết của bạn đã nổi sôi lên sùng sục Chẳng còn gì khích-động hơn nữa
Đi phản-lực cũng không bằng leo lên chiếc xe này và bạn phóng như bay trên xa-lộ Bạn thề sống thề chết
là chẳng biết có đi tới nơi mà không bị tai-nạn đâu Có hàng ngàn hàng vạn xe cộ khác xô lấn nhau, và bạn lách như một chàng khùng: chạy mau thắng gấp, cố làm sao để đi kịp xe trước mà không đụng tới những chàng điên khùng khác như muốn đụng độ với bạn (Studs Terkel, Working, p 209)
Những người thuộc loại SP là như vậy (ISTP, ESTP, ISFP, ESFP): họ có những đường lối quan-trọng khác nhau, nhưng lại giống nhau một cách kinh-khủng Điều căn-bản nhất là loại SP này phải được hoàn-toàn tự-do, không gò bó, không cưỡng ép, không ràng buộc, không khuôn khổ gì Muốn là làm, và làm tuỳ hứng: đó là lý-tưởng của họ Họ không muốn chờ-đợi, chuẩn-bị, dành dụm, lo lắng cho ngày mai Đối với người SP, họ phải
chơi xuân kẻo hết xuân đi
cái già sồng sộc nó thì theo sau
tận-hưởng ngày hôm nay, giây phút này, vì biết đâu ngày mai sẽ chẳng bao giờ tới
Đối với mẫu người SP, trách-nhiệm, uy-quyền và tinh-thần là thứ yếu và chẳng quan-trọng gì Chỉ có hành-động mới đáng kể thôi, và phải hiểu người SP muốn nói tới hành-động theo kiểu nào Hành-động chỉ vì hành-động chứ không phải vì một mục-đích gì khác Người SP không chối cãi rằng hành-động của
họ giúp cho người khác đạt được mục-đích, nhưng không phảøi vì mục-đích đó mà họ hành-động Lý-do chính để họ hành-động chỉ vì họ cảm thấy động-lực thúc-đẩy
Người SP theo nguyên-tắc tính đam-mê: họ muốn là một con người đam mê Đam mê chính là lẽ sống của họ Người SP ước ao có những động-lực thúc-đẩy bên trong, thấy thích-thú khi cảm-nghiệm được và tìm cách phát-huy các động-lực bùng nổ ra bên ngoài Người SP cảm thấy tội lỗi nếu họ không cảm thấy động-lực nào cả Tất cả chúng ta ai cũng cảm nghiệm thấy có những động-lực này nọ thúc đẩy chúng ta làm việc, nhưng đa-số chúng ta bỏ qua đi, ngõ hầu hướng tới những mục-đích cao xa hơn, bền bỉ hơn Chúng ta rèn luyện động-lực tự-do này bằng trách-nhiệm, uy-quyền và tinh-thần, trong khi người SP cảm thấy bị gò bó và đóng kín Nói như thế không có nghĩa là người SP không biết nhằm tới mục-đích và liên-hệ như mọi người Dĩ nhiên họ cũng có, nhưng tất cả chỉ là tạm thời và thiểu-số Nếu có liên-hệ nhiều quá hoặc liên-hệ bền bỉ quá, người SP sẽ cảm thấy sốt ruột, nôn nao và có lẽ sẽ cảm thấy nhu-cầu phải lãng ra chỗ khác
Cách tốt nhất để có thể hiểu hành-động là gì , đó là so sánh thực-tập với đam-mê Trước hết ai cũng phải thực-tập mới có kinh-nghiệm và tài giỏi trong công việc muốn làm Đây chỉ là thực-tập, tập-sự, chứ không phải thực-tế, vĩnh-viễn Người SP không muốn thực-tập Họ làm là làm liền Một khi họ cảm thấy động-lực thúc đẩy là họ làm Nhiều khi họ cứ mải miết làm quá sức, quên cả giờ giấc nghỉ ngơi Những người thuộc mẫu tính tình khác sẽ coi sự say mê làm việc đó như là kỷ-luật Nhưng thực ra đây không phải là kỷ-luật mà là hành-động vì đam-mê Một khi họ đã bắt tay vào là phải làm cho kỳ được mới thôi Giống như người lên núi, chỉ vì thấy có núi ở trước mặt, người SP không giải-thích nổi động-lực thúc-đẩy
họ hành-động Họ phải hành-động vì có động-lực thúc-đẩy, và bao lâu động-lực còn thúc-đẩy, họ vẫn còn tiếp-tục hành-động Khi hết động-lực, họ sẽ chẳng cảm thấy muốn làm gì nữa
Người SP bị lệ-thuộc vào cái mà Karl Buhler gọi là ‘function lust’ si-mê hoạt-động: thèm hành-động mà không có gì ràng buộc giới-hạn, muốn hành-động thám-hiểm mà không cần quy-tắc, thực-tập Người SP thích dấn thân vào những trường-hợp chưa rõ được tự-do tới mức nào, chưa rõ hoàn-cảnh sẽ ngã ngũ ra sao Trong các mẫu tính-tình, người SP đáp-ứng tình-trạng khẩn-trương hữu-hiệu hơn cả, và tình-trạng
Trang 27càng khẩn-trương bao nhiêu, họ càng có cơ-hội đáp-ứng mau chóng , thích-hợp Khi hoàn-cảnh không có
gì thay đổi, người SP dễ bị mất hứng thú Khi có nhiều tình-trạng khẩn-trương và thay đổi, người SP càng
có nhiều nghị-lực để chu-toàn nhiệm-vụ Thực-tế là khi hoàn-cảnh trở nên nhàm chán, môi-trường có vẻ quen thuộc, người SP có khuynh-hướng tạo nên một tình-trạng khẩn-trương để làm cho mọi sự được sống động
Loài người có được hơn loài vật về 3 lãnh-vực: biểu-tượng, thần-thánh và dụng-cụ Người SP thường không thấy quan-niệm thần-thánh hấp-dẫn gì cả, và càng xa tránh vấn-đề biểu-tượng, nhưng dụng-cụ là sở-trường của họ Dụng-cụ là để mà sử-dụng, và người SP không thể nào không sử-dụng dụng-cụ được
Họ phải lái xe cầy, đi máy bay, bắn súng, múa kiếm, bóp còi, khua chân múa tay Dụng-cụ có một ma-lực huyền-bí làm cho người SP thích-thú phấn-khởi Dụng-cụ trở nên phương-tiện để người SP phóng-diễn hình ảnh con người của họ: làm hình ảnh đó lớn ra, to hơn, sắc nét hơn; như vậy để họ xả hơi các nghị-lực
và động-lực bên trong
Người SP muốn người khác nhìn họ là con người được tự-do hành-động, hơn là con người hoạt-động, hoàn-toàn tự-do trong tinh-thần Không phải là người SP hãnh-diện vì có khả-năng hoặc quyền-lực để làm một cái gì, vì mẫu tính-tình khác cũng có như vậy, nhưng họ hãnh-diện vì có tự-do để hành-động như
họ đang tự-do hành-động Họ không tiết-kiệm kiến-thức hoặc tập-trung quyền-bính, nhưng họ sử-dụng nếp sống một cách tự-do như họ có thể Không cần phải chờ-đợi tới ngày mai mới hành-động, vì mỗi ngày mới đều đem lại nhu-cầu thích-thú mới, mạo-hiểm mới, thời-vận mới, cơ-hội mới Họ cần phải phát-triển tài-nguyên, phải cho guồng máy hoạt-động, phải vui hưởng với người Trong mọi tác-động, người SP cho thấy một thèm khát hành-động, và qua các hành-động đó, họ để lộ nhu-cầu muốn được người khác thấy họ có tự-do hành-động
Khung-cảnh xã-hội tạo nên môi-trường thuận-tiện cho người SP phái nam hoạt-động nhiều hơn phái nữ
SP Phong-trào giải-phóng phụ-nữ có giúp phái nữ hướng về hành-động một phần nào, tuy nhiên thực-tế hiện thời, người nữ SP không làm những công việc đặc-biệt của người SP cho dù một nửa số người SP thuộc phái nữ Dĩ nhiên có một số phụ-nữ làm thương mại, gia-nhập quân-đội, làm cố-vấn giải-quyết các khó khăn, nhưng những nghề đòi hỏi chính-xác, kiên-trì, nghị-lực, can-đảm, giờ giấc, vẫn còn ở trong tay phái nam nhiều hơn Đa-số phụ-nữ vẫn đi làm những công việc cổ-truyền của phái nữ như y-tế, giáo-dục, văn-phòng Nên nhớ cả 3 việc này không làm thoả-mãn đam-mê của người SP được
Bạn bè thường mô-tả người SP là lạc-quan, vui vẻ, yêu đời, dễ mến, dễ có cảm-tình Xét về mặt xã-giao, người SP có tính tình dễ thương, nói chuyện khôn-ngoan, dịu ngọt, và hay có những mẩu chuyện cười, những câu chuyện dí dỏm vô-tận Dù đi đâu, người SP, nhất là người SP hướng-ngoại, đều đem lại sức sống niềm vui cho một nhóm, một nơi Người SP dù chơi hay làm việc cũng gây nên hứng-khởi thích-thú Bầu-khí trở nên sáng tươi, nhiều mầu sắc và có tính cách mạo-hiểm
Thực vậy người SP dễ bị chán ngán vì tình-trạng cô-đọng kéo dài Họ thích thay đổi cách làm việc mỗi ngày Họ thường tìm giờ để giải-trí, thử ăn món mới lạ, kiếm nhà hàng mới hoặc du-ngoạn chỗ xa Người
SP thích tự-do phóng-khoáng, tình cờ ngẫu nhiên, ăn uống tùy lúc tùy nơi tùy hứng: khuynh-hướng này
dễ làm cho mẫu người thích trật-tự như mẫu người SJ khó chịu, và có thể tạo nên rắc rối nếu hai người SP
và SJ cưới nhau Người SP sống một cuộc đời thanh-thản làm cho nhiều người khác phải cảm-phục và đôi khi phen bì Auntie Mame bất-chấp những người phản-đối, đã thúc-dục người bạn (cuối màn 2) phải thử liều một chút: “Vâng! Cuộc đời là một bữa tiệc, và đa-số những hạng ăn mày khốn-nạn phải chịu chết đói! Phải sống chứ!” Và người bạn hiểu ý đã đáp lại: “Vâng! Phải sống chứ! Phải sống chứ!” (Lawrence and Lee, 1957)
Trang 28Người SP chỉ có thể thất-bại tạm thời thôi Họ có dư khả-năng để chịu trận nhịn đòn, trong khi đó những người khác có thể bị đo ván một lần là đi đời luôn Họ tự nhủ: ‘hết cơ bĩ-cực, tới hồi thái-lai’, khi mưa khi nắng, ngày mai trời lại sáng Jennie Churchill, người mẹ phi-thường của thủ-tướng Anh, là một người SP
Bà sống trong một tình-trạng căng-thẳng mà chính người SP cũng cho là hoạ-hiếm Ralph Martin bắt mạch được nếp sống đó khi ông viết về một lúc cuộc đời bà bị xuống dốc, như sau:
Đối với Jennie, năm 1895 là khởi-đầu cay đắng và tối tăm Chồng bà chết vì bệnh giang-mai sau một cơn bệnh dai-dẳng Chỉ trước đó mấy tuần người yêu của bà không còn đủ sức chờ-đợi nữa, đã thành-hôn với một người khác Hai đứa con trai là Winston và Jack đều có vấn-đề trở-ngại, nên bà phải chăm nom từng
li từng tí Đúng là bà kiệt-quệ về thể-xác và tâm-thần Đây nhé: người yêu của bà bỏ đi lấy người khác,
bà chỉ còn một chút tiền còm, và chẳng có một căn nhà riêng để ở Thế nhưng trong nội-tâm bà có một nghị-lực tiềm-tàng và một sức chịu-đựng bền-bỉ, nên chẳng bao lâu mà cuộc đời bà tạo nên nhiều phấn-khởi và sinh-lực mà chưa bao giờ bà dám mơ-tưởng tới Người bạn của bà là Lady Curzon đã viết thư cho bà: “Bà là người độc-nhất trên trần-gian đã cỡi sóng thần mà còn sống sót được” (Ralph Martin, Jennie, Signet, vol II, p.15-17)
Cuộc sống đối với người SP đồng-nghĩa với khích-động và hành-động khi được kích-thích Khích-động nào cũng chỉ là giai-đoạn ngắn ngủi nên người SP phải sống cho giây phút hiện-tại Đối với người SP, chờ-đợi là chết trong tâm-thần; trì-hoãn là làm mất hết khích-động Những mẫu người khác không thấy điều đó có ý-nghĩa gì cả, và họ có thể hiểu tại sao người SP lại chỉ thích sống vội vã chớp nhoáng như vậy; nhưng đối với người SP , cuộc sống không có chương-trình dài hạn, không có kế-hoạch mục-đích là cuộc sống thú-vị phấn-khởi hơn cả
“Tôi không muốn có con thì cưới hỏi làm gì? Đa-số phụ-nữ muốn cưới hỏi là để có con Đa-số được nhồi
sọ như thế Còn tôi thì không chịu như vậy đâu Trong thâm-tâm tôi cảm thấy có gì kỳ-lạ một chút Tôi bắt đầu cảm thấy bị gò bó nếu như tôi bó buộc phải có mặt một nơi nào đó đúng giờ đúng khắc, rồi nếu tôi không có mặt ở đó thì nàng sẽ lo lắng Ôi thôi! Tình yêu chính là gánh nặng nhất cuộc đời của tôi rồi vậy” (Cheryl Bentsen, This man is madly in love, Los Angeles Times, Part III, Sunday, Feb 15, 1976, p.1: story of Joe Namath, football professional)
Người SP không cân-nhắc kinh-nghiệm theo nguyên-tắc chủ-đích Họ chỉ nói về hành-động và hữu-dụng
Họ không phải cố-gắng chịu-đựng, đối-phó với ai cả Dù mệt nhọc, đói khát, đau khổ thế nào chăng nữa,
họ cũng chỉ coi đó như một cuộc phiêu-lưu mạo-hiểm, chứ không phải một sứ-mệnh phải chu-toàn Người SP không nghĩ đến chủ-đích phải nhắm tới, mục-tiêu phải đạt được, nên không có vấn-đề phải chịu-đựng làm gì Chỉ khi nào nhắm một chủ-đích, người ta mới phải cố-gắng chịu-đựng để đạt mục-đích
đó Có lỗ là phải đào, có cửa là phải mở, có sân là phải chạy, có chuông là phải reo, có núi là phải trèo Đôi khi sự khích-động bắt phải hành-động này khiến người SP phải trả một giá quá đắt như câu chuyện
về Elvis Presley Presley đậu xe Cadillac đặc-biệt của chàng bên cạnh một hãng bán xe Khi chàng trở về thì thấy một người con gái lạ mặt nhìn chăm chú vào chiếc xe của chàng, tỏ vẻ thích-thú chiếc xe đó Chàng hỏi xem cô nàng có thích chiếc xe đó không, rồi đưa ra đề-nghị: “Đây là chiếc xe của tôi, nhưng nếu cô thích, tôi sẽ mua cho cô một chiếc xe khác” Thế là chàng dắt tay cô gái lạ mặt vào trong hãng bán
xe và bảo cô chọn một chiếc xe tùy ý cô thích Cô chọn một chiếc xe mầu trắng mạ vàng giá $11,500.00 (giá năm 1975) Chàng hỏi chuyện và được biết hôm đó là ngày sinh-nhật của cô, chàng trao chìa khoá xe cho cô, chúc cô mừng sinh-nhật vui vẻ, và còn bảo người tùy-phái viết cho cô một chi-phiếu để cô có chút tiền mua y-phục xứng-đáng với chiếc xe mới” (Los Angeles Times)
Trang 29Điều kỳ-lạ nhất là người SP có sức chịu-đựng hơn những mẫu người khác Họ chịu-đựng thiếu tiện-nghi, đói khát, mệt nhọc, đau khổ, và họ tỏ ra can-đảm phi-thường Đó là vì những mẫu người khác luôn hướng
về một chủ-đích, không muốn làm gì cả nếu không có một lý-do Vì thế những mẫu người khác mới bắt đầu hành-động một chút mà thấy có trở ngại khó khăn, mệt nhọc, bực bội, thì họ tìm hiểu xem họ có sức chịu đựng tới mức nào nữa Đặt câu hỏi như vậy là chết rồi: tự mình làm hại mình, vì khi đặt câu hỏi như vậy, là đã ngầm trả lời không rồi vậy Còn người SP không hướng tới chủ-đích, họ không cảm thấy hành-động của họ là kéo dài triền-miên, họ không lo phải chịu đựng lâu dài, và chẳng bao giờ thắc mắc
họ có sức chịu được nữa hay thôi Họ chỉ biết tiếp-tục hành-động như họ đã và đang hành-động, hơn mọi giới-hạn của các mẫu người khác
Chính nhờ khuynh-hướng hành-động theo kích-thích và khích-động,- nghe như có vẻ mâu-thuẫn, vì chỉ sống cho hành-động hiện-tại - mà người SP đã trở nên những nghệ-sĩ trứ-danh, các thiên-tài về nghệ-thuật,
về giải-trí, về phiêu-lưu mạo-hiểm Những hoạ-sĩ tài-ba, nhạc-sĩ nổi tiếng, ca-sĩ thượng-thặng, vũ-sư, điêu-khắc-gia, nhà chụp ảnh, lực-sĩ, thợ săn, võ-sĩ, người đánh bạc: tất cả đều cần phải có tài chịu-đựng thật lâu, để tập-trung thích-thú vào những gì đang xẩy ra Không mẫu người nào có thể có sức như những thiên-tài đó: hành-động liên-tiếp và triền-miên
Làm sao lại như vậy khi mà người SP ghét tập-luyện và dấn-thân, và họ chỉ để cho kính-thích khích-động điều-khiển họ? Như đã nói trước, một khi người SP bắt-đầu hành-động, họ say mê hành-động giờ này qua giờ khác, luôn luôn bền đỗ, chứ không dễ bỏ cuộc như mấy mẫu tình-tình khác Chính máu đam-mê hành-động đó đã rèn luyện họ trở nên nhân-tài Hình như chỉ có người SP mới có được hoàn-hảo trong hành-động, cho dù không bao giờ họ có ý tập-luyện để được hoàn-hảo như những mẫu tính tình khác Người NT tìm kiếm hoàn-hảo, nhưng chẳng bao giờ đạt được, còn người SP quên đi mục-đích theo đuổi hoàn-hảo, không cố-ý tập-luyện để được hoàn-hảo, nhưng lại có được hoàn-hảo Người NT cố-ý thực-tập theo sách vở, quyết-định rèn luyện theo thời-khắc-biểu, còn người SP chỉ hành-động theo tự-nhiên,
Trang 30triền-miên không ngừng, không biết mệt, chỉ làm là làm, hành-động với không mục-đích nào khác ngoài hành-động Có khi ý-hướng đi tìm hoàn-hảo hoặc cố-gắng làm việc để được như vậy còn cản-trở họ là đàng khác Đối với họ, chỉ một mình hành-động tự nó đã là sự hoàn-hảo rồi
Những nghệ-sĩ tài-danh như Nijinsy, Rubinstein, Heifetz, Casals, Callas đều thuộc về mẫu người SP Cả những người đua xe ngựa, lính chuyên-nghiệp, nhà ảo-thuật, đấu-võ, chơi bài, bắn súng thiện-xạ Một tay súng cừ-khôi có thể rút súng lục, quay mấy vòng, giương lên rồi bắn trúng ngay một vật nhỏ đang di-động Hành-động của họ cũng mau lẹ như nốt nhạc nhanh trong một bản hoà-tấu
Nói theo một nghĩa nào đó, người SP không có làm việc, vì làm việc ngụ ý phải sản-xuất, hình-thành, chu-toàn Người SP không muốn làm như vậy Họ thích hướng về đường lối phương-pháp hơn là kết-quả mục-đích Dĩ nhiên thành-quả của đường lối phương-pháp họ hành-động đưa đến một kết-quả mục-đích, nhưng đó là tuỳ tòng phụ-thuộc Họ không phải như Sisiphus thất-vọng vì suốt ngày vất vả đẩy tảng đá lên núi để rồi tối đến tảng đá lại lăn xuống chân núi Họ lấy làm vui thích khi được đẩy tảng đá lên núi, chứ không để ý xem những cố-gắng của họ có tạo-dựng được đền đài nào không Người SP thích làm những việc đòi hỏi nhiều tác-động như các bộ môn nghệ-thuật, công-trình xây cất đòi hỏi máy móc đủ cỡ,
mở đường xá, khai-quang, đi đánh thuê, chuyên-chở hàng-hoá, quảng-cáo, lái xe cứu-thương, lái xe đua, đua xe gắn máy, lái máy bay Những chính-trị-gia hoặc nhà thương-thuyết, nhà kinh-doanh thích thành-công trong việc cứu-nguy một kỹ-nghệ sắp phá-sản, người chuốc rượu, người giữ cửa, nhà ảo-thuật, lực-sĩ, trọng-tài Tất cả những nghề đòi hỏi phải hành-động và biết đáp-ứng với những đòi-hỏi khẩn-cấp tại chỗ Tất cả đều phải hành-động do áp-lực đòi hỏi và tình-trạng càng khẩn-trương, họ càng tỏ ra hữu-hiệu t.d Arthur Hailey diễn-tả năng-khiếu lạ lùng và hành-động thiếu suy-tư gần đưa đến nguy-hiểm của một người SP trong phim Airport:
“Thưa ông, có xăng rơi rãi nơi đây Xin vui lòng tắt thuốc Patroni không chú-ý tới lời căn-dặn, cũng chẳng bao giờ chú-ý tới những luật cấm hút thuốc Ông cầm điếu xì-gà vẫy về phía chiếc xe vận-tải bị lật rồi nói: ‘Này, còn gì nữa không? Làm gì mất giờ của mọi người, giờ của ông bạn cũng như giờ của tôi? Làm sao mà bạn tìm cách lật chiếc xe vận-tải đó lại được? Ông bạn phải kéo xe ra một bên để cho xe cộ lưu-thông đã chứ Ông bạn cần hai xe cần cẩu nữa: một chiếc bên này để đẩy, hai chiếc bên kia để kéo!’
“Rồi ông bắt đầu đi vòng quanh, dùng chiếc đèn điện để xem xét chiếc xe vận-tải từ nhiều góc cạnh Bao giờ cũng vậy thôi, khi nào cứu xét một vấn-đề, ông đặt mình trọn vẹn vào vấn-đề đó Ông cầm điếu xì-gà vẫy một lần nữa rồi nói: “hai xe cần cẩu sẽ kích vào 3 điểm, rồi sẽ kéo xe taxi ra trước và nhanh hơn Như thế là hai xe không còn dính vào nhau nữa Còn xe cần cẩu bên kia ’’ Cảnh-sát công-lộ nói: “chờ đã!” rồi gọi mấy viên cảnh-sát bên kia đường: “Này, ở đây có ông này coi bộ biết việc phải làm” (Arthur Hailey, Airport, Bantam books, 1968, p.43)
Người SP là mẫu người hay có tính đi lang thang đây đó Họ dễ cắt đứt giây liên-lạc hơn các mẫu tính-tình khác, cho dẫu họ biết làm như thế là tạo nên đau khổ cho những người thân của họ Họ có thể bất-thần bỏ cuộc, thay đổi nếp sống, dứt khoát ra đi mà không thèm ngó lại Mực vương vãi tới đâu là nằm y chỗ đó Họ từ-bỏ trách-nhiệm y như thể họ không bao giờ lãnh-nhận trách-nhiệm đó cả Mặc dầu chính người SP tạo nên những liên-hệ đó, bây giờ họ nhận ra những ràng buộc và gánh nặng Đặc-biệt là vào tuổi trung-niên, người SP rất cần tự-do, có khi tới độ đứng ngồi không yên Hoạ-sĩ Gaugin vào khoảng hơn 40 tuổi, đã bỏ nhà để vượt trùng-dương tới Tahiti Chính ở đó, ông đã sáng-tác những tác-phẩm tuyệt vời, và dĩ nhiên là ông đã đành để mất tín-nhiệm đằng sau ông
Tuy thế qua lối sống đầy mâu-thuẫn, người SP lại là người sống có tình chung-thuỷ hơn ai hết Họ thích sống tinh-thần đồng-đội, giữ liên-lạc bền-vững với bạn bè, bênh-vực nhóm khi bị công-kích Trường-hợp điển-hình nhất là quân-đội, hướng-đạo, hội-đoàn từ-thiện Người SP có thể bỏ qua những tình-cảm ướt át,
Trang 31tình-tứ lãng-mạn, đặc-điểm của các mẫu tính-tình khác Dù người SP là xếp xòng về những cử-chỉ hào-hoa t.d tặng món đồ lớn như hột xoàn, nhẫn vàng, nhưng họ có thể quên dễ dàng một lời nói yêu thương, một cử-chỉ thân-ái nhỏ mọn
Người SP sử-dụng những gì họ có và sẵn sàng chia sẻ với người khác Họ thích sống một đời vương-giả khi họ không thiếu phương-tiện, và nếu có thiếu thì cũng chỉ là tạm thời Cho dù có lúc họ thiếu thốn, họ cũng muốn tỏ ra đại-lượng Họ là mẫu người muốn chia sẻ và có óc thực-tế biết dùng những gì họ sở-hữu Của tôi là của bạn, và dĩ nhiên của bạn cũng là của tôi Đối với người SP, khi cần thì cái gì cũng có thể thương-lượng dàn xếp được Người SP chấp-hành nghiêm-chỉnh các luật-lệ một cách bình-thường, nhưng nếu có trường-hợp khẩn-cấp xẩy đến, hoặc do nhu-cầu đòi hởi, họ có thể có một thái-độ và tính-tình khác hẳn Hoàn-cảnh mới đòi hỏi hành-động mới, nên những hứa hẹn trước có thể bị dẹp bỏ qua một bên, cho
dù có thể có tiếc nuối nhưng cũng là dẹp bỏ Ngày hôm nay là hiện-tại phải đối-phó, và ngày hôm qua phải nhường chỗ cho đòi hỏi mới khẩn-thiết của ngày hôm nay
Người SP cần-thiết phải sống trọn vẹn cho hiện-tại hơn là mấy mẫu người khác, và như vậy đôi khi có thể làm cho những ngươì khác khó chịu vì nghĩ rằng họ cứ phải sống trọn vẹn như vậy luôn mãi Bạn của người SP thích lòng quảng-đại và tính vui vẻ của người SP, nhưng thỉnh thoảng họ lại có nhận xét rằng chỉ gặp một lần là đủ để đi guốc trong bụng người SP rồi, và có gặp gỡ thêm cũng không biết gì hơn nữa Thực ra lối sống của người SP dễ bị người khác coi thường Ai cũng thấy nếp sống của người SP hấp-dẫn lôi cuốn, rồi sau đó lại cảm thấy bực mình vì không thấy người SP sống đúng với kỳ-vọng người khác muốn nhìn nơi người SP Người SP không cảm thấy phấn-khởi gì về những vấn-đề kích-động rườm rà rắc rối Đối với họ, kích-động nào cũng được cả, và như vậy là đủ để họ suy-tư, hành-động và tin-tưởng Họ sống với óc rất thực-tế, nên họ không cần hành-động của họ phải tuân theo cách chính-sách, luật-lệ, đường lối như các mẫu người khác Tính người SP là nhào vô trước khi mở mắt quan-sát, họ dễ bị tai-nạn hơn các mẫu người khác Họ dễ tự gây thương-tích vì không chú-ý quan-sát để rồi bị thất-bại hoặc tai-nạn
Họ lạc-quan chỉ vì mong chờ cơ-hội may mắn
2.- TÍNH TÌNH CHỊU (SIÊNG) LÀM: SJ
Cũng như SP, mẫu người SJ gồm chừng 38% quần-chúng Jung sắp xếp 4 loại SJ: ISFJ, ESFJ, ISTJ, ESTJ Có nhiều điểm giống nhau và cũng có nhiều điểûm khác nhau, nhất là quan-niệm của họ đối với nghĩa-vụ và trách-nhiệm Điểm chung giống nhau là họ hiện-diện, có mặt chính là để làm ích cho xã-hội, cho tập-thể
Epimetheus, em của Promotheus và Atlas, tượng-trưng cho tinh-thần SJ cũng như Dionysius tượng-trưng cho tinh-thần SP Theo như thần-thoại Hy-lạp, Promotheus dặn bảo em Epimetheus đừng có nhận hồng-ân nào của thần-phụ là Zeus Promotheus sống đúng với lời mình khuyên em, nên đã từ-chối không chịu cưới những phụ-nữ xinh đẹp do thần-phụ Zeus gầy-dựng cho Epimetheus cũng noi theo gương của anh, không chịu cưới Pandora do thần-phụ hiến-tặng, làm cho Zeus bực mình nổi cơn lôi-đình
Epimetheus thấy anh Promotheus bị trừng phạt nên đã đổi ý và chấp-nhận Pandora, cho dù Epimetheus biết được những nguy-hiểm đang đón chờ từ nơi người thiếu-nữ đẹp tuyệt trần này Chẳng bao lâu Pandora không chịu nổi tính tò mò nên muốn xem cái hộp bằng vàng mà nàng phải đeo từ Olympus và theo lệnh của Zeus nàng không được mở ra Epimetheus đứng sát cánh bên vợ khi nàng mở hộp ra thì thấy đủ mọi sự dữ như lão, bệnh, lao-công, điên khùng, tật xấu và đam-mê Epimetheus cũng bị nạn hành-hạ như Pandora vậy, nhưng không bao giờ lìa bỏ nàng Trái lại chàng thẳng thắn chấp-nhận định-mệnh của mình, và cố-gắng tìm hiểu cho biết phải và nên làm gì để chống lại những sự dữ đã lan tràn khắp thế-giới Khi Epimetheus đáp lời yêu-cầu của Zeus mà cưới Pandora, chàng được quán-triệt khôn-ngoan mọi sự Chàng biết dùng dư-luận để chế-ngự và dung-hoà thế-giới đại-đồng Như vậy là nhờ
Trang 32vâng lời, Epimetheus được tự-tin và lương-tri toàn hảo Chàng phải chịu nhiều sự dữ của loài người, nhưng chàng lại tìm được kho tàng hy-vọng và tiên-đoán sự thiện độc-nhất có ở trong hộp Pandora (Grand, 1962; Graves, 1955; Hamilton, 1940; Jung, 1923)
Người SJ cần phải liên-hệ giao-kết và mối liên-kết này phải là do công-trình của họ tạo-dựng Không có chuyện ‘của chùa’, ‘lộc thánh’, chờ-đợi của từ trên trời rớt xuống Người SJ coi việc lệ-thuộc người khác
là một việc không chính-đáng và không nên làm Người SJ nhận thấy lệ-thuộc người khác là chứng-tỏ thiếu tinh-thần trách-nhiệm, hoặc không chu-toàn nghĩa-vụ Hơn nữa, họ phải là người cho đi cứ không phải là người nhận lại, là người chăm sóc chứ không phải là người được chiều chuộng
Thái-độ làm cha mẹ, đóng vai anh chị nơi người SJ xuất-hiện rất sớm khi còn nhỏ Quan-sát một lớp mẫu-giáo, chúng ta dễ nhận thấy chừng 1/3 lớp gồm trẻ em nóng lòng sốt ruột chờ-đợi cô giáo ra lệnh cho biết phải làm gì, còn những trẻ em khác, - phần lớn là SP với một số NF và NT lưa thưa - cứ y như những con chó con tranh dành, thám-thính và gậm nhấm những giờ phút thần-tiên đó cho xong Trường học là chỗ dành cho người SJ, và phần lớn do người SJ điều-khiển, và được duy-trì để biến những con chó con ham vui này thành những cha mẹ nho nhỏ, nghiêm-trang, đầy trách-nhiệm, chỉ muốn biết nhiệm-vụ của
họ phải làm gì
Khi người SJ cắp sách đi học, họ đã thay đổi từ dáng dấp một người đàn anh đàn chị qua dáng dấp làm cha làm mẹ Dĩ nhiên họ còn cảm thấy lệ-thuộc nhiều năm nữa trong thời niên-thiếu (cho đến khi có tiền còm nhờ đi bỏ báo, hoặc tiền lì-xì bỏ ống), nhưng họ không thích phải lệ-thuộc như vậy Đây không phải
là ước muốn được độc-lập như người SP, nhưng là họ ước muốn phục-vụ mà chưa có dịp: họ nôn nao muốn giúp ích cho đời, cho người
Nên nhớ rằng người SP có khuynh-hướng cần tự-do và tự-lập, còn người SJ thực ra có khuynh-hướng muốn có kỷ-luật gò bó và bắt buộc Đó là những nhu-cầu hỗ-tương Thực vậy cách tìm hiểu tính tình của người SJ rõ nhất là so sánh họ đối chọi với tính-tình của người SP
Trước hết người SJ sống đạo-lý khổ-hạnh, còn người SP sống theo triết-lý hưởng-thụ: một bên là làm việc, một bên là vui chơi Đó là hai đường lối sống, không có cái này tốt cái kia xấu, nhưng là hai quan-niệm sống khác biệt nhau Dĩ nhiên để nhìn xa hơn, chúng ta có thể tìm hiểu thêm quan-niệm thế nào là tốt xấu trong đường lối NF và NT
Sau đến, người SP có cử-chỉ bình-dân và lối sống phóng-khoáng, vì họ tin-tưởng và ước muốn mọi người bình-đẳng bình-quyền, còn người SJ có dáng dấp người lớn và nét mặt quan-trọng, vì họ tin-tưởng và ước muốn tôn-ti trật-tự, thứ-tự lớp có đầu có đuôi có trên có dưới, phải có luật-lệ quy-tắc chi-phối các liên-hệ giữa các phần-tử như học-đường, giáo-hội, xí-nghiệp, chính-quyền, gia-đình Mỗi người phải hoạt-động tích-cực để đạt được chỗ đứng , địa-vị trong xã-hội Người SP không có cái nhìn bên ngoài như vậy:
họ cho rằng mọi người đều bình-đẳng dù ở phe nhóm, tổ-chức nào cũng vậy, và cấp bậc trong xã-hội chẳng qua chỉ là vấn-đề hên xui may rủi, chứ chẳng ai làm gì nổi Còn luật-lệ ư? Luật-lệ là một hình-thức ngụy-trang của những người muốn củng-cố địa-vị của mình do tình-cờ mà chiếm được Ít ra đó cũng là điều người SP nhận xét như vậy
Tiếp đến, chỉ nhìn thoáng qua các hành-động của người SJ, cũng đã nhận thấy một tư-tưởng bi-quan yếm-thế, ngược lại với người SP là lạc-quan yêu đời Khẩu-hiệu của hướng-đạo là ‘Sắp Sẵn’ chắc phải là
do một người SJ nghĩ ra Người SJ có sáng-kiến và tổ-chức như điều-hành hướng-đạo Thực vậy người SJ lúc nào cũng chuẩn-bị sẵn sàng Đa-số hành-động của họ chỉ là để chuẩn-bị cho những biến-cố bất ngờ có thể xẩy ra Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên vội vàng kết-luận rằng người SJ luôn luôn nghĩ tới
Trang 33tai-nạn và kinh-hoàng, nhưng hãy coi họ như có óc thực-tế về sai lầm và khiếm-khuyết có thể xẩy ra
Họ đề-phòng nguy-cơ một cách rất hữu-hiệu
Ngụ-ngôn ’con kiến và con ve sầu/châu chấu’ của ông Ê-xốp cho thấy một hình ảnh dễ hiểu về người SJ
và người SP Theo ngụ-ngôn, con kiến kiên-trì cần-mẫn khuân vác các mẩu bánh lớn về tổ, trong khi ve sầu/châu chấu nằm lười biếng trên thảm cỏ bên cạnh đường đi của kiến, ca hát múa may cho rằng ‘trời sinh voi, trời sinh cỏ’ Con kiến không nhụt chí với công việc nặng nhọc, quở trách ve sầu/châu chấu không chuẩn-bị cho những ngày tháng mùa đông Kiến nói: “Anh chung sức với tôi, tích đầy nhà kho để muà đông khỏi bị đói lạnh” Châu chấu trả lời: “Nhưng nếu chị cứ làm việc cần cù như bây giờ, đã chắc
gì sống nổi tới mùa đông mà lo Biết đâu chị chẳng bị bệnh cao máu, đau bao-tử, táo bón mà chết Chị nên bắt chước tôi đây, thảnh thơi nhàn-hạ trên thảm cỏ, hưởng dùng thức ăn dư thừa, và đòi hỏi thế-giới phải cung-phụng ta, tội gì mà làm việc cho mệt?”
Dĩ nhiên mỗi con vật theo ý riêng mình, chẳng ai nghe ai Đến khi mùa đông dài tới, ve sầu/châu chấu phải gõ cửa nhà kiến, sau khi phải đứng chờ vừa đói vừa lạnh Kiến ở trong nhà đầy đủ lương-thực cuối cùng cũng thương-hại cho ve sầu/châu chấu vào Người SJ và SP cũng vậy: nhiều đôi vợ chồng là SJ với
SP, và màn kịch đó cứ diễn đi diễn lại mãi không ngừng
Một nhận xét nữa về tư-tưởng bi-quan của mẫu người Epimetheus Định-luật Murphy cho rằng ‘cái gì có thể hư hỏng thì trước sau gì cũng sẽ hư hỏng’, hoăïc ‘làm việc gì cũng tốn tiền tốn giờ hơn là ta nghĩ’ Chỉ có người SJ mới có thể nghĩ ra định-luật đó thôi
Người SJ ao ước trở nên hữu-dụng và thường phát-hiện qua lòng thèm khát gia-nhập hội-đoàn tổ-chức
Về điểm này, người SJ thực sự thèm khát hơn những mẫu người khác Trung-tâm đời sống của người SJ
là gia-nhập cơ-cấu tổ-chức Qua hành-động, người SJ nhận ra bản-tính xã-hội của con người Hơn các mẫu người khác, người SJ sáng-lập và duy-trì các cơ-cấu tổ-chức như gia-đình, giáo-hội, hiệp-hội, đoàn-thể, phong-trào, nghiệp-đoàn Có khi cơ-cấu tổ-chức là tất cả mục-đích cuộc sống của người SJ, cũng như hành-động là cùng-đích của người SP vậy Người SP cũng gia-nhập cơ-cấu tổ-chức, nhưng đòi hỏi và mong đợi cơ-cấu tổ-chức đó phải đáp-ứng nhu-cầu của họ, họ mới gia-nhập và tích-cực hoạt-động Người SJ càng lớn tuổi càng nhận thấy truyền-thống là quan-trọng Các người SJ trong gia-đình, hội-đoàn, giáo-hội hoặc nghiệp-đoàn là những người cần-thiết để bảo-vệ truyền-thống Nếu chưa có nghi-lễ, tập-tục
và truyền-thống, người SJ sẽ cố-gắng thiết-lập và bảo-vệ Nên nhớ rằng những mẫu người khác rất vui mừng được tham-dự những lễ lạc, nghi-thức, hội hè đình đám Cũng nên nhớ rằng người SJ mời mọi người tới tham-dự cho dù một số tỏ ra vô-ân bạc-nghĩa
Trang 34Tuy nhiên, người SJ dễ nhận ra thái-độ vô ơn hờ hững của người khác đối với những dịch-vụ, ân-cần, hy-sinh của mình Điều kỳ-lạ là họ không thấy đòi hỏi người khác phải biết ơn, cảm-tạ, bởi lẽ nhiệm-vụ của họ là phục-vụ, hy-sinh, săn sóc, lo lắng Họ cảm thấy phải làm như thế vì trách-nhiệm có lúc nặng nề,
và họ muốn cảm thấy như vậy Đối với họ, nếu cảm thấy khác có nghĩa là vô-dụng, không tham-gia, và thái-độ nhận lãnh, được cung-phụng, được săn sóc là những thái-độ không chính-đáng, phải khử-trừ mỗi khi thấy xuất-hiện Thử quan-sát một người SJ dự tiệc mà coi: họ chỉ vui khi được giúp chủ nhà làm bếp, dọn bàn, đưa món ăn, thu dọn sạch sẽ Ngược lại, khi người SP tổ-chức tiệc tùng mà mời người SJ dự, người SJ cuối cùng chính là người phục-vụ mọi người Dĩ nhiên người SP khởi-xướng, nhưng người SJ thanh-toán dùm
Không có gì là bí-mật khi người SJ chọn nghề Các cơ-cấu tổ-chức hệ-thống này nọ đón mời họ, và họ đến để thiết-lập, nuôi dưỡng, và bảo-trì các cơ-cấu đó cho liên-tục và trường-kỳ Dạy học, kế-toán, ngân-hàng, thư-ký, y-khoa, phục-hồi, bảo-hiểm, chứng-khoán, điều-hợp, cung-cấp buôn bán: tất cả đều có một điểm chung là bảo-trì Người SJ là con người bảo-trì dù ở đâu, dù làm việc gì và với ai chăng nữa
Họ tiết-kiệm cách này cách khác, trước hay sau cũng vậy, còn người SP chỉ biết tiêu-xài, sử-dụng Người
SJ là nền tảng, then chốt, cột trụ, yếu-tố căn-bản của xã-hội, và nên mừng khi có họ chung quanh ta
Ước muốn bảo-trì của người SJ thật mãnh-liệt nên mọi hành-động, tư-tưởng và thái-độ của họ đều bị ảnh-hưởng lây Người SJ khó mà từ-chối khi được trao-phó thêm trách-nhiệm Họ lý-luận: ‘Nếu tôi không làm thì chẳng ai chịu làm cho’, và ‘Như thế thì đâu có xong việc được!’ Dĩ nhiên, có khi người SJ cảm thấy cay đắng vì người ta không biết ơn, và đôi khi cảm thấy bị thua thiệt, và buồn cười nhất là khi chính khi họ muốn hành-động để tránh thua thiệt đó Nhưng người SJ khó tự-do diễn-tả được tâm-tình cay cú khi không được ghi ơn, bởi lẽ bản-tính của họ bắt buộc thôi-thúc họ phải bảo-trì Nói theo một cách nào đó, người SJ không dự-trữ đủ nghị-lực để đề-phòng những lúc rủi ro, nên họ không thể đủ trách-nhiệm và nghĩa-vụ để chu-toàn điều mà họ cảm thấy
Người SJ ước muốn bảo-trì truyền-thống, nên họ chỉ mong sao cho có ngày họ được đóng vai-trò lãnh-đạo chỉ-huy Khi được như vậy, chắc chắn họ sẽ dùng uy-quyền của họ để bảo-trì cơ-cấu tổ-chức, để củng-cố di-sản Di-sản và điều-kiện để được di-sản có một chỗ lớn trong cái nhìn của người SJ đích-thực Những gì tạm bợ, mau qua và tiện-lợi hầu như bị người SJ coi như là phương-hại đến tập-thể, gia-đình, tổ-chức, di-sản Những điều này có thể là không có gì vô-luân, bất-hợp-pháp, nhưng ít nhất cũng đáng nghi ngờ đối với người SJ, vì tạm bợ, mau qua, tiện-lợi có nghĩa là có thay đổi, và thay đổi là làm mất giá-trị của di-sản Người SJ cũng hiểu như những người khác rằng cuộc sống cần phải có thay đổi, đôi khi
có những thay đổi không thể tránh được, có lúc thay đổi là điều hay nên thực-hiện, nhưng họ muốn rằng phải tìm mọi cách tránh thay đổi một điều đã được thử và xác-định là đúng, được công-nhận, chuẩn-y Thay đổi do diễn-tiến từ từ hơn là đột ngột bất ngờ Người SJ với tính cách bảo-trì di-sản, không bao giờ muốn cách-mạng
Người SJ quan-trọng-hoá chức-tước địa-vị, bởi vì địa-vị chứng-tỏ quyền chính-thức, và chức-tước nói lên nhiệm-vụ Người SJ không nhìn nhận rằng chủ-quyền là chủ-điểm của lề-luật, nhưng lề-luật là chủ-điểm của chủ-quyền Người SJ coi chủ-quyền bất-hợp-pháp là một trọng-tội Có hay không có đối với người SJ cũng chỉ là một cách biểu-lộ lòng thèm khát nhiệm-vụ y như cho đi và lãnh-nhận vậy Thực vậy, ta có thể
dễ hiểu người SJ hơn nếu ta biết rằng căn-bản của con người họ là bảo-trợ, nâng đỡ trong vấn-đề có hoặc cho, từ chối hoặc nhận lãnh
Người SJ đương nhiên là người ghi nhận lịch-sử của xã-hội, tông-tích của đoàn nhóm, và đây là người sẵn sàng học bài học lịch-sử vì xã-hội, vì đoàn nhóm Will Durant nói rằng bài học quan-trọng nhất của lịch-sử đó là liên-hệ hỗ-tương giữa tự-do và bình-đẳng Tự-do tăng-tiến thì bình-đẳng giảm-thiểu, và hễ bình-đẳng tăng-tiến thì tự-do cũng sẽ giảm-thiểu Rất tiếc là nhiều người không chịu học bài học lịch-sử
Trang 35quý giá đó Chứng-cớ hiển-nhiên là ai cũng đòi hỏi tự-do và bình-dẳng tới mức tối-đa Nhưng người SJ trực-giác được điều này Họ thấy hệ-thống giai-cấp bất-bình-đẳng là đường lối độc-nhất đưa tới tự-do Đó
là lý-do người SJ kính-trọng những người lớn tuổi, vì họ tin rằng những người lớn tuổi đáng được kính-trọng và được vâng-phục
Như lịch-sử có sứ-mệnh chỉ-huy hành-động tương-lai của ta, thì cũng có một số điều căn-bản làm nền-tảng để ta xây dựng và duy-trì những tổ-chức, hệ-thống, cơ-cấu tổ-chức của ta Người SJ chủ-trương phải có hệ-thống cơ-cấu tổ-chức căn-bản cũng như họ tha-thiết với tiền-lệ Dĩ nhiên giữa những người SJ với nhau, có thể họ không hoàn-toàn đồng-ý về những điều căn-bản chung, nhưng tất cả đều công-nhận phải có một hệ-thống cơ-cấu căn-bản và họ quyết-tâm theo đó Trách-nhiệm người SJ lãnh-nhận không bao giờ cùng Bao lâu còn có việc phải làm, có nghĩa-vụ phải thi-hành, có trách-nhiệm phải chu-toàn, bấy lâu người SJ cảm thấy phải góp một phần nào cho mọi sự được chu-toàn, cho dù có khi họ quá bề-bộn bận rộn, cho dù người khác không chịu góp phần bao nhiêu
Trên thực-tế, có nhiều người lợi-dụng tính ham làm của người SJ: ‘Thôi thì cứ để cho mấy người đó quán-xuyến!’ rồi bỏ bê không biết cám ơn, hoặc không chịu cộng-tác, để rồi một mình người SJ lăn lưng
ra mà làm, rồi kiệt sức, buồn chán, và có thể đau yếu nữa Người SJ thường hay bị chán-nản ê-chề Abraham Lincoln, một người SJ thật xuất sắc cũng đã cảm thấy tâm-trạng não nề này mà thở than:
“Giờ đây tôi là một con người sống khốn-nạn nhất Nếu gia-đình nhân-loại được phân-chia đồng đều những gì tôi đang cảm thấy, có lẽ chẳng còn một bộ mặt trên trần-gian này có thể vui vẻ được nữa Tôi không thể nói được rằng tôi có khá hơn được Tôi sợ rằng không ” (Gillette, Mary, Paul & Hornbeck)
Trang 36Một điều buồn cười là tinh-thần trách-nhiệm của người SJ không luôn luôn tạo nên cảm-tình mộ-mến biết
ơn Những người lợi-dụng lòng tốt của người SJ thường hay bỏ đi sau khi thấy người SJ đã kiệt-sức Thường thường những người thụ-ân người SJ không đủ tinh-ý nhận ra rằng không mấy ai tỏ lòng biết ơn người SJ Lý-do có thể là vì người SJ có khuynh-hướng giữ bộ mặt nghiêm-khắc trái ngược với tấm lòng nồng-hậu của họ Nhân-vật Hepsibah và Hawthorne trong ‘The House of seven Gables’ nhân-cách-hoá bộ-tịch đó như sau:
“Bộ-tịch nhăn nhó đó đã làm cho cô Hepzibah thành một con người khó tính, một gái già bẳn gắt Chắc
cô đã phải nhiều lần tự-nhủ ‘tôi trông thảm-thê quá!’ để rồi lại sống đúng như điều cô suy-nghĩ Tuy nhiên, lòng cô không bao giờ phải khó chịu: lúc nào cũng dịu dàng, tế-nhị và đầây giao-động hồi-hộp Đó
là nhược-điểm của tâm-hồn, trong khi đó nét mặt cô càng ngày càng tỏ ra nghiêm-khắc, dữ dằn” (Nathaniel Hawthorne, The House of the Seven Gables, Scholastic Magazine, N.Y 1965, pp.33-34)
Người SJ quan-tâm đặc-biệt đến việc phải chăm sóc cho người khác, cách riêng người trẻ và người già và những người có quyền Người SJ quyết-tâm sống theo tiêu-chuẩn của xã-hội và cố-gắng truyền lại những giá-trị tinh-thần đó cho thế-hệ trẻ Người SJ nhận thấy quan-trọng phải làm việc trong môi-trường phản-ảnh trung-thực những giá-trị đó, họ không thích liên-lạc với những người hoặc những tổ-chức ngoài môi-trường của họ
Trang 37“Những hình ảnh như vậy đâu có xứng-đáng! Mary nghi-ngờ dán mắt công-giáo vào những đường nét thân hình một người nằm xõng xoài, trần truồng Giả như con gái của Mary mà như vậy thì gia-đình O’Neills luôn luôn làm Mary sửng sốt Cô dễ bị ngạc-nhiên cũng như dễ bị thương: một cái va chạm nhẹ
đủ để vết tím bầm trên da thịt cô ngày này qua ngày khác Tội-nghiệp cho Mary Nếu không có Bobby, con trai của nàng thì nàng đã bỏ đi từ lâu rồi Tội-nghiệp cho cách họ nuôi mấy đứa con! Không bao giờ
có một miếng thịt mà ăn! Thỉnh thoảng mới được một miếng thịt cừu Không có gì ngon hết trừ một vài calôri và một ít chất giải-khát Và nếu như nàng không chỉ bảo dạy dỗ thì nó chỉ biết quá ít về Đấng Cứu-thế.” Tiffany Thayer, ThirteenWomen, N.Y., Claude Kendall, 1932, p.1)
Vì người SJ tha-thiết với các tổ-chức, định-lệ của xã-hội, nên đa-số họ có óc kinh-doanh, thương-mại, làm việc trong công-sở, tư-sở, văn-phòng, ngân-hàng, y-tế, kế-toán, nha-khoa, phòng nhân-viên, mỹ-viện, nhà thuốc: tất cả những nghề-nghiệp trên đều nhằm mục-đích cung-ứng dịch-vụ và phục-vụ theo các cơ-cấu tổ-chức sẵn có Có khá nhiều nhà giáo-dục, giáo-sư, giám-đốc, quản-thủ thư-viện thuộc loại người
SJ Tính trung-bình, có chừng một nửa giáo-chức trung-tiểu-học thuộc mẫu người SJ Lý-do dễ hiểu là vì giáo-chức SJ tượng-trưng thực sự cho giá-trị tinh-thần cố-hữu của học-đường muốn bảo-vệ và thông-truyền luân-lý và văn-hoá cho thế-hệ mai sau
“Bước chân vào lớp học là bạn có tất cả uy-quyền của một định-chế Bạn bảo người ta làm là tức khắc người ta phải làm, bảo người ta đọc là người ta phải đọc, bảo người ta suy-nghĩ làm sao, giải-thích sự việc thế nào là người ta phải suy-nghĩ giải-thích như vậy Bạn có thể làm cho người ta có mặc-cảm tội lỗi vì họ chưa kịp đọc cho thấu, hoặc chưa làm quen được với các tài-liệu Giáo-chức nào cũng chơi một trò như vậy cả Và tôi cũng đã sống trong cuộc, với đủ chân tay mặt mũi” (Studs Terkel, Working, p 566)
Người SJ cũng thích những nghề xoay quanh vấn-đề dinh-dưỡng như bệnh-viện Đa-số các y-tá thuộc loại người SJ, nhất là SFJ Đặc-biệt người SJ thích phục-vụ các nơi săn sóc người nghèo, người đau yếu
Người SJ chính là nòng cốt làm quân-bình lãnh-vực kinh-tế và xã-hội Họ làm ra được tiền và đáng đồng tiền bát gạo, và không hiểu làm sao người khác không làm được như thế Người SJ hiểu rõ giá-trị của truyền-thống, quan-niệm đứng đắn thế nào là đúng, thế nào là sai, và thường không chấp-nhận những người làm sai Người SJ khó chịu với những ai vi-phạm luật-lệ tổ-chức hoặc công-ước xã-hội, cho đến khi người ta hối-cải Người SJ coi thường những ai lạc-đường cho đến khi họ ăn năn trở về và cải-thiện đời sống
Người SJ muốn làm việc đúng thời đúng chỗ Hằng ngày họ thèm khát được tháp-nhập vào tổ-chức của
họ, và muốn góp phần phục-vụ tổ-chức đó Không bao giờ họ nghĩ rằng việc họ làm hôm qua là đủ thay thế cho hôm nay Mỗi ngày người SJ tìm cách để củng-cố việc họ làm để chứng-tỏ họ thực sự thuộc về tổ-chức của họ bằng cách ngày nào cũng vậy họ chu-toàn nghĩa-vụ được trao-phó Đối với họ, không chu-toàn nghĩa-vụ là có lỗi, không phù-hợp với tiêu-chuẩn của xã-hội là quê cùng mình Những chữ diễn-
tả con người SJ là trung-thành, đáng tin, kiên-vững, đúng luật, rường cột của xã-hội, cột trụ của tổ-chức
Họ là người tạo-dựng xã-hội
3.- TÍNH TÌNH NGHIÊM-TÚC (NĂNG TIẾN): NT
Thần Prometheus đã cho con người ngọn lửa quý hoá, tượng-trưng cho ánh-sáng và năng-lượng, để biến con người nên giống thần-minh hơn Nhờ chế-ngự được ánh-sáng và năng-lượng, con người kiểm-soát được thiên-nhiên, có nghĩa là nắm được quyền-lực ở trong tay Chính đó là đặc-điểm của mẫu người Prometheus, khác với các mẫu người khác: ước muốn có quyền
Trang 38Có những mẫu NT như sau: INTP, ENTP, INTJ, ENTJ Chỉ có khoảng 12% quần-chúng thuộc mẫu tính tình này thôi, nên tương-đối ít gặp thấy Ở nhà trường , một lớp học tiêu-biểu 32 học-sinh, chỉ có 4 người thuộc mẫu NT, và chỉ có 1/4 là hướng-nội, hoặc INTP hoặc INTJ Như thế đủ để thấy người NT phải sống trong một môi-trường thật xa lạ, khác-biệt Họ phải sống với người khác mẫu tính tình, trong khi người SP và SJ thường gặp người cùng mẫu tính tình sống chung quanh Cha mẹ và giáo-chức của người
NT thường thuộc lại SP và SJ Cứ 16 gia-đình mới có một gia-đình cả cha lẫn mẹ đều là N, và cứ một ngàn gia-đình mới có một gia-đình cả cha mẹ đều là NT
Người NT thích có quyền-lực, không phải là quyền-hành trên người khác, nhưng là thứ quyền-lực đối với thiên-nhiên: làm sao để có thể hiểu biết, kiểm-soát, tiên-đoán và giải-thích các sự-kiện thực-tế đang xẩy ra Nên nhớ trên đây là những đặc-điểm của khoa-học Do đó, người NT có khuynh-hướng trở nên nhà khoa-học Những hình-thức quyền-lực người NT muốn có chỉ là phương-tiện để họ đạt tới một mục-đích: mục-đích chính là thông-thạo hiểu biết Thực ra, người NT không muốn quyền-lực vì quyền-lực, mà muốn chứng-tỏ họ có khả-năng, thẩm-quyền, tư-thế, năng-khiếu, sở-trường, tài-cán
Người NT say mê óc thông-minh sáng suốt, có nghĩa là họ có khả-năng làm việc tốt trong nhiều hoàn-cảnh khác nhau Người NT cực-đoan có thể mê-mẩn thu-thập kiến-thức, lúc nào cũng tìm cách học khôn, y như con kiến trong truyện ngụ ngôn lo tích trữ của ăn Nếu bạn cho người NT biết họ là con người giả-hình, lừa dối, lường gạt, thiếu trách-nhiệm và sáng-kiến, họ chỉ suy-nghĩ về nhận xét của bạn
và có thể đáp lại rằng biết đâu bạn nhận xét có phần đúng Như thế, không có nghĩa là họ không khó chịu, bực mình, bởi lẽ họ thường thắc-mắc nghi-ngờ chính nhận-định của họ về tự-do, trách-nhiệm và quyền-hành Nhưng nếu bạn cho người NT là điên-dại, ngu-xuẩn, không có khả-năng, họ sẽ cho bạn thấy
rõ giá-trị tại sao bạn có thể nhận xét như vậy Chỉ mình họ mới có thể nhận-định khả-năng của họ, và họ nhận-định rất là khắt khe đúng mức
Người NT tìm cách để chứng-tỏ khả-năng, và nhiều khi như thế vẫn chưa đủ, họ muốn họ có dư khả-năng
Họ ước muốn thật nhiều khả-năng, họ bị mê mẩn và chỉ muốn sao cho phát-triển thêm, y như thể bị một ma-lực nào lôi cuốn vậy Người NT muốn phát-triển cũng như người SP muốn biểu-lộ vậy, cho dù đối-tượng khác nhau: người SP chỉ muốn hành-động diễn-xuất, nhưng không muốn phát-triển, cho dù hành-động của họ đã là tuyệt-vời, còn người NT phải phát-triển, nhưng không muốn chỉ hành-động diễn-xuất chỉ vì phải hành-động, cho dù khi họ có hành-động, và càng ngày càng thêm chính-xác tinh-tế Nói theo một cách nào đó, người SP là bức gương phản-chiếu người NT Đối với người SP, khả-năng là phương-tiện cho họ tự-do diễn-xuất, còn đối với người NT, diễn-xuất là phương-tiện cho họ càng thêm khả-năng hữu-hiệu
PHƯƠNG-TIỆN MỤC-ĐÍCH
người NT diễn-xuất khả-năng
người SP khả-năng diễn-xuất
Nhân-tiện cũng nên nói ngay rằng cả người SJ và người NF bí-ẩn đều không có quan-tâm chú-ý tới năng và diễn-xuất bao nhiêu Có lẽ chúng ta có thể hiểu người NF và SJ nhiều hơn, nếu luôn nhớ rằng họ không để ý tới khả-năng và diễn-xuất Họ có vẻ như có mối quan-tâm khác, và họ không hiểu tại sao những người SP và NT cực-đoan lại chống-đối nhau dữ dội Dĩ nhiên những người hiếu-chiến chỉ thích khả-năng với diễn-xuất cũng không hiểu tại sao người khác có thể dửng dưng với vấn-đề được
khả-Người NT là mẫu người tự kiểm-thảo khắt khe hơn hết Họ coi đi xét lại về lỗi lầm của họ Họ tìm đủ mọi cách để cải-thiện Họ dùng mọi biện-pháp để nhận-định xem họ đã tiến-tới được bao nhiêu Họ không
Trang 39ngừng bắt mạch xem họ có được bao nhiêu năng-khiếu, và mỗi lúc mỗi canh-chừng nghị-lực của họ Họ
muốn phải làm sao hiểu được mọi sự vật trên trời dưới đất, được biết mọi dữ-kiện siêu-nhiên và tự-nhiên,
miễn sao để chứng-tỏ họ thông-thạo chuyên-môn Người NT càng cực-đoan bao nhiêu, họ càng đòi hỏi
chính mình họ phải có nhiều năng-khiếu và hiểu biết bấy nhiêu Người NT muốn rằng trong bất cứ lãnh-vực nào họ để tâm đến, họ đều phải là người thấu-triệt quán-xuyến hết cả Không thể nào họ chịu lép
vế được Người SJ hành-động theo những điều ‘nên’, ‘phải’, còn người NT hành-động theo những điều
‘phải biết’, ‘có khả-năng’ Người NT có khuynh-hướng tích-luỹ các khả-năng và chẳng muốn loại trừ
khả-năng nào cả Họ sống theo hệ-thống giá-trị ưu-tiên, và dĩ nhiên họ là người đòi hỏi trọn hảo, dễ để
tinh-thần bị căng-thẳng và để hành-động thành nghiện-ngập khi họ bị áp-lực Họ luôn ý-thức khuyết-điểm
của họ, và nhận-thức rằng họ chưa tới được trọn-hảo Họ có thể đón nhận lời phê-bình của người khác về
quyền-lực của họ có, với một thái-độ khinh-khi hoặc diễu-cợt Họ có thể biểu-lộ thái-độ đó, hoặc không
biểu-lộ gì cả, cho dù người NT hướng-ngoại dễ biểu-lộ hơn Người NT ý-thức rõ ràng giá-trị những lời
phê-bình, và họ bằng lòng để bị chỉ-trích tới mức-độ nào đó Cùng với đòi hỏi trọn-hảo, người NT ngay
từ nhỏ, không muốn chấp-nhận một quyền-bính nào mà không đặt vấn-đề trước Người NT dửng dưn, cho
dù ai tuyên-bố điều gì với uy-tín và thế-giá nào chăng nữa Họ tin rằng mỗi lời tuyên-bố phải có lý-do
căn-cớ riêng biệt, phải hợp-lý, có thể trắc-nghiệm xem đúng hay sai, và phải đi sát với thực-tế Người NT
có thể nói: ‘Tôi biết rằng Einstein đã nói như thế, nhưng ‘nhân vô thập toàn’ (không ai đúng hoàn-toàn
mười phân vẹn mười) mà!’ Đặc-tính không chấp-nhận quyền-bính này có thể làm cho người NT trở nên
ương-ngạnh cố-chấp, nhất là người NT cực-đoan
“Từ khi lên 12 tuồi, tôi đã bắt đầu suy-tư dày vò với vấn-đề ý-nghĩa cuộc sống nhân-sinh và chắc chắn
rằng những người chung quanh tôi sống vất vưởng như đoàn vật càng làm cho vấn-đề thêm trầm-trọng Lúc nào trong đầu óc của tôi cũng lởn vởn tư-tưởng này là phải có một phương-pháp khoa-học nào đó để tìm hiểu vấn-đề nhân-sinh chứ Khi lên 14 tuổi, tôi đọc được cuốn sách ‘Man and
Superman’(con người và siêu-nhân) của Shaw và lấy làm bực mình vì tôi không phải là người đầu-tiên
đặt vấn-đề đó” (Colin Wilson, The Outsider, N.Y., Dell Publ co., 1956, pp 289-290)
Người NT thường hay thổ-lộ tâm-sự với những người họ tin-tưởng rằng họ có bị ý-nghĩ thất-bại ám-ảnh
đầu óc họ không thôi: lần này thì sợ không thể thành-công và chắc sẽ bị thất-bại, lần khác thì sợ không đủ
kiến-thức và kinh-nghiệm đối với vấn-đề Số-phận người NT cứ hoài-nghi với ngờ-vực không thôi Vì
tính đa-nghi nên người NT, đặc-biệt là người NTP, khó mà ra tay hành-động cương-quyết Có khi nghi-nan làm cho họ trở nên nhu-nhược bất-động, chỉ sợ điều mình quyết-định sẽ mau thay đổi
Trang 40Hình như người NT không bao giờ tin rằng mình hiểu biết đủ, có khả-năng kinh-nghiệm đủ, để làm việc thành-công, và họ có khuynh-hướng mỗi ngày mỗi đòi hỏi toàn-hảo hơn Hôm nay họ cho là được, ngày mai lại chê là không được Người nào tỏ ra cực-đoan hơn, lại đòi hỏi mức toàn hảo hơn, cho dù nhiều lần
họ đã thành-công Người NT coi những việc thường ngày là thiếu chỉ-tiêu, chưa đủ kinh-nghiệm Họ tỏ ra khắt khe đối với chính mình, kiểm-soát kỹ-lưỡng xem họ tiến-triển được bao nhiêu, siêng năng làm bản kiểm-kê những thành-công và thất-bại Họ muốn hoàn-toàn thông-thạo trong công việc họ làm, lãnh-vực
họ hoạt-động và không bao giờ ngừng tự cải-tiến phát-triển
Quan-sát một người NT chơi dỡn làm cho ta phải cảm-động và cảm thấy hơi buồn khi so sánh với thái-độ
bỏ rơi của người SP Người NT lý-luận minh-bạch rằng chơi dỡn là cần-thiết cho sức khoẻ, nên hoạch-định giờ chơi đàng-hoàng, và trong giờ giải-trí đó, họ muốn làm sao phải tiến thêm Chẳng hạn như khi muốn chơi bài, họ không muốn vấp phạm phải lầm lỗi nào Khi chơi banh, họ muốn lần nhận banh này phải khá hơn lần vừa qua Người NT muốn sao cho mình phải được vui vẻ, vì họ nghĩ rằng đó là mục-đích của giải-trí
Khi đối-xử liên-hệ với người khác, người NT thường gây nên hai ấn-tượng mâu-thuẫn sau Ấn-tượng thứ nhất là họ không kỳ-vọng nơi người khác bao nhiêu, vì họ cho rằng người khác không có nhiều kiến-thức hoặc khả-năng kinh-nghiệm Người NT có thể tạo ra ấn-tượng đó khi họ tỏ ra ngạc-nhiên một chút, vì thấy người khác cũng hiểu biết và thành-thạo vấn-đề Người NT thường cho rằng người khác không có thể thấu suốt những tinh-vi tế-nhị của vấn-đề, và họ dễ để cho người khác nhìn thấy thái-độ đó Ấn-tượng này khác hẳn với ba mẫu tính tình kia, vì ba mẫu kia đều tin rằng không nhiều thì ít, người khác cũng có thể hiểu được vấn-đề Ấn-tượng thứ hai là người NT muốn những người chung quanh họ cũng phải cố-gắng sống đúng chỉ-tiêu lý-tưởng như họ vậy Mà vì chẳng ai có thể hoàn toàn sống đúng chỉ-tiêu, trọn vẹn lý-tưởng, người NT thấy ai cũng đầy dẫy những sai lỗi khiếm-khuyết Thông-thường người ta nhận thấy người NT thuộc loại đòi hỏi yêu-sách khá nhiều
Một hậu-quả tai-hại của hai ấn-tượng mâu-thuẫn trên là những người sống quanh người NT trước sau cũng cảm thấy mình không có tài-trí hiểu biết bằng người NT, nên sẽ trở thành thủ-thế, rút lui vào bóng tối, và chẳng muốn trình-bày tư-tưởng chia sẻ ý-nghĩ của họ nữa Như vậy, người NT sẽ bị cô-lập không được ai san-sẻ kinh-nghiệm hiểu biết cho, vì ai cũng sợ bị coi là ngu-si đần-độn Dĩ nhiên cuối cùng người NT càng có lý để tin rằng người khác là ngu-si đần-độn thực sự, bởi lẽ không chịu đả-thông tư-tưởng, chia sẻ kinh-nghiệm với họ
Thái-độ tự-cao tự-đại này làm cho người NT không được những người khác quý-mến thực sự, nhưng lại giúp mẫu người NT tạo nên những tác-phẩm để đời có ảnh-hưởng trên suy-tư của nhân-loại Chẳng hạn như Machiavelli biểu-lộ mẫu người như vậy khi ông dạy hoàng-thân Lorenzo về nghệ-thuật điều-khiển quốc-gia, cho dù chính Macchiavelli chỉ là một người tầm-thường vô-danh tiểu-tốt:
“Thói thông-thường là những ai muốn xin được ân-huệ nơi một ông hoàng thì phải chứng-tỏ lòng muốn thực tình của mình bằng cách dâng-tiến những lễ-vật mà ông quý-trọng, hoặc thích-thú Đó là lý-do người
ta dâng-tiến các ông hoàng những lễ-vật như ngựa quý, khí-giới, vàng bạc, kim-cương, đồ trang-sức xứng-đáng với địa-vị hoàng-tộc Tuy thế mặc dầu tôi có ý muốn dâng-tiến lễ-vật cho quý hoàng-thân để chứng-tỏ lòng ngưỡng-mộ của tôi, tôi cũng không thể tìm được một lễ vật nào trong tất cả những của cải tôi có, ngoại trừ kiến-thức mà tôi thu-thập được về những thành-tích của các bậc vĩ-nhân qua kinh-nghiệm lâu năm đối với những sự việc hiện-tại, và nghiên-cứu liên-tục những sự việc dĩ-vãng
Tôi đã hết sức cần-mẫn suy-nghĩ và tìm hiểu hành-động của các bậc vĩ-nhân qua nhiều năm, và giờ đây tôi xin dâng lên quý hoàng-thân thành-quả của những năm đó trong một cuốn sách nhỏ bé; và mặc dầu tôi trộm nghĩ công việc này không đáng được quý hoàng-thân chấp-nhận, tôi tin lòng nhân-đạo của quý