1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

tìm hiểu về các loài bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo

366 1,2K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 366
Dung lượng 10,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi cũng xin được cảm ơn chân thành tới tập thể cán bộ khoa học đã cùngchúng tôi tham gia đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản trong những năm qua: CN.LêKhương Thúy, KS.Hoàng Vũ Trụ,

Trang 1

Vũ Văn Liên, Đặng Thị Hường, Nguyễn Thế Hoàng

HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU VỀ CÁC LOÀI BƯỚM VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO VÀ

GIÁ TRỊ BẢO TỒN CỦA CHÚNG

Hà nội, tháng 12 năm 2008

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để có lòng nhiệt huyết và say sưa soạn thảo cuốn sách này chúng tôi không thểkhông nói những lời cảm ơn chân thành nhất, lớn nhất tới tất cả những tập thể cá nhânsau đây bởi vì nếu không có họ thì không thể có cuốn sách

Trước hết xin gửi tới Ths.Đỗ Đình Tiến – Giám đốc VQG Tam Đảo lời cảm ơnchân thành nhất, chính ông đã khích lệ và giúp chúng tôi bùng cháy lên lòng nhiệt tình đểviết sách bướm cho Tam Đảo

Chúng tôi cũng vô cùng biết hơn và xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Chươngtrình Khoa học cơ bản, Hội đồng Khoa học sự sống của Việt Nam đã chắp cánh cho cácnhà khoa học chúng tôi bay lên, tiến tới những chân lý, sự sống cần khám phá và viết nênnhững điều kỳ diệu cho cuộc sống hiện thực – đó là những công trình khoa học, nhữngcuốn sách - là những tinh hoa được chiết xuất từ thiên nhiên

Không ai có thể làm khoa học một mình vì khoa học chỉ có được giá trị và kết quả

mỹ mãn khi nó có sự kế cận, sáng tạo, liên kết, hợp tác vô tư giữa các nhà khoa học cổkim với nhau Vì vậy, chính ở đây chúng tôi xin được tỏ lòng biết ơn vô bờ bến tới tất cảcác tập thể, cá nhân, các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế đã nghiên cứu và công bố vềcác loài bướm vùng Nam và Đông nam châu Á, trong đó có Việt Nam và Tam Đảo Đó làcác nhà khoa học, các tác giả cùng các công trình của họ đã được liệt kê đầy đủ trongdanh sách tài liệu tham khảo của cuốn sách này

Chúng tôi cũng xin được cảm ơn chân thành tới tập thể cán bộ khoa học đã cùngchúng tôi tham gia đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản trong những năm qua: CN.LêKhương Thúy, KS.Hoàng Vũ Trụ, Ths.Trần Thiếu Dư ( Viện Sinh thái và Tài nguyênSinh vật) , Ths.Đỗ Đình Tiến, Ths.Chu Văn Cường, Ths.Đỗ Văn Tuân (VQG Tam Đảo).Nhờ chương trình khoa học cơ bản này mà ý tưởng viết sách bướm cho VQG Tam Đảo

Trang 3

MỤC LỤC

Lời cảm ơn……… 2

Mục lục ……… 3

i Lời giới thiệu……… 4

ii Những thành viên tham gia biên soạn sách bướm Vườn Quốc Gia Tam Đảo… 6

iii Cách sử dụng tài liệu……… 6

Chương I: Khái quát về bướm………8

I.1 Vài nét chính về bướm……….8

I.2 Tình hình nghiên cứu bướm ở Việt nam nói chung và ở các Vườn Quốc Gia – Khu bảo tồn thiên nhiên nói riêng……….32

I.3 Quan sát, ghi hình bướm ngoài thiên nhiên và ở các bộ sưu tập, phân loại và định tên bướm……….39

Chương II Bướm ở Tam Đảo (Đây là phần chính, dài nhất, cơ bản nhất của cuốn sách) ……….41

II.1 Danh sách bướm Tam Đảo và mức độ bắt gặp chúng ở các sinh cảnh và độ cao khác nhau thuộc Vườn Quốc Gia Tam Đảo……… 41

II.2 Những thông tin đã biết liên quan đến một số loài bướm……….54

Chương III Giá trị bảo tồn của các loài bướm ở Vườn Quốc Gia Tam Đảo…… 341

III.1 Những loài bướm đẹp, thường gặp ở Tam Đảo và những loài quý hiếm cần bảo vệ ở Tam Đảo……….………

341 III.2 So sánh giá trị của khu hệ bướm Vườn Quốc Gia Tam Đảo với một số Vườn Quốc Gia khác ở Việt Nam ……….………348

Chương IV: Đề xuất cho việc xây dựng trang trại nuôi bướm ở Vườn Quốc Gia Tam Đảo……….……….349

IV.1 Những loài bướm được đề xuất nhân nuôi ……….349

IV.2 Các loài thực vật là nguồn thức ăn của những loài bướm ………349

IV.3 Những mô hình đề xuất nuôi trồng tổng hợp……… 350

Tài liệu tham khảo……….………362

Trang 4

i Lời giới thiệu

Trong thế giới đa dạng sinh học ( ĐDSH) Bướm là tên một nhóm động vật màngười ta ví như “những bông hoa biết bay” Rất nhiều người biết chúng, từ những conngười nơi thôn dã hay ở thành thị, nhưng để phân biệt các loài giữa chúng với nhau thìkhông phải tự dưng ai cũng biết và không phải ai cũng biết chúng có giá trị lớn như thếnào trong thiên nhiên và trong cuộc sống con người Muốn biết được những điều này thìchí ít người ta cần phải có lòng yêu thiên nhiên, ham hiểu biết thế giới bí ẩn mà tạo hóa

đã ban cho và điều không thể thiếu được là phải học, phải có kiến thức và phải có tài liệunói về chúng Hơn thế nữa trong thời đại ngày nay những cái mới mẻ của hiện đại, vănminh đã và đang lấn át, xóa nhòa thậm chí xóa sạch những gì là hoang sơ, trong đó có tàinguyên thiên nhiên sinh vật Đã đến lúc loài người cần khẩn trương nhận thức, tỉnh ngộ,cứu vớt và giữ lại những gì đang còn và sắp mất đi ấy bởi nếu thiếu chúng thì loài ngườicũng sẽ bị diệt vong Tất cả muôn loài là cơ thể sống cần được sống kể cả những sinh linh

bé nhỏ, nhất lại là những con bươm bướm, mà đại đa số các loài trong số chúng chỉ cóích cho con người Bướm (Lepidoptera, Rhopalocera) có ở khắp các lục địa trên trái đấtnhưng ở mỗi nơi lại có thành phần loài khác nhau Riêng ở Tam Đảo, có nhiều loài ở nơikhác cũng có, nhưng có những loài chỉ Tam Đảo mới có, hơn thế nữa ở đây lại có nhữngloài rất có giá trị cả về khoa học lẫn thương mại, ví dụ như loài Bướm phượng đuôi kiếm

răng nhọn -Teinopalpus aureus ( SĐVN,2007), nhưng loài này sẽ không có ở Tam Đảo

nếu thiếu đỉnh Rùng Rình Nói như vậy, có nghĩa là muôn loài phụ thuộc vào nơi sống vànhất là côn trùng sống phụ thuộc vào cây làm thức ăn, cây thức ăn ấy lại chỉ có ở một nơinào đó nhất định chứ không phải đâu cũng có Do đó chỉ hiểu về một nhóm sinh vật màkhông hiểu mối quan hệ cơ hữu của chúng là chưa đủ

Trong cuốn sách mà chúng tôi biên soạn ngoài các điều trên lại phải hội tụ đầy đủcác yếu tố từ những gì nói về những con bươm bướm đến nơi mà chúng sinh sống Nơi

đó là VQG Tam Đảo – một địa danh nổi tiếng ở Việt Nam về cảnh đẹp thiên nhiên vớinhững ngọn núi hùng vĩ chứa đựng trong lòng nó biết bao điều kỳ thú và chưa đượckhám phá Một trong những điều kỳ thú và đặc biệt ở nơi đây là thế giới côn trùng đadạng mà nhất là các nhóm côn trùng cánh cứng và cánh vảy, trong nhóm cánh vảy cónhững loài bướm Những loài côn trùng này hết sức đặc sắc làm cho Tam Đảo nổi tiếnghơn, nên thơ hơn, rực rỡ hơn… Đã từ lâu Tam Đảo nổi tiếng là nơi nghỉ mát lý tưởng thìnay còn nổi tiếng hơn về du lịch nhất là du lịch sinh thái đang phát triển Do đó, thiếuĐDSH, Tam Đảo sẽ không còn giá trị như nó vốn có nữa

Đã từ lâu chúng tôi thấy cần phải làm một cái gì đó cho Tam Đảo trong lĩnh vựcchuyên môn của mình Được sự cầu thị ân cần của ông Đỗ Đình Tiến – Giám Đốc VQG

Trang 5

Tam Đảo, mà theo chúng tôi nghĩ thì ông là một con người rất có tâm, có đạo, một vịgiám đốc hết lòng vì sự nghiệp bảo tồn thiên nhiên mà cụ thể là bảo vệ VQG Tam Đảonơi ông trực tiếp quản lý Ông đã rất tha thiết mong muốn các nhà khoa học trong lĩnhvực bảo tồn quan tâm viết về thế giới sinh vật của Vườn, trên cơ sở đó đề xuất những giảipháp bảo vệ chúng hữu hiệu Trên cơ sở các luồng tư tưởng lớn gặp nhau này chúng tôithấy có thể viết nhóm bướm cho Tam Đảo Để viết được chúng trong điều kiện: thời gian,khả năng đều có hạn, chúng tôi đã dựa vào kết quả nghiên cứu của biết bao nhà khoa họctrong và ngoài nước và các đồng nghiệp, gần, xa, cũ, mới đã công bố những kết quảnghiên cứu của họ về nhóm côn trùng này Nếu không có những tài liệu đó thì cuốn sáchkhông thể thực hiện được Chúng tôi chỉ là những người tập hợp, tổng hòa lại các kết quả

đó kết hợp với kinh nghiệm cũng như bổ sung thêm một ít công sức của mình để soạnthảo ra một cuốn sách về các loài bướm có ở Tam Đảo Nhân đây, chúng tôi xin hết sứccảm ơn và cũng xin phép tất cả các tác giả đã làm nên những kết quả nghiên cứu vô cùnggiá trị cho chúng tôi tham khảo, cho phép và ủng hộ cho chúng tôi sử dụng những kết quả

đó cho mục đích bảo tồn của chúng ta Các thông tin, tư liệu mà chúng tôi tham khảo củacác tác giả, đặc biệt là các hình ảnh đểu sẽ được nêu tài liệu nguồn và đưa đầy đủ vàodanh mục Tài liệu tham khảo ( TLTK)

Trong tài liệu này chúng tôi muốn đề cập đến những thông tin cơ bản cho 362 loàibướm đã được TS.Vũ Văn Liên nêu tên trong luận án tiến sỹ của mình ( Tài liệu thamkhảo), là số liệu mới nhất, đầy đủ nhất từ trước tới nay về thành phần loài khu hệ bướmTam Đảo Mặc dù chúng tôi có tham vọng là làm sao có được đủ các tài liệu về tất cả cácthông tin mà chúng tôi muốn viết cho một loài bướm ở Tam Đảo [ Tên tiếng Việt, tênkhoa học( La tinh), tên tiếng Anh, đặc điểm nhận dạng, đặc điểm sinh học, sinh tháichung và riêng của mỗi loài ở Tam Đảo, phân bố thế giới, giá trị, tình trạng và biện phápbảo vệ ], nhưng cũng vẫn cònmột số loài chưa đủ lượng thông tin cần thiết Vì thời gian

và khả năng có hạn nên chúng tôi đã không thể viết cho một loài đủ các lượng thông tinnhư nhau Do đó, loài thì được viết rất dài, loài thì ngắn hơn hoặc rất ngắn, thậm chí còn

có khoảng trên dưới 10 loài thuộc loại không đủ hoặc hầu như không có thông tin Tuynhiên, chúng tôi vẫn đưa tên vào để có cơ sở bổ sung các thông tin trong những lần soạnthảo sau này Đặc biệt, trong cuốn sách chúng tôi có đề cập đến việc nhân nuôi và đưa ra

mô hình trang trại nhân nuôi côn trùng nói chung và bướm nói riêng trong điều kiện bán

tự nhiên ở VQG Tam Đảo

Có thể nói đây là cuốn sách đầu tiên từ trước đến nay bằng tiếng Việt tập hợpđược tài liệu và nêu đầy đủ nhất về các thông tin có liên quan đến từng loài bướm trongtổng số 362 loài có mặt ở Tam Đảo và cũng là các loài đã được phát hiện ở Việt Nam

Nội dung cuốn sách bao gồm các tiêu chí chính sau:

Trang 6

- Khái quát về bướm

xây dựng trang trại nuôi bướm ở VQG Tam Đảo

Chúng tôi soạn thảo cuốn sách này với mục đích chính là cung cấp cho VQG TamĐảo một tài liệu khá chuyên sâu về một nhóm động vật nhỏ - đó là các loài bướm có ởVQG cùng các vấn đề cơ bản liên quan đến chúng: giá trị chính của tài liệu là nhằm phục

vụ cho việc bảo tồn thiên nhiên trong đó có các loài bướm tại VQG Tam Đảo Ngoài ra,

nó còn là tài liệu hướng dẫn tham khảo cho nhiều đối tượng khác như: các cán bộ kiểmlâm, các nhà khoa học, các nhà bảo tồn, các em học sinh, sinh viên, cùng nhiều người yêuthiên nhiên khác…

Vì khả năng của các tác giả và thời gian có hạn nên cuốn sách không thể tránhkhỏi những khiếm khuyết và nhiều điều chưa thỏa mãn được mong muốn của độc giả

Do đó, chúng tôi rất cần và sẵn sàng đón nhận những góp ý quý báu của các bạn đọcgần xa để những lần soạn thảo sau này được tốt hơn

ii Những thành viên tham gia biên soạn sách bướm Vườn Quốc Gia Tam Đảo

1-Tiến sỹ sinh học Đặng Thị Đáp – Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật –Chủ biên

2- Tiến sỹ sinh học Vũ Văn Liên – Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga

3- Thạc sỹ môi trường Đặng Thị Hường

4- Kiến trúc sư Nguyễn Vũ Hoàng

iii Cách sử dụng tài liệu

Các ý tưởng và nội dung được thể hiện trong cuốn sách này sẽ rất dễ hiểu nếu nhưđộc giả chịu khó kiên trì đọc và suy ngẫm bởi vì các tác giả thể hiện công việc tườngthuật từ xa đến gần,từ chung đến riêng về nhóm Bướm ( Lepidoptera, Rhopalocera) đã vàđang hiện hữu ở mọi nơi nói chung và mỗi loài nói riêng ở VQG Tam Đảo.Việc cố gắngđưa mọi thông tin cơ bản cho mỗi loài bướm cụ thể hầu như đều được đưa tên tiếng Việttrước, loài nào trước đây chưa có tên thì được đặt tên, tên có thể dịch nghĩa từ tiếng Anhhoặc theo đặc điểm hình thái, màu sắc… của chúng; sau tiếng Việt là tên khoa học (Latinh), tên tiếng Anh cũng hầu hết có ở các loài Ngoài các đặc điểm cơ bản, cho đa số loàichúng tôi còn quan tâm đưa cả kích thước của chúng vào sau cùng của mục “Đặc điểmnhận dạng” để người đọc có thể biết con bướm đó to, nhỏ ra sao Một điều khác ở nhữngcuốn sách trước đây là chúng tôi quan tâm đến vấn đề làm sao để bảo tồn được các loàibướm cho Tam Đảo sau khi đã biết được sự tồn tại của chúng ở nơi đây Nên chươngcuối cùng của cuốn sách chúng tôi đề xuất việc xây dựng trang trại nuôi côn trùng trong

Trang 7

đó có nuôi bướm bán tự nhiên ngay tại VQG Tam Đảo, trong đó có đưa ra danh sách cácloài có giá trị nên nuôi trước mắt vì mục đích bảo tồn và các mô hình hợp lý để từ đó cóthể nhân ra thêm nhiều nơi khác vì mục đích kinh tế, dân sinh…

Đây là cuốn sách nói về Bướm của VQG Tam Đảo nhưng điều kiện tự nhiên, kinh

tế, xã hội của VQG không cần đề cập nữa vì điều này đã được nêu đầy đủ trong cuốn

“Vườn Quốc Gia Tam Đảo”, 2001 (tài liệu tham khảo), vả lại nội dung cuốn sách đã gồmquá nhiều vấn đề và quá dầy

Trang 8

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ BƯỚM

I.1 Vài nét chính về bướm

Bướm thuộc ngành Chân khớp ( Arthropoda), lớp Côn trùng ( Insecta), Bộ Cánhvảy ( Lepidoptera), bộ phụ Râu hình chuỳ ( Rhopalocera)

Bướm là tên gọi của tổng họ bướm thực sự - bướm ngày ( true butterflies), tổng

họ bướm nhảy và ngài Trong tài liệu thuật ngữ bướm được sử dụng để chỉ các loại bướmngày Ngài là dạng bướm hoạt động ban đêm, phân biệt với bướm ở chót râu không phùra

Giống như tất cả các nhóm cánh vảy khác, nó đặc biệt ở vòng đời, sự khác biệtgiữa sâu non và con trưởng thành, giai đoạn nhộng không hoạt động gì và sau đó là sựbiến đổi ngoạn mục trở thành một dạng rất quen thuộc, là những con trưởng thành vớinhững chiếc cánh có màu sắc sặc sỡ Hầu hết các loài đều bay ban ngày, vì thế chúng đãthu hút được sự chú ý Sự phong phú do sự thay đổi màu sắc cánh đã tạo ra thú xembướm ngày càng mở rộng và được yêu thích

Bướm phô bày ra những hình thái của chúng, bắt chước các loài khác và biến tháitheo mùa Một vài loài di cư tới những miền đất rất xa Một số loài bướm khác sống cộngsinh và sống ký sinh với một số loài côn trùng khác như kiến Bướm có vai trò lớn trongnền kinh tế vì nó là một trong những loài chính giúp cho quá trình thụ phấn Thức ăn củachúng ở giai đoạn sâu non là thực vật, tuy nhiên không có loài nào gây hại đến mức cóthể tàn phá mùa màng, cây cối

Về phương diện văn hoá, nó là một yếu tố trong nghệ thuật chiêm ngưỡng và vănhọc

Đặc điểm sinh học

Cấu tạo và hình thái

Cấu tạo bướm gồm có ba phần chính: Đầu, ngực và bụng

Trang 9

Cấu tạo bên ngoài bướm (Nguồn : http//:www.en.wikipedia.com) [209]

Đầu: có một đôi râu hình chuỳ, nằm trên một đôi mắt kép lớn nổi bật, phía dưới

là hai mảnh môi sờ ( cơ quan cảm nhận vị giác), giữa hai mảnh môi sờ là một vòi hìnhống để hút thức ăn mà khi không được sử dụng nó cuộn lại

Cấu tạo đầu bướm (Nguồn : http//:www.en.wikipedia.com) [209]

Ngực cấu tạo gồm 3 đốt, mỗi đốt mang một đôi chân Đốt giữa và cuối mang theo

nó là một đôi cánh được phủ bằng hàng nghìn vảy nhỏ li ti, có màu sắc sặc sỡ tạo nênmàu sắc của chúng Đôi khi những vảy này chỉ là một đốm, hoặc có thể biến thành dạng

Trang 10

sợi giống như lông Có vảy có thể khúc xạ ánh sáng mặt trời, làm cho màu sắc của bướmthay đổi liên tục khi bay.Vảy được xếp rất khít nhau, đôi khi khiến người ta lầm tưởng đó

là màu sắc từ cánh bướm Bướm mới nở lượng vảy lớn nhìn mướt mát hơn các bướm già,

do các vảy đã bị rụng dần đi Bướm được miêu tả bằng màu sắc của vảy bao trùm cánhcủa nó Những vảy này có các sắc tố đen làm cho chúng có màu đen và nâu, nhưng màuxanh da trời, xanh nước biển màu đỏ và ngũ sắc thường được tạo thành không phải bởicác chất nhuộm mà là các chất vi lượng của cánh Cấu trúc nhuộm màu này là kết quả của

sự ảnh hưởng của ánh sáng bởi các tinh thể photon tự nhiên của cánh

Cánh bướm có một hệ thống gân, đôi khi cùng màu

hoặc khác màu với cánh Trong phân loại học, để phân loại

và miêu tả loài, người ta đánh số các gân này, ngoài ra còn

chia cánh bướm thành nhiều vùng, khoảng rồi đánh số đặt

tên cho chúng Trong cuốn sách này, chúng tôi cũng sử

dụng những thuật ngữ đó để miêu tả những nét cơ bản của

các loài

Vảy cánhbướm

Trang 11

Hệ thống các gân, vùng và các tên gọi các vùng của cánh bướm

Thời gian tồn tại của bướm rất ngắn.Tuy nhiên, bướm ở trong giai đoạn trưởngthành có thể sống hàng tuần tới gần một năm phụ thuộc vào từng loài Nhiều loài có giaiđoạn ấu trùng dài, có loài có thể nằm ngủ trong giai đoạn nhộng hoặc trứng để tồn tại quamùa đông ( ngủ đông)

Bướm có thể có một hoặc nhiều lứa trong một năm Số lượng được sinh ra trongmột năm thay đổi từ vùng ôn đới tới nhiệt đới theo xu hướng tăng dần

Trứng

Trang 12

Trứng bướm bao gồm phần vỏ cứng bao bọc ngoài, gọi là màng đệm Nó nhănnheo, có một vỏ bọc bằng sáp chống cho trứng bị khô trước khi trứng đã đủ thời gianphát triển thành ấu trùng Mỗi trứng có một số lỗ nhỏ để cho tinh trùng có thể vào thụtinh Trứng có kích thước rất khác nhau giữa các loài, nhưng chúng đều có hình cầu hoặchình trứng.

Trứng được đặt vào lá bằng một chất dán đặc biệt rất nhanh khô Khi khô, nó liênkết lại, làm biến dạng hình thù của trứng Loại keo này dễ dàng thấy được xung quanhgốc của bất kỳ quả trứng nào

Trứng thường được đẻ trên cây Mỗi loài bướm có cây chủ riêng của mình, có khimột vài loài có cùng một loài cây chủ, có khi một loài có nhiều cây chủ, thông thườngbao gồm các loài trong họ common

Hầu hết ở các loài bướm, giai đoạn trứng chỉ kéo dài vài tuần Nhưng trứng củamột số loài có thể sẽ ở dạng tiềm sinh( ngủ đông) qua mùa đông rét mướt hoặc môitrường không thuận lợi như quá khô cằn Sau đó sẽ nở ra khi gặp điều kiện thuận lợi nhưmùa xuân và bắt đầu hoạt động vào mùa hè Hầu hết chúng là những loài ở vùng ôn đới,thường nằm ở phía Bắc

Sâu non

Ấu trùng, hay còn gọi là sâu non, có rất nhiều chân Nó ăn lá của các cây chủ vàdành toàn bộ thời gian của chúng để kiếm thức ăn Hầu hết ở giai đoạn sâu non chúng ăn

cây cỏ, nhưng một số loài như Spalgis epius và Lyphyra brassolis thì chúng lại ăn thịt( ăn

các con côn trùng khác) Một vài ấu trùng, đặc biệt họ Lycaenidae hình thành kiểu sốngcộng sinh với kiến Chúng giao tiếp với kiến thông qua các rung động Kiến bảo vệnhững ấu trùng này và chúng nhận được mật của ấu trùng ( Một số buớm như bướmxanh Maculinea alcon lừa nuôi ấu trùng bướm bằng cách giả dạng bề ngoài của ấu trùngkiến)

Sâu non trưởng thành trải qua rất nhiều giai đoạn, gọi là lột xác Đến gần cuối củamột giai đoạn, ấu trùng tạo thành lớp biểu bì mà chất liệu của nó là từ kitin và protein, vàmột lớp biểu bì non được tạo ra ở phía dưới lớp đó Giai đoạn cuối mỗi kỳ lột xác, biểu bìcủa ấu trùng bị tách ra và lớp biểu bì mới khô rất nhanh và tạo thành màu sắc luôn Cánhbướm bắt đầu phát triển ở giai đoạn đầu của lần lột xác cuối cùng

Sâu bướm có ba đôi chân chính ở khúc ngực và 6 đôi chân phụ ( hoặc nhiều hơn6) mọc từ đốt bụng Những chân phụ này có những cái móc giúp cho chúng bám chặt vào

bề mặt

Trang 13

Ở nhiều loài, sâu có thể làm đầu nó phồng lên như đầu rắn Nhiều loài có nhữngđốm mắt giả để tăng cao hiệu quả này Một số sâu có cấu trúc đặc biệt gọi là tuyến mùi

để tiết ra các chất gây mùi Những chất này dùng để tự vệ

Những cây chủ thường có những thành phần chất độc, nhưng sâu non có thể côlập những chất độc này dành cho giai đoạn trưởng thành Nó giúp cho chúng tạo ra nhữngmùi khó chịu để thoát khỏi chim và những kẻ thù khác Khả năng gây khó chịu này cảnhbáo bởi các màu đỏ, cam, đen Những chất độc ở cây chủ thường bao gồm những chấtđặc biệt giúp cho chúng không bị côn trùng ăn Ấu trùng phát triển khả năng thích nghicủa chúng và tích tụ cho việc tồn tại Hiện tượng này làm cho sâu và cây chủ của nó cùngphát triển

Cánh không thể thấy bên trong ấu trùng, nhưng khi cắt các ấu trùng thấy có cánhnhỏ ở đốt ngực thứ 2 và thứ 3, chỗ mà lỗ thở được nhìn thấy rõ ràng Cánh phát triểntrong mối liên hệ với các tế bào ống, loại tế bào chạy dọc theo cánh, và bao quanh bởimột màng mỏng, liên kết với màng bọc ngoài của ấu trùng bằng ống dẫn nhỏ

Cánh rất nhỏ cho tới khi kỳ lột xác cuối cùng, chúng đột ngột thay đổi kĩch cỡ lớnlên, bị xâm chiếm bởi những tế bào hình ống nhìn giống như cành cây từ gốc cánh ( màtheo thời gian sẽ thành các gân cánh), bắt đầu phát triển hình dạng của nó trong mối liên

hệ với những bước phát triển để hình thành cánh

Tới gần giai đoạn phát triển thành nhộng, cánh được bọc vào một lớp biểu bì gọi

là hemolymph, và mặc dù ban đầu nó hơi mềm và dễ vỡ, nhưng theo thời gian phát triểnlớp này sẽ vỡ ra, ấu trùng bám chặt vào lớp biểu bì bọc ngoài của nhộng Trong vài giờ,cánh hình thành lớp biểu bì cứng và xâm nhập sâu vào cơ thể khi đó nhộng bị bứt ra hoặcnhấc lên mà cánh vẫn không ảnh hưởng

Nhộng

Khi ấu trùng đủ lớn, hóc môn như prothoracicotropic được sinh ra Vào thời điểm

đó ấu trùng ngừng ăn và bắt đầu điều chỉnh mình sao cho phù hợp với kích thước củanhộng, thường ở dưới mặt lá

Ấu trùng biến đổi hoàn toàn thành nhộng và lột xác một lần cuối cùng Nhộngthường không thể di chuyển được, mặc dù một vài loài có thể di chuyển nhanh các đốtbụng và phát ra những tiếng động để doạ những con có thể ăn thịt chúng

Quá trình biến đổi của nhộng tạo thành bướm đã tạo ra một sự ngạc nhiên lớn tớiloài người Để chuyển từ cánh nhỏ không thấy được ra bên ngoài nhộng thành cấu trúclớn để có thể bay được, cánh của nhộng trải qua sự phân bào và hấp thụ nhanh các chất

Trang 14

dinh dưỡng Khi một cái cánh được cắt ra khỏi thì ba cánh sau sẽ phát triển có kĩch cỡ lớnhơn thông thường Ở trong nhộng, cánh hình thành cấu trúc gọn nhỏ, xếp lại từ gốc tớiphần cuối trong quá trình phát triển, do vậy khi duỗi ra nó thành kích cỡ cánh của contrưởng thành Một vài đường viền của con trưởng thành được trang trí các màu sắc do sựthay đổi của một số yếu tố trong giai đoạn đầu của nhộng.

đỏ, cam, hoặc đôi khi là màu xanh

3, Tập tính sinh học

Di cư

Nhiều loài di cư trên những quãng đường rất xa Đặc biệt những trường hợp di cưnổi tiếng là bướm Monarch, từ Mê hi cô tới Bắc Mỹ, khoảng cách khoảng từ 4,000 tới4,800km Những loài di cư nổi tiếng khác là Painted lady, và một số loài thuộc họDanaidae Những chuyến di cư hùng vĩ và lớn liên quan tới gió mùa được quan sát ở bánđảo của Ấn Độ Nghiên cứu về sự di cư gần đây thông qua việc gắn nhãn các cánh bướmbằng đồng vị của Hidro

Nghiên cứu chỉ ra rằng buớm định vị sử dụng thời gian theo vòng quay mặt trời.Chúng có thể thấy các ánh sáng bị phân cực và do đó có thể định hướng ngay trong điềukiện gió to Ánh sáng phân cực gần với ánh sáng tử ngoại được cho là rất quan trọng

Người ta cho rằng sự di cư của bướm còn để thoát khỏi những vùng khô cằn khithiếu thức ăn Đời sống của cây chủ cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới tậptính của bướm

Tự vệ

Giai đoạn trước trưởng thành bướm bị đe doạ bởi các ký sinh trùng, và ở tất cảcác giai đoạn đều bị đe doạ bởi động vật ăn thịt, bệnh tật và môi trường sống Nó bảo vệmình bằng rất nhiều cách

Trang 15

Các chất độc được sử dụng rộng rãi và hầu hết là xuất phát điểm là các chất độc

từ cây chủ Trong nhiều trường hợp, những chất này là chất độc mà cây chủ dùng đểchống lại những động vật ăn cỏ Bướm đã tập hợp các chất độc này từ cây chủ, phân tách

ra và sử dụng chúng làm chất bảo vệ cho chính mình Những chất độc này chỉ có tácdụng nếu như chúng được kèm theo các dấu hiệu cảnh báo từ các diốt phát sáng thànhmàu cảnh báo ở bướm Tín hiệu này có thể được một số loài bắt chước Những dạng bắtchước này thường giới hạn ở những con cái

Một số yếu tố nhuộm màu bí ẩn được thấy ở một số loài Một số giống như nhữngchiếc lá khô Khi là sâu, nhiều con tự vệ bằng việc đóng băng và nhìn như que củi hoặccành cây khô Một số sâu bướm giống như phân chim ở giai đoạn lột xác đầu tiên Một sốsâu có lông và lông cứng để bảo vệ trong khi những loài khác sống thành đàn và hìnhthành các đoàn lớn Một số loài nhìn giống như kiến để bảo vệ mình

Thói quen tự vệ còn bao gồm đậu ở trên cao và vị trí của cánh để tránh bị pháthiện Một vài loài bướm cái của Bướm giáp được biết tới đã bảo vệ trứng của mình khỏicác côn trùng kí sinh

Đốm mắt và đuôi được thấy ở nhiều loài lycaenid, đánh lạc hướng sự chú ý củacác con ăn thịt bằng cách tưởng đầu ở vùng khác Sự thay thế làm cho những con vật ănthịt mai phục như nhện đưa ra kế hoạch sai trong việc tấn công con mồi

Biến dạng theo mùa

Nhiều loài bướm có dạng theo mùa Hiện tượng này gọi là biến thái theo mùa vàgọi là dạng mùa khô và dạng mùa mưa Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm bằngcách thay đổi liều lượng hooc môn đã chứng minh rằng có thể điều khiển các áp lực tớikhả năng thay đổi của dạng mùa mưa và dạng mùa khô Dạng mùa khô thường biểu hiệnkhá bí ẩn để thích nghi với môi trường Một vài loài có màu tối ở dạng mùa mưa, để cóthể hấp thụ tốt hơn các bức xạ

Các giác quan

Khả năng quan sát phát triển tốt ở một số loài bướm và hầu hết các loài nhạy cảmvới vùng ánh sáng tử ngoại Nhiều loài thể hiện dạng lưỡng hình giới trong ánh sáng tửngoại Khả năng thấy màu mới chỉ chứng minh được một số loài

Một số bướm có cơ quan có thể nghe và một số loài khác phát ra những tiếng kêulách cách hoặc inh tai Một số nhộng cũng có thể phát ra âm thanh để đe doạ những convật có thể sẽ ăn thịt chúng

Trang 16

Bướm cảm nhận được mùi thơm của không khí, gió và mật thông qua râu của nó.Râu của nó hình thành rất nhiều dạng và màu sắc Họ Hesperids có một mấu ở râu hoặcrâu hình móc, khi tất cả các loài khác là râu với núm trên đỉnh Râu được bao phủ bằngrất nhiều các sensillae Khả năng cảm nhận hương vị của bướm được kết hợp bởi cả phầnchân của nó, để xác định nơi mà nó có thể đẻ trứng Nhiều loài bướm sử dụng các tínhiệu hoá học, các vảy đặc biệt và những cấu trúc khác cũng được phát triển ở một số loài.

đó, những kết quả có liên quan đến cả sinh thái và tiến hóa như sự lưu giữ ký ức sau sựbiến thái về hình dạng có thể cho phép một bướm cái hoặc một loài côn trùng khác đẻtrứng lên ổ đã từng sống khi còn là ấu trùng, một hành động thể hiện sự lựa chọn môitrường sống và cuối cùng dẫn đến sự hình thành một loài mới ( Khoahoc.com.vn –Tra

ẩn mình vào những bụi rậm khi trời trở tối

Đặc điểm sinh thái

Phân bố ở khắp nơi, trừ những vùng lạnh hoặc quá khô cằn thường xuyên Conđực của nhiều loài chiếm cứ một vùng lãnh thổ, xua đuổi các loài khác hoặc là những conlạc vào lãnh thổ của nó Một số loài sẽ phơi nắng hoặc đậu trên cao ở nơi đã được chọn.Kiểu bay của bướm thường đặc trưng và một vài loài có kiểu bay biểu diễn để ve vãn cáccon cái Hoạt động tắm nắng là một hoạt động thường xuyên vào những giờ bị lạnh buổisáng Nhiều loài sẽ quay về hướng đông để đón nhận nhiệt của mặt trời Một số loài còn

Trang 17

mở rộng cánh của nó để đón nhận nhiệt của mặt trời, những loài này chủ yếu là ở dãyalpơ.

Thức ăn của bướm trưởng thành chủ yếu là mật hoa Ngoài ra, nguồn dinh dưỡngcủa chúng có thể là phấn hoa, nhựa cây, hoa quả thối rữa, phân, và các chất khoáng hoàtan ở các vùng ẩm, nhưng thậm chí mồ hôi người cũng thu hút bướm Có những nguồndinh dưỡng khác có thể là máu và nước mắt Con trưởng thành ăn những chất lỏng thôngqua vòi hút Nó ăn các mật từ những bông hoa và cũng như nhấm nháp các ngụm nước từnhững chỗ ẩm ướt Nó lấy nước để tạo thành năng lượng từ đường ở phấn hoa, từ natri vàcác chất khoáng khác cần cho quá trình sinh sản của mình Nhiều loài bướm cần nhiềuNatri hơn là được cung cấp từ mật hoa Nó bị hấp dẫn natri từ các muối và đôi khi từ mồhôi của con người Bên cạnh những vùng ẩm ướt, một số bướm còn ăn phân, hoa quả thốirữa hoặc xác xúc vật phân huỷ để thu nhận các chất khoáng và dinh dưỡng Ở nhiều loài,

là hiện tượng quần tụ ở những con đực và những nghiên cứu cho rằng các dinh dưỡng thuđược là một món quà cho con cái trong suốt quá trình giao phối

Trong tự nhiên, bướm bị đe doạ bởi dịch bệnh và các con vật ăn thịt Ở giai đoạncòn non, chúng rất dễ bị các ký sinh trùng hoặc vi sinh vật tấn công và giết chết nhữngcon non, hoặc những con đực Đôi khi, nó giết hết toàn bộ trứng của con đực Hiện naycon người là kẻ thù lớn nhất của bướm Chặt mất cây chủ, thuốc diệt côn trùng để bảo vệthực vật, bắt bướm vì mục đích thương mại, đầu độc môi trường sống là nguyên nhânchính làm cho số lượng của nhiều loài bướm quý đang bị suy giảm nghiêm trọng thậmchí bị tuyệt chủng Thay vào đó, những loài bướm thích hợp sống ở những rừng thứ sinhhoặc những thảm thực vật thưa lại phát triển

Ở bướm có một hiện tượng thú vị là nhiều loài bướm khác nhau cùng tập trung ởnhững nền đất ẩm, phân và xác chết để lấy dinh dưỡng như muối và amino axit Hiệntượng này còn có ở một số côn trùng, đáng chú ý là bọ chét ăn lá Có thể gọi hện tượngnày là sự quần tụ Bướm có nhiều cách khác nhau để lấy chất lỏng Tiêu biểu là việc quần

tụ ở những vùng đất ẩm Phân cũng là một nơi mà các loài thường quần tụ Đặc tính này

chỉ giới hạn ở con đực của nhiều loài, như ở một số loài như Battus philenor , sự hội họp

chúng lúc đầu có thể là tác nhân thu hút sự gia nhập của một số loài khác, cùng quần tụtạo thành các nhóm bướm lớn Đôi khi sự quần tụ này còn có tính chất là để tự vệ Nhữngchất dinh dưỡng từ quá trình này sẽ được giữ lại truyền cho con cái trong quá trình giaophối như là một món quà, và sau này là truyền lại cho trứng để tăng thêm sức sống.Những con bướm đã từng quần tụ sẽ lấy được nhiều chất dinh dưỡng, tạo thành chất lưulàm cho nó khoẻ hơn những con bướm cái không tham gia quần tụ

Giá trị và bảo tồn

Trang 18

Đặc điểm một loài bướm chỉ sống trên một loài cây chủ, hay một vài cây chủ, vàngược lại nó giúp cho quá trình thụ phấn của các loài thực vật cho thấy mối liên hệ chặtchẽ giữa bướm với cây cối Chính vì vậy nó đóng một vai trò quan trọng trong hệ sinhthái

Nhờ đặc tính này, có thể coi bướm là một loại chỉ thị sinh học, cho thấy hiện trạngmôi trường khu vực Sự quá đông đúc của những loài bướm ưa sống ở những thảm thựcvật thứ sinh cho thấy thảm thực vật nguyên sinh đã bị tàn phá, hay tình trạng mất mùa ởnhững loài được thụ phấn nhờ bướm do thiếu vắng bóng bướm cho thấy tình trạng môitrường đang bị huỷ hoại, dư thừa lượng thuốc bảo vệ thực vật…

Cách hình thành màu của bướm đã gây ra cảm hứng cho nghiên cứu công nghệnano để sản xuất sơn mà không sử dụng các chất nhuộm màu và trong nghệ thuật trưngbày mới

Có nhiều sản phẩm được làm từ bướm rất được yêu chuộng như tranh gắn bướm,tranh gắn cánh bướm, các đồ trang sức từ bướm đổ nhựa

Ngoài ra, bướm có vai trò rất quan trọng trong văn hoá

Nghệ thuật vẽ bướm đã xuất hiện ở nhiều nền văn hoá bao gồm từ thời Aicậpcách đây 3.500 năm Ngày này, bướm được sử dụng rộng rãi trong nhiều chủ đề nghệthuật, và có rất nhiều sự sáng tạo kết hợp với nghệ thuật hư cấu đã tạo ra những chúbướm mềm mại

Theo chương bướm trong cuốn Kwaidan: câu chuyện và nghiên cứu về nhữngđiều lạ, bởi Lafcadio Hearn, bướm được nhân cách hoá có linh hồn của con người, khichúng sống, chết hay sau khi chết Người Nhật còn mê tín, cho rằng khi bướm đi vàophòng khách, đậu sau tấm phong tre thì người mà ta yêu nhất sẽ tới Tuy nhiên, sự xuấthiện của một số lượng lớn được xem là điềm xấu Khi Taira no Masakado chuẩn bị chocuộc nổi loạn bí mật của mình, thì ở Kyoto người ta cũng thấy có những đàn bướm lớn vànhững người ở đây tin rằng sắp có một chiến tranh xảy ra

Từ bướm trong tiếng nga được viết là ", бабочка (bábochka), nghĩa là nơ bướm.

Khi đọc nhẹ, nó có âm là baba hoặc babka nghĩa là mẹ, bà, bánh, hoặc theo nghĩa cổ nó

có nghĩa là bà nội

Trong tiếng Hy lạp cổ, nó được viết là ψύχη (psȳchē), nghĩa là linh hồn, trí tuệ.

Theo bách khoa tôn giáo của Mircea Eliade, một vài Nagas của Manipur xuất phát

từ bướm

Trang 19

Trong văn hoá Trung quốc, hai con bướm bay cùng nhau là biểu tượng của tìnhyêu Có một câu chuyện dân gian gọi là tình yêu bướm Triết gia đạo lão Zhuangzi mộtlần đã nằm mơ thấy mình là một con bướm bay mà không cần quan tâm tới con người,khi ông tỉnh dậy, ông nhận ra đó chỉ là một giấc mơ, ông ấy nghĩ rằng “Có phải ta là mộtcon người mơ về việc trở thành bướm, hay hiện nay ta là một con bướm đang mơ thấymình là một con người”

Trong một vài nền văn hoá cũ bướm là biểu tượng cho sự hoá thân với một cuộcsống mới sau khi đã nằm trong một nhộng một thời gian

Một vài người cho rằng khi nó đậu lên người nào nghĩa là người đó sắp có maymắn

Tuy nhiên, ở Devonshine, người ta sẽ phải giết con bướm đầu tiên trong năm mà

họ nhìn thấy hoặc là họ sẽ gặp những điều không may mắn trong cả năm trời

Thành ngữ trong tiếng anh bướm bay vào dạ dày (butterflies in the stomach)muốn nói lên sự bồn chồn lo lắng

Phân loại

Nguyên thủy của bướm có thể từ kỷ phấn trắng cách đây 56 triệu năm Thật không may

là những hoá thạch của chúng lại rất ít Hoá thạch lâu nhất được ghi nhận không địnhđược tên có thể là buớm nâu từ trước thời kỳ đầu tiên của kỷ thứ ba ( khoảng 57 triệunăm trước) ở Fur, Đan Mạch Một trong những mẫu được bảo quản đẹp nhất là Bướmánh kim loại từ 25 triệu năm trước

Bướm bắt đầu xuất hiện từ kỷ phấn trắng khi đại lục với khí hậu khác xa hiện nay Đó làkhi những cây hạt kín chính được sinh ra Các chứng cứ được lượm từ phân tích khảo cổ

và khoảng 50 mẫu hoá thạch của bướm được xác định, từ hình thái và nghiên cứuhomologies, từ các gen và so sánh với hoá sinh học, từ so sánh phong tục và từ hình phân

bố địa lý ngày nay và từ các sinh vật Những nhà nghiên cứu chấp nhận khởi nguyên củabướm là từ kỷ phấn trắng

Một số loài bướm mắt rắn sử dụng cây dương xỉ như là cây thức ăn của sâu non và rất cóthể bướm xuất hiện trước những cây hạt kín là thức ăn của chúng ngày nay Nghiên cứuhiện đại về phân loại cao hơn bướm bắt đầu là sự phân loại theo ngoại hình của Ehrlich

sử dụng hàng trăm những đặc điểm hình thái đã được bỏ qua trước đó ở các dạng đượctrình bày, xuyên suốt các họ và các nhóm chính Scoble và những nghiên cứu kế tiếp vềnhững đặc điểm mới, nhưng với những áp dụng của riêng họ tới việc phân loại Đặc điểm

Trang 20

của các bướm non giờ đây thường được mô tả cùng với những con bướm trưởng thành.Những dữ liệu phân tử cho phép nghiên cứu để phân loại các giống, nòi.

Có hai họ bướm chính ( Papolinoidea và Hesperioidea) với khoảng từ 7 đến 11 họ có mặt

ở Việt Nam ( phụ thuộc vào hệ thống phân loại đã sử dụng) Đối với mục đích nhận dạng,công việc có thể dễ dàng hơn khi sử dụng hệ thống cũ ( 11 họ)

Các họ đó là:

PAPILIONIDAE – HỌ BƯỚM PHƯỢNG ( Swallowtails, birdwings, dragontails);

PIERIDAE – HỌ BƯỚM PHẤN ( Trắng và vàng);

DANAIDAE – HỌ BƯỚM ĐỐM( Tigers và Crows);

SATYRIDAE – HỌ BƯỚM MẮT RẮN( Browns);

AMATHUSIIDAE – HỌ BƯỚM CHÚA ( amathusiids);

NYMPHALIDAE - HỌ BƯỚM GIÁP ( nymphalids);

ACRAEIDAE ( acraeids);

LIBYTHEIDAE – HỌ BƯỚM MỎ DÀI(beaks);

RIODINIDAE – HỌ BƯỚM NGAO( riodinids);

LYCAENIDAE – HỌ BƯỚM XANH( blues và coppers);

HESPERIIDAE – HỌ BƯỚM NHẢY( skippers);

Đối với phần lớn những họ này thì có thể dễ dàng phân biệt ngoài thực địa ( mặc dù cómột số loài nhất định khó xếp chúng vào đúng nhóm)

Họ bướm phượng – Papilionidae

Họ này bao gồm nhiều bướm lớn, ưa hoạt động và ( thường là) sặc sỡ, phần lớn có màusậm ( đen, nâu, xanh đen…) với các đốm màu sáng hơn ( trắng, đỏ, xanh… ) trên cánh.Chúng có 6 chân dài và đầy đủ, chót râu cong Những loài thường gặp trong họ này thuộc

vài nhóm khác nhau rất đặc trưng Các loài trong giống Papilio phần lớn có đuôi rõ rệt, kích thước lớn Giống Graphium có kích thước trung bình, gồm vài nhóm khác nhau;

nhóm có đuôi ngắn hoặc không đuôi và nhóm có đuôi rất dài Một số loài bắt chước cácloài thuộc họ Danainae Chúng cũng bắt chước cả cách bay của những loài “kiểu mẫu”.Nhiều loài khi vừa đậu để hút thức ăn lỏng, cánh vẫn đập một lúc Cây chủ thường là họCam Chanh ( Rutaceae), Na ( Annonaceae) Một số đẻ trứng trên những loại dây leo có

nhựa độc ( các giống Troides, Pachliopta) thuộc họ Phòng kỷ ( Aistolochiaceae) Trứng

có dạng tròn Sâu đặc trưng bởi phần đầu to, thường có hai dạng ngụy trang, dạng phân

chim lúc còn nhỏ ( giống papilio) và dạng xanh lá lúc vào các tuổi cuối Nhộng thường

có màu xanh, một số ( ngay cả trong cùng loài) có dạng như dạng một cành cây khô.Nhiều loài bị thu hút bởi nước ở suối và những vũng nước nhỏ ( đặc biệt là loài

Dragontails Lamproptera) Ở Việt Nam hiện nay có khoảng 60 loài.

Trang 21

Troides helena Atrophaneura varuna Papilio paris Papilio polytes

Họ bướm phấn - Pieridae

Họ bướm phấn ( pieridae) phần lớn là những loài có màu sắc trắng và vàng với cácvệt sậm màu hơn ( đen, đỏ…) trên cánh Bướm không khi nào có đuôi và hầu hết cókích thước nhỏ và vừa Loài Pierid lớn nhất ở Cúc Phương là loài đặc biệt “Great

orange tip” Hebomoia glaucippe Bướm thường tụ tập ở đường đi hoặc tại các vũng

nước nhỏ Họ này gồm một số những loài thông thường nhất ở Vườn Quốc Gia, như

loài Graa Yellows Eurema ( Một số loài được phân biệt bởi màu đen được trải rộng

bởi màu đen ở trên cánh) Nhiều loài trong họ này bay khá nhanh Ở các thành phốlớn, ít khi gặp với số lượng lớn, thường chỉ thấy vài con bay từ bông hoa này sangbông hoa khác để hút mật hoa, hoặc thấy bướm cái bay chậm gần cây chủ để đẻ

trứng Với những loài có tập tính di cư như giống Catosilia, có thể gặp hàng đàn bay

từ cây chủ này sang cây chủ khác ( cây muồng, giống Cassia, họ Đậu Fabecea) Trong

rừng có thể gặp một số loài với số lượng rất lớn và theo mùa như các giống Appias,

Cepora…

Các loài bướm phấn chủ yếu đẻ trứng trên những loại cây thuộc họ Cáp ( Capparacea)

họ đậu ( Fabaceae); giống Delias đẻ trứng trên họ tầm gửi ( Loranthaceae) Trứng

dạng dài, hơi nhọn ở đầu, thường được đẻ ở dưới mặt trên lá, đỉnh cành non Giống

Delias đẻ trứng thành đám Ấu trùng dạng dài thon, có những lông ngắn hoặc mụn

Trang 22

trên thân Nhộng có dây tơ, thường đeo lên mặt dưới cành hoặc lá của cây chủ, đôikhi sâu tuổi cuối cũng bò sang một cây khác gần đó để hóa nhộng Việt Nam cókhoảng 60 loài[22].

Họ bướm đốm - Danaidae

Họ Danaidae là tất cả những bướm từ trung bình đến lớn thường được đánh dấu nổi bậtbởi màu đen, da cam hoặc trắng Thân thon dài và thường màu đen cùng với những đốmtrắng Các chân trước yếu và không có tác dụng ở cả hai giới tính Hầu hết các loài được

Trang 23

tìm thấy ở những môi trường sống thoáng đãng, có ánh nắng nơi chúng tìm thức ăn từnhững bông hoa Khi còn là ấu trùng, nhiều loài lấy thức ăn từ những cây độc hoặc xấu

và tích lũy các chất độc trong cơ thể để bảo vệ lúc trưởng thành Các màu sáng có tácdụng ngăn chặn nhiều động vật ăn thịt như chim Một số bướm không có hại từ nhiều họ

khác giống hệt họ Danaidae ( Như Hestima nama ( Nymphalidae), Elymnias

hypermnestra ( Satyridae)).

Trang 24

Euploea mulciber

Họ bướm mắt rắn - Satyridae

Họ Satyridae chủ yếu là những loài bướm nhỏ màu nâu và xám Hầu hết cánh đằng sau

có kiểu trang trí hình vỏ sò hoặc răng cưa, và các cánh thường được đánh dấu ở phía trênhoặc phía dưới bằng những đốm hình con mắt ( eyespots) Một số nhóm rất đa dạng và

phổ biến như giống Ypthima, Mycalesis… nhưng lại rất phức tạp về mặt phân loại Cả hai

giới tính đều có các chân trước yếu Chúng không bay khỏe và thường rất gần mặt đất.Trứng hơi tròn, không có “trang trí” như trứng của họ Nymphalinae hay Danainae Sâuchủ yếu ăn lá các cây thuộc nhóm một lá mầm như họ Cỏ ( Poaceae), hoặc lá các loại tre

( giống Bambusa) Sâu thường có hai sừng trên đầu, giống với họ bướm chúa

Amathusiinae

Ở họ này nhiều loài có dạng mùa khô và mùa ẩm với sự tiêu giảm hoặc biến mất hoàntoàn các đốm mắt ở dưới cánh vào mùa khô Việc nhận diện đến cấp loài bằng cách quansát ở một số nhóm rất khó khăn và hầu như không thể chắc chắn

Phần lớn các loài thuộc họ này bay thấp, có thể tìm thấy chúng ở mọi môi trường sống,bao gồm cả đổng cỏ và rừng, nhiều loài chỉ gặp dưới tán rừng Vài nhóm phổ biến như

giống Mycaleis, Ypthima… có thể gặp ở chỗ trống, ven đường, kể cả khu dân cư Một vài giống có số loài rất lớn trong rừng, nhưng lại ít gặp ở khu dân cư, ví dụ như giống Lethe.

Nhiều loài trong họ này thuộc dạng khó lại gần, khó quan sát Màu sắc cũng không hấpdẫn đối với người không chuyên Hơn nữa nhiều loài phổ biến lại khó định danh ViệtNam có hơn 100 loài thuộc họ này

Trang 25

Melanitis leda leda Elymnias hypermnestra

Trang 26

Orsotriaena medus, mặt dưới con đực

Họ bướm chúa - Amathusiidae

Họ bướm chúa bao gồm các loài có kích thước từ trung bình đến rất lớn, nhiều loài màusắc và hoa văn rất đẹp Giống như họ Satyridae chân trước yếu và cánh có những chấmhình mắt, mặc dù chúng khó thấy hơn và các con bướm thường sặc sỡ một cách đặc biệt.Không giống với họ Satyridae, họ Amathusiidae có khuynh hướng có những cánh sau vớitoàn bộ diềm ( termen) Đây là nhóm bướm sống dưới tán, rất ít gặp ngoài trảng trống,phần lớn sống trong rừng hoặc gần rừng, chỉ có vài loài phân bố đến khu vực dân cư Hầunhư không bao giờ thấy mặt trên cánh khi đậu Các loài trong họ này thường hoạt độngmạnh lúc sáng sớm và chiều tối, bay thấp, sát mặt đất, len lỏi giữa các bụi cây Ban đêmmột số loài phổ biến thường bay vào đèn Sâu của Amathusiinae có nhiều lông dài, nhiềuloài trong họ này ăn lá tre, trúc và những cây họ dứa Các loài trong họ này đều bị hấpdẫn bới trái cây chín rụng dưới đất

Do kích thước lớn, màu sắc đẹp và phần lớn ở trong rừng, nhiều loài trong họ này có tênthông thường tiếng anh chỉ sự lộng lẫy của chúng như Jungle Queen ( nữa hoàng rừng),Jungle king ( Vua rừng), Jungle Glory ( sự lộng lẫy của rừng)…Ở Việt Nam hiện nay cókhoảng 30 loài thuộc họ này (2)

Stichophthalma fruhstorferi Thauria aliris lathyi

Trang 27

Faunis canens, mặt dưới con đực Faunis canens, mặt trên con đực

Họ bướm giáp - Nymphalidae

Nymphalidae là một họ bướm rất lớn, rất đa dạng về màu sắc, hình dạng Phần lớn cácloài có màu sậm ( nâu, cam, đen) với các đốm, vệt, hoa văn trên cánh tinh xảo, phức tạphơn hầu hết các họ bướm chủ, vùng phân bố cũng rất đa dạng Tuy vậy ở tất cả các loàichân trước của chúng đều vô chức năng và ô cánh trên cánh sau luôn mở Họ này bao

gồm nhiều con lớn và bay khỏe ( như Vargans egista, Parthernos sylivia) Nhiều loài bị thu hút bởi các vùng thoáng đãng và nắng ấm ( như loài Neptis, thường thấy ở các khu

vực đồng cỏ) Một số có thể tìm thấy quanh các vũng nước nhỏ hoặc bên bờ suối Tuy

vậy, có một số loài chỉ tìm có ở trong rừng như loài Kallima và Rhinopalpa polynice Những loài khác như Euthalia ngoài rừng ra thường tìm thấy ở những môi trường sống

có rừng bao phủ Nhộng của bướm Giáp dạng treo, không có dây tơ Sâu ăn lá nhiều loạicây khác nhau Điểm đặc trưng nhất về hình thái của sâu của họ này là chúng thường có

gai phân nhánh, được gọi là scolus.Trứng thường có dạng quả táo, với các vân, gờ chạy

từ trên đỉnh xuống Một số loài khác có trứng đơn giản, dạng cầu, không có vân.Nhiềuloài trong họ này rất phổ biến và dễ nhận diện Một số loài rất hiếm, chỉ gặp trong rừng.Với khoảng 200 loài đã biết ở Việt Nam (2)

Trang 28

Cethosia biblis,mặt dưới con đực Cethosia biblis,mặt trên con đực

Trang 29

Bướm mỏ dài - Lybytheidae

Là một họ bướm nhỏ khác có vài loài ở Việt Nam Tất cả các loài cánh có hình dạng đặcbiệt, cánh trước dạng liền với đỉnh cụt Cánh sau có một điểm trang trí kiểu vỏ sò HọLibytheidae được biết đến như những con bướm có vòi, bởi chúng có một mấu sờ dài ra ởphía trước đầu tạo thành một cái “vòi” vì thế chúng có tên tiếng anh chung là SnoutButterfly ( bướm mỏ dài) Giống đực có những chân trước vô chức năng không hoàn hảo,trong khi giống cái lại có chân trước hoàn hảo Các loài trong giống này xuất hiện theomùa Ở phía nam chỉ xuất hiện với số lượng lớn vào cuối mùa khô đầu mùa mưa, khoảng

từ tháng ba đến tháng năm, thời gian còn lại trong năm hầu như không thấy Các loàitrong họ này bay rất nhanh, thấp, đường bay đổi liên tục, khó quan sát Mặt dưới cánhphần lớn có màu sậm, loang lổ, phù hợp với tập tính hay đậu trên mặt đất và xếp cánh,giúp chúng ngụy trang tốt Sâu của bướm mỏ dài ăn lá cây họ Sếu ( Ulmaceae), đặc biệt

là giống cây Celtis Con đực của loài L.geoffroyi dễ nhận diện khi bay do mặt trên cánh

có màu tím Đây là một họ có ít loài, trên toàn thế giới chỉ có 13 loài, Việt Nam có bốnloài (2)

Libythea myrrha

Họ bướm ngao - Riodinidae

Họ Riodinidae là những con bướm trông thanh mảnh, chúng có thể bị nhầm với họLycaenidae Tuy nhiên, hầu hết họ Riodinids chủ yếu là mầu nâu và trắng Giống nhưnhững con bướm mỏ dài, chân trước không hoàn hảo ở những con bướm đực nhưng

hoàn hảo ở con cái Loài Riodinid thông thường nhất Zemeros flegyas, được tìm thấy

ở bìa rừng và những môi trường sống thoáng đãng trong suốt cả năm Nó có thể đượcnhận ra bởi cánh của chúng có hình móc với các góc kiểu trang trí kiểu vỏ sò và bởi

sở thích của chúng là đậu trên mặt lá cây với những cánh giương lên khoảng 45 độ sovới mặt phẳng ngang

Trang 30

Zemeros flegyas Abisara fylla Abisara neophron

Họ bướm xanh - Lycaenidae

Là một họ lớn của nhiều bướm nhỏ, nhiều loài trong số chúng có đuôi ở cánh sau, rấtphong phú về số loài và hình dạng, màu sắc Phần lớn các loài có mặt trên cánh màutrắng, xanh lơ, xanh dương, xanh tím… một số nhóm có kiểu màu đỏ, cam Mặt dướicánh xỉn màu hơn, có những đường vân, đốm, vạch… rất tinh vi Râu thường có dạngkhoang trắng đen rất nhỏ như sợi tóc ( giống Prosotas, Nacduba… ) hoặc có thể dài đếnrất dài ( Drupadia, Zeltus…) Sát gốc đuôi thường là các đốm mắt Người ta cho rằngđuôi và đốm mắt là một trong những cơ chế tự bảo vệ của họ bướm nà thay vì nhiều độngvật ăn côn trùng thường nhầm tưởng đó là cái đầu của một sinh vật lớn hơn và tấn công,con bướm chỉ bị rách một phần nhỏ ở cánh và bay thoát Nhiều loài không có đuôi Mặtdưới cánh có xu hướng cho thấy màu phối hợp của màu xám và màu nâu Do có số lượngloài lớn và sự khác biệt giữa các loài nhiều khi rất ít, nên việc nhận dạng là khó khăn.Tuy nhiên, có một số loài có thể nhận dạng dễ dàng Ví dụ:

Pithecops corvus ( bề mặt màu nâu – một điểm chấm màu đen to ở mặt dưới của cánh

sau)

Heliophorus epicles ( bề mặt màu nâu được đánh dấu với màu da cam ánh kim, phía

dưới màu vàng da cam;)

Loxura atymnus ( màu nâu – da cam với những cái đuôi dễ nhận thấy)

Yasoda pita ( Giống L.atymnas, nhưng có vết màu tối sẫm ở mặt trên của cánh sau) Zeltus amasa ( bề mặt có màu xanh da trời với những vết tối xám và đuôi rất dài màu

trắng phủ lông tơ)

Họ bướm này có vài nhóm khác nhau về tập tính sống và phân bố Nhiều loài chỉ baythấp, ít khi bay xa Nhiều loài chỉ là “thành viên thường trực” của các vũng nước có chứachất khoáng, chất thải của thú rừng Một số loài có kích thước lớn hơn bay rất nhanh,thường đậu trên cây, mặc dù chúng cũng xà xuống đất hút chất khoáng Hầu hết các loàithích chỗ trống, trảng cỏ, nơi có nhiều nắng Một số loài có mối liên hệ với các loài kiến.Một số loài có ấu trùng được kiến chăm sóc Đổi lại chúng tiết ra chất mật để trả ơn cho

Trang 31

kiến Bản thân bướm cái lúc đẻ trứng lên gần một cây có loài kiến nó cần, cũng tiết rachất ngọt để dẫn dụ kiến đến tha trứng về tổ của chúng Một số loài khác lại sống tronghang kiến, ăn thịt cả ấu trùng kiến Việt Nam có trên 220 loài thuộc họ này (2)

Họ bướm nhảy - Hesperiidae

Đây là một họ khác của bướm nhỏ Họ Hesperiidae được phân biệt với tất cả các bướmkhác bởi thân chúng ngắn và rộng và tương ứng là những cánh ngắn Nó trông giốngnhững con ngài hơn là những con bướm, và nay thực ra bao gồm cả một họ phụ riêng biệt( Hesperiodea), khác biệt với những con bướm khác ( Papilionoidea) Không giốngnhững họ bướm khác, tất cả các gân cánh trên cánh trước bắt đầu từ gốc cánh hoặc từ ôcánh, tất cả đều không chẻ chạc Râu chùy hoặc râu móc ở trên đầu cách xa nhau Một sốloài có thế cánh đặc biệt khi bị bắt, các cánh giữ ở vị trí khoảng 45 độ so với thân, trongkhi hầu hết các bướm khác đều đóng cánh của chúng lại

Giống họ Lycaenidae, các loài Hesperiid rất khó phân biệt Hầu hết là màu nâu và màuxám với những vệt sáng hơn Những loài thuộc nhóm Koruthaialos có những chấm hoặcvạch màu cam ở mặt trên của cánh trước và nhóm Bibasis gồm những loài có những vếtmàu xanh da trời – xanh lá cây ánh kim

Hesperiids được tìm thấy ở mọi môi trường sống và tốt nhất là sưu tập vào sáng sớmhoặc vào buổi tối bởi vì rất nhiều loài có sở thích hoạt động lúc hoàng hôn Nhiều loàidường như cùng một lãnh thổ

Sâu của họ bướm này ăn lá các loại cây khác nhau thuộc nhóm một lá mầm như cỏ( poaceae), trong đó có cả lúa ( Oryxa sativa), chuối ( giống Múa), họ gừng

Trang 32

( Zingiberaceae…) Sâu thường có đầu sậm màu hơn so với thân, nhiều loài tạo thành mộtcái ống bằng lá cây chủ cuốn lại và chủ yếu ăn lá vào ban đêm Nhiều giống trong họ nàyrất phức tạp về mặt phân loại, hầu như không thể nhận diện được bằng quan sát Đây có

lẽ cũng là họ bướm ít được người không chuyên gia quan tâm do kích thước nhỏ, màu sắckhông hấp dẫn Mặc dù vậy, một số loài khá phổ biến và thường gặp Họ này rất phongphú, có khoảng 250 loài ở Việt Nam (2)

I.2 Tình hình nghiên cứu bướm ở Việt nam nói chung và ở các Vườn Quốc Gia – Khu bảo tồn thiên nhiên nói riêng

1.2.1 Nghiên cứu Bướm ở Việt Nam

1.2.1.1 Nghiên cứu về đa dạng bướm ở Việt Nam

Bướm Việt Nam được nghiên cứu từ những năm đầu của thế kỷ XX Trong đó,công trình đầu tiên nghiên cứu về bướm ở Việt Nam là cuốn “Côn trùng Đông dương”(Dubois et Vitalis, 1919) với danh lục 611 loài, đây cũng là danh lục bướm đầu tiên củacác quốc gia vùng Đông Dương (Việt Nam, Lào và Cam Pu Chia) [68] Sau đó Metaye(1957) đã xác định danh lục 454 loài bướm Việt Nam [102]

Kết quả điều tra côn trùng Miền Bắc Việt Nam (Viện Bảo vệ Thực vật, 1976)[35] với sự tham gia của các nhà côn trùng học hai nước Trung Quốc và Việt Nam, đãxác định 181 loài thuộc 9 họ bướm Công trình chủ yếu là xác định các loài côn trùnggây hại Tiếp theo là công trình về điều tra cơ bản côn trùng miền Bắc Việt Nam từnăm 1960 đến 1970 (Mai Phú Quí et al., 1981) [12] đã xác định danh lục 161 loàithuộc 5 họ bướm

Có thể nói từ những năm 1990 của thế kỷ XX, có khá nhiều công trình nghiêncứu về bướm được tiến hành Các khảo sát về bướm được thực hiện ở các Vườn Quốc gia

Trang 33

và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Các nhà côn trùng nước ngoài nghiên cứu bướm ở ViệtNam nhiều nhất đến từ Nhật Bản, Liên Bang Nga, Cộng hoà Séc và một số quốc giakhác Ở Việt Nam, các nghiên cứu và khảo sát về bướm tập trung nhiều ở Trung tâmNhiệt đới Việt-Nga và Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật.

Các công trình nghiên cứu về bướm đã được tiến hành ở các Vườn Quốc gia củaViệt Nam, như: Ba Bể, Bắc Cạn (Đặng Thị Đáp và Hoàng Vũ Trụ, 2003; Monastyrskii

et al., 1998) [7], [109]; Ba Vì, Hà Tây (Bui X.P et Monastyrskii, 1997) [45]; HoàngLiên, Lào Cai (Vũ Văn Liên, 2003; Monastyrskii et Hill, 1997; Monastyrskii et al.,1999) [16], [108], [110]; Phú Quốc, Kiên Giang (Bùi Xuân Phương, 2005a) [22]; Bạch

Mã, Thừa Thiên Huế (Lê Trọng Sơn et al., 2003, 2005) [27], [28]; Cúc Phương, NinhBình (Đặng Thị Đáp et al., 1995; Lương Văn Hào et al., 2004; Vũ Văn Liên và ĐặngThị Đáp, 2002; Ikeda et al., 1998, 1999, 2000) [8], [11], [18], [86], [87], [88]; TamĐảo, Vĩnh Phúc (Phạm Văn Lầm, 2005; Phạm Văn Lầm et al., 2004; Khuất Đăng Long

và Vũ Quang Côn, 2005; Monastyrskii et al., 1995, 1996; Novotny et al., 1991; Spitzer

et al., 1993, 1997) [14], [12], [17], [19], [20], [118], [140], [141]; Cát Bà, Hải Phòng(Đặng Ngọc Anh và Vũ Văn Liên, 2005) [1]; Phong Nha-Kẻ Bàng, Quảng Bình (ĐặngThị Đáp, 1997) [5]; Núi Chúa, Ninh Thuận (Tạ Huy Thịnh et al., 2005b) [30] Các côngtrình nghiên cứu về bướm ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên ở Việt Nam, như: Ngọc Linh,Kon Tum (Bùi Xuân Phương, 2005b) [24]; Hòn Bà, Khánh Hoà (Vũ Văn Liên, 2005)[17]; Pù Luông, Thanh Hoá (Tạ Huy Thịnh et al., 2005a) [31] Ngoài ra, một số côngtrình nghiên cứu về bướm khác như Đặng Thị Đáp (2001), Thái Đình Hà et al (2005),Bùi Xuân Phương (2005c), Tạ Huy Thịnh et al (2003), Tạ Huy Thịnh và Hoàng VũTrụ (2004), Devyatkin và Monastyrskii (1999, 2002), Hill và Monastyrskii (1999) [6],[10], [24], [29], [32], [65], [66], [79]

Các công trình mô tả loài bướm mới cho khoa học, điển hình là Devyatkin(1996, 1997, 1998a, 1998b), tác giả đã mô tả rất nhiều loài bướm mới thuộc họHesperiidae [61], [62], [63], [64] Ngoài ra, một số công trình khác cũng mô tả loàibướm mới cho khoa học là Devyatkin và Monastyrski (1999), Funahasha (2003),Monastyrskii (2005b), Monastyrskii và Devyatkin (2000, 2003a) và Yokochi (2004)[65], [75], [104], [105], [106], [151]

Trang 34

Các công trình xuất bản dưới dạng sách có kèm theo ảnh minh hoạ về bướm ởriêng từng Vườn Quốc gia hay toàn bộ Việt Nam còn rất hạn chế Chỉ có một số côngtrình về bướm Vườn Quốc gia Cúc Phương (Lương Văn Hào et al., 2004; Ikeda et al.,

1998, 1999, 2000) [11], [86], [87], [88]; các loài bướm phổ biến ở Việt Nam(Monastyrskii et Devyatkin, 2001) [21]; các loài bướm họ Satyridae (Monastyrskii,2005a) [103] Monastyrskii và Devyatkin (2003b) [107] xây dựng danh lục các loàibướm Việt Nam, trong đó có 994 loài bướm, đây cũng là danh lục có nhiều loài nhất vềbướm Việt Nam

Một số nghiên cứu về phân bố bướm theo đai độ cao ở Miền Trung Việt Namcho thấy đa dạng về loài và phong phú của các loài trong quần xã bướm ở đai cao thấphơn so với ở đai thấp (Vũ Văn Liên, 2005) [17]

1.2.1.2 Nghiên cứu về sinh học, sinh thái bướm ở Việt Nam

Phần lớn các công trình nghiên cứu về bướm ở Việt Nam đều tập trung vào xâydựng danh sách loài Các công trình nghiên cứu về sinh học và sinh thái bướm còn ít.Spitzer et al (1987) nghiên cứu bướm ở các sinh cảnh khác nhau ở rừng khô KhánhHoà đã xác định rằng có mối quan hệ chặt chẽ giữa đa dạng về thành phần loài bướmvới đa dạng về thành phần các loài thực vật có mạch Số loài bướm có quan hệ thuậnvới số loài thực vật có mạch ở rừng khô Khánh Hòa [139]

Một số công trình nghiên cứu về sinh học bướm ở Việt Nam, được tiến hành docác nhà nghiên cứu nước ngoài Koiwaya et al (2003) [91] nghiên cứu vòng đời của 4

loài bướm thuộc giống Theclini (Lycaenidae) ở Pia Oac (Cao Bằng) và Sapa (Lào Cai).

Đây là những loài chỉ sống trên các vùng núi cao ở Việt Nam

Theo nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực

vật và động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, Việt Nam có 4 loài bướm là Teinopalpus

aureus, T imperialis, Troides helena ceberus và Zeuxidia masoni được xếp vào danh

lục nhóm II [22] Đây là nhóm hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, cógiá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng còn ít trong tựnhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng Tuy nhiên, đặc điểm sinh học và tình trạng các loàibướm này ở Việt Nam còn ít được biết đến, vì vậy, rất khó khăn cho công tác bảo tồnloài, đặc biệt là bảo tồn nguyên vị

Trang 35

Tạ Huy Thịnh và Hoàng Vũ Trụ (2004) [32] đã so sánh độ tương đồng về thànhphần loài bướm giữa một số Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên của ViệtNam Tác giả đã xác định yếu tố địa lý-khí hậu là yếu tố quyết định và độ cao là yếu tốquan trọng ảnh hưởng đến sự tương đồng về thành phần loài bướm giữa các khu vực.

Tạ Huy Thịnh et al (2005c) với kết quả điều tra côn trùng (gồm cả bướm) dọc theotuyến đường cao tốc dự kiến Hà Nội-Thái Nguyên đã xác định các chỉ số đa dạng côntrùng thấp và có xu hướng tăng theo hướng từ Hà Nội tới Thái Nguyên Tuy nhiên, hệsinh thái ở đó là hệ sinh thái nông nghiệp, do vậy, tính đa dạng của côn trùng thấp [31]

Vũ Văn Liên và Đặng Thị Đáp (2002) nghiên cứu bướm ở Vườn Quốc gia CúcPhương xác định rừng thứ sinh có thành phần loài cao hơn so với thành phần loài ởrừng nguyên sinh [18] Spitzer et al (1993) nghiên cứu bướm ở các loại sinh cảnh khácnhau Kết quả cho thấy có sự khác nhau về đa dạng bướm ở các loại sinh cảnh có thảmthực vật khác nhau Tính đa dạng về bướm cao ở các sinh cảnh rừng thứ sinh, thấp hơn

ở các sinh cảnh rừng kín tự nhiên [140]

Việc nghiên cứu biến động bướm theo mùa ở Việt Nam cũng đã được đề cập đến,tuy nhiên, còn rất hạn chế Monastyrskii (2002) nghiên cứu biến động về thành phần loàibướm ở một số Vườn Quốc gia ở Việt Nam là Ba Bể, Hoàng Liên và Cát Tiên Tác giảchỉ ra có hai đỉnh cao về thành phần loài, trong đó, đỉnh cao thứ nhất về thành phần loàicủa hai Vườn Quốc gia rơi vào tháng 4 và tháng 5 và một Vườn Quốc gia khác rơi vàotháng 6; đỉnh thứ hai về thành phần loài của hai Vườn Quốc gia vào tháng 12 và mộtVườn Quốc gia khác vào tháng 10 (tác giả ghi chú không rõ về tên Vườn Quốc gia) [18].Theo quy luật chung mà các nhà côn trùng đều nhận thấy là ở Miền Bắc Việt Nam, bướmthường phong phú nhất vào tháng 5 và 10 Như vậy, nếu ở Ba Bể hay Hoàng Liên cóthành phần loài bướm cao rơi vào tháng 12 là điều không thể Một nghiên cứu khác vềbướm ở Mê Linh, Vĩnh Phúc xác định thành phần loài cao nhất vào tháng 5 và tháng 10(Thái Đình Hà et al., 2005) [10]

Việc sử dụng các chỉ số về đa dạng và phong phú của sinh vật nói chung, bướmnói riêng ở Việt Nam còn hạn chế Các nghiên cứu chủ yếu mang tính chất định tính.Các chỉ số gắn liền với nghiên cứu về bướm ở Việt Nam mới được sử dụng gần đây,trong đó có công trình của Leps và Spitzer (1990), Spitzer et al (1987, 1993, 1997)[93], [139], [140], [141] Các chỉ số được sử dụng là chỉ số đa dạng (chỉ số Shannon-

Trang 36

Weaver H’), chỉ số phong phú và chỉ số về mối quan hệ giữa bướm với môi trường sống(ở phạm vi sinh cảnh) như chỉ số CCA (Canonical Correspondence Analysis) và RDA(Redundancy Analysis).

Một số tác giả trong nước cũng đã sử dụng các chỉ số sinh học trong nghiên cứubướm cũng như một số loài côn trùng khác, như chỉ số phong phú (chỉ số Margalef: d),

chỉ số đa dạng (chỉ số Shannon-Weaver: H’), chỉ số đồng đều (chỉ số Pielou: J’) và chỉ

số hay độ tương đồng (hệ số Bray-Curis: S’jk) (Lê Trọng Sơn et al., 2005; Tạ Huy Thịnh

et al., 2005b, 2005c; Tạ Huy Thịnh và Hoàng Vũ Trụ, 2004) [28], [30], [31], [32] Cácchỉ số trên được tính toán theo phần mềm Primer v5 [134] Độ tương đồng được sửdụng thông qua cây tương đồng hay bảng chỉ số tương đồng để xác định độ tương đồng

về thành phần loài bướm giữa các khu vực Việc sử dụng phần mềm này cho kết quảnhanh và đáng tin cậy

1.2.1.3 Nghiên cứu bướm như vật chỉ thị sinh thái ở Việt Nam

Việc nghiên cứu bướm như vật chỉ thị sinh thái ở Việt Nam cũng đã được đềcập đến (Spitzer et al., 1993, 1997) [140], [141] Tác giả sử dụng chỉ số sinh học để xácđịnh loài chỉ thị Có thể nói đây là công trình tiên phong trong nghiên cứu định lượng

về bướm ở Việt Nam Các chỉ số sinh học được sử dụng để xác định loài chỉ thị là chỉ

số CCA (Canonical Correspondence Analysis) và RDA (Redundancy Analysis) (Leps

et Spitzer, 1990; Spitzer et al., 1987, 1993, 1997) [93], [139], [140], [141]

Một số công trình khác đề cập đến loài bướm có thể sử dụng làm chỉ thị chorừng dựa vào sự có mặt và sự phong phú của bướm ở sinh cảnh rừng (Đặng Ngọc Anh

và Vũ Văn Liên, 2005) [1] Tuy nhiên, công trình chưa đưa ra được chỉ số để làm căn

cứ xác định loài chỉ thị

1.2.2 Nghiên cứu bướm ở Vườn Quốc gia Tam Đảo

1.2.2.1 Đa dạng bướm ở Vườn Quốc gia Tam Đảo

Khu hệ bướm Vườn Quốc gia Tam Đảo được nghiên cứu từ giữa những năm

1980 Cũng như các khu vực khác ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu bướm ở TamĐảo chủ yếu tập trung vào việc xác định thành phần loài Có thể nói Tam Đảo có nhiềucông trình nghiên cứu về bướm nhiều nhất so với các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồnThiên nhiên khác ở Việt Nam Leps và Spitzer (1990) xác định 112 loài bướm ở núi

Trang 37

Tam Đảo [93] Spitzer et al (1993) đã xác định 117 loài bướm phân bố ở vùng núi TamĐảo [140].

Khuất Đăng Long và Vũ Quang Côn (2005) xác định 114 loài bướm thuộctổng họ bướm Phượng (Papilinoidae), trong đó 50 loài chỉ thấy xuất hiện ở các sinhcảnh rừng rậm [17] Phạm Văn Lầm (2005), Phạm Văn Lầm et al (2004) nghiên cứubướm ở Tam Đảo năm 2001-2002 đã thu được 136 loài thuộc 87 giống của 11 họ[14], [12] Monastyrskii et al (1995, 1996) chỉ ra mối quan hệ giữa bướm với thực vật[19], [20]

Trong tài liệu của Vườn Quốc gia Tam Đảo đã thống kê danh sách 157 loàibướm thuộc 8 họ (Vườn Quốc gia Tam Đảo, 2001) [34] Tuy nhiên, một số loài trongdanh sách này không có ở Tam Đảo và cũng không chỉ rõ loài bướm nào thuộc nhóm quý

và hiếm Loài bướm bị khai thác buôn bán cũng không thấy đề cập đến

Một số loài bướm mới cho khoa học cũng được mô tả từ Vườn Quốc gia TamĐảo Devyatkin (1996, 1997, 1998b) đã xác định và mô tả 6 loài và loài phụ bướm mới

cho khoa học thuộc họ Hesperiidae từ Tam Đảo là Capila pauripunetata tamdaoensis,

Celaenorhinus inexspectus, Halpe frontieri, Pintara bouringi colorata, Sovia eminens và Thoressa monastyrskyi monastyrskyi [61], [62], [64] Yokochi (2004) mô tả loài mới Euthalia sinkai (họ Nymphalidae) [151] Morita (1998) mô tả loài phụ mới Chrysozephyrus scintillans sinkaii họ Lycaenidae [111].

Như vậy, qua các công trình nghiên cứu về bướm Tam Đảo, tổng số 304 loàibướm đã được xác định cho Vườn Quốc gia Tam Đảo

1.2.2.2 Nghiên cứu về sinh học, sinh thái bướm ở Vườn Quốc gia Tam Đảo

Igarashi và Fukuda (1997-2000) [85] đã nghiên cứu sinh học loài Ragadia

crisilda ở Tam Đảo Tác giả xác định cây chủ của loài Ragadia crisilda là Selaginella delicatula (họ Selaginellaceae)

Các công trình nghiên cứu về sinh thái bướm Tam Đảo cũng được tiến hành.Novotny et al (1991) nghiên cứu sự phân bố và tập tính bay của loài bướm

Stichophthalma louisa (họ Amathusiidae) trong rừng Tam Đảo Kết quả xác định loài chỉ

giới hạn ở các sinh cảnh rừng kín, khu vực trống tạo ra bức tường chắn ngăn cản các cáthể của loài di chuyển từ khu vực này sang khu vực khác Yếu tố giới hạn sự phân bố củaloài trong rừng là nguồn thức ăn của bướm Sự sai khác trong phân bố của loài liên quan

Trang 38

đến nguồn thức ăn và hệ thống suối [118] Thực tế, loài Stichophthalma louisa trong nghiên cứu của Novotny et al (1991) chính là loài Stichophthalma howqua.

Leps và Spitzer (1990), Spitzer et al (1993) chỉ ra mối quan hệ nghịch giữaphạm vi phân bố địa lý của bướm với các giai đoạn diễn thế rừng Loài giới hạn ở rừngkín tự nhiên có phạm vi phân bố địa lý hẹp, loài sống ở các sinh cảnh đã bị tác động cóphạm vi phân bố địa lý rộng Các loài bướm có phạm vi phân bố địa lý rộng có quần thểlớn nhất ở các sinh cảnh rừng thứ sinh [93], [140]

Spitzer et al (1997), nghiên cứu ảnh hưởng của các tác động rừng đến bướm ởTam Đảo, chỉ ra loài giới hạn ở rừng có phạm vị phân bố địa lý hẹp, đa dạng của quần

xã bướm ở khoảng trống trong rừng cao hơn so với ở rừng kín [141] Tác giả cũng phântích và sử dụng chỉ số CCA (Canonical Correspondence Analysis) và RDA(Redundancy Analysis) để xác định loài chỉ thị, xem xét một số loài bướm phổ biếntrong rừng, nhạy cảm với tác động có thể là loài chỉ thị Tuy nhiên, vẫn chưa đưa ra giátrị chỉ thị cụ thể nào mà loài có thể coi là loài chỉ thị

Phân bố theo mùa, Leps và Spitzer (1990), Spitzer et al (1993) nghiên cứubướm ở Tam Đảo trong tháng 9 năm 1988 và tháng 6-7 năm 1991 Tác giả phân chiabướm theo mùa, đầu mùa mưa tháng 6-7 và cuối mùa mưa tháng 9, sự xuất hiện theo

mùa được đưa ra Trong đó, các loài như Papilio protenor, Catopsilia pomona,

Ideopsis similis, Neope bhadra, Athyma cama, Cethosia cyane, Euripus nyctelius, Parthenos sylvia và Polyura nepenthes chỉ xuất hiện vào đầu mùa mưa; Meandrusa sciron, Appias lyncida, Eurema blanda, Lethe syrcis, Cupha erymanthis, Junonia almana, v.v chỉ xuất hiện vào cuối mùa mưa [93], [140] Tuy nhiên, theo quan sát

của tôi những loài bướm này xuất hiện vào cả đầu và cuối mùa mưa

Cũng như các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên khác ở Việt Nam,công tác bảo tồn côn trùng nói chung, bướm nói riêng chưa được quan tâm Tuy nhiên,các nghiên cứu về bướm ở Vườn Quốc gia Tam Đảo cũng đề xuất một số loài cần được

ưu tiên bảo tồn Chúng là những loài sống giới hạn ở trong rừng, nhạy cảm với thay đổi

về môi trường (Khuất Đăng Long và Vũ Quang Côn, 2005; Spitzer et al., 1997) [17],[141] Mọi tác động tạo khoảng trống trong rừng do con người hay thiên nhiên gây ra đều

có thể đe doạ đến sự tồn tại của các loài bướm giới hạn dưới tán rừng (Spitzer et al.,1997) [141]

Trang 39

1.2.2.3 Nghiên cứu bướm như vật chỉ thị sinh thái ở Vườn Quốc gia Tam Đảo

Cũng như ở Việt Nam, việc nghiên cứu bướm như vật chỉ thị sinh thái ở Vườn

Quốc gia Tam Đảo còn rất hạn chế Spitzer et al (1993, 1997) đề cập loài Ragadia

crisilda có thể sử dụng làm chỉ thị cho chất lượng của rừng ở Vườn Quốc gia Tam Đảo

[140], [141] Nói chung, các nghiên cứu về chỉ thị bướm chủ yếu mang tính chất địnhtính Một số nghiên cứu sử dụng định lượng nhưng cũng chưa đưa ra chỉ số cụ thể đểloài bướm có thể được sử dụng như là chỉ thị sinh thái một cách tin cậy

Việc nghiên cứu bướm ở Vườn Quốc gia Tam Đảo cũng như ở các Vườn Quốcgia hay Khu Bảo tồn Thiên nhiên khác ở Việt Nam mới chỉ được tiến hành rải rác trongthời gian ngắn, hơn nữa các nghiên cứu thường tập trung xây dựng danh lục loài Đặcđiểm sinh học và sinh thái của bướm còn ít được quan tâm nghiên cứu

Cho đến nay, 301 loài bướm ở Tam Đảo đã được xác định Tính đa dạng củaquần xã bướm ở một số sinh cảnh cũng đã được nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứusâu và liên tục về đa dạng và phân bố của bướm ở một Vườn Quốc gia hay Khu Bảo tồnThiên nhiên ở Việt Nam chưa được tiến hành Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường đếnhoạt động, đa dạng và biến động quần thể và quần xã bướm theo thời gian, vai trò và khảnăng sử dụng bướm như vật chỉ thị sinh thái, nghiên cứu sinh học và bảo tồn bướm ởViệt Nam gần như chưa được tiến hành Ngoài ra, tình trạng các loài bướm quý, hiếm vàviệc bảo tồn cũng như sử dụng chúng ở các Khu Bảo tồn Thiên nhiên, Vườn Quốc giacủa Việt Nam cũng chưa được nghiên cứu sâu

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu liên tục và có hệ thống vềbướm ở một Vườn Quốc gia, như Tam Đảo, nơi nổi tiếng nhất Việt Nam về hiện tượng

Trang 40

săn bắt và buôn bán côn trùng là thực sự cần thiết Công việc nghiên cứu này nhằm giảiquyết các vấn đề tồn tại nói trên.

I.3 Quan sát, ghi hình bướm ngoài thiên nhiên và ở các bộ sưu tập, phân loại và định tên bướm

Quan sát: Bướm sống được chắc chắn phải có cây làm thức ăn Rừng là nơi có

thảm thực vật với đa dạng các loài cây nhất nên ở đâu có rừng, nhất là những vùng có khíhậu nóng ẩm hay ôn hòa thường có nhiều loài bướm Nhưng nơi hay gặp chúng nhất lại

là nơi có khoảng trống và phong quang như dọc đường mòn trong rừng, bờ suối, bãitrống và các trảng cỏ, hoa dại và cây bụi…

Ở những nơi đó chúng ta sẽ rất dễ thấy và quan sát được các loài bướm bay rakhoe màu sắc, tắm nắng hay tìm bạn đời Tuy nhiên, để nhìn thấy một loài bướm cụ thểnào đó theo ý muốn của mình thì không phải là dễ bởi mỗi loài có chu kỳ sinh trưởng vàphát triển riêng tùy theo đặc tính sinh học sinh thái của chúng và phụ thuộc vào điều kiệnsống, thời tiết… Côn trùng nói chung và bướm nói riêng thường hoạt động tích cực vàonhững thời gian nhất định trong ngày, nhưng nếu là những ngày nắng đẹp, trời trong thìchúng có thể hoạt động từ khi có ánh sáng mặt trời cho tới buổi chiều tối, trừ lúc nắnggay gắt hay những lúc trời xầm tối, mưa, rét… Ở đất nước nhiệt đới như Việt Nam, côntrùng hay bướm đều phát triển theo mùa và thường bùng nổ cá thể từ cuối xuân, nhiềunhất vào mùa hè cho tới đầu đông hàng năm ( trừ các vùng phía Nam không có mùađông) Do đó, muốn quan sát được bướm không phải khó nhưng không phải lúc nàochúng cũng xuất hiện để mà nhìn thấy Nếu những loài to và quen thuộc chúng ta có thểnhận diện được ngay nhưng có rất nhiều loài nhỏ và ít gặp thì đó là điều không đơn giản.Theo Bùi Hữu Mạnh (tài liệu tham khảo) thì muốn quan sát bướm chúng ta nên có loạiống nhòm bỏ túi cỡ 6x-8x Việc quan sát kỹ các loài bướm để định loại được chúngkhông cần thu bắt hay giết chúng là điều vô cùng cần thiết trong công việc bảo tồn, đặcbiệt đối với những loài có số lượng cá thể thấp và vòng đời quay vòng chậm

Ghi hình: Hiện nay việc ghi hình hay nói cách khác là chụp ảnh được một loài

sinh vật nào đó đã dễ dàng hơn xưa rất nhiều vì có các loại máy ảnh từ thô sơ cho đếnhiện đại Chụp ngoài thiên nhiên cần có các loại máy ảnh kỹ thuật số có tốc độ ghi hìnhnhanh,nét và có độ phóng đại quang học cao Ở trong phòng thí nghiệm muốn ghi hìnhđược mẫu vật cũng cần có những máy ảnh tốt như vậy Còn chụp sao cho đẹp, cho chuẩn

để khi nhìn vào hình ảnh có thể nhận diện được những nét cơ bản về hình thái của conbướm đó thấy nó đẹp lung linh và phân biệt được với loài khác và thậm chí định loạiđược nó là loài nào… Việc chụp ảnh cũng cần người có tay nghề cao, có con mắt thẩm

mỹ và càng chuyên nghiệp, càng quen việc càng tốt

Ngày đăng: 17/09/2016, 11:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình con ngao; con cái giống con đực nhưng - tìm hiểu về các loài bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo
Hình con ngao; con cái giống con đực nhưng (Trang 57)
Hình giữa con đực và con - tìm hiểu về các loài bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo
Hình gi ữa con đực và con (Trang 69)
Hình từ mặt trên, có màu nâu nhạt ở góc cánh, phần còn lại màu trắng, cánh sau có màu nâu rất nhạt gợn sóng; con cái: ở mặt trên cánh trước có dải màu đen lớn kéo xa tới tận gốc cánh - cánh sau có viền đen với một loạt các đốm màu trắng - tìm hiểu về các loài bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo
Hình t ừ mặt trên, có màu nâu nhạt ở góc cánh, phần còn lại màu trắng, cánh sau có màu nâu rất nhạt gợn sóng; con cái: ở mặt trên cánh trước có dải màu đen lớn kéo xa tới tận gốc cánh - cánh sau có viền đen với một loạt các đốm màu trắng (Trang 95)
Hình thù cánh sau nhưng có những nét khác với - tìm hiểu về các loài bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo
Hình th ù cánh sau nhưng có những nét khác với (Trang 137)
Hình   tam   giác   rộng   với   đỉnh - tìm hiểu về các loài bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo
nh tam giác rộng với đỉnh (Trang 160)
Hình  mũi  tên   tách   biệt   nhọn   hơn.   Dải  gốc - tìm hiểu về các loài bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo
nh mũi tên tách biệt nhọn hơn. Dải gốc (Trang 197)
Hình mũi tên trang trí ở mép bên của cánh trước, - tìm hiểu về các loài bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo
Hình m ũi tên trang trí ở mép bên của cánh trước, (Trang 227)
Hình rắn chắc. Chúng bay nhanh và rất khó thu - tìm hiểu về các loài bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo
Hình r ắn chắc. Chúng bay nhanh và rất khó thu (Trang 233)
Hình   băng   màu   trắng   từ   mặt - tìm hiểu về các loài bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo
nh băng màu trắng từ mặt (Trang 251)
Hình chữ V lớn. Mặt dưới: in - tìm hiểu về các loài bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo
Hình ch ữ V lớn. Mặt dưới: in (Trang 251)
Hình thái bên ngoài, có thể phân - tìm hiểu về các loài bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo
Hình th ái bên ngoài, có thể phân (Trang 259)
Hình trăng khuyết; có một băng ở sau ô - tìm hiểu về các loài bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo
Hình tr ăng khuyết; có một băng ở sau ô (Trang 262)
Hình dạng dải màu vàng ở cánh trước[22]. - tìm hiểu về các loài bướm ở vườn quốc gia Tam Đảo
Hình d ạng dải màu vàng ở cánh trước[22] (Trang 295)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w