1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử Đông Nam Á

41 410 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 640,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi vậy, tư tưởng về một quốc gia, một dân tộc độc lập và thống nhất là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các chính sách đối nội và đối ngoại của Indonesia.. 1.3.1.2 Cơ sở thực tiễn Cùn

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Indonesia là một quốc gia lớn nằm trong khu vực Đông Nam Á với số dân đông nhất khu vực và những nét văn hóa xã hội đặc trưng như đa sắc tộc và tôn giáo, có vị trí chiến lược quan trọng án ngữ con đường hàng hải quốc tế nối Ấn Độ và Thái Bình Dương, có nguồn khoáng sản giàu có Indonesia đã trở thành cầu nối đại dương cho các nền văn minh phương Đông và phương Tây

Sau khi tuyên bố độc lập, quốc gia vạn đảo này đã có đường lối đối ngoại tích cực và độc lập, do đó Indonesia sớm được công nhận là thành viên của Liên Hợp Quốc vào năm 1950 và hoạt đô ̣ng tích cực trong tổ chức này

Đối với khu vực Đông Nam Á, Indonesia là một trong những nước sáng lập nên Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN ) và có nhiều đóng góp tích cực trong

tổ chức này đồng thời phấn đấu giữ gìn và tăng cường sự ổn định hòa bình, hợp tác giữa các nước trong khu vực

Chính sách đối ngoại của Indonesia từ năm 1991 đến nay là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn, thông qua việc tìm hiểu nghiên cứu đề tài này chúng ta có thể hiểu rõ hơn con đường dẫn đến sự phát triển của Indonesia trong thời kì hiện đại cũng như mối quan hệ hợp tác giữa Indonesia và Việt Nam Xuất phát từ những lí do trên nhóm chúng tôi chọn đề tài “Chính sách đối ngoại của Indonesia từ năm 1991 đến nay” làm

đề tài tiểu luận Với nguồn kiến thức ha ̣n he ̣p hi vo ̣ng sẽ mang la ̣i được nhiều kiến thức hữu ích và cái nhìn tổng quan về đất nước Indonesia

Trang 2

CHƯƠNG I NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI

NGOẠI CỦA INDONESIA TỪ 1991- 2014 1.1 Ti ̀nh hình thế giới và khu vực tác đô ̣ng đến chính sách đối ngoa ̣i của Indonesia sau chiến tranh la ̣nh

1.1.1 Ti ̀nh hình thế giới

Sau khi chiến tranh la ̣nh kết thúc và trâ ̣t tự hai cực tan rã, tình hình thế giới đã có nhiều thay đổi với những nét nổi bâ ̣t

Thế giới phát triển nhanh chóng theo hướng đa cực, tuy nhiên cu ̣c diê ̣n đa cực chưa hẳn đã hình thành mà đang trải qua thời kỳ quá đô ̣ từ trâ ̣t tự cũ để tiến tới trâ ̣t tự mới, bởi sự chuyển đổi cu ̣c diê ̣n thế giới mang đă ̣c điểm mới, đă ̣c biê ̣t là không trải qua chiến tranh như các trâ ̣t tự trước đó

Sự tan rã của Liên Xô và chủ nghĩa xã hô ̣i ở Đông Âu dẫn đến những thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho Mỹ, đã ta ̣o ra cho Mỹ mô ̣t lợi thế ta ̣m thời Tuy nhiên, sự phát triển của Nhâ ̣t Bản và sự vươn lên của Trung Quốc đã ta ̣o nên sự cân bằng tương đối trong sức ma ̣nh giữa các quốc gia Về phía Mỹ, là cực duy nhất còn la ̣i, Mỹ ra sức cũng cố đi ̣a vi ̣ siêu cường, mưu đồ chi phối thế giới Tuy nhiên do tình hình thế giới không phải là thế giới mô ̣t cực nên Mỹ đã suy yếu tương đối

Hòa bình thế giới được củng cố, nguy cơ chiến tranh thế giới bi ̣ đẩy lùi rõ rê ̣t, nhưng hòa bình ở nhiều khu vực bi ̣ đe do ̣a Thâ ̣m chí, ở nhiều nơi xung đô ̣t quân sự, nô ̣i chiến diễn ra ác liê ̣t Đó là các mâu thuẫn về sắc tô ̣c, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ… và viê ̣c giải quyết không thể nhanh chóng và dễ dàng

Sau khi giành được đô ̣c lâ ̣p về chính tri ̣, các nước Á, Phi, Mỹ Latinh tiến hành các cuô ̣c cải cách về kinh tế - xã hô ̣i với nhiêu thành tựu đã làm thay đổi bô ̣ mă ̣t của các quốc gia Tuy nhiên, sự xuất hiê ̣n và ngày càng phát triển của các nước thuô ̣c thế giới thứ ba này đã ảnh hưởng đến sự phát triển của li ̣ch sử thế giới

Trong bối cảnh đó, cuô ̣c cách ma ̣ng khoa hoc- công nghê ̣ hiê ̣n đa ̣i có bước nhảy

vo ̣t và đa ̣t được nhiều kỳ tích đã tác đô ̣ng sâu rô ̣ng đến mo ̣i mă ̣t đời sống quốc tế, thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa làm tăng nhu cầu hợp tác quốc tế và xu thế đối thoa ̣i để cùng giải quyết các vấn đề quốc tế Các quốc gia, dân tô ̣c để tồn ta ̣i, phát triển bền vững phải bằng mo ̣i chủ trương, biê ̣n pháp tiếp câ ̣n, tranh thủ thời cơ để hô ̣i nhâ ̣p quốc tế Nhân tố kinh tế trở thành yếu tố chủ đa ̣o và quyết đi ̣nh sức ma ̣nh tổng

Trang 3

hợp của quốc gia Sự hợp tác và liên kết quốc tế ngày càng tăng nhưng đồng thời với nó là cuô ̣c đấu tranh vì lợi ích quốc gia, lợi ích khu vực cũng diễn ra không kém phần quyết liê ̣t

Trong tình hình đó, môi trường an ninh quốc tế sau khi đối thoa ̣i thay thế cho đối đầu vẫn chưa hoàn toàn ổn đi ̣nh Cuô ̣c đấu tranh gay gắt giữa xu hướng đa cực và đơn cực, các xung đô ̣t sắc tô ̣c, tôn giáo, các phong trào li khai…không ngừng gia tăng và tác đô ̣ng ma ̣nh mẽ đến các khu vực, các quốc gia trên toàn thế giới

Từ những thay đổi của tình hình thế giới, tuy trâ ̣t tự quốc tế mới chưa hình thành, nhưng trong hơn 20 thâ ̣p kỉ sau chiến tranh la ̣nh có thể thấy những xu thế mới phát triển nổi bâ ̣t trên thế giới là:

Thứ nhất, xu thế phát triển lấy kinh tế làm tro ̣ng tâm Sau chiến tranh la ̣nh, tất cả

các quốc gia đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển và tâ ̣p trung mo ̣i sức lực vào

ưu tiên phát triển kinh tế Trong thời điểm hiê ̣n nay, kinh tế trở thành tro ̣ng điểm trong quan hê ̣ quốc tế và chính sách đối ngoa ̣i của tất cả các quốc gia Ca ̣nh tranh sức ma ̣nh tổng hợp quốc gia thay thế cho cha ̣y đua vũ trang đã trở thành hình thức chủ yếu trong

đo ̣ sức của các cường quốc

Thứ hai, xu thế hòa di ̣u trên quy mô thế giới, hòa bình thế giới được củng cố.Chiến

tranh thế giới bi ̣ đẩy lùi song hòa bình ở nhiều khu vực vẫn đang bi ̣ đe do ̣a, thâ ̣m chí có nơi xung đô ̣t diễn ra nghiêm tro ̣ng và có chiều hướng ngày càng rối loa ̣n Sau trâ ̣t tự hai cực tan rã, hiê ̣n tượng chủ nghĩa dân tô ̣c hiê ̣n ra khắp nơi

Sự phu ̣c hồi và gia tăng hoa ̣t đô ̣ng của các tôn giáo, nhất là gắn kết với các phong trào chính tri ̣, xã hô ̣i, phong trào dân tô ̣c ngày càng làm phức ta ̣p tình hình ở nhiều nước trên thế giới

Thứ ba, các nước lớn điều chỉnh quan hê ̣ với nhau theo chiều hướng xây dựng

quan hê ̣ ba ̣n bè chiến lược ổn đi ̣nh và cân bằng hướng về lâu dài Đây là đă ̣c điểm chủ yếu và nổi bâ ̣t của quan hê ̣ giữa các nước lớn trong thời kì sau chiến tranh la ̣nh

Trước những mâu thuẫn tranh chấp với nhau, các nước lớn đều tìm kiếm biê ̣n pháp giải quyết đối thoa ̣i thay cho đối đầu

Từ sau chiến tranh la ̣nh, nhất là những năm gần đây, mối quan hê ̣ giữa năm nước lớn: Mỹ, Tây Âu, Nhâ ̣t Bản, Nga, Trung Quốc vừa có điều chỉnh lớn la ̣i vừa nhô ̣n nhi ̣p

Trang 4

những chuyến viếng thăm lẫn nhau với những tuyên bố, phương châm, nguyên tắc đối ngoa ̣i mới

1.1.2 Ti ̀nh hình khu vực đông nam á

Ra đờ i từ năm 1967, hiê ̣p hô ̣i các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ban đầu dược coi như mô ̣t tổ chức thay thế cho khối SEATO và chi ̣u sự chi phối của Mỹ Sau chiến tranh la ̣nh, ASEAN thực sự trở thành mô ̣t tổ chức quy tu ̣ các nước Đông Nam Á vì mu ̣c tiêu hòa bình, ổn đi ̣nh, hợp tác để phát triển Từ sáu nước thành viên trước năm 1991, sau chiến tranh la ̣nh đến nay, ASEAN đã được mở rô ̣ng bao gồm tất cả các nước Đông Nam Á (trừ Đông Timo)

Tháng 1/1992, khu vực thương ma ̣i tự do ASEAN được thành lâ ̣p (AFTA), xúc tiến mô ̣t tiến trình đối thoa ̣i với các nước bên ngoài cũng như các nước ASEAN với nhau về hợp tác an ninh để tăng cường khu vực Tháng 7/ 1992, Viê ̣t Nam và Lào đã kí hiê ̣p ước Bali, trở thành quan sát viên của ASEAN

Vào tháng 7/1993, các nước ASEAN đã chính thức tuyên bố sẽ thiết lâ ̣p ARF để bàn về hợp tác chính tri ̣ và an ninh ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương với các nô ̣i dung như: xây dựng lòng tin, ngoa ̣i giao, phòng ngừa và không phổ biến ha ̣t nhân, vũ khí giết người hàng loa ̣t… Diễn đàn này bao gồm 18 nước thành viên là 6 nước ASEAN,

7 bên đối thoa ̣i ( Mỹ, Nhâ ̣t, Canada , EU, Australia, Newzeland, Hàn Quốc), 3 nước quan sát viên (Viê ̣t Nam, Lào, Papua, New Guinea) và 2 nước hiê ̣p thương ( Nga, Trung Quốc)

Ngày 28/7/1995, Viê ̣t Nam chính thức gia nhâ ̣p ASEAN ta ̣i hô ̣i nghi ̣ AMM ở Brunei, trở thành thành viên thứ 7 của tổ chức này Vào tháng 7/1997, ASEAN kết na ̣p

Lào, Mianmar và thông qua tầm nhìn chiến lược 2020 Đây là quãng thời gian các nước ASEAN đi vào hợp tác thực chất và có hiê ̣u quả hơn

Ngày 30/4/1999, ASEAN đã kết na ̣p Campuchia là thành viên thứ 10, đánh dấu sự trưởng thành của hiê ̣p hô ̣i

Như vâ ̣y, sau hơn mô ̣t thâ ̣p kỉ chiến tranh la ̣nh kết thúc, Đông Nam Á đã đa ̣t những

mu ̣c tiêu về khu vực hòa bình, tự do, trung lâ ̣p và không có vũ khí ha ̣t nhân, đồng thời ASEAN còn đề xu hướng và lãnh đa ̣o mô ̣t cơ chế an ninh tâ ̣p thể là ARF quy tu ̣ các cường quốc Châu Á- Thái Bình Dương tham gia Bên ca ̣nh đó, ASEAN cũng mở rô ̣ng khuôn khổ hợp tác với Đông Á (ASEAN +3, EAS), với Châu Âu (ASEM), với Châu

Trang 5

Á- Thái Bình Dương (APEC) Cô ̣ng đồng ASEAN dựa trên 3 tru ̣ cô ̣t chính là cô ̣ng đồng

an ninh (ASC), cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC ) và cô ̣ng đồng văn hóa - xã hô ̣i

Ngày 15/12/2008, hiến chương ASEAN chính thức có hiê ̣u lực, đánh dấu sự trưởng thành của hiê ̣p hô ̣i Đây là văn kiê ̣n li ̣ch sử cam kết các nước thành viên asean sẽ củng cố dân chủ, bảo vê ̣ nhân quyền cũng như các quyền tự do cơ bản, yêu cầu các thành viên không sở hữu các vũ khí ha ̣t nhân, không can thiê ̣p vào nô ̣i bô ̣ của nhau, đă ̣c biê ̣t không cho phép bất kỳ quốc gia nào sử du ̣ng lãnh thổ của mô ̣t nước thành viên để chống la ̣i nước thành viên khác

Như vâ ̣y, từ sau chiến tranh la ̣nh đến nay, ASEAN đã trở thành mô ̣t thực thể chính tri ̣ - kinh tế gắn kết, có tốc đô ̣ tăng trưởng kinh tế cao so với các nước, các khu vực khác trên thế giới, đóng vai trò quan tro ̣ng không chỉ ở Đông Nam Á mà cả khu vực Châu Á-Thái Bình Dương

Sự thay đổi liên tu ̣c của bối cảnh thế giới và khu vực yêu cầu mỗi quốc gia trên thế giới phải có nhâ ̣n thức đúng và ki ̣p thời để hoa ̣ch đi ̣nh mô ̣t chính sách đối ngoa ̣i đúng đắn, đồng thời nâng cao vi ̣ thế của quốc gia mình trên trường khu vực và thế giới Thi hành mô ̣t chính sách đối ngoa ̣i đô ̣c lâ ̣p và tích cực trở thành sự lựa cho ̣n của rất nhiều quốc gia, trong đó có Indonesia

1.2 Tình hình Indonesia từ năm 1991 – 2014

1.2.1 Tình hình kinh tế

Sau khi chiến tranh la ̣nh kết thúc, bước sang thâ ̣p niên 90 của thế kỉ XX, Indonesia tiếp tu ̣c thực hiê ̣n các kế hoa ̣ch 5 năm lần thứ 5 (1989 – 1994), lần thứ 6 (1995 – 1999)

Ở kế hoa ̣ch 5 năm lần thứ nhất, với viê ̣c mở rô ̣ng quá trình tư nhân hóa, năm 1991 các công ty tư nhân trong nước đã kiểm soát mô ̣t thi ̣ phần quan tro ̣ng trong nền kinh tế quốc dân: khoảng 80% sản lượng thốc lá, 70% sản lượng giấy… Chính phủ tiếp tu ̣c thực hiê ̣n chính sách đa dang hóa các ngành sản xuất nhằm giảm bớt sự phu ̣ thuô ̣c vào các ngành công nghiê ̣p dầu mỏ, điều chỉnh sự bất hợp lý trong cơ cấu kinh tế Về cơ bản, những chỉ tiêu kế hoa ̣ch năm lần thứ 5 đã đa ̣t được những kết quả: đầu tư trực tiếp

1 http://luanan.nlv.gov.vn/luanan?a=d&d=TTcFlGvBLmQS2012.1.12&e= -vi-20 1 img-txIN -#

Trang 6

nước ngoài (FDI) tăng gấp 7 lần, giá tri ̣ xuất khẩu tăng gần gấp đôi, chương trình nông nghiê ̣p và phát triển nông thôn được triển khai rô ̣ng rãi với số vốn đầu tư là 618 USD

Cuô ̣c khủng hoảng kinh tế tài chính – tiền tê ̣ từ tháng 8/1997 gây ra những tác

đô ̣ng nă ̣ng nề về kinh tế, đồng thời dẫn đến khủng hoảng kinh tế – xã hô ̣i kéo dài Đồng rupiah bi ̣ mất giá trên 80%, tăng trưởng kinh tế liên tu ̣c giảm sút từ -7.89% trong 6 tháng đầu năm năm 1998 xuống -12.23% trong 6 tháng cuối năm 1998 Hơn 80% tổng số công ty, xí nghiê ̣p bi ̣ phá sản, số người thất nghiê ̣p ngày càng tăng Bên ca ̣nh đó, ha ̣n hán kéo dài làm khoảng 15 triê ̣u người thiếu đói So với các nước ASEAN, Indonesia là quốc gia chi ̣u tác đô ̣ng của cuô ̣c khủng hoảng tài chính – tiền tê ̣ nă ̣ng nề nhất trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính tri ̣ – xã hô ̣i

1.2.2 Ti ̀nh hình chính tri ̣ của Indonesia

Những năm đầu thâ ̣p niên 90 của thế kỉ XX, tình hình chính tri ̣ của Indonesia cơ bản là ổn đi ̣nh Chính quyền của tổng thống Suharto tiếp tu ̣c giành thắng lợi trong cuô ̣c bầu cử quốc hô ̣i năm 1992 và 1993

Trong cuô ̣c bầu cử tổng thống vào tháng 3/1998, tổng thống Suharto tiếp tu ̣c đắc cử tổng thống nhiê ̣m kì VII trong tình tra ̣ng đất nước hỗn loa ̣n Bên ca ̣nh đó, hê ̣ thống chính tri ̣ của Indonesia bi ̣ ra ̣n nứt nghiêm tro ̣ng, những mâu thuẫn vốn đã tồn ta ̣i âm ỉ trong nô ̣i các chính phủ nay đã bắt đầu bùng phát Tình tra ̣ng tham nhũng và gia đình

1 Lương Ninh (2005), Lược sử Đông Nam Á, Nxb Giaos du ̣c, Hà Nô ̣i, trang 533

2 Lương Ninh (2005), Lược sử Đông Nam Á, Nxb Giaos du ̣c, Hà Nô ̣i, trang 533

Trang 7

tri ̣ của tổng thống Suharto gây ra tình tra ̣ng bất bình cho các tầng lớp trong xã hô ̣i Lực lượng quân sự, đảng phái hồi giáo, đảng phái chính tri ̣ đối lâ ̣p khác đã kích đô ̣ng phong trào đấu tranh của quần chúng đòi tổng thống Suharto từ chức

Kết quả là ngày 21/5/1998, tổng thống Suharto buô ̣c phải từ chức sau hơn 3 thâ ̣p kỷ cầm quyền và phó tổng thống B.J Habibie tuyên thê ̣ nhâ ̣m chức tổng thống Li ̣ch sử Indonesia bước sang mô ̣t thời kỳ mới

Ngay sau khi phó tổng thống Habibie lên nắm quyền, Indonesia đã nhanh chóng tiến hành “cải tổ” với viê ̣c giảm vai trò của quân đô ̣i trong chính trường, thực hiê ̣n những cuô ̣c cái cách kinh tế và chính tri ̣ lớn mà nổi bâ ̣t là viê ̣c ban hành luâ ̣t để tổ chức cuô ̣c bầu cử dân chủ đầu tiên của Indonesia sau 34 năm diễn ra vào ngày 7/6/1999 Tuy nhiên sau đó mô ̣t thời gian ngắn (1999-2001) Tổng thống B.J.Habibie và người kế nhiê ̣m là Abdrrahman Wahid – mô ̣t giáo sỹ hồi giáo cũng lần lượt bi ̣ ha ̣

bê ̣ do không đủ năng lực vực dâ ̣y nền kinh tế

Năm 2001, Megawati Soekarnoputri trở thành tổng thống thứ ba của Indonesia trong vòng 3 năm thời “ hâ ̣u Suharto” cam quyết giải quyết vấn đề tham nhũng lan tràn và quản lý nhà nước yếu kém

Trong khi đó, tình hình an ninh Indonesia rơi vào tình tra ̣ng nguy hiểm sau khi hai vu ̣ đánh bom khủng bố trên đảo Bali và trung tâm Jakarta năm 2002-2003 làm hơn

200 ngườ i thiê ̣t ma ̣ng Các vu ̣ tấn công này được cho là có liên quan đến mô ̣t số tổ chức hồi giáo vũ trang cực đoan ta ̣i đây Indonesia đã trở thành mô ̣t trong những trung tâm trong cuô ̣c chiến chống khủng bố quốc tế ở khu vực Đông Nam Á

Ta ̣i cuô ̣c bầu cử quốc hô ̣i tháng 4/2004, tổng thống Megawati bi ̣ thất sủng Tiến sỹ Susilo Bambang Yudhoyono (SBY) từ đảng dân chủ theo chủ nghĩa dân tô ̣c thế tu ̣c đắc cử và trở thành tổng thống được bầu trực tiếp đầu tiên ở Indonesia

Từ khi ông Susilo Bambang Yudhoyono lên nắm quyền qua hai nhiê ̣m kỳ liên tiếp từ 2004 đến 2014, ông đã công bố và thực hiê ̣n nhiều cải cách kinh tế bao gồm sự tham gia tích cực hơn vào ASEAN và WTO Kế hoa ̣ch bao gồm các biê ̣n pháp cải cách, cải thiê ̣n môi trường kinh doanh, cải thiê ̣n luâ ̣t lao đô ̣ng, tự do hóa thương ma ̣i,

Trang 8

tấn công vào tham nhũng và giảm thuế, vâ ̣n du ̣ng sự hợp tác nhà nước- tư nhân trong đầu tư cơ sở ha ̣ tầng và giải quyết đói nghèo…

Quá trình triển khai các chính sách, kế hoa ̣ch của tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono đã mang la ̣i kết quả to lớn Indonesia liên tu ̣c đa ̣t tốc đô ̣ tăng trưởng kinh tế khá : năm 2007 GDP tăng 6,3%, năm 2009 tăng 4,5% và năm 2010 tăng 6,2%; dự trữ ngoa ̣i tê ̣ đa ̣t 100 tỉ USD và sức ca ̣nh tranh kinh tế từ 139 lên thứ 44 của thế giới Năm 2010, Indonesia công bố quy hoa ̣ch phát triển kinh tế 15 năm với mu ̣c tiêu đa ̣t tốc đô ̣ tăng trưởng bình quân hằng năm từ 7% - 8%, nhằm mu ̣c tiêu “ tới năm 2025 đưa Indonesia trở thành mô ̣t trong 10 cường kinh tế thế giới, tới năm 2050 trở thành

mô ̣t trong 6 cường quốc kinh tế thế giới” [55]

1.3 Khái quát chính sách đối ngoại của Cộng hòa Indonesia từ 1945 – 1991

1.3.1 Cơ sở hình thành chính sách đối ngoại của Indonesia

1.3.1.1 Cơ sở địa lý – lịch sử

Ở bất kì quốc gia nào, dù trong những thời điểm lịch sử khác nhau để hoạch định một chính sách đối ngoại đều cần dựa trên những đặc thù về địa lý, lịch sử của đất nước

đó

Thứ nhất, Indonesia là quốc gia lớn nhất về mặt lãnh thổ và dân số ở Đông Nam

Á với hơn 17.000 đảo lớn nhỏ và dân số hơn 250 triệu người, xếp thứ tư trên thế giới chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ Bên ca ̣nh đó lại nằm ở vị trí trung tâm Đông Nam Á (nằm giữa lục địa châu Á và châu Đại Dương, án ngữ nằm giữa con đường vận chuyển dầu mỏ nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương), nên bất cứ sự biến động nào trong tình hình Indonesia đều có tác động trực tiếp hay gián tiếp tới an ninh của cả khu vực

Thứ hai, Indonesia là nước lớn có vai trò quan trọng không chỉ trong ASEAN mà

còn ở khu vực Đông Á và Châu Á - Thái Bình Dương Do đó, sự biến đổi chính trị Indonesia sẽ có tác động và ảnh hưởng sâu rộng đối với sự năng động kinh tế, chính trị của ASEAN cũng như sự phát triển của tổ chức này trong tương lai.1

1 mot-so-danh-gia-ve-tac-dong-cua-tinh-hinh-indonexia-doi-voi-an-ninh-khu-vuc.html

Trang 9

http://www.dav.edu.vn/en/reseach/themes-of-research/65-thong-tin-tu-lieu/tap-chi-ncqt/nam-2000/474-so-34-Là quốc gia có vị trí chiến lược, diện tích và dân số lớn nhất khu vực lại có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào Chính sách đối ngoại mà các nhà lãnh đạo Indonesia thực hiện không chỉ phải xứng đáng với vị trí của quốc ga

mà còn phải thể hiện những ảnh hưởng của quốc gia tới khu vực và thế giới

- Indonesia – một đất nước tồn tại nhờ ý thức độc lập, dân tộc thống nhất

Ngay từ thế kỉ XVI Indonesia đã trở thành đối tượng xâm chiếm và tranh giành của các nước tư bản Phương Tây Sau hàng loạt những cuộc chiến tranh xung đột và thỏa thuận, Hà Lan đã chiếm được phần lớn lãnh thổ Indonesia nhưng đến năm 1811, người Anh đã tấn công và chiếm được hầu hết các vị trí của Hà Lan ở Indonesia Tròn

1 thế kỷ sau, năm 1911, Hà Lan đã hoàn thành quá trình thuộc hóa và đặt ách thống trị

ở Indonesia kéo dài suốt hơn 3 thế kỷ

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Indonesia phải đương đầu với một đế quốc xâm lược đến từ Đông Á là Nhật Bản Tuy nhiên, khi chiến tranh kết thúc với sự thất bại của chủ nghĩa phát xít, Nhật Bản đã buộc phải từ bỏ Indonesia cũng như nhiều thuộc địa ở châu Á – Thái Bình Dương Hà Lan nhanh chóng quay lại thiết lập chế độ thuộc địa cùng với sự ủng hộ đắc lực của Anh, Mỹ trong vai trò đồng minh của Hà Lan

Cũng như nhiều quốc gia và dân tộc khác trên thế giới, trước khi thức tỉnh và đấu tranh giành độc lập đất nước Indonesia phải sống trong cảnh nô lệ với máu và nước mắt của phương Tây trong nhiều thế kỷ Với một vị trí địa lý quan trọng cùng nguồn tài nguyên dồi dào, Indonesia là vùng đất mà nhiều nước đế quốc thực dân đầu muốn có

và không dể gì từ bỏ Chính bởi vậy, cuộc đấu tranh của nhân dân Indonesia đã trải qua một quá trình lâu dài, khó khăn và đầy gian khổ đã đứng lên giành độc lập ngay từ những ngày đầu khi thực dân phương Tây đặt chân lên xâm lược

Song, ý nguyện về một quốc gia độc lập, thống nhất, niềm tự tôn dân tộc như một mạch ngầm sức mạnh đã nuôi dưỡng ý chí đấu tranh cho nhân dân Indonesia Ý thức

về một đất nước, một dân tộc độc lập, thống nhất, ý thức của một quốc gia tự ý thức về vai trò và vị trí của mình đã bao hàm và xuyên suốt lịch sử đấu tranh của nhân dân Indonesia

Trang 10

Trải qua hơn 3 thế kỷ dưới ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân và cuộc đấu tranh cho thống nhất toàn vẹn lãnh thổ kéo dài hơn một thập kỷ, dân tộc Indonesia hiểu hơn

ai hết sự quý giá của độc lập và tự chủ Bởi vậy, trong các chính sách của mình, Indonesia luôn nêu cao tinh thần độc lập ý thứ c tự cường quốc gia, tự cường khu vực

và đa dạng hóa quan hệ Từ một xứ “Ấn Độ thuộc Hà Lan” Indonesia đã khẳng định vì thế của mình và ngày càng khẳng định vị trí đó trên bản đồ khu vực và thế giới

Giống như bất kỳ một quốc gia nào khác trên thế giới, chính sách đối ngoại của Indonesia về cơ bản cũng phải bắt nguồn từ nhiệm vụ cụ thể của quốc gia, dân tộc và chịu ảnh hưởng của những yếu tố lịch sử Đất nước Indonesia được tạo thành từ hàng vạn hòn đảo và với một số dân tạo thành từ nhiều tiểu quốc Hồi giáo và bản địa, với sự

đa dạng và phong phú của các nền văn hóa Bởi vậy, tư tưởng về một quốc gia, một dân tộc độc lập và thống nhất là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các chính sách đối nội

và đối ngoại của Indonesia

1.3.1.2 Cơ sở thực tiễn

Cùng với sự chi phối về ý thức của một dân tộc, một đất nước thống nhất, chính sách đối ngoại của Indonesia còn chịu nhiều ảnh hưởng mạnh mẽ của những vấn đề thực tiễn của đất nước đang đặt ra

Trong hơn 2 thập kỷ cầm quyền (1845-19670), tổng thống Sukarno đã thi hành chính sách đối nội, đối ngoại nhằm củng cố nền độc lập của đất nước cũng như bước đầu khẳng định vị trí của Indonesia trên trường quốc tế Tuy nhiên những thành công bướ c đầu này không đủ sức ngăn cản những rạn nứt trong nội bộ cũng như suy sụp của nền kinh tế Chính sách đối ngoại của Chính phủ từ giữa thập niên 50 đã chi phối mạnh

mẽ các vấn đề đối nội đến mức tới đầu thập niên 60 đã quyết định diễn biến chính trị trong nước và dẫn tới hàng loạt những biến động lớn và kết quả là sự ra đi của Tổng thống Sukarno

Những yếu tố cực đoan và phiêu lưu trong chính sách đối ngoại của Sukarno đã ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của Indonesia không chỉ khu vực mà cả trên trường quốc tế Bởi vậy, vấn đề đặt ra cho Chính phủ Tổng thống Suharto sau khi lên cầm quyền là phải thi hành chính sách đối ngoại phù hợp để không chỉ khôi phục mà còn

Trang 11

nâng cao hơn nữa hình ảnh Indonesia trong cái nhìn của khu vực và quốc tế Chính sách đối ngoại mà Indonesia thực hiện phải dung hòa được mối quan hệ với các nước lớn ở Đông Nam Á nếu muốn xây dựng Indonesia thành một quốc gia lãnh đạo trong khu vực

và có tiếng nói quan trọng trên trường quốc tế

Bên cạnh đó, sau khi lên nắm quyền, thách thức lớn nhất của Suharto phải đối mặt

là đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế và phá sản mà Chính phủ tiền nhiệm đã để lại thông qua những chính sách tiêu xài hoang phí Những nổ lực của Chính phủ mới nhằm đối phó nạn lạm phát, thất nghiệp leo thang và thiếu vốn nghiêm trọng kèm theo

đó là món nợ nước ngoài lên tới 1,7 tỉ USD Chính sách đối ngoại mà Chính phủ Saharto lựa chọn không chỉ nhằm củ ng cố hay lấy lại vị thế cho Indonesia mà còn có ý nghĩa cứu quốc gia trước bờ vực của sự phá sản

Có thể thấy, những kinh nghiệm đối ngoại trong thời kỳ nắm quyền của Tổng thống Sukarno đã ảnh hưởng không nhỏ đến định hướng đối ngoại của Tổng thống Suharto và những Tổng thống kế tiếp Nhu cầu phát triển đất nước đòi hỏi chính sách đối ngoại phải nâng cao tính thực hện, thực dụng và tính linh hoạt Mặt khác, việc tiến hành chính sách đối ngoại phải dựa trên sức mạnh nội lực của nền kinh tế và ổn định về chính trị Hai giá trị cốt lõi của quốc gia đó là phát triển kinh tế và ổn định về chính trị chỉ có thể đạt được bằng cách theo đuổi một chính sách độc lập và linh hoạt trong chính sách đối ngoại

Một vấn đề khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đối với chính sách đối ngoại của Indonesia đó là sự lớn mạnh của cộng đồng Hồi giáo Dưới thời Tổng thống Sukarno, cộng đồng Hồi giáo chưa trở thành một thế lực chính trị lớn mạnh và có những ảnh hưởng đến quốc gia nên không khó để lý giải vì sao Hồi giáo lại vắng mặt trong những xem xét về chính sách đối ngoại của Sukarno Đến thời của các tổng thống tiếp theo Hồi gióa thậm chí đã trở thành một trong số các lực lượng quan trọng tham gia vào công việc chính trị của đất nước

Như vậy, xuất phát từ tình hình cụ thể của quốc gia, để đối phó với sự chia rẽ trong nội bộ cũng như sự bất đồng tư tưởng ngày càng tăng trong nền chính trị đối với việc định hướng chính sách đối ngoại, từ năm 1974, những người lãnh đạo Indonesia buộc phải đưa ra một hệ tư tưởng mang tính quốc gia có sức hút đông đảo các tầng lớp trong

Trang 12

xã hội và hạn chế tối đa chia rẽ trong hệ thống chính trị Trong bối cảnh đó, những nguyên tắc cụ thể của tư tưởng Pancasila đã được nêu cao và được coi như nguyên tắc

tư tưởng chính thức duy nhất ở Indonesia Bất cứ ai chống lại Pancasila đều bị quy là cộng sản hay hồi giáo cực đoan

1.3.1.3 Cơ sở tư tưởng và pháp lý

- Nền tảng tư tưởng Pancasila

Pancasila là 5 nguyên tắc xây dựng đất nước được tổng thống Sukarno nêu lên trong bài diễn văn đọc trước ủy ban trù bị cho độc lập của Indonesia ngày 1/6/1945 Năm nguyên tắc này được coi là cơ sở pháp lú của nước Cộng hòa Indonesia Tổng thống Sukarno đã giải thích năm vấn đề đó như sau:

+ Chủ nghĩa dân tộc thống nhất trên lãnh thổ Indonesia Quốc gia Indonesia không phải của bất kì một cá nhân hay tổ chức nào mà là một quốc gia “ tất cả cho tất cả” Điều này được tổng thống Sukarno khẳng định trong bài diễn văn kỉ niệm thành lập tổ chức Liên Hợp Quốc ngày 24/10/1951: “ Nếu không có chủ nghĩa dân tộc thì không thể

có chủ nghĩa nhân đạo…Bất luận trong nội bộ chúng tôi có bao nhiêu trái ngược nhau, nhưng trên trường quốc tế về phương diện chung chúng tôi cần tỏ rõ mặt đoàn kết nhất trí” [ 65; tr.11]

+ Chủ nghĩa quốc tế hay chủ nghĩa nhân văn Tổng thống Sukarno nói: “ Vị trí địa lý của nước chúng tôi nằm giữa bốn đại dương khiến chúng tôi có tinh thần quốc tế… Dân tộc Indonesia chúng tôi đã tự do và trao đổi một cách khẳng khái với các nước láng giềng nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau” [65; tr.11]

+ Mufakat hay nền dân chủ phù hợp với những truyền thống của xã hội Indonesia Muốn có một cơ sở vĩnh viễn cho một quốc gia, cần có một chính phủ đại diện, một chính phủ trong đó nhân dân có quyền tiếng nói trong tất cả các lĩnh vực của hoạt động quốc gia

+ Xã hội thịnh vượng: Mọi người đều có cuộc sống hạnh phúc tự do và không nghèo khổ Indonesia đã phải trải qua 3 thế kỉ dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Tuy tài nguyên giàu có nhưng đời sống nhân dân còn nhiều nghèo khổ Vì vậy xây dựng xã

Trang 13

hội thịnh vượng là một trong những nhiệm vụ mà chính phủ phải đảm đương và thực hiện

+ Niềm tin vào thượng đế, nghĩa là mỗi người đều có quyền tôn thờ một vị thần của mình Điều đó có nghĩa rằng nhân dân Indonesia đều có quyền tin tưởng vào vị thần riêng của mình, nghĩa là quyền được tự do tín ngưỡng như đã nêu trong hiến chương liên hợp quốc

Có thể thấy một điều rất rõ ràng rằng mặc dù cùng sử dụng Pancasila trong định hướng các chính sách đối nội, đối ngoại, mặc dù chính sách trong đối ngoại của tổng thống Suharto hoàn toàn khác biệt so với thời tổng thống Sukarno nhung những chính sách tổng quát của nguyên tắc Pancasila như vũ khí đắc lực trong việc hạn chế một cách tối đa sự chia rẽ tư tưởng trong xã hội Indonesia Đồng thời, nó tạo ra một sự dồng thuận nhất định trong vieevj xây dựng chính sách quốc gia mà chính sách đối ngoại là một trong những bộ phận đó

Pacasila trên thực tế đã trở thành cơ sở nền tảng cho việc hoạch định những chính sách đối nội, đối ngoại của hầu hết những người lãnh đạo nước Cộng hòa Indonesia

- Cơ sở pháp lý: Hiến pháp năm 1945

Hiến pháp năm 1945 của Indonesia được tuyên bố ngay sau khi Indonesia tuyên bố độc lập, được xây dựng trên cơ sở triết lý của 5 nguyên tắc dựng nước Pancasila tập trung vào những điểm chủ yếu sau:

+ Bảo đảm sự tăng cường và củng cố chính quyền của nước Cộng hòa Indonesia dưới

sự lãnh đạo trực tiếp của tổng thống

+ Bảo đảm thực hiện các nguyên tắc dân chủ

+ Tổ chức hướng dẫn việc phát triển một hệ thống kinh tế nhằm xây dựng một xã hội công bằng và phồn thịnh

Như vậy cùng với Pancasial, hiến pháp năm 1945 đã trở thành tư tưởng cơ sở và pháp lý cho công cuộc xây dựng đất nước Indonesia Những đường lối, chủ trương,

Trang 14

chính sách của chính phủ nhằm xây dựng một Indonesia độc lập, thống nhất và phát triển đều dựa trên những cơ sở này

- Những nét cơ bản trong chính sách đối ngoại của cộng hòa Indonesia từ 1945 –

1991

- Từ 1945 – 1950: hình thành nền móng nguyên tắc chính sách đối ngoại của Indonesia

- Từ 1950 – 1959: củng cố sự ổn định chính trị theo kiểu dân chủ nghị trưởng

- Từ 1960 – 1980: thời kì đối đầu căng thẳng giữa hai hệ thống xã hội thế giới – xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa

- Từ 1980 – 1989: tiếp tục các hoạt động đối ngoại để lấy lại hình ảnh Indonesia đã

bị mờ nhạt do sự kiện Indonesia chiếm lãnh thổ Indonesia (1967)

Trang 15

CHƯƠNG II NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI

CỦA INDONESIA TỪ 1991 ĐẾN 2014

2.1 Những nét chung về chính sách đối ngoại của Indonesia từ 1991 đến 2014

Bước vào thời kì hòa bình, Indonesia nhất quán thi hành chính sách đối ngoại độc lập, tích cực, tập trung vào bảo về chủ quyền quốc gia, tham gia có lựa chọn vào các hoạt động chung của thế giới và phù hợp qua từng giai đoạn phát triển Indonesia lấy Asean làm nền tảng của chính sách đối ngoại để mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và các nước trên Thế giới Một mặt, đây là chính sách bảo về lợi ích quốc gia đồng thời hợp tác với các quốc gia khác để xóa bỏ chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc, đảm bảo hòa bình thế giới và công bằng xã hội Indonesia là một trong những nước sáng lập ra Phong trào các nước không liên kết

Chiến tranh lạnh kết thúc, mang lại nhiều thách thức và cơ hội cho Indonesia Trước hết là vấn đề chính trị ngăn cản Indonesia phát triển các mối quan hệ chặt chẽ với các nước cộng sản như Trung Quốc Trung Quốc mở ra một thị trường xuất khẩu mới đầy hứa hẹn và các nguồn đầu tư nước ngoài cũng như nhập khẩu Nhưng bên cạnh

đó sức mạnh quân sự và tham vọng bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc là một thách thức lớn Do đó, Indonesia chủ trương vừa tích cực hợp tác vừa hạn chế sức mạnh của Trung Quốc

Ngoài ra, sự gia tăng của các khối kinh tế khổng lồ như EU, Khu vực tự do Bắc

Mỹ (NAFTA) và sự lan tỏa toàn cầu của nền dân chủ cũng gây nên áp lực nặng nề đối với Indonesia Chính những điều này buộc Indonesia phải có những cải cách trong cả đối nội và đối ngoại

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 – 1998 làm sụp đổ chính phủ “ trật tự mới” của Suharto và mở ra quá trình chuyển đổi dân chủ ở Indonesia Các mục tiêu chính của chính sách đối ngoại của Indonesia trong 10 năm qua:

Thứ nhất, giúp phục hồi và phát triển kinh tế, tăng cường tính toàn vẹn lãnh thổ

và an ninh quốc gia, củng cố nền dân chủ và nâng cao vị thế khu vực và quốc tế của Indonesia

Trang 16

Thứ hai, hỗ trợ và phát triển quốc gia, ưu tiên phát triển kinh tế

Thứ ba, duy trì sự ổn đi ̣nh nô ̣i bô ̣ và khu vực thuâ ̣n lợi cho phát triển quốc gia Thứ tư, bảo vê ̣ sự toàn ve ̣n lãnh thổ và nhân dân Indonesia

Từ sau chiến tranh lạnh đến nay, Indonesia có một số điều chỉnh trong chính sách đối ngoại : đề cao tinh thần hợp tác hữu nghị, đoàn kết với các nước trong Asean Indonesia là một nhân tố ủng hộ mạnh mẽ tầm nhìn của một cộng đồng Asean, xây dựng tổ chức ngày càng lớn ma ̣nh; thi hành chính sách than thiê ̣n, hữu nghi ̣ và hợp tác với các nước láng giềng ở đông nam á; Indonesia thực hiê ̣n chính sách cân bằng lợi ích giữa các nước lớn trong khu vực, không muốn đông nam á trở thành khu vực tranh chấp của các cường quốc

Đối với chính tri ̣ quốc tế, chính sách ngoa ̣i giao hiê ̣n đa ̣i của chonhs phủ cá tổng thống trong thời gian này là tương tự như đường lối của tổng thống Sukarno Hiê ̣n ta ̣i, Indonesia ủng hô ̣ mô ̣t thế giới không vũ khí ha ̣t nhân, giải trừ quân bi ̣ hoàn toàn đối với

cô ̣ng hòa dân chủ nhân dân triều tiên và Iran

Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono đã và đang hỗ trợ Liên Hợp Quốc trong việc xử lí cuộc khủng hoảng của Kinh tế hiện nay Indonesia tiếp tục tuân theo chủ nghĩa lí tưởng của tổng thống Sukarno cho công lý và trâ ̣t tự toàn cầu thông qua viê ̣c tham gia hoa ̣t đô ̣ng dân chủ của các tổ chức toàn cầu bao gồm cả cấu trúc cải cách trong

hô ̣i đồng Bảo An

2.2 Chính sách đối ngoại của Indonesia đối với các cường quốc

Với điều kiện tự nhiên, vị trí chiến lược trọng yếu, Indonesia là đối tượng tranh dành ảnh hưởng hàng đầu của các nước lớn Sự có mặt của các cường quốc vừa là cơ hội để Indonesia có thể tận dụng trong việc phát triển đất nước , mặt khác cũng tạo ra những thách thức trong việc thực hiện các chính sách đối nội, đối ngoại độc lập không phụ thuộc

2.2.1 Chính sách đối ngoại của Indonesia với Mỹ

Dưới thời tổng thống Sukarno, Indonesia thực hiện chính sách đối ngoại trung lập, không liên kết, sẵn sàng nhận viện trợ từ các nước bên ngoài để phát triển kinh tế xã hô ̣i

Trang 17

nhưng không bao gồm các điều khoản bị ràng buộc về quân sự Trong những năm 1950, Indonesia vay và nhận viện trợ từ Mỹ nhưng qua những năm 1960 dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Trung Quốc và Liên Xô chính sách đối ngoại của Indonesia với Mỹ trở nên xa cách

Qua thời tổng thống Suharto, tình hình ngoại giao của Indonesia có nhiều thay đổi Chính phủ đã thi hành chính sách đối ngoại thân Mỹ và các nước phương Tây Mối quan hệ với Mỹ giúp cho Indonesia có nhiều khoản vay và viê ̣n trợ để phát triển kinh

tế và nâng cao vị thế trong khu vực Thêm vào đó, chính phủ của tổng thống Suharto kì

vo ̣ng, Mỹ sẽ là nhân tố giúp Indonesia trở thành quốc gia có đi ̣a vi ̣ lãnh đa ̣o trong khu vực Đông Nam Á Do đó, chính quyền tổng thống Suharto công khai ủng hô ̣ sự có mă ̣t của Mỹ ở Đông Nam Á về mặt quân sự, kinh tế, viện trợ

Trong những năm 1973 – 1975, sau khi chiến tranh Đông Dương kết thúc Mỹ buộc phải rút quân về nước Indonesia vẫn duy trì chính sách đối ngoại thân đối với Mỹ, đặt mua thêm nhiều vũ khí và trang thiết bị của Mỹ Tuy nhiên, Indonesia vẫn có sự đô ̣c lập nhất định khi là nước duy nhất ở Đông Nam Á không có căn cứ quân sự của Mỹ

Mă ̣c dù vẫn coi Mỹ và phương Tây là chỗ dựa chủ yếu để duy trì an ninh song Indonesia cần phải có mô ̣t chihs sách đô ̣c lâ ̣p hơn và giữ khoảng cách với Mỹ

Sự thành lập ZOPFAN năm 1971 đánh dấu sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Asean trong đó có Indonesia Cũng như các nước trong khu vực, Indonesia mong muốn thi hành một chính sách trung lập cân bằng giữa các nước lớn và hòa bình Lợi ích của Indonesia là phát triển kinh tế, xây dựng đất nước mà không phụ thuộc và Mỹ

và các cường quốc Benny Mudani theetr hiện rõ : “ chúng tôi muốn và kiên trì xây dựng khu vực Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, tự do và trung lập ( ZOPFAN ) không có ảnh hưởng của các siêu cường ”.1

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, Indonesia có những chính sách thay đổi đối ngoại trở thành chính sách đa phương, đa dạng hóa Ngoại trưởng Indonesia Ali Alatas

1 Chính sách của Hoa Kỳ đối với Asean trong và sau Chiến tranh lạnh,Lê Khương Thùy, tr168

Trang 18

khẳng định : “ Chúng tôi không thể cho bốn cường quốc ( Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Nga) vào khu vực này nhưng phải cân bằng giữa họ với nhau và giữa họ với Đông Nam Á”1 Mặc dù đa dạng hóa, đa phương hóa trong chính sách đối ngoại nhưng chính phủ Suharto vẫn coi Mỹ là nhân tố quan trọng để cân bằng chiến lược trong khu vực Tuy nhiên, giữa Mỹ và Indonesia vẫn tồn tại nhiều bất đồng

Như vậy, có thể thấy rằng sau chiến tranh lạnh chính phủ Indonesia vẫn coi Mỹ là một nhân tố quan trọng trong chính sách đối ngoại

Về quân sự, Indonesia được Mỹ chú ý đă ̣c biê ̣t trong chính sách đối với Đông Nam Á Mỹ thực hiê ̣n chính sách lôi kéo Indonesia, đă ̣c biê ̣t là sau khi tổng thống Suharto lên cầm quyền và thi hành chính sách thân Mỹ Qua các đời toogr thống khác nhau với các chiến lược khác nhau, Indonesia vẫn là mô ̣t quốc gia được Mỹ ưu tiên từ sau sự kiện 11/9/2001 Mỹ tăng cường hợp tác chống khủng bố với Indonesia và các nước Đông Nam Á như Philippines, Thái Lan, Singapore và Malaysia Năm 2002, trong số 142 triệu USD viện trợ về quân sự và kinh tế cho Indonesia, Mỹ đã dành cho Indonesia gần

25 triệu USD để phục vụ các vấn đề an ninh trong đó 12 triệu USD dùng để huấn luyện cảnh sát chống khủng bố và thành lập một đơn vị cảnh sát đặc biệt chống khủng bố2

Mă ̣c dù nền kinh tế phu ̣ thuô ̣c vào Mỹ, song chính sách đối ngoa ̣i của chính phủ Indonesia vẫn thể hiê ̣n sự đô ̣c lâ ̣p và có những điều chỉnh phù ho ̣p trong đường lối đối ngoa ̣i

2.2.2 Chính sách đối ngoại với Nhật Bản

Trong chính sách đối ngoại đối với Nhật Bản, Indonesia chú trọng vào việc tranh thủ vốn, kĩ thuật và công nghệ của Nhật Bản để phát triển kinh tế Ngay từ năm 1965, sau sự đổ chính chấm dứt cầm quyền của tổng thống Sukarno kinh tế Indonesia rơi vào khó khăn Thời kì này, Nhật Bản được coi là viện trợ chính cho Indonesia Việc giúp

đỡ cho Indonesia cũng mang lại nhiều lợi nhuận cho Nhật Bản về cả kinh tế và ngoại giao với các nước trong khu vực

1 Chính sách của Hoa Kỳ đối với Asean trong và sau Chiến tranh lạnh, Lê Khương Thùy tr208

2 Đông Nam Á trước nguy cơ khủng bố, TXX 1/11/2012

Trang 19

Trong những năm 1960, Nhật Bản đã cung cấp nhiều khoản đầu tư đáng kể cho Indonesia mà phần lớn là bồi thường chiến tranh Trong những năm tiếp theo đầu tư ODA của Nhật Bản vào Indonesia tiếp tục tăng, tập trung vào việc phát triển, xóa bỏ đói nghèo, cải thiện môi trường sống Năm 1966, Nhật Bản đồng ý cho Indonesia vay

174 triệu USD để giải quyết khó khăn đang gặp phải

Tháng 1/1997, thủ tướng Nhật Bản Ryutaro Hahsitomo đã tới thăm Indonesia Trong cuộc đàm thoại với tổng thống Suharto khẳng định: “Nhật Bản tiếp tục coi trọng quan hệ với Indonesia, một nước lớn trong tổ chức Asean”1

Một số thành tựu :

Khoảng 1000 công ty Nhật Bản đầu tư vào Indonesia với tổng lượng vốn lên 31 tỉ USD Các khoản ODA của Nhật Bản dành cho Indonesia lên tới gần 3022 tỉ yên2 Indonesia sẽ bãi bỏ thuế quan tới 96% đối với mặt hàng xuất khẩu của Nhật , Nhật Bản sẽ bãi bỏ thuế quan với hơn 93% mặt hàng xuất khẩu của Indonesia đặc biệt bãi bỏ ngay lập tức thuế nhập khẩu đối với lâm sản, tôm và hầu hết các mặt hàng công nghiệp Indonesia hiện là nhà nước cung cấp khí đốt tự nhiên lớn nhất cho Nhật, đồng thời là nước xuất khẩu than lớn thứ ba, xuất khẩu dầu thô lớn thứ sáu cho quốc gia Đông Bắc

Á này3

2.2.3 Chính sách đối ngoa ̣i với Trung Quốc

Dưới thời tổng thống Sukarno Indonesia thi hành chính sách đối ngoa ̣i nghiêng về chủ nghĩa cô ̣ng sản Mối quan hê ̣ giữa Indonesia và Trung Quốc diễn ra rất tốt đe ̣p Tuy nhiên sau cuô ̣c đảo chính, chính phủ tổng thống Suharto lên cầm quyền và đã thay đổi hoàn toàn chính sách đối ngoa ̣i của Indonesia với Trung Quốc mà đỉnh cao là tháng 10/1967, chính phủ Indonesia quyết đi ̣nh đình chỉ ngoa ̣i giao với Trung Quốc Viê ̣c đình chỉ này nhằm phu ̣c vu ̣ ba chức năng quan tro ̣ng vì lợi ích chính tri ̣ của chính phủ “ trâ ̣t tự mới”

1 Chính sách đối ngoại của các nước Asean, Tr 33

2 Kinh tế Indonesia – thực tế và thách thức, Hoa Hữu Huân (2000)tr 283-284

3 www.vietnamembassy-indonesia.org

Trang 20

Thứ nhất, viê ̣c đình chỉ này phản ánh hình ảnh của trâ ̣t tự mới như mô ̣t lực lượng chống cô ̣ng sản đồng thời ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi để quân đô ̣i nhâ ̣n được sự ủng hô ̣ của các lực lượng chính tri ̣ khác trong nỗ lực lâ ̣t đổ hê ̣ thống chính tri ̣ cũ

Thứ hai, viê ̣c đình chỉ ngoa ̣i giao với trung Quốc giúp cho quân đô ̣i thiết lâ ̣p hình ảnh của mình, ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi để quân đô ̣i nhâ ̣n được sự ủng hô ̣ từ các lực lượng khác trong nỗ lực lâ ̣t đổ hê ̣ thống chính tri ̣ cũ

Thứ ba, viê ̣c đình chỉ quan hê ̣ với Trung Quốc đã tăng cường niềm tin vào quân

đô ̣i như môt thế lực quốc gia thực sự

Mối quan hê ̣ giữa Indonesia và trung Quốc chỉ được chỉ được cải thiê ̣n vào đầu những năm 80 khi Indonesia đồng ý nối la ̣i quan hê ̣ thương ma ̣i với Trung Quốc Điều này bắt nguồn từ chính điều kiê ̣n phát triển kinh tế của Indonesia Trung Quốc cũng đưa

ra chính sách đối ngoa ̣i mới dựa trên phương châm thể hiê ̣n với ba nguyên tắc:

- Xóa bỏ hoài nghi tăng thêm tin câ ̣y nhằm xoa di ̣u mối lo nga ̣i và nghi ngờ về “ mối đe do ̣a của Trung Quốc” trong các nước Đông Nam Á

- Tăng cường hợp tác nhằm lấy kinh tế lamf cơ sở cho mối quan hê ̣ và đảm bảo

an ninh khu vực mô ̣t cách lâu dài

- Thúc đẩy đoàn kết, cùng nhau phát triển nhằm xoa di ̣u những bất đồng giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á

Những thay đổi trong chính sách đối ngoa ̣i của Trung Quốc đã tác đô ̣ng mô ̣t cách tích cực tới các nhà lãnh đa ̣o Indonesia Mối quan hê ̣ ngoa ̣i giao giữa Indonesia và Trung Quốc chính thức được khôi phu ̣c vào tháng 8/1990 trong chuyến thăm của ngoa ̣i trưởng Indonesia Ali Alatas đến Bắc Kinh Và sau đó là các cuô ̣c sang thăm chính thức giữa các nhà lãnh đa ̣o Indonesia và Trung Quốc

Từ sau chiến tranh la ̣nh quan hê ̣ giữa Indonesia và Trung Quốc phát triển tốt đe ̣p

đă ̣c biê ̣t trong lĩnh vực kinh tế Trong năm 1997 quan hê ̣ giữa hai nước tiếp tu ̣c được củng cố nhiều chuyến viếng thăm của bô ̣ tư pháp bô ̣ quốc phòng Trong chính sách đối ngoai với Trung Quốc, Indonesia chủ trương vừa tích cực hợp tác vừa đấu tranh để ha ̣n chế sức ma ̣nh của Trung quốc

Ngày đăng: 14/09/2016, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w