Đối tượng nghiên cứu của thi pháp học Thi pháp học nghiên cứu HÌNH THỨC mang tính nội dung của tác phẩm hoặc hệ thống tác phẩm.. Các phân ngành của thi pháp học Thi pháp học lý thuy
Trang 1THI PHÁP HỌC
VÀ ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC
Phạm Ngọc Lan
Trang 2I KHÁI QUÁT VỀ THI PHÁP HỌC
1 Định nghĩa thi pháp và thi pháp học
Thi pháp là nguyên tắc tổ chức nội tại của tác phẩm hoặc một
hệ thống các tác phẩm văn học
Thi pháp học là khoa học về các hình thức, các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm sáng tạo ngôn
từ, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học
Trang 6I KHÁI QUÁT VỀ THI PHÁP HỌC
2 Đối tượng nghiên cứu của thi pháp học
Thi pháp học nghiên cứu HÌNH THỨC mang tính nội dung
của tác phẩm hoặc hệ thống tác phẩm Hay nói cách khác, đó
là quan niệm nghệ thuật của hình thức.
Hình thức nghệ thuật mang những đặc điểm như sau:
- Hình thức có tính hệ thống
- Hình thức có tính quan niệm
- Hình thức có tính tinh thần
Trang 7I KHÁI QUÁT VỀ THI PHÁP HỌC
3 Các phân ngành của thi pháp học
Thi pháp học lý thuyết nghiên cứu các quy tắc nghiên cứu thi pháp,
nghĩa là các mô hình nghệ thuật của tác phẩm và phạm trù hoá hệ thống nghệ thuật của tác phẩm thành các phương diện khác nhau
Thi pháp học văn học tiến hành miêu tả và nghiên cứu hệ thống các
nguyên tắc, các phương tiện, thủ pháp nghệ thuật tạo nên giá trị của các tác phẩm và hiện tượng văn học cụ thể
Thi pháp học lịch sử nghiên cứu sự tiến hoá của các hình thức nghệ
thuật, nghiên cứu các phạm trù (thể loại, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật), cũng như cả hệ thống các thủ pháp hay phạm trù vốn có của những thời đại văn học
Trang 8I KHÁI QUÁT VỀ THI PHÁP HỌC
4 Lịch sử phát triển của thi pháp học
4.1 Thi pháp học cổ điển Hy Lạp
Aristotle (384-322 B.C.)
Trang 11CỐT TRUYỆN (mythos) NHÂN VẬT (ethos)
TƯ TƯỞNG (dianoia) NGÔN TỪ (lexis)
ÂM NHẠC (melos) KHÁN GIẢ (opsis)
POETICS (Aristotle)
Bản chất của nghệ thuật: MÔ PHỎNG (mimesis) Mục đích của nghệ thuật: THANH LỌC (carthasis) Các thành phần chính của bi kịch:
Trang 12I KHÁI QUÁT VỀ THI PHÁP HỌC
4 Lịch sử phát triển của thi pháp học
Trang 13CHỦ NGHĨA HÌNH THỨC NGA (RUSSIAN FORMALISM)
- Là một trường phái phê bình lý luận văn học có ảnh hưởng lớn ở Nga
từ 1914 đến 1930, họ cách mạng hoá phê bình văn học bằng cách khẳng định tính cụ thể và tự trị của văn chương và ngôn ngữ văn chương
- Chủ yếu bao gồm hai nhóm phê bình: Hội Ngôn ngữ học Moscow,
thành lập khoảng năm 1914-1915, và Hội Nghiên cứu Ngôn ngữ thi ca (OPOJAZ), thành lập khoảng năm 1914-1916
Trang 14CHỦ NGHĨA HÌNH THỨC NGA (RUSSIAN FORMALISM)
Viktor Shklovsky
(1893-1984) Boris Eikhenbaum(1886 – 1959) Yuri Tynianov (1894 – 1943) Viktor Vinogradov(1895 – 1969)
Hội Nghiên cứu Ngôn ngữ thi ca (OPOJAZ), thành lập khoảng năm
1914-1916 ở Saint Peterburg.
Trang 15CHỦ NGHĨA HÌNH THỨC NGA (RUSSIAN FORMALISM)
Roman Jakobson
(1895 – 1982) Ossip Brik(1888 – 1945) Boris Tomashevsky(1890 – 1957)
Hội Ngôn ngữ học Moscow, thành lập khoảng năm 1914-1915 ở
Moscow
Trang 16NHỮNG ĐÓNG GÓP LÝ THUYẾT QUAN TRỌNG NHẤT:
Nghiên cứu văn học là một ngành khoa học độc lập và tự trị
CHỦ NGHĨA HÌNH THỨC NGA (RUSSIAN FORMALISM)
Trang 17Boris Eikhenbaum(1886 – 1959)
Phương pháp của chúng tôi thường được định danh là
“phương pháp hình thức luận” Tôi muốn gọi đó là phương pháp hình thái học, để phân biệt nó với những hướng tiếp cận khác chẳng hạn như phương pháp tâm
lý học, xã hội học và những phương pháp tương tự, mà đối tượng nghiên cứu không phải là bản thân tác phẩm mà là điều được phản ánh trong tác phẩm, theo quan niệm của nhà nghiên
cứu.
Trang 18Trên nhiều phương diện, việc nghiên cứu truyện cổ tích có thể so sánh với việc nghiên cứu tổ chức hữu cơ trong tự nhiên Nhà khoa học tự nhiên và nhà văn hoá dân gian đều xử
lý các chủng loại và biến thể , và những chủng loại và biến thế này về bản chất là giống nhau.
(Hình thái học truyện cổ tích)
Vladimir Propp (1895-1970)
Trang 19NHỮNG ĐÓNG GÓP LÝ THUYẾT QUAN TRỌNG NHẤT:
Nghiên cứu văn học là một ngành khoa học độc lập và tự trị
Tính văn học – đối tượng của ngành nghiên cứu văn học những thủ pháp của ngôn
ngữ nghệ thuật
CHỦ NGHĨA HÌNH THỨC NGA (RUSSIAN FORMALISM)
Trang 20Roman Jakobson (1896-1982)
Đối tượng của nghiên cứu văn học không phải là toàn thể văn học mà là tính văn học, nghĩa là, cái làm cho một tác phẩm nào đấy trở thành một tác phẩm văn
học.
Trang 21NHỮNG ĐÓNG GÓP LÝ THUYẾT QUAN TRỌNG NHẤT:
Nghiên cứu văn học là một ngành khoa học độc lập và tự trị
Tính văn học – đối tượng của ngành nghiên cứu văn học những thủ pháp của ngôn
Trang 22Viktor Schlovsky (1893-1984)
Thủ pháp của nghệ thuật là khiến cho đối tượng trở nên “xa lạ”, làm cho hình thức trở nên khó hiểu, làm tăng cao độ khó và độ dài của sự tri nhận bởi vì bản thân quá trình tri nhận tự nó đã là mục đích thẩm mỹ và phải được kéo
dài Nghệ thuật là một cách trải
nghiệm tính nghệ thuật của một đối tượng; chứ còn bản thân đối tượng thì không quan trọng”
(Nghệ thuật như là thủ pháp)
Trang 23Vladimir Propp (1895-1970)
Trang 24Là nhà văn hoá và lý luận văn học Nga
Các khái niệm cơ bản:
- carnival và chủ nghĩa hiện thực nghịch dị
- bản chất đối thoại của ngôn ngữ
- đa thanh và phức điệu (polyphony-symphony)
MIKHAIN BAKHTIN
Trang 25Mikhain Bakhtin (1895-1975)
Con số nhiều của các giọng nói và ý thức độc lập và không hòa trộn, một dàn đa thanh của các giọng nói đầy hiệu lực thực chất chính là đặc trưng chính yếu của tiểu thuyết Dostoevsky Cái mở ra trong tác phẩm của ông không phải là
vô số những nhân vật và số phận trong một thế giới khách quan đơn nhất, được soi sáng bởi một ý thức tác giả đơn nhất; mà đúng hơn, là con số nhiều của các ý thức, với quyền lực ngang nhau và mỗi ý thức mang theo thế giới riêng của nó, những thế giới này liên kết nhưng không hòa trộn vào trong tính thống nhất của sự kiện.
(Những vấn đề thi pháp Dostoevsky)
Trang 26Là một hệ hình lý thuyết khoa học xã
hội nhân văn, nghiên cứu các hiện
tượng và yếu tố văn hoá trong mối
quan hệ với toàn bộ hệ thống hay cấu
trúc nền tảng của nó
CHỦ NGHĨA CẤU TRÚC (STRUCTURALISM)
Trang 27Ferdinand de Saussure (1857-1913)
Cái biểu đạt _ Cái được biểu đạt
CÁ _
_
Trang 28THÔNG ĐIỆP
BỐI CẢNH
NGƯỜI NHẬN NGƯỜI GỬI
TIẾP XÚC
MÃ
Roman Jakobson (1896-1982)
Trang 29Cặp đối lập lưỡng phân là cặp đối lập mà các nhà cấu trúc luận cho rằng nó đã tạo nên và tổ chức nên tư tưởng và văn hoá nhân loại một cách mạnh mẽ
(Nhân học cấu trúc)
Claude Lévi-Strauss (1908-2009)
Trang 30Tôi lại đối diện với một hệ thống ký hiệu học lớn hơn:
có một cái biểu đạt, tự thân nó đã được tạo nên trong
một hệ thống có trước đó (một người lính da đen đang
chào lá cờ Pháp); có một cái được biểu đạt (ở đây là hỗn
hợp có chủ ý giữa tính chất Pháp và tính chất quân sự);
cuối cùng, có sự hiện diện của cái được biểu đạt thông
qua cái biểu đạt
(Những huyền thoại)
Roland Barthes (1915-1980)
Trang 31II THI PHÁP TÁC PHẨM TRỮ TÌNH
1 Sơ lược về thi pháp trữ tình
POETRY -> quan niệm truyền thống phương Tây xem thơ là một dạng thức nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ để sáng tạo dựa trên chất lượng thẩm mỹ và liên tưởng của nó
Trang 32II THI PHÁP TÁC PHẨM TRỮ TÌNH
2 Cái tôi trữ tình
2.1 Khái niệm về cái tôi trữ tình
Cái tôi: một khái niệm triết học, chỉ căn nguyên, trung tâm tinh thần của con người, có quan hệ tích cực với thế giới và với bản thân mình Là
phần tự giác, tự ý thức của nhân cách.
Cái tôi trữ tình: là thế giới chủ quan, thế giới tinh thần của con người thể hiện trong tác phẩm trữ tình bằng các phương tiện trữ tình Nội dung của trữ tình là toàn bộ cái chủ quan, nội tâm, tâm hồn đang tư duy và đang cảm thấy cuộc sống bên trong
Trang 33II THI PHÁP TÁC PHẨM TRỮ TÌNH
2 Cái tôi trữ tình
2.2 Đặc trưng của cái tôi trữ tình
Cái tôi trữ tình luôn tự ý thức mình là một bản chất tinh thần thống nhất, trọn vẹn
Cái tôi trữ tình có chức năng nội cảm hóa thế giới bên ngoài, tạo nên một thế giới chủ quan độc đáo, một chỉnh thể thống nhất được quy định bởi những quan niệm nghệ thuật riêng của thời đại và cá nhân nghệ sĩ.
Qua mỗi thời đại lịch sử, cái tôi trữ tình mang những hình thức tự ý thức khác nhau tương ứng với kiểu quan hệ giữa cái tôi và đời sống trong thời đại ấy.
Trang 34II THI PHÁP TÁC PHẨM TRỮ TÌNH
2 Cái tôi trữ tình
2.3 Một số kiểu loại cái tôi trữ tình trong lịch sử thơ ca
Cái tôi trữ tình trong thơ ca dân gian: cái tôi tập thể.
Nguồn gốc: Hình thức diễn xướng, truyền miệng trong cộng đồng
Biểu hiện:
Tiếng nói chia sẻ, đồng vọng đối với những số phận tương đồng
Không gian đồng quê phiếm chỉ: hồ sen, luỹ tre, ao cá, vườn rau…
Thời gian lao động phiếm chỉ: hôm qua, sáng ngày, năm ngoái, chiều chiều…
Trang 35II THI PHÁP TÁC PHẨM TRỮ TÌNH
2 Cái tôi trữ tình
2.3 Một số kiểu loại cái tôi trữ tình trong lịch sử thơ ca
Cái tôi trữ tình trong thơ ca cổ điển: cái tôi vũ trụ - cái tôi phi ngã.
Nguồn gốc: Quan niệm cộng đồng – Triết lý về quan hệ con người-vũ trụ Biểu hiện:
Cái tôi không có nhu cầu tự xưng, tự giới thiệu
Cái tôi được khách thể hóa vào vũ trụ
Các motif phổ biến: con người lên cao, thiên nhiên hữu linh…
Trang 36Đăng U Châu đài ca
Trần Tử Ngang
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc thương nhiên nhi lệ hạ
Trang 37Giễu người thi đỗ
Một đàn thằng hỏng đứng mà trông
Nó đỗ khoa này có sướng không [8]
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng
Tú Xương: cái tôi Nho sĩ trong lòng xã hội Nho gia đang sụp đổ
Lạc đường
Một mình đứng giữa quãng chơ vơ
Có gặp ai không để đợi chờ Nước biếc non xanh coi vắng vẻ
Kẻ đi người lại dáng bơ phờ Hỏi người chỉ thấy non xanh ngắt Đợi nước càng thêm tóc bạc phơ Đường đất xa xôi ai mách bảo Biết đâu mà ngóng đến bao giờ?
Trang 38II THI PHÁP TÁC PHẨM TRỮ TÌNH
2 Cái tôi trữ tình
2.3 Một số kiểu loại cái tôi trữ tình trong lịch sử thơ ca
Cái tôi trữ tình trong thơ lãng mạn: cái tôi cá nhân tự biểu hiện, khép kín và cô đơn
trước xã hội.
Cơ sở: Chủ nghĩa lãng mạn đề cao những cảm xúc mạnh mẽ như là nguồn gốc của kinh nghiệm nghệ thuật
Biểu hiện:
Sự bộc lộ trực tiếp những tình cảm, cảm giác riêng biệt, thành thực, tươi mới.
Sự cô độc và tuyệt vọng giữa thế giới xa lạ
Trang 39"Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều tín nhiệm, u uất, cái khát vọng được thành thật Một khát vọng khẩn thiết đến đau đớn.”
“Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhưng càng đi sâu càng lạnh […] Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất là xôn xao như thế Cùng lòng tự tôn, ta mất luôn cả cái bình yên thời trước Thời trước, dầu bị oan khuất như Cao Bá Nhạ, dầu bị khinh bỏ như cô phụ trên bến Tầm Dương, vẫn còn có thể nương tựa vào một cái gì không di dịch Ngày nay lớp thành kiến phủ trên linh hồn đã tiêu tan cùng lớp hoa hòe phủ trên thi tứ Phương Tây đã giao trả hồn ta lại cho ta Nhưng ta bàng hoàng vì nhìn vào đó ta thấy thiếu một điều, một điều cần hơn trăm nghìn điều khác : một lòng tin đầy đủ.”
(Một thời đại trong thi ca – Hoài Thanh)
Trang 40NHỚ RỪNG
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ
Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự
[…]
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật
- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu Ghét những cảnh không đời nào thay đổi Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng Len dưới nách những mô gò thấp kém Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu Của chốn ngàn năm cao cả, âm u Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa Nơi ta không còn được thấy bao giờ
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!!!
Thế Lữ: cái tôi khao khát vượt thoát hiện tại tầm thường
Trang 41LỜI KỸ NỮ
Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa;
Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi
Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời;
Khách không ở, lòng em cô độc quá
Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả,
Tay em đây mời khách ngả đầu say;
Đây rượu nồng Và hồn của em đây,
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử
Chớ đạp hồn em!
Trăng từ viễn xứ
Đi khoan thai trên ngự đỉnh trời tròn;
Gió theo trăng từ biển thổi qua non;
Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn.
Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn, Chớ để riêng em phải gặp lòng em;
Tay ái ân du khách hãy làm rèm, Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng
Em sợ lắm Giá băng tràn mọi nẻo, Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già;
Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt
Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt, Cuộc yêu đương gay gắt vì làng chơi
Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi,
Gỡ tay vướng để theo lời gió nước
Xao xác tiếng gà Trăng ngà lạnh buốt
Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi
Du khách đi
- Du khách đã đi rồi.
Xuân Diệu: cái tôi đam mê giao cảm với đời
Trang 42CHÂN QUÊ
Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi !
Nào đâu cái yếm lụa sồi ?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân ?
Nào đâu cái áo tứ thân ?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen ?
Nguyễn Bính: cái tôi nho sĩ nông thôn trong cơn bão đô thị hoá
Nói ra sợ mất lòng em Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh !
Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều
Trang 43Tôi vẫn còn đây hay ở đâu ?
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu ? Sao bông phượng nở trong màu huyết, Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu ?
Hàn Mặc Tử: cái tôi mang tình yêu tuyệt vọng với cuộc đời
Trang 44II THI PHÁP TÁC PHẨM TRỮ TÌNH
2 Cái tôi trữ tình
2.3 Một số kiểu loại cái tôi trữ tình trong lịch sử thơ ca
Cái tôi trữ tình trong thơ tượng trưng, siêu thực: cái tôi tự do tuyệt đối, chạm đến
tầng tiềm thức, vô thức
Cơ sở: Sự phủ định tư duy lý tính
Biểu hiện:
Nhấn mạnh cái kỳ dị, bất thường, những kết hợp phi lý, phi logic của giấc mơ
Sử dụng những hình ảnh có tính biểu tượng – tôn giáo, tâm linh… – để biểu đạt trạng thái tâm hồn
Trang 45NGUYỆT CẦM
Xuân Diệu
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần,
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm,
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.
Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh
Linh lung bóng sáng bỗng rung mình,
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh.
Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người…
Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề…
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.
Trang 46II THI PHÁP TÁC PHẨM TRỮ TÌNH
2 Cái tôi trữ tình
2.3 Một số kiểu loại cái tôi trữ tình trong lịch sử thơ ca
Cái tôi trữ tình trong thơ trữ tình chính trị: cái tôi quần chúng
Nguồn gốc: Thời đại có những chuyển biến lớn thay đổi lịch sử.