I.BỆNH GẠO LỢN 1.Căn bệnh Do ấu trùng Cystercius cellulose gây ra có dạng hình hạt gạo kí sinh ở cơ thịt của lợn.. 2.Vòng đời Qua 2 đối tượng là người va lợn Dạng trưởng thànhTT ở ruột
Trang 1I.BỆNH GẠO LỢN 1.Căn bệnh
Do ấu trùng Cystercius cellulose gây ra có dạng hình hạt gạo kí sinh ở cơ thịt của lợn
Ấu trùng do sán dây trưởng thành Taenia solium kí sinh ở ruột non người (vật chủ chuyên tính)
Hình thái : sán dây trưởng thành có kích thước lớn 2-7 m có 700-1000 đốt, trên đỉnh đầu có 22-32 móc xếp thành 2 hàng mang 4 giác bám không
có móc, đốt thành thục có màu trắng nhạt Đốt thành thục có hình chữ nhật
có cơ quan sinh dục đơn, lỗ sinh dục chỉ thông ra 1 bên và xen kẽ đều nhau
Ấu trùng giống hạt gạo màu trắng đục cho nên rất dễ nhận biết khi kiểm soát sát sinh, hạt gạo mỏng bên trong có chứa 95.5% nước, 2.5% albumin, 0.6% là muối ngoài ra còn 1 số chất khác Chỉ có duy nhất 1 đầu sán trên đỉnh đầu có móc gây bệnh cho vật chủ trung gian (VCTG) là lợn
2.Vòng đời
Qua 2 đối tượng là người va lợn
Dạng trưởng thành(TT) ở ruột non của người có tuổi thọ từ 25-50 năm, hàng ngày con sán dây thường thải đốt sán mỗi lần sẽ thải từng chùm 5-6 đốt chờ theo phân ra môi trường ngoài, nhờ điều kiện ngoại cảnh phân hủy ra trứng sán có dạng hơi bầu dục, bên trong chứa ấu trùng 6 móc Lợn ăn phải
ấu trùng di hành theo hệ tuần hoàn về cơ kí sinh tạo thành gạo sau 2-3 tháng
Ấu trùng có thể sống 3-6 năm và gây bệnh cho VCTG Người ăn phải thịt lợn chưa nấu chin có gạo sẽ mắc bệnh sau 2-3 tháng và phát triển thành dạng TT
3.Dịch tễ
Sán trưởng thành ở người có tỷ lệ thấp do :
Người ít ăn thịt lợn tái
Trang 2Hạt gạo lớn, ấu trùng có màu trắng đục dễ nhận biết, phát sinh ở đồng bằng 0.5-2%, trung du miền núi 2-6%
Gặp chủ yếu ở các cụ ông cao tuổi vùng sâu, vùng xa
Ở người chỉ có duy nhất 1 con sán kí sinh
Ấu trùng (gạo) lợn mắc tỷ lệ cao
Tỷ lệ chung là 0.04%-0.9%, đồng bằng là 0.02%, trung du miền núi là 0.3%, Tây Nguyên là 0.9%
Do lợn thích ăn phân bắc
Lợn rất gần vời người, chuồng gần nhà
Tập quán không hợp vệ sinh
Gạo lợn thường kí sinh ở cơ mông, đùi, lưỡi, tim (nơi mạch máu tới nhiều) Người ngoài mắc sàn TT còn mắc gạo do
nguyên nhân tự nhiễm 75% : khi đốt già rụng đi chờ theo phân ra ngoài nhưng do 1 yếu tố gây nôn làm đốt sán nhu động ngược từ ruột non đến dạ dày dưới tác động của dịch dạ dày làm vỡ đốt và trứng sán được giải phóng
Nguyên nhân từ ngoài vào 255 do ăn phải đốt sán, trứng sán
Gạo ở người thường gặp ở não, tủy sống, mắt, tổ chức liên kết dưới da, cơ, gạo ở người gây tác hại lớn
4.Triệu chứng, bệnh tích
Người mắc sán dây TT do sán có kích thước lớn, cướp chất dinh dưỡng gây rối loạn tiêu hóa, ỉa chảy, buồn nôn, đau bụng, sức khỏe giảm sút
Lợn mắc ấu trùng kí sinh ở cơ làm cho lợn không có triệu chứng rõ rang chỉ gây viêm cơ, ngứa ngáy
Người mắc gạo triệu chứng điển hình tùy theo vị trí tác hại rất lớn
- Hạt gạo ở não gây nhức đầu, co giật,rối loạn trí nhớ
- Gạo ở mắt gây rối lọan thị giác có khi bị mù
Trang 3- gạo ở da, cơ làm viêm da, cơ, co giật cơ, đi lại ăn uống khó khăn Bệnh tích : Ấu trùng kí sinh ở cơ gây viêm cơ, cơ thường rắn lên , màu thẫm, mất tính đàn hồi Trong tổ chức cơ chứa nhiều hạt gạo màu trắng đục
5.Chẩn đoán
Dựa vào dịch tễ kết hợp với bên y tế điều trị tỷ lệ nhiễm sán dây TT ở người, tập quán chăn nuôi và tập quán sinh hoạt của con người
Chẩn đoán bằng miễn dịch : lấy nước trong hạt gạo làm kháng nguyên, tiêm 0.2 ml dưới gốc tai vật thí nghiệm sau 20 phút có hienj tượng sưng, nóng đỏ đau thì đã nhiễm bệnh
Dùng tay kéo lưỡi con vật ra, dùng vật cứng cạo trên bề mặt tìm hạt gạo
Ở người tìm gạo bằng dụng cụ soi đáy mắt
Gia súc chết mổ khám tìm hạt gạo ở cơ hay vận động (mông, đùi, tim, lưỡi)
II.BỆNH GẠO BÒ
1.Căn bệnh
Do ấu trùng Cysticercus bovis gây ra
Kí sinh ở cơ thịt của bò
Sán trưởng thành là Taeniarhynchus saginatus kí sinh ở ruột non người gọi
là sán sơ mít, dài 4-12m có 1000-2000 đốt, đốt đầu phình rộng ra trên đỉnh đầu không có móc, trên giác bám cũng không có móc
Đốt thành thục hình chữ nhật, lỗ sinh dục thông ra 1 bên của đốt sán xen kẽ không đếu
Ấu trùng dạng hạt gạo, dạng trong suốt màng mỏng khó nhận biết, chứa 1 đấu sán duy nhất
2.Vòng đời phát triển
Trang 4Qua VCTG là động vật có xương sống, dạng TT kí sinh ở ruột non người
có tuổi thọ cao 50-60 năm
Sán TT thuộc bộ viên diệp thải đốt ra ngoài theo phân hoặc tự ra ngoài không theo phân, mỗi lần thải 1 đốt Dưới tác động đốt sán vớ trứng sán theo thức ăn vào VCTG (bò, trâu) không có ở người Sau 1 thời gian vào đường tiêu hóa theo tính mạch tới cơ thịt, 3-6 tháng thành hạt gạo Hạt gạo kí sinh ngay trong cơ thể bò 7-9 tháng gây bệnh cho bò Người ăn thịt bò tái nhiễm gạo sau 2-3 tháng phát triển thành dạng trưởng thành kí sinh ở ruột non
3.Dịch tễ
Người là vật chủ chuyên tính
Chỉ có 1 con sán duy nhất kí sinh ở ruột non ngừoi
Tỉ lệ mắc : người mắc sán bò cao tới 90% so với người mắc sán dây nguyên nhân do người thích ăn thịt bò tái
Rất khó kiểm soát bệnh
Người ở vùng sâu có tập quán chăn nuôi lạc hậu mắc nhiều hơn, nam nhiều hơn nữ, tuổi càng cao càng mắc nặng
Ấu trùng ở bò mắc thấp do bò sống xa nười
Ấu trùng chỉ gặp ở bò đoi khi có trâu không bao giờ ở người thường kí sinh
ở những chỗ cơ vận động mạnh (mông, đùi, tim, lưỡi)
Gia súc lớn mắc bệnh sẽ miễn dịch được trong 2 năm, gia súc nhỏ mắc bệnh
sẽ được miễn dịch suốt đời
4.Triệu chứng, bệnh tích
Ở người chỉ mắc sán TT làm suy giảm miễn dịch, vàng da, gầy yếu
- Rối loạn tiêu hóa, kém ăn, buồn nôn, tiêu chảy xen kẽ táo bón, phân nhiều chất nhày
- Ngứa vùng hậu môn do đốt sán tự động chui ra ngoài ở mọi lúc
Trang 5Ở bò mắc ấu trùng : do gạo kí sinh ở cơ, triệu chứng không điển hình, nhiệt
độ cơ thể hơi cao 41-42 oC, sau đó giảm Do cơ thể kí sinh ở cơ hàm, cơ lưỡi nên việc nhai lại kém, nước bọt chảy nhiều, nhu động dạ cỏ giảm Bò có chửa, dễ xảy thai giảm lượng sữa
Bệnh tích : gây ra hiện tượng viêm cơ, cơ mà gạo kí sinh có màu tím mất tính đàn hồi, trương lực lớn, có hạt gạo kích thước nhỏ màu trong suốt, màng mỏng trong chừa nhiều nước có 1 đầu sán
Gan, tim, phổi, ruột non có thể bị xuất huyết do ấu trùng di hành
5.Chẩn đoán
Phương pháp chẩn đoán tương tự gạo lợn
6.Phòng bệnh ( chung cho cả gạo lợn và gạo bò)
Do kí sinh ở cơ nên không có thuốc điều trị chỉ có thể thực hiện biện pháp phòng
Phòng bệnh có tính chất tổng hợp, áp dụng nhiều biện pháp
Kết hợp giữa nhân y và thú y
tuyên truyền vận động thấy rõ tác hại của bệnh, bỏ tập quán ăn tái, ăn sống
Chăn nuôi hợp vệ sinh, lợn phải có chuồng trại không được thả rông, không cho lợn tiếp xúc với phân người
Có hố xí hợp vệ sinh Thực hiện tốt luật thú y : yhitj qua kiểm soát sát sinh nhằm phát hiện ra gao xử lý đúng luật thú y, mặt cắt 40 cm2 >3 gạo thì hủy bỏ, <3 gạo xử lý có thể ăn được
Luộc chin cắt nhỏ 2kg/1 miếng/1000C/1h
Ướp lạnh : thịt cắt nhỏ để lạnh -15->-100C/2-3 tuần
Ướp muối : cắt nhỏ +12% muối, lấy ra nuôi trong mật thấy gạo đã chết thì ăn được
Tẩy sán dây cho người để tránh đào thải mầm bệnh ra ngoài
Trang 6Acrikin 0.9-1g/1 người 5 phút uống 0.2 g, sau đó uống thuốc tẩy muối tăng nhu động đẩy sán ra ngoài
Dicrophen 50-70g, bí đỏ 50g, thuốc tẩy MgSO4 10g uống vào sáng sớm
Ăn hạt bí ngô bóc vỏ, uống hạt cau sắc + uống thêm 2-3 lòng đỏ trứng
gà cho vào hatjk cau, 1h sau uống thuốc tẩy sán bắt đầu bị đẩy ra ngoài sau 1h
III.BỆNH GIUN BAO
1.Căn bệnh
Do cả dạng TT và ấu trùng gây nên
Dạng TT do giun tròn Trichimella spiralis có 1 con kí sinh ở ruột non còn
ấu trùng kí sinh ở cơ của kí chủ đó
Có tới 49 loài nhiễm giun bao : lợn, chó, mèo, thú hoang dã và cả người đều nhiễm Kích thước nhỏ 3-4 mm, cơ thể chia làm 2 phần rõ rệt, phần đầu chiếm nửa cơ thể, phần sau phình rộng chứa ruột và cơ quan sinh dục
Với con đực không có cơ quan giao cấu có 2 mảnh phụ sinh dục Con cái đuôi chứ hậu môn, lỗ sinh dục cái nằm ở giữa cơ thể
Không bao giờ đẻ trứng mà đẻ ngay ra ấu trùng Giai đoạn đầu ấu trùng xoắn lại gọi là giun xoắn càng về sau ấu trùng được bọc trong vỏ bọc gọi là giun bao
2.Vòng đời
Phát triển theo kiểu đặc biệt
Giun TT kí sinh ở ruột non kí chủ, đời sống ngắn rất khó bắt được con
TT, con đực có thời gian sống tối đa tử 3-4 ngày, con cái chui saau vào niêm mạc ruột đẻ ấu trùng (1000- 10000), đẻ xong con cái chết Ấu trung fđi theo tuần hoàn tới các cơ quan bộ phận kí chủ nhưng chỉ thích hợp ở các cơ còn ở
co quan bộ phận khác không thích hợp thì bị thải ra ngoài theo phân
Trang 7Ở cơ sau khi bị nhiễm 17-20 ngày, ấu trùng dừng lại lớn dần lên, dài đến đâu thì xoắn lại, sau khios xoắn được 2.5 vòng xoắn thì dừng lại sau 3-4 tuần Lúc này gọi là giun xoắn bắt đầu gây bệnh cho vật chủ Ấu trùng tiếp tục ở cơ được bao bao bọc lai goi là giun bao, ấu trùng sống ở đó rất lâu trong cơ thể nhờ bao (lợn 11 năm, người 24 năm) gây bệnh cho kí chủ
Chỉ đến khi gia súc khác ăn thit động vật mắc giun bao thì vòng đòi mới được tiếp tục
1 Dịch tễ học
Con đường truyền bệnh : người và gia súc nhiễm bệnh do ăn thịt động vật có chứa ấu trùng giun bao
động vật mắc bệnh do ăn phân động vật nhiễm ấu trùng giun bao : động vật ăn thịt trong rừng núi thải ra ngoài cả những mảnh thức ăn, chính ở đó có chứa ấu trùng, ấu trùng mà ở cơ quan nội tạng không thích hợp thì bị loại ra ngoài theo phân có thể sống được tới 4 giờ, động vật khác ăn vào sẽ mắc bênh
Động vật mắc bệnh còn có thể ăn phải công trùng (dòi) chứa ấu trung giun bao, ấu trùng sống được 5-8 ngày(dòi chỉ mắc bệnh tạm thời)
Cũng có thể nhiễm qua bào thai
Vòng tuần hoàn căn bệnh
1965 Koral đưa ra vòng tuần hoàn có 49 loài, chia làm 2 vòng tuần hoàn khác nhau Vòng tuần hoàn lớn ở bên ngopaif tự nhiên gồm hổ, gấu, lợn rừng, chó sói…Vòng tuần hoàn nhỏ ở nông thôn, thành thị, ít động vật tham gia vào có chó, méo, lợn Vòng tuần hoàn lớn truyền bệnh cho vòng tuần hoàn nhỏ qua sản phẩm săn bắn Cả 2 vòng tuần hoàn đều lây cho người qua sản phẩm săn bắn
Tình hình dịch tễ
Trang 8Xảy ra lẻ tẻ nhưng khi đã xảy ra thì gây ảnh hưởng rất lớn vì liên quan tới người
Trên thế giới phổ biến ở Bắc Cực nước lạc hậu, kém phát triển
Ở Việt Nam có 6 ổ dịch, 2 ổ dịch ngoại lai, mắc ở bên Lào vào tháng 7/1962 và 6/1968 $ ổ dịch nội địa năm 1970, 2001, 2004,2008
Gặp ở các tỉnh miền núi, lợn,chó, mèo có tiếp xú ở động vật hoang dã Nguyên nhân người mắc bệnh do ăn thịt chưa nấu chin : nem chua, thịt dăm bông, nem lạc, thịt hun khói
Noi kí sinh chủ yếu là ở cơ nhiều nhất là ở cơ hoành
3.Triệu chứng, bệnh tích
Triệu chứng
Giai đoạn TT do kích thước nhỏ, thời gian ngắn, ít gây tác hại chủ yếu ngộ độc thức ăn,nôn mửa, sau 1 thời gian thì nó chết
Tác hại nhất của ấu trùng là do thời gian lâu sản sinh độc tố gây viêm cơ
Ở gia súc khó phát hiện ra triệu chứng điển hình, con vật bị viêm cơ ngứa ngáy khó chịu đi lại rất khó khăn
Ở người có hiện tượng phú ở mắt, 2 chi rồi lan ra toàn thân Sau thời gian phù, hiện tượng đau cơ làm người nhai nuốt khó khăn
Sốt cao thành từng đợt Tăng bạch cầu ái toan, thở khó, tim đập nhanh,
hạ huyết áp gây nguy hiểm Có tới 95.5% bị đau cơ, 90% sốt, 84% phù, 79%
ỉa chảy, 50% đau bụng, 35% nhức đầu, 14% nổi ban
Bệnh tích
Gây viêm cơ, màu thẫm,rắn, tế bào cơ bị trương, bên trong có thể có ấu trùng trong bao, càng lâu vỏ càng dày, dày nhất ở 2 đầu bao giữa mỏng hơn
Ấu trùng bên trong có thể bị chết bên trong để lại mủ, canxi
4.Chẩn đoán
Trang 9Dựa vào dịch tễ : hay gặp ở các cơ sở chăn nuôi lạc hậu, vùng sâu xa, giáp miền núi
Dựa vào triệu chứng : khó chẩn đoàn, viêm cơ, đi lại khó, nhai nuốt khó
Có thể chẩn đoàn bằng phương pháp miễn dịch
Mổ khám : lấy chân cơ hoành thực hiện 2 phương pháp
phương pháp ép cơ : dùng kéo cong cắt mỏng 24 lát, ép mỏng trên kính ép giun bao Áp dụng trong kiểm soát sát sinh,kết quả nhanh, chính xác thấp
phương pháp tiêu cơ : cắt 5-7g chân cơ hoành cho vào các ống nghiệm nhỏ, tiếp 10ml dung dịch tiêu cơ gồm pepsin 1%, HCl 1%, muối tinh 0.2% tỷ lệ 1g : 1ml : 0,2g +nước->100ml, để vào tủ ấm 37oC/6-12h thitj và
cơ tiêu đi Đem quay ly tâm lấy cặn soi kính hiển vi tìm ấu trùng giun bao,
áp dụng để nghiên cứu
5 Phòng và trị
Không có thuốc điều trị đặc hiệu
Ở người chỉ dùng thuốc làm giảm viêm cơ
Chủ yếu dùng các biện pháp phòng bệnh
chăn nuôi hợp vệ sinh
không cho gia súc tiếp xúc với hoang thú bên ngoài
tích cực diệt chuột xung quanh cơ sở chăn nuôi
thịt bán ra thị trường phải qua kiểm soát sát sinh Nếu phát hiện ra ấu trùng toàn bộ thitij phải hủy bỏ
sản phẩm săn bắn tốt nhất là ăn chin
Tuyên truyền vận động người dân thấy rõ tác hại bệnh, không ăn thịt tái
Trang 10IV.BỆNH GIUN ĐŨA CHÓ Ở NGƯỜI
1 Đặc điểm:
Giun đũa chó Toxocara canis và-mèo Toxocara cati một bệnh gây ra ở người
do ký sinh trùng.
Đây là một bệnh do ký sinh trùng ký sinh lạc chủ gây ra, lạc chủ bởi
vì vật chủ ký sinh của chúng là chó, mèo chứ không phải người khi người bị nhiễm chúng vì bất cứ lý do gì thì chúng sẽ ký sinh lạc chủ ở người và có thể
gây ra bệnh cho người bệnh giun đũa ở chó, mèo ở người có thể có 3 loại
hội chứng: u hạt do ấu trùng (larval granulomatosis), ấu trùng di chuyển nội tạng ở người (Viceral larva migrans in man), ấu trùng di chuyển ở mắt (Ocular larva migrans)
Về hình thái học: con đực có kích thước 4-10cm và con cái 6-18cm Hình dáng trông giống con giun đũa giai đoạn trẻ (young ascaris), các móc của giun phần cổ hẹp ở đoạn cuối Trứng có hình bán thùy, dày, vỏ bị rỗ, kích thước 90 x 75micron
Chu kỳ sinh học và phát triển ở chó, mèo:
Chu kỳ của Toxocara canis tương tự chu kỳ sinh học của giun đũa người Ascaris lumbricoides Một điểm khác biệt là vật chủ cuối cùng phân
bố trong phạm vi rộng hơn Vật chủ cuối cùng là những động vật ăn thịt họ chó của gia đình nuôi, trong khi đó vật chủ ăn thịt các họ khác, bao gồm người thì chưa rõ Những điểm đặc biệt là con đường di chuyển trong cơ thể chó có khác nhau tùy thuộc độ tuổi, giới tính và khả năng dung nạp của chó
Trang 11Chó nhiễm bệnh do ăn phải những trứng giun có phôi (embryonated eggs) hay mô động vật có chứa ấu trùng giun đũa chó Tuy nhiên, hành vi của ấu trùng khác nhau phụ thuộc vào tuổi và giới tính của chó Trên những con chó trẻ (< hơn 3 tháng) trứng sẽ đẻ trong tá tràng và ấu trùng vào trong
hệ bạch huyết và hệ mao tĩnh mạch, từ đây sẽ mang chúng đến gan, tim và phổi- nơi đó ấu trùng sẽ phát triển và thoát vỏ /thay vỏ Tiếp đến ấu trùng sẽ xuyên qua khí quản vào trong thực quản và đến ruột non Những trứng đầu tiên xuất hiện trong phân là vào thời điểm 4-5 tuần sau khi nhiễm Tuy nhiên, ở những con chó lớn tuổi hơn, ấu trùng hiếm khi xuyên qua phổi đến khí quản (theo đường di chuyển [lung-trachea migration]) Hầu hết chúng vào trong dòng máu rồi phân tán trong toàn bộ cơ thể và mô của vật chủ chó; đặc biệt là chúng vẫn giữ nguyên ấu trùng giai đoạn nhiễm cho đến khi chúng đến mô
Tầm quan trọng của quá trình di chuyển trong cơ thể này (khác với di chuyển đến phổi và khí quản) là thuận lợi trong lây truyền chu sinh (prenatal), chẳng hạn, ấu trùng xuyên qua bọc thai chó cái đến phát triển trong phôi thai Ấu trùng vẫn tồn tại trong gan phôi thai cho đến khi sinh và rồi chúng tiếp tục di chuyển đến phổi, khí quản và ruột non; tại đó ấu trùng
sẽ trưởng thành Ngoài sự lan truyền chu sinh, sự lan truyền qua đường sữa
mẹ (transmammary) đôi khi cũng xảy ra
Chu kỳ sinh học của Toxocara cati gần tương tự Toxocara canis Khi
những trứng embryonated egg trưởng thành được nuốt vào, chúng phát triển đến giai đoạn trưởng thành thông qua đường di chuyển phổi-khí quản trong những trường hợp nhiễm ở mèo trưởng thành, một vài trứng bị ăn vào sẽ phát triển theo hướng này, nhưng một số khác sẽ ký sinh trong những mô khác nhau như giai đoạn ấu trùng Mặc dù nhiễm trùng qua con đường nhau