Câu 1: Vai trò của biển trong đời sống con người 7. Hiện trạng khai thác đánh bắt nghề cá10. Tình trạng ô nhiễm môi trường biển. 6. Vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên biểnCâu 1: Vai trò của biển trong đời sống con người 7. Hiện trạng khai thác đánh bắt nghề cá10. Tình trạng ô nhiễm môi trường biển. 6. Vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN TÀI NGUYÊN BIỂN
Câu 1: Vai trò của biển trong đời sống con người
Có 6 vai trò:
1 Cung cấp tài nguyên sinh vật biển (3 ý)
2 Cung cấp tài nguyên khoáng sản(3 ý)
3 Mặt biển và đại dương là những đường giao thông thủy(3 ý)
4 Biển và đại dương là nơi chứa đựng tiềm năng cho phát triển du lịch,
tham quan, nghỉ ngơi, giải trí (3 ý)
5 Điều hòa khí hậu (2 ý)
6 Phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng ( 1 ý)
Cung cấp tài nguyên sinh vật biển
+ Sinh vật biển là nguồn lợi quan trọng nhất của con người, gồm hàng trăm ngàn loài động vật, thực vật và vi sinh vật Đây là kho thực phẩm vô cùng quý giá, đặc biệt là ở các vùng thềm lục địa Bên cạnh các loài hải sản quen thuộc dùng làm thực phẩm như cá, tôm, cua, mực ; ở các biển và đại dương vùng cực, còn có các loài động vật lớn như cá voi, cá mập, báo biển, gấu biển là nguồn cung cấp thịt, mỡ,
da và lông quý cho công nghiệp Thực vật ở biển và đại dương có các loài rong và tảo đủ màu sắc, là nguyên liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm và công nghiệp hoá chất
+ Đến nay, nhiều số liệu thống kê cho thấy, con người đã tìm thấy hơn l60 nghìn loại động vật và gần 10 nghìn loài thực vật biển, gần 260 loài chim có cuộc sống gắn liền với đại dương Điều quan trọng là khối lượng của các loài sinh vật biển rất lớn
và có những loài có tốc độ phát triển nhanh mà trên đất liền không có
+ Sản lượng khai thác thủy sản từ biển và đại dương toàn thế giới liên tục gia tăng trong thời gian qua Theo đánh giá của FAO, lượng thủy sản đánh bắt tối đa từ biển là 100 triệu tấn
Cung cấp tài nguyên khoáng sản
Trang 2+ Biển và đại dương là nguồn vô tận muối ăn và muối dùng trong công nghiệp hoá chất Tổng lượng muối tan chứa trong biển khoảng 48 triệu km 3 , trong đó có muối ăn, iốt và 60 nguyên tố hóa học khác
+ Dưới đáy các biển và đại dương có nhiều khoáng sản và mỏ quặng lớn như dầu khí, quặng sắt, mangan, quặng sa khoáng Theo đánh giá sơ bộ, trữ lượng dầu
mỏ ở biển là khoảng 21 tỉ tấn, khí thiên nhiên là 14 nghìn tỉ mét khối
+ Nguồn năng lượng sạch từ biển và đại dương như năng lượng thuỷ triều (than xanh), năng lượng sóng hiện đang được khai thác phục vụ vận tải biển, chạy máy phát điện và nhiều lợi ích khác của con người
Mặt biển và đại dương là những đường giao thông thủy
Vận tải đường biển ra đời khá sớm so với các phương thức vận tải khác Cho đến nay vận tải biển được phát triển mạnh và trở thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế Các tuyến đường vận tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên Vận tải đường biển có thể phục vụ chuyên chở tất cả các loại hàng hoá trong buôn bán quốc tế, do đó vận tải đường biển đã thúc đẩy buôn bán quốc tế phát triển
Trong thời đại toàn cầu hoá ngày nay, nếu thương mại được cho là nhựa sống của kinh tế thế giới thì vận tải biển được coi là mạch máu lưu thông những dòng nhựa
đó
Đường biển là nhịp cầu nối liền giữa các lục địa; biển và đại dương cũng sẽ là địa bàn mới cho con người mở rộng phạm vi sinh sống của mình Ngoài ra, đây còn là điều kiện cho phát triển nhiều ngành sản xuất mới như công nghiệp biển, nông nghiệp biển
Biển và đại dương là nơi chứa đựng tiềm năng cho phát triển du lịch, tham quan, nghỉ ngơi, giải trí
+ Các bãi cát rộng, dài; các phong cảnh đẹp tạo thuận lợi cho việc xây dựng các khu du lịch và nghỉ dưỡng
+ Các rạn san hô, sinh vật biển phục vụ cho nhu cầu tham quan đáy biển, , tạo khu sinh thái
Trang 3+ Vùng biển nước ta có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch Dọc bờ biển hình chữ S của chúng ta, có nhiều bãi biển lớn và nhỏ, cảnh quan đẹp, trong đó, có những bãi biển đủ tiêu chuẩn quốc tế
để phát triển các loại hình du lịch biển, với nhiều trung tâm du lịch biển quan trọng
có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á như Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh có đủ các điều kiện và khả năng để trở thành những tụ điểm về du lịch biển
Điều hòa khí hậu
+ Biển và đại dương hấp thụ tới 314 năng lượng mặt trời, làm bốc hơi mỗi ngày gần 1 500 tỉ mét khối nước để rồi biến thành mưa, cung cấp nước ngọt cho trái đất.
Lượng nước này mỗi năm ước tính chừng 40 000 tỷ mét khối, tức là mỗi ngày có trên 100 tỉ mét khối được cung cấp cho hành tinh dưới dạng nước mưa Nếu không
có biển và đại dương thì tất cả lục địa chỉ là một bãi sa mạc mênh mông, khô cằn và hoang vắng Chính lượng nước khổng lồ đó có tác dụng như cấu máy điều hòa nhiệt
độ cân bằng và điều chỉnh khí hậu trên hành tinh của chúng ta
+ Sinh vật biển còn đóng vai trò "lá phổi" của trái đất, hấp thụ 314 bức xạ mặt trời và điều hòa toàn bộ chu trình tuần hoàn của khí quyển 50% lượng ô xy trong khí quyển được cung cấp từ biển thông qua quá trình quang hợp của thực vật biển
Phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng
Biển có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của các nước có biển nói riêng và của thế giới nói chung Một số nước và vùng lãnh thổ đã lợi dụng thế mạnh về biển đạt trình độ phát triển kinh tế rất cao
2
Những đặc trưng của nguồn lợi cá Biển Đông
Có 4 đặc trưng chính:
1.Nguồn lợi cá của Biển Đông trước hết mang nhiều nét đặc trưng của một khu hệ động vật giàu có của biển và đại dương thế giới (2 ý).
Đến nay, trong vùng biển nước ta đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật
cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình Chúng thuộc về 9 vùng đa dạng sinh
Trang 4học biển khác nhau, trong đó ba vùng biển: Móng Cái - Đồ Sơn, Hải Vân - Đại Lãnh
và Đại Lãnh - Vũng Tàu có mức đa dạng sinh học cao hơn các vùng còn lại Trong tổng loài được phát hiện có khoảng 6.000 loài động vật đáy; 2.038 loài cá, trong đó trên 100 loài cá kinh tế; 653 loài rong biển; 657 loài động vật phù du; 537 loài thực vật phù du; 94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài tôm biển; 14 loài cỏ biển; 15 loài rắn biển; 12 loài thú biển; 5 loài rùa biển và 43 loài chim nước.
Các hệ sinh thái biển và ven biển có các giá trị cực kỳ quan trọng, như: điều chỉnh khí hậu và điều hòa dinh dưỡng trong vùng biển thông qua các chu trình sinh địa hóa; là nơi cư trú, sinh đẻ và ươm nuôi ấu trùng của nhiều loài thủy sinh vật không chỉ ở ngay vùng bờ, mà còn từ ngoài khơi vào theo mùa, trong đó có nhiều loài đặc hải sản Các hệ sinh thái có năng suất sinh học cao, như rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, vùng triều cửa sông, đầm phá và vùng nước trồi thường phân bố tập trung ở vùng bờ và quyết định hầu như toàn bộ năng suất sơ cấp của toàn vùng biển và đại dương phía ngoài Khoản lợi nhuận thuần có thể thu được từ các hệ sinh thái biển và ven biển của Việt Nam sơ bộ ước tính là 60 - 80 triệu USD/năm, tức là khoảng 56 - 100USD/năm cho một hộ gia đình cư dân sống ở các huyện ven biển (ADB: Báo cáo hàng năm, 1999).
2.Đặc trưng thứ hai là nguồn lợi cá tiềm tàng tập trung vào các nhóm cá sống ở tầng mặt và tầng gần đáy Cá sống đáy có trữ lượng thấp hơn hai nhóm cá trên Theo số liệu điều tra, trong vùng thềm lục địa Biển Đông từ độ sâu
500m trở lại, trữ lượng cá nổi gần bằng với trữ lượng của cá đáy và gần đáy cộng
lại
3.Thứ ba, nhìn tổng thể, cá khai thác ở Biển Đông thuộc nhóm cá chính: cá thềm lục địa và cá đại dương (2 ý)
+ Những loài cá sống chủ yếu trong vùng nước nông thềm lục địa thường có kích thước nhỏ, tuổi thọ thấp, tuổi thành trục lần đầu đến sớm, khả năng tái sản xuất nguồn lợi cao Chúng là những loài ít di cư xa, chủ yếu trong vùng thềm lục địa Nhiều loài thích nghi với những cảnh sống đặc trưng như cá rạn san hô, cá rừng ngập mặn, cá cửa sông
+ Khác với cá thềm lục địa, những loài cá nguồn gốc đại dương với kích thước lớn
Trang 5hay nhỏ thường hình thành nên những đàn đông Chúng theo các dòng nước ấm với nồng độ muối cao từ vùng khơi Biển Đông hay từ tây Thái Binh Dương xâm nhập sâu vào gần bờ để sinh sản và kiếm ăn trong những thời gian nhất định trong năm như cá thu, ngừ, cá kiếm, cá chim, cá chuồn, cá nhồng, cá thu nhiệt đới v v Tại những vùng biển sâu cá có nguồn gốc đại dương là cơ cấu chính của nguồn lợi các tầng nước mặt và tầng nước giữa
d) Thềm lục địa Biển Đông rộng lớn, nơi tập trung chính của nguồn lợi cá
và các hải sản khác Cá đáy tập trung cao ở những khu vực đặc trưng của mỗi
mùa là sự phát triển thay thế nhau của các nhóm loài thực vât và động vât nổi trong vùng Do vậy, tính chất của khu hệ cá cũng như tập tính của mỗi loài có nhiều nét độc đáo
3 Các nguồn năng lượng sạch
Có 3 nguồn năng lượng chính: thủy triều, nhiệt biển và gió biển.
Đặc điểm: Năng lượng sach, vô tận, tái tạo được, rẻ tiền và là năng lượng của tương lai.
1.Năng lượng thủy triều: Trên các vùng ven biển rất ổn định so với năng lượng của các dòng sông Ở những nơi có mức thủy triều cao, khả năng khai thác càng lớn Những đánh giá gần đây cho thấy, năng lượng thủy triều vào khoảng 8 x 102
KW gấp 100 000 lần công suất của các nhà máy thủy điện trên toàn thế giới cộng lại Tuy nhiên, việc khai thác nguồn năng lượng này còn rất thấp bởi vì không phải tất cả các vùng biển đều có thể lợi dụng được nguồn năng lượng này Theo tính toán thì tất cả chỉ có khoảng 25 điểm đủ điều kiện xây dựng các nhà máy thủy điện thủy triều, và do đó, chỉ có thể chuyển đổi không vượt quá 10-25% điểm đủ điều kiện xây dựng các nhà máy thủy điện thủy triều như Kislaja Guba (Nga), Phandl (Canada) và La Ranxơ (Pháp) La Ran xơ được coi là lớn nhất gồm 24 tuyếc bin với tổng công suất 24 000 KW và sản lượng điện hàng năm là 800 triệu KW/giờ
2.Năng lượng nhiệt biển:Nguồn năng lượng khai thác nữa đang được các nhà khoa học trên thế giới chú ý đến là năng lượng được tạo ra do sự chênh lệch nhiệt
độ khá lớn giữa lớp nước trên mặt và lớp nước dưới sâu trong các biển nhiệt đới Năng lượng này được gọi là năng lượng “Mặt trời biển” Một số nước hiện nay đã có
Trang 6kế hoạch xây dựng những nhà máy với công suất lớn trên 1000 KW để đưa vào hoạt động Theo tính toán của các chuyên gia về năng lượng thì toàn bộ năng lượng
“Mặt trời biển” ở các vùng biển nhiệt đới từ vĩ 20 0 Nam có thể cung cấp một nguồn năng lượng lớn nhiều lần tổng năng lượng tiêu thụ hiện nay toàn thế giới
3.Năng lượng gió biển: Nguồn năng lượng sạch phát sinh do gió cũng có nguồn gốc từ năng lượng Mặt trời Nguồn năng lượng này rất lớn, ước tính trên toàn thế giới khoảng 10 000 triệu KW/giờ, song có nhược điểm là rất tản mạn và không liên tục Do vậy việc khai thác nó rất ít Hiện nay, khi than đá, dầu mỏ và khí đốt trở nên khan hiếm và cạn kiệt, khi môi trường ngày một ô nhiễm do đốt nhiên liệu, do tai họa của các nhà máy nhiệt điện thì năng lượng gió ngày càng được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là các vùng ven biển, trên các hải đảo và các trạm đèn biển của thềm lục địa và đại dương
Năng lượng thủy triều, nhiệt biển và năng lượng gió là những dạng năng lượng của tương lai và có tiềm năng to lớn Chúng sẽ trở nên rất có giá trị đối với vùng ven biển nước ta, nhất là khi điều kiện khai thác cho phép
4 Tiềm năng phát triển giao thông trên biển (5 ý)
Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng trong khu vực châu Á, nằm trong khu vực có mạng lưới vận chuyển hàng hóa bằng đường biển năng động vào hạng bậc nhất trên thế giới Mặt khác, với hơn 3 260km bờ biển, hơn 1 triệu km 2 diện tích mặt nước biển, hơn 2 770 đảo ven bờ từ Bắc vào Nam với những đặc trưng khác nhau
đó Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển ngành giao thông vận tải biển
Khi nền kinh tế phát triển, mối giao lưu quốc tế được mở rộng thì hàng hải trở nên quan trọng, nhất là đối với các nước có biển và kéo theo nó là hệ thống cảng biển ra đời Hiên nay, dọc bờ biển nước ta đã có khoảng 17 cảng quốc tế và nhiều cảng nội địa khác Nhiều hải cảng trở thành then chốt trên các tuyến đường nối với các châu lục khác như Cửa Ông, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cam Ranh, Quy Nhơn, cảng thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay, ngoài việc mở rộng, nâng cấp và hiên đại hóa các hải cảng cũng như Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh nhiều cảng biển mới, nước sâu đang được đầu tư và xây dựng như Thị Vải, Dung Quất nhằm đảm bảo khối
Trang 7lượng hàng hóa thông qua 70 triệu tấn vào năm 2000, tức là lớn gần gấp 3 lần khối lượng hàng hóa của năm 1995 Dung Quất trong tương lai gần sẽ trở thành thương cảng lớn nhất của nước ta.
Cùng với hệ thống hải cảng và con đường giao lưu quốc tế, hệ thống sông ngòi dày đặc và mật độ cửa sông cao dọc bờ biển (khoảng 20km/một cửa sông) tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển giao thông sông- biển
Đi đôi với hệ thống cảng, ngành hàng hải nước ta con phải đầu tư nhằm nâng cao tổng trọng tải của đội tàu, tàu chở hàng với trọng tải lớn Theo số liệu thống kê thì đội tàu Việt Nam hiện đứng vị trí 60/152 quốc gia có tàu mang cờ có quốc tịch
và xếp thứ 4 trong 10 nước ASEAN, sau Singapore, Indonesia, Malaysia Về tuổi tàu, đội tàu Việt Nam “trẻ” thứ 2 sau ASEAN, trung bình 1, 29 tuổi…
Riêng Việt Nam, tại thời điểm hiện nay có 38 luồng đường biển, 49 cảng biển và
166 bến cảng; là một trong những điều kiện để nước ta tiến lên từ biển và làm giàu
từ biển.
Nước ta, một quốc gia có vị trí then chốt trong vùng Đông Nam á và bờ tây Thái Bình Dương, giao thông trên biển càng trở thành yếu tố quan trọng, nhất là trong giai đoạn mở cửa, đưa nền kinh tế của đất nước hội nhập với nền kinh tế chung của khu vực và thị trường thế giới
5 Tiềm năng phát triển du lịch và giả trí biển Việt Nam
Lợi thế:
Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260km và trên 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ, tiêu biểu là: Cô Tô, Quan Lạn (Quảng Ninh); Cát Bà, Bạch Long Vĩ (Hải Phòng); Cồn Cỏ (Quảng Trị); Lý Sơn (Quảng Ngãi); Phú Quý (Bình Thuận); Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu); Phú Quốc, Thổ Chu (Kiên Giang)… cùng 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong vùng biển nước ta bên cạnh tiềm năng lớn về hải sản, rong biển, khoáng sản, dầu mỏ, còn có nhiều vũng, vịnh, hang động trên đảo, bãi tắm…, là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển, đảo Nắm bắt thế mạnh này, thời gian qua, nhiều điểm du lịch biển nổi tiếng đã được đầu tư phát triển… Để tăng sức hấp dẫn
và cạnh tranh cho du lịch biển, nhiều dịch vụ giải trí, thể thao biển đã được đưa vào
Trang 8hoạt động như: chèo thuyền du lịch, kéo dù bằng ca nô, lướt ván, đua thuyền, bóng
đá, bóng chuyền bãi biển,… đặc biệt là loại hình ngắm biển bằng dù lượn, kinh khí cầu, máy bay mô hình (ở biển Nha Trang, Đà Nẵng) hay bằng máy bay trực thăng (ở vịnh Hạ Long).
Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, du lịch, nhất là hệ thống cơ sở lưu trú ven biển cũng được đầu tư phát triển Tính đến nay, khu vực ven biển đã có gần 1.400 cơ sở lưu trú cung ứng trên 45.000 buồng Ngoài ra, với vị trí nằm giữa hai trung tâm du lịch tàu biển lớn trong khu vực là Hồng Kông và Singapore, Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển loại hình du lịch tàu biển Nhiều tàu biển du lịch quốc tế nổi tiếng thế giới như: Superstar Cemini, Costa Vitoria, Europa 2, Azamara…
đã đưa khách đến Việt Nam, mỗi chuyến chở từ 500 – 3.000 khách Tổng số khách tàu biển đến Việt Nam trong năm 2013 đạt hơn 190.000 lượt.
Hạn chế:
Tuy có tiềm năng lớn nhưng du lịch biển ở Việt Nam vẫn chưa thực sự phát triển, chưa tạo được sức cạnh tranh cao do còn tồn tại nhiều hạn chế như: dịch vụ du lịch còn thiếu, nghèo nàn; sản phẩm du lịch biển chưa đa dạng; an ninh trật tự và việc quản lý giá tại một số khu, điểm du lịch chưa đảm bảo; công tác xúc tiến, quảng bá
du lịch chưa mạnh; cơ sở hạ tầng giao thông chưa thực sự thuận tiện; kết cấu hạ tầng tại nhiều cảng biển còn hạn chế và việc định hình chức năng cảng biển du lịch chưa rõ ràng; chưa có bến tàu dành riêng cho du khách tàu biển; thiếu các dịch vụ
bổ trợ để du khách tàu biển lưu trú dài ngày…
Nhằm khắc phục những hạn chế cũng như tạo sức bật cho du lịch biển, đảo, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xây dựng đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020”.
Tuy nhiên, để du lịch biển đảo phát triển bền vững, tương xứng với tiềm năng và tạo được thương hiệu riêng thì ngoài việc phải khắc phục những hạn chế đã tồn tại nhiều năm qua thì cần có sự đầu tư và quản lý một cách chiến lược cả về cơ sở vật chất, dịch vụ và con người cho các trung tâm du lịch biển đảo đã được xác định Đặc biệt, cần phát huy yếu tố văn hoá của từng địa phương trong phát triển du lịch biển
để tạo dấu ấn riêng và thu hút khách du lịch quay trở lại nhiều lần
Trang 96 Vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Tài nguyên của Biển Đông phong phú và đa dạng Thống kê của FAO (1970) đã chỉ
rõ, trong số khoảng 30 triệu tấn cá khai thác được ở Thái Bình Dương hàng năm, tại vùng biển phía Bắc đã có xu thế giảm từ 14, 5 triệu tấn (1968) xuống đến 8 triệu tấn (1969); tại vùng biển phía Nam sản lượng từ 12 triệu tấn (1968) xuống 9 triệu tấn (1969); trong khi đó, tại vùng biển phía Tây (tức là Biển Đông) sản lượng từ 3,
8 triệu tấn (1968) tăng lên đến 12 triệu tấn (1969)
Điều đó chứng tỏ, tiềm năng khai thác cá ở vùng biển nước ta nói chung còn khá dồi dào, song cần sử dụng hợp lý mới có thể tránh khỏi những hậu quả như những biển lân cận Để bảo vệ nguồn lợi cá cũng như những nguồn lợi thủy sản khác
thường phải theo những hướng sau:
• Khai thác một cách hợp lý
• Khai thác đi đôi với nuôi trồng, thả thêm hải sản, làm giàu cho biển
• Bảo vệ sự đa dạng sinh học, các hệ sinh thái đặc trưng, các bãi cá đẻ, nơi sinh dưỡng, sinh sống của cá con và cá trưởng thành
• Duy trì nguồn muối dinh dưỡng cho biển, nhất là vùng gần bờ, kết hợp với việc bón phân cho các vùng nuôi trổng thủy sản
• Chống ô nhiễm các vùng biển
Những phương hướng trên bao gồm hàng loạt biện pháp tổng hợp, nhằm ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc bảo vệ vùng biển, bảo vệ thiên nhiên Khai thác hợp lý cá và các đối tượng sinh vật trong bất kỳ vùng nước nào là lấy đi một phần của trữ lượng tương đương với sự gia tăng hằng năm của trữ lượng đó không gây nên tình trạng các sinh vật mất khả năng khôi phục lại số lượng bình thường của quần thể, đồng thời đảm bảo hiệu quả kinh tế cao cho sản xuất
Nguồn lợi các sinh vật ở nước được hình thành trong tổ hợp các điều kiện của một hệ sinh thái, bởi vậy, hoạt động khai thác của con người phải được xem như một nhân tố quan trọng, có tác động đến sự biến đổi và tiến hóa của hệ thống đó Do vậy, nghề khai thác thủy sản phải được xây dựng và phát triển trên một cơ sở khoa học hiện đại, nhằm sử dụng tổng hợp các nguồn lợi ở nước một cách hợp lý
Trang 107 Hiện trạng khai thác đánh bắt nghề cá
Khoa học về nghề cá ra đời trong khi nghề cá đã và đang phát triển Nó đã thừa
kế hàng loạt các thành tựu của các khoa học khác mà trước tiên là khoa học sinh học Khoa học nghề cá rất quan tâm đến cơ sở lý luận về sự hình thành các dàn khai thác, dàn khai thác được hình thành bởi phần bổ sung, tức là phần bao gồm các cá thể lần đầu tiên bước vào dàn khai thác ( thế hệ sung sức, tang trưởng nhanh, sức sinh sản lớn) và phần còn lại, gồm những cá thể trong tuổi khai thác còn sót lại sau các lần đánh bắt ở những năm trước ( là những cá thể có tuổi cao khác nhau, hầu như đã đẻ ít nhất một lần trong đời, khả năng tái sản xuất, do đó, hoặc giảm hoặc
có trường hợp ngừng sinh sản )
Khai thác hợp lý một đối tượng nào đó tức là thu hồi một tỷ lệ thích hợp giữa phần bổ sung và phần còn lại cùa loại nhằm tạo khả năng cho loài phục hồi lại số lượng của mình sau một năm đánh bắt
Do khai thác không hợp lý, hiện nay, nghề cá của thế giới đã mất đi những đàn cá
có giá trị như cá mập ở Thái Bình Dương gần bờ Bắc Mỹ, đàn cá trai ở bờ châu Úc nhiều đàn khác đang có xu thế giảm số lượng của mình
Sự hủy hoại bãi cá đẻ có thể diễn ra do khai thác cũng như do các hoạt động kinh
tế khác Nghề cào đáy ven bờ đã phá hủy các bãi đẻ của nhiều loài cá cũng như các thủy sản khác Trong các đầm ven biển, te máy đã bắt một lượng lớn cá con, đồng thời hủy diệt bãi đẻ của cá đẻ trứng bám vào thực vật thủy sinh, lấp kín các hang
mà của nhiều đối thủy sản, trực tiếp bảo vệ các bãi cá đẻ, bãi cá con là nhiệm vụ rất quan trọng
Ô nhiễm nhiều vùng nước hủy hoại các bãi đẻ của nhiều loài, những lớp dầu máy lênh láng trên mặt nước vùng ven bờ, đặc biệt ở các cảng, những nơi khai thác dầu
mỏ trên thềm lục địa v v tạo nên một màng ngăn cách sự xâm nhập oxy trong không khí vào nước, gây nên tình trạng ngạt thở cho khu hệ sinh vật màng mỏng, tiêu diệt hàng loạt các sinh vật làm thức ăn cũng như trứng và ấu trùng các loài cá
đẻ trứng nổi
Ta chưa có những quy định và biệp pháp ngăn ngừa, cấm khai thác trong lúc cá
đẻ rộ Bởi vậy, sau những năm 60 đến nay, các đàn cá này hầu như mất khả năng