Triết học hiện sinh không chỉ ñặt ra hàng loạt các vấn ñề về tồn tại, bản chất, hiện sinh của cá nhân, mà nó còn dự báo những bước phát triển tiếp theo của lịch sử nhân loại.. Triết học
Trang 13 Mục ñích nghiên cứu của báo cáo
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Kết cấu của báo cáo
B NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TRIẾT HỌC HIỆN SINH
1.1 Thân phận con người
1.2 Tồn tại và bản chất
1.3 Những nhận ñịnh cơ bản về tư tưởng triết học con người Trong triết học hiện
sinh
CHƯƠNG II: NHỮNG XU THẾ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI CÁ NHÂN
TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Tính tất yếu của việc phát triển con người cá nhân trong bối
cảnh toàn cầu hoá ở Việt Nam hiện nay
2.2 Định hướng phát triển cá nhân trong bối cảnh toàn cầu hoá ở Việt Nam hiện
nay
C KẾT LUẬN
D.TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2Bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ của sự bùng nổ khoa học công nghệ và
toàn cầu hoá, vai trò của con người ñược khẳng ñịnh rõ rệt Nghiên cứu vấn ñề con
người ñặc biệt là vai trò, vị trí của con người cá nhân trở nên cấp thiết và quan
trọng hơn bao giờ hết Tuy nhiên, không phải ñến bây giờ vấn ñề cá nhân mới ñược
ñặt ra và nghiên cứu mà nó là dòng chảy xuyên suốt lịch sử của nhân loại Điều
khác biệt ở ñây là nghiên cứu con người dưới góc ñộ cá nhân trong bối cảnh toàn
cầu hoá Đây là nét ñộc ñáo mới mẻ, là ñề tài nghiên cứu có sức hấp dẫn của nhân
loại trong nhiều thập niên vừa qua Tiêu biểu cho xu hướng nghiên cứu ấy là triết
học hiện sinh- một trong những trào lưu triết học Phương Tây thế kỷ XX Triết học
hiện sinh không chỉ ñặt ra hàng loạt các vấn ñề về tồn tại, bản chất, hiện sinh của cá
nhân, mà nó còn dự báo những bước phát triển tiếp theo của lịch sử nhân loại Điều
này ñược cảm nhận khi thế giới bước vào xu thế toàn cầu hoá Sự giao lưu phát
triển ñến chóng mặt về kinh tế, chính trị, xã hội như hiện nay ñòi hỏi tất yếu là phát
huy vai trò năng ñộng sáng tạo của mỗi cá nhân Nói cách khác, phát triển cá nhân
trong xu thế toàn cầu hoá là một yêu cầu tất yếu của lịch sử –xã hội Vì vậy, người
viết ñã chọn ñề tài này nhằm làm rõ tư tưởng con người cá nhân trong triết học hiện
sinh, ñồng thời soi rọi nó trong xu thế phát triển toàn cầu hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Con người nói chung và con nguời cá nhân nói riêng là phạm trù tương ñối
rộng Nó sớm trở thành ñối tượng nghiên cứu của nhiều nghành khoa học khác
nhau.Vì vậy, ñã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn ñề, các công trình nghiên
cứu trực tiếp hoặc gián tiếp ñề cập ñến vấn ñề cá nhân trong chủ nghĩa hiện sinh và
trong xu thế toàn cầu hoá như :
Trang 3Lưu Phóng Đồng: Triết học phương Tây hiện ñại, Nxb CTQG, H 1994
Phạm Minh Lăng: Mấy trào lưu triết học phương Tây, H 1884
Phạm Minh Hạc(chủ biên): về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp
hoá- hiện ñại hoá NXB, CTQG HN 2001
Nguyễn Thái Sơn: Những yêu cầu ñặt ra ñối với con người trước sự phát triển của
CMKHCN hiện ñại H.2001
Trong những công trình trên, các tác giả một mặt làm rõ sự phát triển của chủ
nghĩa hiện sinh, thông qua ñó phân tích vấn ñề con người, tồn tại người (ba công
trình ñầu) Mặt khác, các tác giả cũng chỉ ra rằng trong thời kỳ công nghiệp hoá-
hiện ñại hoá ñất nước việc phát triển toàn diện con người là một tất yếu, song sự
phát triển ấy phải ñáp ứng những yêu cầu nhất ñịnh của sự phát triển xã hội (hai
công trình nghiên cứu sau)
Ngoài ra, vấn ñề này cũng trở thành ñề tài nghiên cứu rất phong phú của
nhiều luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ cũng như khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Ở một
khía cạnh khác, báo cáo xem xét và tiếp cận vấn ñề con người dưới góc ñộ cá nhân
của nó
3 Mục ñích nghiên cứu của báo cáo
Trên cơ sở phân tích con người cá nhân trong triết học hiện sinh, báo cáo làm
rõ những xu thế vận ñộng phát triển của con người cá nhân trong bối cảnh toàn cầu
hoá ở Việt Nam hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 4*Phương pháp lịch sử và phương pháp logic
*Phương pháp luận triết học Mac-Lênin và các phương pháp liên nghành
khác
5 Kết cấu của báo cáo
Với ñề tài trên, nghiên cứu ngoài phần mở ñầu và kết luận, gồm hai chương
và năm tiết
Trang 5CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TRIẾT HỌC HIỆN SINH
Nhiều trào lưu triết học thường coi việc nghiên cứu các hiện tượng thuộc vật
chất và ý thức là ñối tượng nghiên cứu của mình Từ những luận ñiểm rút ra qua sự
nghiên cứu ñó mà họ có cách lí giải khác nhau về vũ trụ, con người và ñời sống xã
hội Triết học hiện sinh có tham vọng thoát khỏi khuynh hướng quen thuộc ñó, họ
không chú ý ñến những vấn ñề như vật chất hoặc ý thức mà tập trung ñến vấn ñề
con người, tính nhân vị, tồn tại người và tự do Nhưng con người trong triết học
hiện sinh không phải là con người phổ quát nói chung, con người trừu tượng mà là
cá nhân, tức con người có những số phận ñộc ñáo riêng tư Con người ñó có một
tồn tại riêng, một bản chất riêng và một nỗ lực ñi ñến tự do của chính mình, kiến
tạo nên bản chất của chính mình Đó là bản chất của con người cá nhân-nhân vị
1.1 Thân phận con người
Vấn ñề thân phận con người ñã ñược các nhà triết học hiện sinh quan tâm
một cách sâu sắc Tuy nhiên, hầu hết họ ñều có cái nhìn tiêu cực về thân phận con
người, ñều cho rằng khi ra ñời con người ñã không mỉm cười mà cất tiếng khóc ñể
chào ñời Theo họ nỗi ñau khổ là tiền ñịnh của chính con người, con người ñau khổ
là vì cuộc ñời con người là một sự vứt bỏ vào trong thế giới Đó chính là giới hạn
của ñời người, tức là con người thấy mình là tất cả, luôn hướng về cái hoàn thiện
hoàn mỹ ñể vượt qua những hạn chế, thiếu sót, và khiếm khuyết Con người luôn bị
giam hãm trong những mâu thuẫn ấy khó có thể thoát ra ñược
Theo M Heidegger con người sống trong trần thế như những kẻ bị bỏ rơi,
những kẻ bị lưu ñầy Con người hiện diện trong cuộc ñời nhưng không biết mình ñi
từ ñâu và ñến ñâu? Con người chỉ biết mình tồn tại trong trần gian, bị ném vào một
thế giới xa lạ, phi ngã Trong ñó con người không có sự nương tựa, chống ñỡ nào
Trang 6khác ngoài chính hoàn cảnh sống của mình Vì thế con người luôn cảm thấy cô ñơn
ghẻ lạnh Song chính trong sự cô ñơn ñó con người vẫn tạo ra cho mình một cuộc
sống ý nghĩa, tự mình tạo nên chính mình trong chính sự ruồng bỏ Thân phận con
người do phải sống trong một tình trạng như vậy nên lúc nào cũng cảm thấy kinh
hoàng, lo âu, sợ hãi dẫn ñến trong cuộc sống có nhiều ñiều bất ổn, hiểm nguy
thiếu sự an toàn
Con người luôn sống trong tâm trạng lo âu, sợ hãi còn vì lúc nào cũng phải
ñối mặt với cái chết Dù con người tìm ñủ mọi cách trốn chạy ñể xa lánh cái chết
nhưng nó lại ñến với bất kì ai, lúc nào và ở ñâu Con người không thể thoát khỏi cái
chết Nhưng chính cái chết là một khả năng hiện thực, luôn ñe doạ con người nên
con người càng thấy trách nhiệm nặng nề lớn lao của mình trong lúc sống Buộc
con người phải nhận thức rõ ràng cảnh ngộ ñó của mình mà có sự lựa chọn ñúng
ñắn cho hành ñộng của mình Vì vậy, các nhà hiện sinh không chỉ nhìn thấy sự
buồn phiền trong những tâm trạng lo âu và sợ hãi ñó mà còn thấy ñó là nguồn gốc
của sự cố gắng, nhiệt tình, thiết tha với cuộc sống, là ñộng cơ thúc ñẩy, khích lệ
mọi hoạt ñộng của con nguời trong suốt cuộc ñời mình
Trong cuốn “Buồn nôn” Sartre viết ñời người là sự kinh tởm, ñáng buồn nôn
Nhưng buồn nôn cũng là nguồn ñộng lực, phát hiện ra cái cơ bản của hiện hữu, tức
là hiện sinh của con người, nó mang ñầy màu sắc giúp ta không chấp nhận cái thế
giới ñứng im khuôn sáo và trống rỗng hết sức trừu tượng Nếu một khi con người
không buồn nôn trước cái phi lí của cuộc ñời thì con người bị tha hoá, ñã ñánh mất
mình, trở thành người khác Chính sự tha hoá này dẫn con người ñến sự cô ñơn,
một mình ñi tìm tự do mà không bao giờ tới ñích Vì cuộc ñời là ñau khổ, là một
thảm kịch không sao tránh ñược Tận cùng của sự cô ñơn, lo âu là tuyệt vọng và cái
chết Nhưng ñối diện với chính mình, nhận ra mình, trở về với cái hiện sinh Đó là
tư tưởng khởi nguồn cho thuyết “chủ nghĩa hiện sinh hành ñộng” của J.P Sartre
Trang 7Ở một khía cạnh khác Jasperl cho rằng, thân phận con người ñược làm sáng
tỏ trong sự vận lộn ñấu tranh bền bỉ của con người giữa cái mà ông gọi là “quy
pháp ban ngày” và “ñam mê ban ñêm” Quy pháp ban ngày tượng trưng cho những
gì sáng sủa, minh bạch, qui tắc, trật tự và có ñạo ñức Đam mê ban ñêm là cái mà
tượng trưng cho những ñiều con người nhìn nhận một cách mơ hồ Mọi sự vật
dường như bị biến dạng, chuyển ñộng phong phú và linh hoạt Vì thế quy phạm ban
ngày là lí trí ñanh thép còn ñam mê ban ñêm là tình cảm tuôn trào Đam mê ban
ñêm có thể phá bỏ mọi trật tự, phép tắc, ñạo ñức mà quy phạm ban ngày tạo dựng
nên Nói cách khác, ñam mêm ban ñêm chính là những tình cảm ñược bắt nguồn từ
những nơi thâm sâu nhất, bí ẩn nhất trong con người, chúng có những sức mạnh
thật lớn lao, nhiều khi không có một lực vật chất, tình thần nào tiêu diệt, chôn vùi
ñược Nó có thể là sự ñối lập sâu sắc với lí trí, với những chuẩn mực qui tắc ñạo
ñức Con người chỉ thật sự hạnh phúc, siêu việt khi kết hợp hoàn hảo, tuyệt ñối
giữa lí trí và tình cảm, giữa qui pháp ban ngày và ñam mê ban ñêm Nhưng trên
thực tế, theo các nhà hiện sinh con người không thể kết hợp ñược hai ñiều ñó, nó
trở thành bi kịch lớn nhất của ñời người, làm cho thể hiện sinh của con người luôn
luôn trong thế thất bại
Cũng như Jasperl, A Camus nhìn thân phận con người ở khía cạnh: ñời là vô
nghĩa lí Con người luôn phải sống trong một thế giới vô nghĩa và phi lí Cái thế
giới mà ông gọi là “cái thế giới tầm thường, ghẻ lạnh- thế giới không có người”
Song ông cũng cho rằng dù phải sống trong thế giới vô nghĩa, phi lí như vậy nhưng
con người không thể thôi băn khoăn cho thân phận mình, nó thôi thúc con người
muốn làm một cái gì khác hơn ñể thân phận mình có khả năng tiến bước, vượt lên
trên thực trạng buồn thảm, ñen tối ấy ñể làm cho ñời người có một ý nghĩa nào ñó
Đây là tư tưởng trong “Thuyết nổi loạn” của ông
Như vậy, từ những nhận ñịnh về thân phận con người như trên, chủ nghĩa
hiện sinh bác bỏ mọi cách ñịnh nghĩa về con người của các trào lưu triết học trước
Trang 8ñây Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng người không phải là “con vật có lí trí” theo
nghĩa cổ ñiển hay thuyết duy lí của R.Descartes nhằm nhấn mạnh ñến chiều tư duy
của con người “Tôi tư duy vậy tôi tồn tại” Con người cũng không phải là một
thành phần trong “ý niệm tuyệt ñối” của Hegel mà con người là cá nhân tự khẳng
ñịnh trên cuộc ñời này với tất cả những ñặc tính chủ quan, từ chối mọi cố gắng hiểu
về con người theo tinh thần duy lí hóa Song chủ nghĩa hiện sinh khẳng ñịnh:
không có con người chung chung trừu tượng, vì vậy không có ñịnh nghĩa về con
người nói chung, mà con người chỉ ñược ñịnh nghĩa khi nó thể hiện tất cả cái hiện
sinh của mình Dù con người ñược quan niệm từ góc ñộ nào thì hầu hết các nhà
hiện sinh ñều có cái nhìn tiêu cực về thân phận con người Đều cho rằng con người
trần thế luôn luôn phải sống trong trạng thái kinh hoàng, lo âu và ưu tư Con người
bị ném vào trần gian với bao nhiêu khổ ải, ñầy ñoạ, bao nỗi tuyệt vọng ñặc biệt là
sự sợ hãi khi ñối diện với cái chết Nhưng cũng ở góc ñộ này chủ nghĩa hiện sinh
khẳng ñịnh tinh thần hiện sinh của con người luôn vượt lên mọi hoàn cảnh ñể
khẳng ñịnh mình, là chính mình
1.2 Tồn tại và bản chất
Tồn tại và bản chất là một trong những luận ñề quan trọng hàng ñầu của chủ
nghĩa hiện sinh Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng “ñối với con người, tồn tại có trước
bản chất”, và bất kì một sự vật nào ñều có một tồn tại và một bản chất
Một bản chất là một hệ thống bất biến những thuộc tính và một tồn tại nghĩa
là có sự hiện diện thật sự nào ñó ở trên ñời Các nhà triết học hiện sinh ñã phê phán
những quan ñiểm của các nhà triết học cho rằng: bản chất con người có trước, sau
ñó con người mới tồn tại Theo các nhà hiện sinh, sở dĩ những nhà triết học ñó mắc
phải sai lầm như vậy là do tôn giáo chi phối Vì theo tôn giáo con người, vạn vật
ñược Thượng Đế nặn ra, có sẵn bản chất rồi mới ném vào nhân gian vũ trụ Hoặc là
nó bắt nguồn từ sự sai lầm của các nhà duy lí, khoa học trước khi sản xuất ra vật gì
Trang 9ñã ñịnh rõ những tính chất, công dụng từ trước Các nhà hiện sinh cho rằng bản
chất không thể có trước tồn tại, mà chỉ khi tồn tại ñược xác lập mới xuất hiện một
bản chất của chính tồn tại ñó Vì vậy không thể có cái bản chất nói chung cho mọi
tồn tại
Nói về ñiều này J.P Sartre ñã ñưa ra quan ñiểm rằng: Ngay từ lúc ban ñầu,
con người không là gì cả, sau ñó rồi mới trở thành là thế này, hay thế kia tức là sẽ
là cái mình tạo nên Như vậy, không thể có một bản chất chung cho toàn nhân loại,
vì rằng không có một Thượng ñế nào cả ñể quan niệm về bản tính ñó Quan niệm
này ñược ông tiếp tục phát triển về sau, khi ông nhấn mạnh: “ở con người mà chỉ ở
con người mà thôi, tồn tại có trước bản chất” Điều ñó có nghĩa là con người phải
có trước ñã, phải tồn tại ñã rồi sau này mới thành thế này hay thế khác, tức là mới
có bản chất ở tác phẩm “Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân bản” ông ñã phê
phán triết học khi cho rằng có một bản chất c hung cho tất cả mọi bản chất của con
người Theo ông con người bằng những hoạt ñộng sáng tạo của mình sẽ sáng tạo
nên chính bản chất của mình Chính sự tồn tại của con người có trước bản chất ñã
tạo ra sự khác biệt giữa con người và ñộng vật Động vật chỉ là tồn tại tự nó, nó
không thể tự sáng tạo ra bản chất nó Ví dụ như con dao, ngôi nhà…bản chất có
trước khi con dao ra ñời, bản chất này ñược con người mang ñến cho nó chứ không
phải tự nó Riêng con người tự tạo ra bản chất của chính mình Như vậy, ở góc ñộ
này các nhà triết học hiện sinh ñã nhấn mạnh tính tích cực, sáng tạo của con người
trong hoạt ñộng tự do lựa chọn của chính mình Trong ý nghĩa này chủ nghĩa hiện
sinh là triết học hành ñộng, là chủ nghĩa nhân bản
Nhưng một câu hỏi ñặt ra trong triết học hiện sinh ñó là: tại sao chỉ ở con
người, tồn tại có trước bản chất? Trả lời câu hỏi này hầu hết các nhà triết học hiện
sinh ñều cho rằng: bởi vì trong thế giới chúng ta ñang sống chỉ có con người là tự
do
Trang 10Tự do theo chủ nghĩa hiện sinh không phải là tính tất yếu ñược nhận thức mà
là sự lựa chọn của mỗi cá nhân trong việc làm chủ thái ñộ ñối với cuộc sống J.P
Sartre cho rằng: tự do của con người có trước bản chất của con người Bản chất của
con người chỉ có ñược khi con người bằng sự tự do của mình, hoạt ñộng dấn thân
vào những hoàn cảnh của ñời sống ñể sáng tạo ra mình, sáng tạo ra bản chất của
mình Sở dĩ lại như vậy vì con người bị “ném” vào vũ trụ, con người hoàn toàn cô
ñơn, luôn phải sống trong cảm giác lo âu và sợ hãi Đó là cảm giác bi thiết nhưng
chính nó ñã ñánh thức cái hiện sinh trong bản thân mỗi người, giúp con người thức
tỉnh và lựa chọn Sự lựa chọn này là hoàn toàn là tự do, không bị chi phối bởi ai,
người nào hay hoàn cảnh nào Ngay cả khi con người không lựa chọn gì, vẫn là ñã
lựa chọn rồi
Điều ñó có nghĩa là: trong mọi hoàn cảnh, con người ñều có thể lựa chọn
một hay nhiều giả thiết Và chỉ sau khi con người lựa chọn, người ta mới biết chính
xác sự lựa chọn của người ñó là gì, và bản chất của người ñó ra sao Chủ nghĩa hiện
sinh cũng khẳng ñịnh: con người không chỉ lựa chọn một lần, mà có thể lựa chọn
nhiều lần, do con người phải sống trong nhiều hoàn cảnh khác nhau Bản chất của
con người theo ñó cũng luôn luôn thay ñổi, không có cái bản chất cuối cùng của
con người Như vậy, theo chủ nghĩa hiện sinh bản chất của con người tốt hay xấu,
hèn nhát hay anh hùng…ñều do sự lựa chọn của mỗi cá nhân Vì vậy, mỗi con
người sẽ tự mình, bằng tự do của mình sẽ lựa chọn và sáng tạo nên một bản chất
riêng cho chính mình – sáng tạo nên chính mình
Simone de beauvoir – nhà triết học nữ quyền người Pháp cũng ñồng tình với
Sartre khi cho rằng: ñặc ñiểm quyết ñịnh ñối với thân phận con người là tự do
Thậm chí bà còn nhấn mạnh “con người là tự do, loài người là tự do” ñiều ñó có
nghĩa là tự do là thuộc tính căn bản của con người Không có sự thật tiên quyết,
không có bản chất con người lí tưởng, không có một hệ thống ñặc ñiểm hay tính
chất xác ñịnh về con người khi ra ñời Do ñó, con người bị bỏ rơi, bị một mình
Trang 11trong thế giới không có các giá trị ñược xác lập sẵn, không có ý nghĩa tiền ñịnh và
cũng không có những nguyên tắc hay quy tắc phổ biến chỉ ra lí do hành ñộng Con
người hoàn toàn ñược tự do lựa chọn Vì vậy khi hiện hữu con người lập tức có tự
do Tự do là cái không thể trốn chạy, là bất khả xâm phạm và không ai có quyền
phê phán Tự do chính là tự do cá nhân, nó thuộc về những con người cụ thể và
ñược biểu hiện trong những hoàn cảnh riêng biệt Bởi vậy, mỗi người ñều có quyền
lựa chọn bất cứ cái gì và hành ñộng theo những gì mình ñã chọn Từ ñó con người
sẽ ñược ñịnh hình và xác ñịnh Nhưng beauvoid cũng nhấn mạng rằng: ñể ñạt ñược
tự do chân chính, với sự lựa chọn của riêng mình, con người cần phải phản ñối lại
sự áp bức của người này ñối với người khác, ñồng thời tạo ñiều kiện cho người
khác tự do, có ñiều kiện ñể lựa chọn Có như vậy mỗi người mới có ñược tự do của
mình, xây dựng ñược bản chất của mình Như vậy: với beauvoid, tự do không chỉ là
ñặc tính căn bản của con người, mà nó còn là tiêu chuẩn ñể xác lập luân lí Đây
cũng là tư tưởng hết sức căn bản của chủ nghĩa hiện sinh khi cho rằng: tồn tại có
trước bản chất và sự tự do lựa chọn của con người là chìa khoá xây dựng bản chất
của chính họ
Có thể nói, tư tưởng triết học “tồn tại có trước bản chất” là một nội dung triết
học quan trọng của chủ nghĩa hiện sinh Nó trực tiếp hoặc gián tiếp phê phán mạnh
mẽ, quyết liệt quan ñiểm “hữu thần luận” khi cho rằng con người do thượng ñế sinh
ra, bản chất của con người do thượng ñế sinh ra và quyết ñịnh Chủ nghĩa hiện sinh
ñã khẳng ñịnh ñiều ngược lại: chính con người chứ không ai khác tự tạo nên bản
chất cho chính mình Con người với sự hiện sinh của mình ñã thiết kế và kiến tạo
nên chính mình, một cá nhân riêng biệt và ñộc ñáo không phụ thuộc vào ai hay
hoàn cảnh nào Vì vậy, chỉ với con người – duy nhất con người “tồn tại có trước
bản chất”
1.3 Những nhận ñịnh cơ bản về tư tưởng triết học con người trong chủ nghĩa
hiện sinh
Trang 12Chủ nghĩa hiện sinh lấy ñối tượng trung tâm là con người, nhưng không phải
là con người nói chung, con người phổ quát mà là con người cá nhân, tồn tại ñộc
lập, mang tính thứ nhất ñối với xã hội Việc nghiên cứu con người như vậy có
những ñóng góp và hạn chế nhất ñịnh trong việc nghiên cứu con người hiện sinh
nói riêng và con người trong lịch sử triết học nói chung
* Những ñóng góp của triết học hiện sinh về con người
Đóng góp lớn nhất của triết học hiện sinh về con người ñó là sự ñề cao tính
tích cực cá nhân với tư cách là chủ thể sáng tạo lịch sử Cam kết tham gia vào hoạt
ñộng xã hội và kiến tạo bản chất của chính mình thông qua việc tự do lựa chọn
Theo các nhà hiện sinh, sự tự do lựa chọn ấy không những giúp con người
thoát khỏi những tâm trạng lo âu, sợ hãi, những tấn bi kịch ñang ñặt ra trong ñời
sống hàng ngày của họ mà nó còn giúp cho con người tìm lại và kiến tạo nên cái tôi
của mình Đó là một sự lựa chọn thể hiện ý chí, nghị lực luôn vượt lên trên mọi
hoàn cảnh của con người, luôn giữ lại cái tôi trong mọi hoàn cảnh trước mọi sự tha
hoá Đồng thời, cùng với sự tự do lựa chọn con người cảm thấy tự mình có trách
nhiệm với chính hành ñộng của mình, chính sự lựa chọn của mình sẽ sẵn sàng ñón
nhận những kết quả của sự lựa chọn ấy mà khồn trông chờ, ỷ lại vào hoàn cảnh hay
con người khác Đấy chính là sự ñộc lập mang tính chất tích cực cần ở mỗi con
người, mà chủ nghĩa hiện sinh ñã phát hiện ra
Không chỉ thấy ñược tính tích cực ở vai trò chủ thể của con người, mà trong
khi phê phán chủ nghĩa xã hội “kiểu trại lính” Chủ nghĩa hiện sinh ñã kêu gọi con
người “hãy là chính mình” và hãy “làm mình khác ñi” Tức là với mô hình xã hội
kiểu trại lính, người ta coi con người là bộ phận của tập thể, của cộng ñồng mà phớt
lờ lợi ích của cá nhân trong lợi ích cộng ñồng, lợi ích tập thể Chủ nghĩa hiện sinh
ñã kêu gọi và thức tỉnh con người ñấu tranh cho quyền lợi, cho lợi ích của chính
mình Làm mình thoát khỏi cái bóng của tập thể và cộng ñồng ñang bao trùm Rõ
Trang 13ràng, sẽ là rất tốt nếu con người biết “luôn là chính mình” khi mình sống ñúng
chuẩn mực của cộng ñồng, mang lại lợi ích cho cá nhân và cộng ñồng Đồng thời,
“hãy làm mình khác ñi” khi mình chưa tốt, sống chưa ñúng chuẩn mực của mình và
cộng ñồng Bên cạnh ñó, chủ nghĩa hiện sinh cũng ñã thấy ñược tính cực của con
người khi khẳng ñịnh: “ở con người tồn tại có trước bản chất” Bởi vì, một mặt nó
không chỉ phê phán quan ñiểm “hữu thần luận” mà chính là nó ñang chỉ ra cho
chúng ta thấy sự tích cực, chủ ñộng cần thiết của mỗi cá nhân trong thời ñại Toàn
cầu hóa hiện nay Như vậy, chủ nghĩa hiện sinh ñã kêu gọi và thức tỉnh cái tôi rất
cần thiết của mỗi người Đó là sự giải phóng con người bị giàng buộc bởi quá nhiều
luật tục và quy tắc khắt khe Đồng thời nó cũng thể hiện tinh thần nhân văn, nhân
ñạo ñối với con người trước mặt trái của sự bùng nổ khoa học công nghệ ngày nay
Đó là những giá trị căn bản của chủ nghĩa hiện sinh khi ñi sâu vào việc
nghiên cứu con người Nó không chỉ là ñóng góp ñương thời mà nó còn chứa ñựng
những giá trị tiềm ẩn ñang ngày càng khẳng ñịnh qua thời gian
* Những hạn chế của triết học hiện sinh về con người
Trước hết, chủ nghĩa hiện sinh nhìn nhận vấn ñề con người, số phận con
người hết sức bi quan Trong ñó, con người ñược mô tả như sự chết chẹt giữa cái
thế giới khách thể, mà nó ñang phải dựa vào ñể sống với cái thể giới siêu nghiệm
mà nó hướng tới Tức là: con người bị nuốt chửng trong thế giới khách quan, bị ñầy
vào cuộc sống lo âu và sợ hãi buộc nó phải hiện sinh, trở về với cái thế giới siêu
nghiệm của chính mình Vì thế theo các nhà hiện sinh, cuộc sống bên ngoài ñầy
một nỗi cô ñơn, trống rỗng, số phận con người thật là ảm ñạm và bi thảm Đời
người luôn bị cái chết ñe doạ nên không còn cách nào khác con người buộc phải
hiện sinh Hiện sinh trở thành tính thứ nhất của con người, con người cá nhân là số
một, phải ñược quan tâm và ưu tiên hàng ñầu