Một thắng lợi lớn của con người là phát hiên rằng khi các bề mặt làm việc được bôi trơn bằng dầu thì ma sát giảm xuống rất nhiều,... - Các chất bôi trơn dạng khí không khí, cacbonic, hel
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
PHẦN I TỔNG QUAN LÝ THUYẾT DẦU NHỜN VÀ BÔI TRƠN 2
I TỔNG QUAN VỀ DẦU NHỜN 3
I.1 MA SÁT VÀ NGUYÊN LÝ BÔI TRƠN 3
I.2 VAI TRÒ CỦA DẦU NHỜN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘNG CƠ 6
I.3 NHỮNG TÍNH CHẤT LY Ï- HOÁ CỦA DẦU NHỜN BÔI TRƠN 9
I.4 TÍNH CHẤT CÁC LOẠI DẦU GỐC CƠ BẢN DÙNG TRONG PHỐI TRỘN DẦU NHỜN 12
I.4.1 DẦU GỐC CHẾ BIẾN TỪ DẦU MỎ .12
I.4.1.1 Công nghệ sản xuất dầu gốc .12
I.4.1.2 Thành phần hydrocacbon của dầu gốc .16
I.4.2 DẦU GỐC TỔNG HỢP .17
I.4.2.1 Nhóm hydrocacbon tổng hợp .18
I.4.2.2 Nhóm các este hữu cơ .18
I.4.2.3 Nhóm este phosphat 18
I.4.2.4 Nhóm polyalkyl glycol .18
I.5 TÍNH CHẤT CÁC LOẠI PHỤ GIA DÙNG TRONG PHỐI TRỘN .19
I.5.1 Giới thiệu phụ gia .19
I.5.2 Các chủng loại phụ gia .20
I.6 PHÂN LOẠI DẦU NHỜN DÙNG CHO ĐỘNG CƠ ÔTÔ THEO TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ 24
I.6.1 Phân loại dầu động cơ theo cấp chất lượng API 24
I.6.2 Phân loại dầu nhờn động cơ theo cấp độ nhớt SAE .26
II CÁC CHẾ ĐỘ MÀI MÒN BỀ MẶT 28
II.1 GIỚI THIỆU 28
II.2 MÀI MÒN KẾT DÍNH .28
II.3 MÀI MÒN (L’USURE ABRASIVE) 34
II.4 MÀI MÒN ĂN MÒN 39
II.5 MÀI MÒN DO MỎI (L’USURE PAR FATIGUE) .42
II.6 MÀI MÒN PHỨC HỢP .44
II.6.1 Ăn mòn tiếp xúc .44
II.6.2 Mài mòn lỗ trống 46
II.7 MÀI MÒN TRONG ĐỘNG CƠ 48
II.7.1 Sự mài mòn trong hệ thống xupáp .48
II.7.2 Sự mài mòn trong hệ thống Piston - xecmăng - xylanh 48
Trang 2II.7.3 Sự ăn mòn ổ đỡ 49
III CÁC CHẾ ĐỘ BÔI TRƠN 50
III.1 CHẾ ĐỘ MA SÁT KHÔ .50
III.2 CHẾ ĐỘ BÔI TRƠN GIỚI HẠN 50
III.3 CHẾ ĐỘ BÔI TRƠN LƯU CHẤT 54
III.3.1 Chế độ hydrodynamique (HD) 54
III.3.2 Chế độ thuỷ động học đàn hồi (EHD) .56
III.4 CHẾ ĐỘ BÔI TRƠN HỖN HỢP .56
III.5 ĐƯỜNG CONG STRIBECK .56
III.6 LÝ THUYẾT TÍNH TOÁN LỚP PHIM DẦU .58
III.6.1 Cấu trúc bề mặt của các chi tiết tiếp xúc 58
III.6.2 Các giả thuyết tính toán lớp phim dầu bôi trơn 59
IV ĐỘNG CƠ XĂNG VÀ HỆ THỐNG BÔI TRƠN ĐỘNG CƠ 67
IV.1 ĐẶC TRƯNG KỸ THUẬT CỦA ĐỘNG CƠ XĂNG 67
IV.1.1 Đặc trưng về cấu tạo của động cơ xăng bốn thì 67
IV.1.2 Đặc trưng về hoạt động của động cơ xăng bốn thì .71
IV.2 CẤU TẠO HỆ THỐNG BÔI TRƠN ĐỘNG CƠ XĂNG BỐN THÌ 72
IV.2.1 Vai trò của hệ thống bôi trơn động cơ .72
IV.2.2 Các kiểu hệ thống bôi trơn động cơ .72
IV.3 CÁC CHI TIẾT CẦN BÔI TRƠN .82
PHẦN II PHỐI TRỘN DẦU NHỜN 15W- 40 .84
I GIỚI THIỆU 84
II CÔNG ĐOẠN TÍNH TOÁN PHỐI TRỘN .85
II.1 CƠ SỞ CHỌN DẦU GỐC VÀ PHỤ GIA 85
II.2 SO SÁNH TÍNH KINH TẾ CỦA CÁC TỔ HỢP PHỐI TRỘN .99
PHẦN III CÁC PHÉP THỬ DẦU NHỜN ĐỘNG CƠ .101
I GIỚI THIỆU .102
II TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÁC PHÉP THỬ ĐỘNG CƠ TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM .102
III CÁC PHƯƠNG PHÁP THỬ NGHIỆM ĐỘNG CƠ XĂNG BỐN THÌ CHỦ YẾU HIỆN NAY .103
PHẦN IV TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG .108
I GIỚI THIỆU 109
II PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN AN TOÀN MÔI TRƯỜNG .110
III TÁI SINH DẦU NHỜN .111
III.1 GIỚI THIỆU .111
III.2 BẢN CHẤT CỦA TÁI SINH DẦU THẢI .111
III.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP TÁI SINH DẦU THẢI .112
Trang 3III.4 SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ TÁI SINH DẦU THẢI .116 III.5 NHỮNG HIỂU BIẾT KHI SỬ DỤNG DẦU BÔI TRƠN .117 PHỤ LỤC
KẾT LUẬN
Trang 4MỞ ĐẦU
Cách đây 100 năm, thậm chí con người vẫn chưa có khái niệm về dầu nhờn Tất cả các loại máy móc lúc bấy giờ đều được bôi trơn bằng dầu mở lợn và sau đó dùng dầu Ôliu Khi dầu Ôliu khan hiếm thì người ta chuyển sang sử dụng các loại dầu thảo mộc khác Ví dụ : Để bôi trơn cọc sợi máy dệt người ta sử dụng đến dầu cọ Khi ngành chế biến dầu mỏ ra đời, sản phẩm chủ yếu tại các nhà máy chế biến dầu mỏ là dầu hỏa, phần còn lại là mazút (chiếm 70 - 90%) không được sử dụng và coi như bỏ đi Khi ngành công nghiệp dầu mỏ phát triển với số lượng cặn mazút càng ngày càng lớn, buộc con người phải nghiên cứu để sử dụng lại vào mục đích có lợi
Lúc đầu người ta lấy cặn dầu mỏ chưng cất hoặc dầu mỏ được pha thêm vào dầu thảo mộc hoặc mỡ lợn với tỷ lệ thấp để tạo ra dầu bôi trơn, nhưng chỉ ít lâu sau nờiii ta đã biết dùng các sản phẩm dầu mỏ để chế tạo ra dầu nhờn
Năm 1970 ở Creem (Nga) tại nhà máy Xakhanxkidơ bất đầu chế được dầu nhờn từ dầu mỏ Nhà bác học Nga nổi tiếng D.L.Mendeleép là một trong những người đầu tiên chú ý đến vấn đề dùng mazút để chế ra dầu nhờn
Năm 1870 - 1871 Ragorzin đã xây dựng một xưởng thí nghiệm dầu nhờn quy mô nhỏ Lúc đầu chưng tách được 1 - 1.5% dầu hỏa và sau đó từ cặn còn lại chế được dầu nhờn
Năm 1876 - 1877 Ragorzin xây dựng ở Balakhan nhà máy chế biến dầu nhờn đầu tiên trên thế giới có công suất 100000 put/năm Nhà máy đã sản xuất được ba loại dầu nhờn sau :
- Dầu cọc sợi
- Dầu máy
- Dầu trục cho toa xe mùa hè và mùa đông
cặn còn lại trong tháp chưng cất được dùng để cho vào các bánh xe thay cho cặn chưng cất
Phát huy kết quả đó Năm 1879 Ragorzin đã cho xây dựng ở Conxtantinop nhà máy thứ hai chuyên sản xuất dầu nhờn để xuất khẩu
Cùng với ngành công nghiệp và ngành vận tải đường sắt phát triển mạnh mẽ, nhu cầu về dầu nhờn tăng lên rất nhanh Các nhà máy sản xuất dầu nhờn có chất lượng ngày một cao hơn được xây dựng lại, mở rộng và đặt nền móng cho sự thăng tiến hùng hậu của ngành chế tạo dầu nhờn
Ngày nay với những tiến bộ khoa học không ngừng, con người đã xây dựng được những tháp chưng cất chân không hiện đại thay thế cho những nhà máy chưng cất cũ kỷ với những tháp chưng cất có công suất thấp
Trang 5Những phương tiện tinh chế mới, trên cơ sở sử dụng đất trắng và các dung môi chọn lọc khác đã được áp dụng Một số nhà máy mới cũng được sử dụng để chuyên sản xuất ra các chất phụ gia dầu cho vào dầu nhờn.Nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cho các loại dầu nhờn.Ngành sản xuất dầu nhờn tổng hợp đã và đang được phát triển không ngừng
Hiện nay trên thế giới có hơn 5000 chủng loại dầu nhờn, phụ thuộc vào từng điều kiện môi trường, địa lý, diiều kiện hoạt động Của các tập đoàn sản xuất lớn như
BP, Castrol, Exson, Mobil, Total, Esso Họ cũng đang áp dụng những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật Dưa ngành công nghiệp dầu mỏ hàng năm tăng trưởng không ngừng và sản xuất dầu nhờn cũng không ngừng được nâng cao về chất lượng cũng như số lượng, sáng tạo thêm nhiều loại dầu mới trong tương lai
Trang 6PHẦN I TỔNG QUAN LÝ THUYẾT DẦU NHỜN VÀ BÔI TRƠN
I TỔNG QUAN VỀ DẦU NHỜN
I.1 MA SÁT VÀ NGUYÊN LÝ BÔI TRƠN
việc tìm hiểu về ma sát và nguyên lý bôi trơn là công việc đầu tiên cần thiết trước khi đi vào nghiên cứu dầu nhờn và chất lượng dầu nhờn Nếu nắm vững được hai vấn đề này thì mới có thể dễ dàng tiếp cận và tìm hiểu ảnh hưởng của dầu nhờn đối với quá trình hoạt động của các thiết bị máy móc, động cơ
I.1.1 Sơ lược về ma sát
khi một vật dịch chuyển trên bề mặt của một vật khác thì sẽ xuất hiện một lực gọi là lực ma sát Lực đó cản trở lại chính chuyển động của vật thể ấy
trong một số trường hợp thì lực ma sát cũng có ích Ví dụ : Lực ma sát dùng trong các cổ phanh, các truyền động dây đai
Trong nhiều trường hợp khác thì ma sát rất có hại Ví dụ : Chuyển hóa năng lượng từ dạng này sang dạng khác, cơ năng biến thành nhiệt năng Để khắc phục được hiện tượng ma sát [phải tiêu tốn một phần năng lượng khá lớn
Có nhiều dạng ma sát :
-Ma sát trượt : Khi một vật rắn chuyển động trượt trên một vật khác Bề mặt của chúng tiếp xúc với nhau thì sẽ sinh ra lực ma sát gọi là lực ma sát trượt
- Ma sát lăn : khi một vật hình cầu, hình tròn, hình trụ tròn lăn trên bề mặt của một vật khác và hai vật tiếp xúc với nhau tai một điểm hoặc một đường thẳng thì sinh
ra lực ma sát gọi là ma sát lăn
Ma sát trượt thường lớn gấp 10 - 100 lần ma sát lăn (trong trường hợp ma sát khô) Nguyên nhân của ma sát khô :
- Do sự liên kết cơ học của các chổ lồi (vi nhấp nhô ) trên bề mặt vật rắn
- Do tác động tương hổ giữa các phân tử của các bề mặt làm việc tại các điểm tiếp xúc
Hiện tượng ma sát luôn kéo theo sự hao phí công suất nhằm khắc phục ma sát và làm tỏa nhiệt, gây mài mòn các chi tiết làm việc Sự hao phí công suất , tỏa nhiệt và mài mòn là ba bản đồng hành không rời nhau và không chỉ riêng đối với ma sát khô mà là tất cả của các dạng ma sát
Tùy theo điều kiện và dạng ma sát mà mỗi một trong số các bản đồng hành đó có thể rất lớn hoặc chỉ cảm nhận được mà thôi
Trong khi cố gắng giảm bớt hao phí sức để khắc phục ma sát, con người đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau Một thắng lợi lớn của con người là phát hiên rằng khi các bề mặt làm việc được bôi trơn bằng dầu thì ma sát giảm xuống rất nhiều,
Trang 7thậm chí ma sát trượt ở các bề mặt được bôi trơn có thể nhỏ hơn ma sát lăn nữa (trong một số điều kiện nhất định)
Khi có hai bề mặt chuyển động lên nhau được ngăn cách bởi một lớp dầu thì sẽ xuất hiện ma sát ướt, tức là ma sát trong bản thân lớp dầu giữa các phân tử dầu Lượng tổn thất năng lượng trong ma sát ướt so với ma sát khô thì nhỏ hơn rất nhiều
Ma sát ướt so với ma sát khô có nhiều ưu điểm hơn như :
- Độ mài mòn các chi tiết giảm đi rất rõ rệt
- Tổn thất công suất chống ma sát giảm đi
- Các chi tiết bị nóng ít hơn
- Các vật ma sát có thể chịu được tải trọng lớn hơn
- Nâng cao độ bền và kéo dài thời gian hoạt động của các chi tiết làm việc
Khi thiết kế và chế tạo máy móc, thì những nhà thiết kế và chế tạo sẽ phải cố gắng để đạt được mối lắp ghép của các chi tiết cọ xát mà khi làm việc chúng được ngăn cách bởi một lớp dầu sao cho nó được ma sát ướt tốt nhất
I.1.2 Sơ lược về nguyên lý bôi trơn
Trên thực tế, người ta có thể sử dụng các vật liệu bôi trơn ở dạng khí, dạng lỏng, dạng nữa rắn, dạng rắn
- Các chất bôi trơn dạng khí (không khí, cacbonic, heli, các khí dẫn xuất halogen của hydrocacbon và một số khí hữu cơ khác ) được dùng cho các máy móc có tải trọng nhỏ, quay với tốc độ lớn như máy siêu ly tâm, dùng cho máy móc hoạt động
ở nhiệt độ cao như động cơ đẩy phản lực, tên lữa, dùng trong ngành công nghiệp thực phẩm, dệt, hóa chất nơi mà tất cả mọi sự nhiễm bẩn cần được loại trừ
- Các chất bôi trơn dạng lỏng được dùng nhiều nhất trong các máy móc, thiết bị chịu tải trọng lớn như các loại động cơ, tuốc bin hơi nước, các bánh răng quay nhanh Trong trường hợp bôi trơn ướt sự ngăn cách các bề mặt ma sát được thực hiện bằng một lớp màng thủy động lực mỗi khi có điều kiện cho phép và như vậy đặc tính quan trọng nhất của chất bôi trơn lỏng là độ nhớt
- Các chất bôi trơn nữa rắn
Các chất bôi trơn nữa rắn, có thể ở dạng dẻo hay dạng huyền phù hoặc nhũ tương Dạng chất bôi trơn dẻo như các chất béo gốc động thực vật, các chất béo đã xà phòng hóa, petroleum, các sản phẩm tổng hợp Các loại xà phòng kim loại như xà phòng nhôm, canxi, natri, liti, chì Được dùng nhiều trong sản xuất mỡ nhờn gốc dầu mỏ Trong sản xuất các máy nông, lâm, máy móc xây dựng cần dùng nhiều các loại mỡ nhờn bôi trơn dạng dẻo, các chất bôi trơn nữa rắn như các hỗn
Trang 8hợp huyền phù, nhũ tương của một số chế phẩm phân tán vi dị thể trong nước được dùng nhiều trong gia công kim loại
- Các chất bôi trơn dạng rắn
Các chất bôi trơn dạng rắn được dùng nhiều trong các điều kiện đặc biệt như điều kiện bên ngoài khí quyển trái đất, sâu dưới lòng nước, trong pin nguyên tử hoặc ở nhiệt độ cao Các chất bôi trơn rắn thường là các kim loại mềm như chì, thiếc, đồng ở dạng tấm lá rất mỏng, các hợp chất muối kim lọa hoặc muối phức như các sulfua, clorua, phosphat, iodua
Trong số các dạng vật liệu bôi trơn chiếm đa phần là dạng lỏng và kế đến là dạng dẻo Do đó ở đây ta chỉ quan tâm xét đến nguyên lý bôi trơn đối với chất lỏng Chất lỏng để bôi trơn gọi là dầu nhờn hay dầu bôi trơn
Yêu cầu trước hết là dầu nhờn phải có khả năng chảy loang trên bề mặt kim loại Tính chất phức tạp này thường gọi với nhiều tên như : Tính bôi trơn, khả năng bôi trơn, tính bám dính Và ngày nay thì chúng ta quen sử dụng nó với khái niệm là tính chất bôi trơn
Dầu nhờn có tính chất bôi trơn thì dễ chảy loang trên bề mặt kim loại, đi vào những khe hở nhỏ và bám chắc lên bề mặt Ngược lại, nếu nó không có tính chất đó thì không có khả năng chảy loang trên bề mặt lim loại và không thể chảy được vào các khe nhỏ Lực liên kết giữa các phân tử với nhau cũng là tính chất cần thiết của dầu nhờn dùng làm chất bôi trơn
Lực liên kết giữa các phân tử của dầu nhờn càng lớn thì lực ma sát giữa các phân tử chuyển động của dầu nhờn càcng lớn.Lực ma sát trong của dầu bôi trơn, tức là lực
ma sát sinh ra giữa các phân tử chuyển động của dầu bôi trơn gọi là độ nhớt
N.P.Petrop đã hình thành nên môn khoa học nghiên cứu chuyển động của dầu bôi trơn gọi là thuyết bôi trơn thủy động học
Áp dụng lý thuyết bôi trơn thủy động học vào thiết kế, chế tạo và sử dụng máy móc người ta đã khẳng định được các yếu tố cơ bản sau :
-Số lượng ma sát của các chi tiết làm việc phụ thuộc vào điều kiện làm việc chủ yếu của chúng
- bề dày của lớp phim dầu để đảm bảo bôi trơn
- Tác dụng làm mát của dầu nhờn
- Dầu có độ nhớt phù hợp với từng điều kiện làm việc
Để thực hiện bôi trơn ổ đỡ với lượng hao phí công suất do ma sát nhỏ nhất cần phải tính đến hàng loạt yếu tố : Độ nhớt của dầu, tải trọng trên ổ đỡ, tốc độ chuyển động của các chi tiếàm việc, diện tích các bề mặt làm việc, khe hở giữa các chi tiết làm việc, tình trạng nhiệt độ của ổ đỡ
Trang 9Ngày nay, có nhiều phương pháp tính toán bôi trơn lỏng cho các chi tiết ma sát, nhưng đều dựa trên cơ sở những nguyên lý bôi trơn thủy động do Petrop đưa ra Trong thực tế, nếu không đề cập đến các tính toán chúng ta cũng có thể ứng dụng những nguyên lý cơ bản rút ra từ lý thuyết bôi trơn thủy động như sau :
- Trong trường hợp ma sát lỏng, nếu độ nhớt của dầu, tốc độ trượt của các chi tiết làm viềc và bề mặt tiếp xúc của chúng tăng thì lượng tổn thất do ma sát sẽ tăng lên
- Độ nhớt của dầu tăng lên, tải trọng của các chi tiết làm việc giảm thì độ bền bôi trơn lỏng sẽ tăng lên
- Đối với các chi tiết làm việc có chuyển động nhanh cần dùng dầu có độ nhớt thấp và ngược lại
- Khe hở giữa các chi tiết làm việc càng lớn thì dầu bôi trơn càng cần có độ nhớt cao
- Tải trọng trên các chi tiết làm việc càng lớn thì độ nhớt càng cao
I.2 Vai trò của dầu nhờn trong hoạt động của động cơ
Trong quá trình hoạt động của động cơ, dầu nhờn có sáu công dụng như sau : Bôi trơn, chống mài mòn, chống ăn mòn kim loại, làm mát và làm sạch động cơ.Dưới đây ta sẽ xem xét sáu công dụng đó
I.2.1 Dầu nhờn bôi trơn máy
Trong tất cả các công dụng của dầu nhờn thì công dụng quan trọng nhất là bôi trơn các bề mặt có chuyển trượt giữa các chi tiết, làm giảm ma sát, do đó giảm tổn thất
cơ giới trong động cơ nên làm tăng hiệu suất có ích của toàn động cơ, tức là tăng tính hiệu quả kinh tế cho hoạt động của động cơ
Nguyên nhân của việc giảm ma sát là do khi bôi trơn sẽ có sự thay thế ma sát trực tiếp giữa các chi tiết máy bằng ma sát nội tại của màng chất bôi trơn ngăn cách các chi tiết máy Ma sát nội tại giữa các màng chất lỏng này luôn nhỏ hơn rất nhiều so với các dạng ma sát khác Ví dụ các hệ số ma sát động học giữa các trục thép
- Ma sát trực tiếp không có dầu bôi trơn : 0,8 - 1,0
- Có dầu động vật ở chế độ bôi trơn giới hạn : 0,05 - 0,10
- Có dầu nhờn ở chế độ bôi trơn thủy động : 0,001 - 0,01
- Có dầu ở chế độ bôi trơn thủy tĩnh : 0,000001 - 0,001
I.2.2 Dầu nhờn làm giảm mài mòn máy
Công dụng bôi trơn của đầu nhờn là giảm ma sát, không chỉ tăng hiệu suất hữu ích của động cơ mà còn tác dụng ngăn chặn tối đa sự mài mòn xảy ra ở các nơi có những chuyển dịch tương đối giữa các bề mặt với tốc độ thấp, ở giữa những bề mặt chịu tải cao trong những trường hợp này màng dầu bôi trơn dễ có khả năng bị
Trang 10phá hũy nên yêu cầu trong dầu bôi trơn phải có những phụ gia chống mài mòn Khi đó ở điều kiện nhiệt độ và áp lực cao dầu vẫn có khả năng tạo thành trên các chi tiết kim loại một màng chất bảo vệ bền vững, chúng sẽ trượt dọc theo nhau mà không gây hiện tượng mài mòn các bề mặt kim loại
I.2.3 Dầu nhờn chống ăn mòn kim loại
Nước là một nguyên nhân gây nên sự gỉ sét của các chi tiết được chế tạo từ hợp kim có chứa sắt Mỗi một thể tích nhiên liệu đốt cháy trong động cơ sinh ra hơn một thể tích nước Mặc dù phần lớn phần lớn lượng nước này ở thể hơi và thoát ra qua ống xả, tuy nhiên vẫn còn một ít động lại trong lòng xylanh hay lọt qua xecmăng và ngưng lại trong cacte Hiện tượng này thường xảy ra khi thời tiết lạnh hay khi động cơ chưa được sưởi ấm Thêm vào đó các sản phẩm phụ sinh ra do nhiên liệu cháy chưa hoàn toàn, những khí cháy có tính ăn mòn cũng lọt qua xecmăng rồi ngưng lại hoặc hào tan trong dầu ở cacte Ngoài ra còn các chất axít được tạo thành do sự oxy hóa dầu, vì vậy khả năng tạo rỉ sét và ăn mòn càng trỏ nên trầm trọng Các chi tiết cần được bảo vệ chống lại sự ăn mòn và chống gỉ Màng dầu bôi trơn phủ trên bề mặt các chi tiết chịu ma sát có tác dụng chống rỉ sét cho các máy móc trong thời gian hoạt động, nhất là ở những bộ phận ẩm ướt Ngoài ra chúng còn có tác dụng hạn chế tối đa sự lan truyền của các axít sinh ra trong quá trình cháy của các nhiên liệu có chứa nhiều lưu huỳnh.Tuổi thọ của động
cơ phụ thuộc một phần vào khả năng trung hòa của dầu máy đối với những hợp chất có tác dụng ăn mòn
Để dầu nhờn bảo đảm được chức năng này phải dùng các loại phụ gia mang tính kiềm, có tác dụng trung hòa các axít tạo ra khi nhiên liệu cháy
Thông thường trong quá trình sử dụng dầu nhờn, hàm lượng phụ gia này sữ giảm dần, khi tỷ lệ phụ gia thấp dưới hàm lượng cho phép thì dầu không còn đủ phẩm chất nữa và phải thay thế
I.2.4 Dầu nhờn làm mát máy
Do ma sát, tại các bề mặt làm việc như Piston - xylanh, trục khủyu - bạc lót Đều phát sinh nhiệt Mặt khác một số chi tiết như Piston, vòi phun còn nhận nhiệt của khí cháy truyền đến Do đó nhiệt độ ở một số chi tiết rất cao, có thể phá hỏng điều kiện làm việc của động cơ như gây ra bó kẹt, giảm độ bền của các chi tiết, gây kích nỗ ở động cơ xăng, giảm hệ số nạp Do đó nhằm giảm nhiệt độ của các chi tiết máy cần có hệ thống làm mát trong quá trình hoạt động của động cơ
Trên thực tế, hệ thống nước làm mát chỉ làm mát được khoảng 60% các chi tiết cần được làm mát Nước làm mát phần trên của động cơ như các đỉnh xylanh, lòng xylanh, các van Còn trục khủyu, các ổ đở, trục cam, các bánh răng, piston và