trong khu vực đã giải quyết câu hỏi đó một cách tích cực với những chính sách mạnh mẽ phát triển công nghệ thông tin trong những thập niên gần đây, đưa đến những kết quả to lớn đáng cho
Trang 1GIÁO TRÌNH
TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Trang 2Mục lục
I MỞ ĐẦU 4
II CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN 5
1 Thông tin và các quá trình thông tin 5
2 Từ thông tin đến công nghệ thông tin 7
3 Những mốc quan trọng trong sự phát triển của máy tính điện tử và công nghệ thông tin 9
4 Công nghệ thông tin và truyền thông - động lực của sự phát triển 17
5 Con đường đi tới xã hội thông tin 20
6 Những nguyên tắc cơ bản để hình thành và phát triển xã hội thông tin 22
7 Những mục tiêu cần đạt tới 26
III CHÍNH SÁCH QUỐC GIA VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở MỘT SỐ NƯỚC 27
1 Phần Lan 27
2 Nhật Bản 28
3 Cộng hoà Liên bang Đức 30
4 Đan Mạch 31
5 Ấn Độ 32
6 Cuba 32
7 Côxta Rica 33
8 Extonia 33
9 Mali 34
10 Các quốc đảo nhỏ đang phát triển 34
IV CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở NƯỚC TA 35
1.Một số kết quả đã đạt được 35
Về công nghiệp máy tính 35
Về đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin 36
Về phát triển cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, Internet 37
Về công nghiệp phần mềm 40
Về công tác quản lý nhà nước và môi trường ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin 40
Về ứng dụng công nghệ thông tin 41
2 Một số tồn tại cần khắc phục 44
PHỤ LỤC 46
CHỈ THỊ 46
về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin 46
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá 46
QUYẾT ĐỊNH 55
của Ban Bí thư ban hành Đề án tin học hoá hoạt động 55
của các cơ quan Đảng giai đoạn 2001-2005 55
Trang 3ĐỀ ÁN
TIN HỌC HÓA HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN ĐẢNG
GIAI ĐOẠN 2001 - 2005 56
(Ban hành kèm theo Quyết định số 47- QĐ/TW, ngày 06 tháng 8 năm 2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng) 56
1- Những kết quả chính 56
2- Những hạn chế và tồn tại 57
1- Mục tiêu chung 58
2- Mục tiêu cụ thể 59
1- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung 61
2- Xây dựng hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp 63
3- Bồi dưỡng, tập huấn, đào tạo 63
4- Mở rộng, hoàn thiện và nâng cấp mạng thông tin diện rộng của Đảng 64
5- Xây dựng hệ thống an toàn, bảo mật 64
6- Bổ sung, hoàn chỉnh quy định, quy chế về quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ mạng 65
IV- ĐẦU TƯ 65
1- Yêu cầu đầu tư 65
2- Phân cấp đầu tư 65
3- Dự toán kinh phí 66
V- TỔ CHỨC THỰC HIỆN 66
1- Xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án cụ thể 66
2- Tổ chức bộ máy 67
3- Về cán bộ 67
4- Về chính sách 68
5- Tiến độ thực hiện 68
6- Trách nhiệm thực hiện 68
Trang 4I MỞ ĐẦU
Cuộc cách mạng công nghệ thông tin diễn ra sôi động hiện nay đang tác động sâu sắc và trực tiếp đến mọi mặt hoạt động kinh tế xã hội của hầu khắp các quốc gia trên thế giới, mở ra một thời kỳ phát triển mới khi nhân loại bước vào thế kỷ XXI Nội dung chủ đạo của bước chuyển biến lần này là
sự phát triển từ nền văn minh công nghiệp tiến lên nền văn minh thông tin và trí tuệ, mà cơ sở của nó là sự phát triển từ nền kinh tế công nghiệp truyền thống sang nền kinh tế thông tin Về cơ bản, bước chuyển biến này được nẩy sinh và thực hiện chủ yếu tại các nước đã có nền kinh tế công nghiệp phát triển; tuy nhiên, với xu thế “toàn cầu hoá” nhanh chóng hiện nay, tác động của bước chuyển biến vĩ đại này đã lan toả nhanh chóng đến khắp các nước trên thế giới, tạo ra những cơ hội to lớn và đồng thời cũng là những thách thức to lớn cho các nước đang phát triển đang tìm đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế và xã hội của mình
Công nghệ thông tin bao gồm tất cả các hoạt động và các công nghệ chứa đựng các nội dung xử lý thông tin bằng các phương tiện điện tử, từ việc thu thập, lưu trữ, tìm kiếm, chế biến, truyền đưa, đến sử dụng thông tin trong mọi lĩnh vực của sản xuất, kinh tế và đời sống con người Với những tiến bộ nhanh chóng kỳ diệu của kỹ thuật máy tính và kỹ thuật viễn thông trong vài thập niên gần đây, công nghệ thông tin thực sự đã thâm nhập rộng khắp vào mọi mặt hoạt động của con người, đưa đến những biến đổi to lớn trong việc tự động hoá các quá trình sản xuất, nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ vốn có, tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ mới, thúc đẩy các quá trình đổi mới tổ chức và quản lý kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, v.v Trong giai đoạn mới của sự phát triển kinh tế và xã hội dưới tác động của công nghệ thông tin, tri thức và các ý tưởng sáng tạo đóng vai trò trung tâm
có ý nghĩa quyết định, do đó sự chuyển biến sang nền kinh tế thông tin đòi hỏi phải tăng cường giáo dục, thực sự đổi mới và tìm nhiều cách thức mới cho giáo dục, cho việc phát triển nhanh chóng nguồn nhân lực và lao động có chất lượng cao, phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ của đất nước Ngày nay, hầu hết các quốc gia, các tổ chức và các công ty đều hiểu rằng vị trí tương lai của họ trong thế giới và trên thị trường quốc tế phụ thuộc một cách quyết định vào việc liệu họ có tận dụng được công nghệ thông tin để phát triển một cách nhanh chóng mọi năng lực đổi mới nền sản xuất và kinh tế của họ hay không? Không những đối với các nước phát triển, mà nhiều nước đang phát triển
Trang 5trong khu vực đã giải quyết câu hỏi đó một cách tích cực với những chính sách mạnh mẽ phát triển công nghệ thông tin trong những thập niên gần đây, đưa đến những kết quả to lớn đáng cho chúng ta học tập.
Ở nước ta, trước yêu cầu đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh phát triển mới của thế giới hiện đại, việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới và phát triển mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội trở thành rất cấp thiết Chỉ thị 58 BCT đã chỉ rõ:
“Công nghệ thông tin nhân lên sức mạnh tinh thần, vật chất, trí tuệ của toàn dân tộc; là động lực mạnh mẽ thúc đẩy đổi mới và phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế…”
II CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN
1 Thông tin và các quá trình thông tin
Theo nghĩa thông thường, thông tin là điều hiểu biết về một sự kiện,
một hiện tượng nào đó, thu nhận được qua khảo sát, đo lường, trao đổi, nghiên cứu, v.v… Kỹ thuật về thông tin được phát triển đầu tiên là kỹ thuật truyền tin Việc nghiên cứu lý thuyết truyền tin vào cuối những năm 40 đã
làm cho thông tin trở thành đối tượng của nghiên cứu khoa học, và lượng thông tin thu được về việc xẩy ra một sự kiện nào đó được xác định là bằng độ bất định của sự kiện đó trước khi biết nó xẩy ra Như vậy, khoa học về thông tin đã phát hiện một thuộc tính cơ bản của thông tin là đối lập với bất định và
ngẫu nhiên, do đó nó phản ánh cái tất định, trật tự của các sự vật và hiện tượng Trật tự cũng là thuộc tính cơ bản của tổ chức, vì vậy nói chung thông tin phản ánh tính trật tự và tổ chức của các hệ thống Mối quan hệ này cho ta một “cách tiếp cận thông tin” có tính chất phổ biến khi nghiên cứu các vấn đề
về tổ chức và điều khiển, quản lý trong các hệ thống kỹ thuật, kinh tế, xã hội,
sự sống…
Trong đời sống hàng ngày, các quá trình thông tin thường bao gồm các loại hoạt động như thu thập, lựa chọn, sắp xếp, lưu trữ, tìm kiếm, chế biến, truyền đưa, khai thác và sử dụng thông tin… Một quá trình gồm một số các hoạt động đó nhằm đạt một mục đích nhất định thường được gọi chung là quá
trình xử lý thông tin Quản lý và lãnh đạo, về thực chất là thực hiện các quá
trình xử lý thông tin, mà sản phẩm là các thông tin điều khiển nhằm mang lại cho đối tượng những trật tự nhất định
Dữ liệu là những tín hiệu (con số, chữ viết, màu sắc, hình ảnh âm thanh…) rời rạc, là vật mang thông tin Khi các dữ liệu được tập hợp lại có hệ
Trang 6thống, chúng giúp con người nhận biết về một vật thể, một sự kiện, một hiện tượng… thì trở thành thông tin.
Thông tin thường được biểu diễn qua các hình thức c¸c d÷ liÖu cã hÖ thèng như c¸c chuçi sè liÖu, lêi nãi, c©u viết, âm thanh, hình ảnh…
Lượng thông tin không tuỳ thuộc vào độ dài ngắn của hình thức biểu diễn nó; lượng thông tin chưa nói lên được chất lượng của thông tin Thông tin có nhiều mức độ chất lượng khác nhau: Các dữ liệu thu thập ban đầu qua các cuộc điều tra, khảo sát được tập hợp lại giúp con người nhận biết về một
sự kiện, hiện tượng nào đó (biết gì); qua phân tích, xö lý sẽ thu được những thông tin có giá trị hơn, hiểu được bản chất của hiện tượng, sự kiện… (biết tại sao), biết xử lý khối lượng lớn thông tin có thể tìm ra các mối liên hệ bên
trong, các đặc tính có tính qui luật, lúc bấy giờ thông tin trở thành tri thức
(biết làm thế nào), ở mức cao hơn xử lý thông tin có thể cho ra các dự báo, (thông tin thông minh); người lãnh đạo phải có đầy đủ thông tin, biết xử lý thông tin, hiểu được bản chất của sự việc, đưa ra các dự báo mới có thể ra các quyết định đúng đắn Thông tin chứa đựng trong các quy luật khoa học, kết quả của nhiều công phu tìm kiếm sáng tạo, suy luận, thử nghiệm,
Dữ liệu, thông tin và tri thức
Giữa “tri thức”, “thông tin” và “dữ liệu” có sự phân biệt nhất định Dữ liệu là các tín hiệu, con số, chữ viết, hình ảnh, âm thanh riêng biệt, là nguồn gốc, là vật mang thông tin, là vật liệu sản xuất ra thông tin Những dữ liệu được xắp xếp lại thành những tổ hợp có ý nghĩa, có nội dung thì trở thành thông tin
Theo tiến trình của sự nhận thức, sau khi các giác quan tiếp nhận các tín hiệu của các đối tượng ta có các dữ liệu Tập hợp các dữ liệu này qua quá
trình tư duy lôgic ta sẽ có thông tin về đối tượng đó Thông tin được hiểu theo
nghĩa thông thường là sự phản ánh về một vật, một hiện tượng, một sự kiện hay quá trình nào đó của thế giới tự nhiên, xã hội và con người thông qua khảo sát trực tiếp hoặc lý giải gián tiếp Thông tin là nội dung của tất cả các
loại thông điệp giao tiếp Thông tin được truyền đi dưới hình thức trao đổi trực tiếp giữa hai người, qua các thiết bị truyền thông, tại các cuộc hội nghị, hội thảo, hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng khác nhau như báo
Trang 7chí, sách vở, các tài liệu, các tranh ảnh, các cơ sở dữ liệu, bằng sáng chế… Thông tin không nhất thiết phải dưới hình thức các từ ngữ - nó có thể là hình ảnh, âm thanh, bản nhạc, điệu múa, cử chỉ…
Khi tiếp thu và xử lý thông tin, con người có những hiểu biết về các đối tượng, về quy luật vận động và tương tác của đối tượng đó với thế giới vật chất xung quanh Những hiểu biết đó được gọi là tri thức Hay nói một cách
đơn giản, thông tin sau khi được thu thập, xử lý để nhận thức sẽ trở thành tri thức Giữa thông tin và tri thức đôi khi không có ranh giới rõ ràng Để phân
biệt giữa thông tin và tri thức ta có thể hình dung mối liên hệ giản dị: thông
tin là “cái của người” còn tri thức là “cái của mình” Tri thức có tính chất cá
nhân - nó bao gồm tất cả những hiểu biết của một người - nó tồn tại dưới nhiều hình thức như “biết”, “biết cái gì”, “biết như thế nào”, “biết làm thế nào”
Phân biệt tri thức được hệ thống hoá với tri thức tiềm ẩn là điều quan trọng Tri thức được hệ thống hoá là tri thức được chuyển thành thông tin để
có thể dễ dàng truyền đạt, trao đổi, phổ biến rộng rãi đến mọi người Tri thức
ở dạng tiềm ẩn, như năng khiếu, khó có thể hệ thống hoá để trở thành thông tin, vì vậy khó có khả năng truyền đạt, trao đổi, phổ biến cho người khác Tri thức tiềm ẩn thường gắn với cá nhân con người, tổ chức, dân tộc, đất nước cụ thể
Từ những mối quan hệ trên đây ta có thể thấy rõ, thông tin là cơ sở quan
trọng của tri thức, không có thông tin thì không thể có tri thức Tất nhiên đôi khi có thông tin mà vẫn không có tri thức Chính vì vậy, mà năm 1996, nhà tương lai học người Anh Giôn Naisbet đã cảnh báo rằng: “Chúng ta đang
chìm ngập trong thông tin mà vẫn thiếu tri thức”.
2 Từ thông tin đến công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin khởi đầu từ lúc con người sáng chế ra các loại máy móc tự động thực hiện một số chức năng xử lý thông tin, trước hết là các máy tính điện tử Để chế tạo các máy tính điện tử, người ta phải tìm được cách biểu diễn thông tin bằng các tín hiệu kỹ thuật và thực hiện các hoạt động lưu trữ, chế biến thông tin bằng các biện pháp xử lý kỹ thuật trên các tín hiệu tương ứng
Trang 8Máy tính điện tử và mọi thiết bị thông tin hiện đại đều làm việc với các
thông tin được biễu diễn bởi các dãy chữ số nhị phân (binary digits), tức là
dãy các tín hiệu 0; 1 Mọi dạng thông tin (số, chữ, tiếng nói, âm thanh, hình ảnh, màu sắc…) đều có thể - qua những cách làm rời rạc và mã hoá thích hợp
- biểu diễn lại bằng các dãy chữ số nhị phân Khả năng biểu diễn mọi thông tin bất kỳ qua một hệ thống tín hiệu đơn giản và thống nhất bằng chữ số nhị phân là cơ sở cho việc phát triển nhanh chóng các thiết bị kỹ thuật xử lý thông tin làm việc được với mọi dạng thông tin khác nhau
Máy tính điện tử được thiết kế trên nguyên tắc: mọi quá trình xử lý thông tin đều có thể qui về một trình tự thực hiện liên tiếp các phép toán sơ
cấp đơn giản Vì vậy, cấu trúc một máy tính điện tử gồm có: bộ lôgic-số học thực hiện các phép toán sơ cấp, bộ điều khiển để chỉ huy việc thực hiện các phép toán theo trình tự quy định, bộ nhớ để ghi các chương trình tính toán và
dữ liệu, các thiết bị đưa dữ liệu vào và đưa kết quả ra Cấu trúc đó tạo thành phần cứng của máy tính điện tử, sẵn sàng tổ chức thực hiện các trình tự tính
toán được qui định bởi các chương trình bất kỳ Tuỳ theo từng bài toán cụ thể,
người ta viết một chương trình để giải nó trong một ngôn ngữ máy tính nào đó
và chương trình được đưa vào máy để máy thực hiện Các chương trình làm
thành phần mềm của máy tính điện tử Tuỳ theo tính chất và phạm vi tác
động của các loại chương trình mà ta có: phần mềm hệ thống, phần mềm tiện ích và phần mềm ứng dụng
Máy tính điện tử là thành phần cơ bản của công nghệ thông tin Tuy
nhiên, theo nghĩa rộng thường dùng hiện nay, công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là máy tính điện tử và các mạng viễn thông - nhằm cung cấp các giải pháp tổng thể để tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người
và xã hội.
Công nghệ thông tin có các chức năng quan trọng: sáng tạo (bao gồm nghiên cứu khoa học, công trình thiết kế, giáo dục, đào tạo…), truyền tải thông tin (bao gồm phát hành, mạng Internet, xuất bản, phát thanh truyền hình, phương tiện thông tin đại chúng…), xử lý thông tin (bao gồm biên tập,
trình bày, phát triển phần mềm, xử lý dữ liệu, phân tích hỗ trợ ra quyết
định…) và lưu giữ thông tin (bao gồm thư viện điện tử, cơ sở dữ liệu…).
Với những thành tựu và khả năng ứng dụng rộng rãi của công nghệ thông tin như máy vi tính, tia lade, vi điện tử, viễn thông và mạng Internet,
Trang 9ngành công nghệ thông tin cùng với các dịch vụ liên quan đang trở thành ngành mang tính chủ đạo trong nền kinh tế.
3 Những mốc quan trọng trong sự phát triển của máy tính điện tử và công nghệ thông tin
Trong hơn nửa thế kỷ qua, kỹ thuật máy tính điện tử và viễn thông đã phát triển một cách mạnh mẽ và liên tục, tạo tiền đề cho sự thâm nhập sâu rộng của công nghệ thông tin vào mọi mặt hoạt động của con người Những mốc quan trọng nhất trong sự phát triển đó là:
1946-1948 Sự ra đời của các máy tính điện tử đầu tiên Tiếp đó là
việc sản xuất hàng loạt máy tính điện tử thế hệ thứ nhất và thứ hai trong thập kỷ 50, chủ yếu được sử dụng trong tính toán khoa học-kỹ thuật
Giữa thập kỷ 60 Sự ra đời của các máy tính điện tử thế hệ thứ ba với
kỹ thuật mạch tích hợp và các bộ nhớ bán dẫn máy tính điện tử được bắt đầu ứng dụng ngày càng rộng rãi trong kinh doanh, quản lý kinh tế Tuy nhiên, máy lớn và đắt, nên thường chỉ được trang bị cho các trung tâm tính toán Cuối những năm 60 sang đầu những năm 70 bắt đầu có các mạng nối các trung tâm tính toán với nhau
Giữa thập kỷ 70: Ra đời các bộ vi xử lý, đó là các linh kiện thực hiện
chức năng của cả bộ xử lý trung tâm của một máy tính điện tử được chứa trong chỉ một "chip" bán dẫn có diện tích khoảng 1-2cm2 Kỹ thuật vi xử lý
khởi đầu một cuộc cách mạng trong tin học, tạo cơ sở cho sự ra đời từ thập kỷ
80 hàng triệu rồi hàng chục, hàng trăm triệu máy vi tính với năng lực ngày
càng cao, giá ngày càng rẻ, thâm nhập khắp mọi nơi trên thế giới và được sử dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động
Cuối thập kỷ 80 đến nay: Sự phát triển bùng nổ của các mạng viễn
thông truyền dữ liệu quốc gia và quốc tế trên cơ sở kỹ thuật cáp sợi quang,
vệ tinh và vi ba số đã có khả năng nối mạng không những giữa các trung tâm tính toán mà còn nối được đến từng máy vi tính của từng cá nhân Xuất hiện những hệ thống “siêu xa lộ thông tin” liên kết hàng trăm triệu người trong từng quốc gia cũng như trong phạm vi khu vực và toàn cầu Xây dựng “kết cấu hạ tầng về thông tin” làm nền móng cho một “xã hội thông tin” trong những năm cuối của thế kỷ này đã trở thành hiện thực, và được xác định trong chính sách của nhiều nước trên thế giới
Tốc độ xử lý của máy tính tăng lên rất nhanh: Chiếc máy tính đầu tiên ENIAC của Pítsbấc vào năm 1947 chỉ với tốc độ khoảng 6 - 7 nghìn phép tính/giây, tiêu hao năng lượng rất nhiều và toả nhiệt rất lớn, chiếm diện tích là
Trang 101.800m2 với giá 450 nghìn đôla Mỹ lúc đó (tương đương khoảng 4 - 5 triệu đôla Mỹ bây giờ) Hiện nay, máy tính thông thường đã có thể xử lý hàng chục
tỉ phép tính/giây Theo định luật của Godơn Mo, cứ sau mỗi 18 tháng, khả năng xử lý của máy tính tăng gấp đôi, tương ứng với mật độ của bóng bán dẫn (transitor) trên một bảng mạch (chip)
Trong khi đó thì giá tính toán mỗi năm lại giảm đi 25%:
- Năm 1978 giá cho một triệu phép tính trong một giây là 480 đôla Mỹ,
- Năm 1988 giá cho một triệu phép tính trong một giây là 45 đôla Mỹ,
- Năm 1998 giá cho một triệu phép tính trong một giây là 4 đôla Mỹ.
Dung lượng bộ nhớ cũng tăng với tốc độ tương tự Nhờ đó công nghệ máy tính đã tạo ra những bước nhảy vọt trong ứng dụng: Thế hệ các máy tính
Trang 11đầu tiên những năm 1950, 1960 chủ yếu chỉ dùng để tính toán, nhưng ngày nay máy tính đã có thể xử lý mọi loại thông tin và trở thành phương tiện đa
năng, đa dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người Nhờ khả năng xử
lý đa phương tiện (xử lý đồng thời hình ảnh, âm thanh, hình ảnh động…) máy
tính và mạng máy tính có thể thay thế cho thư viện, chế bản in ấn, thu hình, thu thanh, máy fax, điện thoại v.v…
Công nghệ thông tin phát triển đã làm cho các nhiều lĩnh vực hội tụ với nhau Công năng của máy tính ngày càng mạnh, công dụng ngày càng nhiều, kích thước ngày càng nhỏ, sử dụng ngày càng đơn giản, máy tính được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, mọi lúc và mọi nơi Quá trình phát triển công nghệ thông tin có thể chia ra bốn giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất (thủ công): Việc thu thập thông tin và xử lý thông
tin được thực hiện bằng những phương pháp thủ công là chủ yếu
Giai đoạn thứ hai (cơ giới hoá): Sử dụng máy tính tham gia vào một số
công đoạn trong quá trình thu thập và xử lý thông tin, như tính toán, phân tích, thống kê, tổng hợp thông tin
Giai đoạn thứ ba (tự động hoá): Toàn bộ quá trình thu thập thông tin và
xử lý thông tin được tự động hoá trên cơ sở sử dụng những hệ thống máy tính mạnh Nhờ tự động hoá, khối lượng lớn thông tin được phân tích, xử lý nhanh hơn nhiều Trước kia, trong phòng thí nghiệm, thí nghiệm phải có người theo dõi, ghi chép và phải tiến hành nhiều lần để có nhiều chuỗi số liệu, sau đó tính toán phân tích để tìm ra các mối quan hệ, rồi từ đó đi đến kết luận khoa học Ngày nay, những việc làm đó phần lớn được tự động hoá Các số liệu thí nghiệm do các máy móc tự động đo đạc, ghi chép, lưu cất và đưa vào máy tính để tự động xử lý và kết quả là nhờ các số liệu tổng hợp, các mối quan hệ, các phương án khả thi… có thể dẫn tới những phát hiện mới, những tri thức mới Tương tự như trong nghiên cứu khoa học, trong đời sống hàng ngày khối lượng đồ sộ thông tin thương mại, thông tin kinh tế, văn hoá, xã hội… cũng được xử lý trên máy tính để cung cấp cho con người nhiều tri thức mới, gợi
mở cách làm mới, tư duy mới
Giai đoạn thứ tư (thông tin thông minh): Hệ thống máy tính tích luỹ
được một khối lượng rất lớn thông tin và tri thức, có khả năng xử lý rất lớn, giúp con người phân tích các tình huống, chọn ra các giải pháp, trợ giúp đắc lực cho con người nâng cao tri thức, phát triển khả năng sáng tạo, thông minh của con người Chẳng hạn máy Deep Blue của hãng IBM chế tạo, nhờ tích luỹ được nhiều thông tin và kinh nghiệm của các chuyên gia trong lĩnh vực cờ vua nên đã thắng nhà vô địch cờ vua thế giới Casparốp Nếu công nghệ cơ khí
Trang 12giúp con người nâng cao năng lực lao động cơ bắp, làm tăng công lực, thì công nghệ thông tin giúp con người nâng cao năng lực lao động trí óc, làm tăng trí lực của con người.
Từ thập kỷ 80 thế kỷ XX trở về trước, xu thế phát triển của công nghệ thông tin chủ yếu là phát triển máy tính lớn, các nước chạy đua chế tạo máy siêu tính Máy tính lớn có khả năng rất lớn nhưng rất đắt tiền, không thể phổ cập được, phải nhiều người dùng một máy, làm việc theo chế độ phân chia
thời gian liên tục 24 giờ một ngày Nhưng từ khi máy tính cá nhân ra đời, kết
nối nhiều máy tính với nhau thành một mạng, cùng làm việc với nhau như làm việc trên một máy siêu lớn, nhưng không phải theo chế độ phân chia thời gian, mà mọi người đều có máy riêng và làm việc theo chế độ phối hợp, chia
sẻ thông tin Nhờ đó, hệ thống hoạt động thuận tiện và hiệu quả hơn nhiều
Mạng máy tính, đầu tiên xuất hiện năm 1969, là mạng ARPAnet thuộc
Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, tiền thân của Internet ngày nay Năm 1979, mạng này bắt đầu được mở rộng kết nối quốc tế Với sự ra đời của giao thức
Internet (TCP/IP) năm 1982, những thành tựu mới về kỹ thuật mạng, siêu văn bản, công nghệ web năm 1989, mạng máy tính phát triển rất nhanh nối khắp
nơi trên thế giới, năm 1984 đã có 1.000 người dùng nối vào mạng Internet thực sự ra đời năm 1993 với khoảng một triệu người dùng Đến tháng 3 năm
2000, có khoảng 280 triệu người dùng Internet trên khắp thế giới và hàng năm
số người dùng tăng 30 - 40% Đến cuối 2002 đã có 605 triệu người dùng Internet, đạt tỉ lệ khoảng 10% dân số thế giới
Bảng 2: Phân bổ người sử dụng Internet trên thế giới (2002)
Dịch vụ thư điện tử (E-mail) phổ biến nhanh chóng và rộng rãi Năm
1999, số hộp thư điện tử lên tới 569 triệu trên toàn thế giới, trong đó Hoa Kỳ
333 triệu và các nước khác 236 triệu Theo đà tăng trưởng này, trong vài năm tới, số địa chỉ điện tử sẽ lớn hơn số điện thoại và trở thành một phương tiện thông tin liên lạc đại chúng rất quan trọng
Trang 13K BIT S C&C0 8 STP INTES
S Calling Center
TELLI N
SCP
SMP/SC
E
Intelligent Network
0 50 100 150 200 250
Máy chủ (triệu) Nước nối mạng
Số nước tham gia Internet và số mỏy
chủ
Cơ sở hạ tầng thụng tin được phỏt triển mạnh nhờ sự bựng nổ của mạng Internet, khi cỏc tài nguyờn trờn Internet được kết nối và gắn kết với nhau như một cơ thể sống làm cho người truy cập Internet khụng cũn cảm giỏc cỏch biệt do khoảng cỏch Khi đang nghiờn cứu tài liệu trờn mạng, gặp một khỏi niệm mới lạ, ta cú thể truy cập Internet và cú thể biết được trờn thế giới hiện đang cú những tài liệu nào đề cập đến khỏi niệm đú, và ngay lập tức ta cú thể đọc tài liệu đú từ một điểm rất xa xụi trờn thế giới Sau đú lại trở lại đọc tiếp tài liệu của mỡnh Sự gắn kết chặt chẽ của Internet cũn làm cho con người khụng cũn cảm giỏc chia cắt khỏc biệt về cỏc loại hỡnh thụng tin Tất cả cỏc loại thụng tin, như chữ, số, õm thanh, hỡnh ảnh đều được trỡnh diễn ngay cho
ta như ta mong muốn, dự rằng nú ở cỏc điểm khỏc nhau đõu đú trờn thế giới của Internet
Cụng nghệ Internet/Web sau khi ra đời đó được phổ biến nhanh chúng
Để đạt mức 50 triệu người sử dụng, điện thoại phải mất 74 năm; radio mất 38 năm; mỏy tớnh cỏ nhõn mất 16 năm; mỏy truyền hỡnh mất 13 năm; cũn Internet chỉ mất cú 4 năm Số mỏy chủ và nước nối mạng cũng tăng rất nhanh
Trang 14Mặc dù phát triển như vũ bão, song thế hệ Internet hiện nay đang dùng vẫn còn rất nhiều hạn chế so với yêu cầu của thương mại điện tử, của thực tế ảo… Do đó từ 1995 hơn 150 trường đại học ở Hoa Kỳ hợp tác với nhau và được sự hỗ trợ của Chính phủ và sự phối hợp của rất nhiều công ty hàng đầu
về công nghệ thông tin bắt đầu nghiên cứu thế hệ Internet mới gọi là Internet
2 Mục tiêu của Internet 2 là nhằm vào sự hỗ trợ ứng dụng công nghệ đa
phương tiện để phát triển thư viện điện tử, chẩn đoán từ xa và phòng thí nghiệm ảo Muốn vậy, tốc độ xử lý và truyền phải rất lớn, phải nhanh hơn
Internet hiện nay từ 100 đến 1000 lần Hiện nay, Internet 2 đã đã đạt tốc độ nhiều Gigabit trong một giây, đang được sử dụng ở nhiều nơi tại Hoa Kỳ Với Internet hiện nay ở nước ta, muốn lấy về một cuốn sách khoảng 1000 trang thì cần khoảng 5-20 phút, nhưng với Internet 2 thì 1 giây truyền được 90.000 tập bách khoa toàn thư Encyclopedia Hiện nay các nước đang triển khai dự án kết nối Internet 2 với châu Âu, châu Phi, châu Á Khi Internet 2 được phổ cập rộng rãi thì thương mại điện tử, chính phủ điện tử, làm việc từ xa (công xưởng ảo), chữa bệnh từ xa, phòng thí nghiệm ảo, v.v… sẽ rất phát triển Lúc đó sẽ hình thành xã hội thông tin, hay gọi là xã hội mạng, xã hội số hoá
Công nghệ thông tin phát triển với tốc độ đặc biệt nhanh chóng Từ khi chiếc máy tính ra đầu tiên ra đời đến nay tốc độ xử lý đã tăng 12 nghìn tỷ lần; giá cả cũng giảm đi theo tốc độ tương ứng; trong khi đó kích thước máy tính ngày càng nhỏ đi, việc sử dụng máy tính ngày càng dễ dàng, thuận lợi Thêm vào đó thông lượng của viễn thông cũng tăng theo tốc độ rất nhanh, giá cả của
nó cũng giảm rất nhanh Chính nhờ những đặc điểm ấy mà công nghệ thông tin đi vào cuộc sống rất nhanh chóng, được sử dụng rất rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người, đến từng người dân, từ người quản lý, nhà khoa học đến người nông dân, bà nội trợ, em bé học sinh tiểu học Không có lĩnh vực nào, không có nơi nào không có mặt của công nghệ thông tin Công nghệ thông tin xoá dần đi khoảng cách địa lý, rút ngắn thời gian của các quá trình
Mạng ARPAnet đến năm 1984 mới chỉ có một nghìn người dùng, năm
1993 cùng với sự bùng nổ công nghệ web, internet bắt đầu được dùng cho mục đích thương mại, có một triệu người dùng; sau 10 năm (năm 2003) đã có hơn 600 triệu người dùng, chiếm gần 10% dân số thế giới; đang chuẩn bị đưa vào ứng dụng rộng rãi Internet 2 (và internet X) nhanh hơn internet hiện nay
từ 100 đến 1000 lần, cũng sắp có đường truyền với dung lượng đến hàng chục Terabit/giây…; đang thử nghiệm máy tính quantum v.v… Công nghệ thông
tin đang hứa hẹn những khả năng vô tận Khó mà hình dung cụ thể những
Trang 15công nghệ gì sẽ có sau 5-10 năm Điều chắc chắn là CNTT sẽ phát triển hết sức nhanh chóng Nếu trước đây khả năng của CNTT tới đâu thì con người hầu như sử dụng hết tới đó, còn hiện nay thì khả năng của CNTT đã vượt quá
yêu cầu, mức độ sử dụng hiện tại của con người, và khoảng cách giữa sử dụng và năng lực của CNTT sẽ ngày càng xa Con người cần phải biết tận
dụng hết những khả năng do mình tạo ra cho sự phát triển của mình!
Những tiến bộ kỳ diệu trong công nghệ viễn thông đã nhanh chóng tăng tốc và giảm giá các cuộc trao đổi, giao tiếp qua mạng Theo Liên hiệp công nghệ thông tin quốc tế, trong gần 2 thập kỷ qua, hệ thống cáp viễn thông xuyên Đại Tây Dương tăng khả năng chuyển tải trung bình 64% và giá giảm 41% một năm Năm 1970, chuyển tải bộ Từ điển Bách khoa Britanica 32 quyển từ New York đến San Francisco qua Internet mất 97 phút, và tốn 187 đôla Mỹ Hiện nay, có thể gửi 8 bộ từ điển Bách khoa Britanica như thế trong vòng 1 giây, chỉ tốn mấy chục cent; chuyển toàn bộ thông tin Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ giữa các bang qua hệ thống cáp quang chỉ tốn 40 đôla Mỹ Phí sử dụng đường truyền thông sẽ được tính trên khối lượng thông tin chuyển tải, chứ không còn tính theo thời gian hay khoảng cách như trước đây nữa Như vậy, liên lạc với nhau trong cùng một thành phố hay giữa các châu lục về tốc
độ và về chi phí không khác gì nhau
Trong mấy thập kỷ vừa qua công nghệ thông tin đã liên tục có những bước phát triển vượt bậc, và tiếp tục có những tiến bộ dồn dập trong những năm tiếp theo Một số hướng chủ yếu của công nghệ thông tin được tập trung nghiên cứu trong thời gian tới là:
- Sử dụng các vi mạch, chip điện tử có tốc độ xử lý, tính toán cao với cấu trúc song song tạo nên cách tiếp cận khác hẳn so với việc sử dụng các bộ
vi xử lý truyền thống Cách cấu trúc này, giống như bộ não con người, tiến
hành tổ chức thông tin theo mô thức, chỉ định các chức năng khác nhau cho các bộ phận khác nhau, cho phép nhiều bộ vi xử lý cùng hoạt động đồng thời trong một chế độ mạng song song linh hoạt được mô phỏng theo bộ não của con người
- Kỹ thuật số hoá, trong đó mọi tín hiệu dưới dạng âm thanh, chữ viết, hình ảnh, sơ đồ biểu bảng… đều được mã hoá thành các nhóm tín hiệu 1 và 0
Phương pháp số hoá giúp cho thông tin được truyền dẫn không bị nhiễu, không bị méo tín hiệu, bớt sự tác động của môi trường điện từ bên ngoài, đảm bảo chất lượng cao đối với mọi loại hình thông tin Kỹ thuật số hoá phát triển mạnh mẽ đã là một yếu tố quan trọng thúc đẩy việc phát triển siêu lộ thông tin, truyền thông đa phương tiện và điện thoại có hình
Trang 16- Công nghệ LASER Thông qua bộ lọc, các quang tử có cùng tần số,
bước sóng và cùng hướng có thể đi qua tạo nên một chùm ánh sáng có tần số rất cao, hội tụ ở một điểm rất nhỏ và phát thành tia cực mảnh với công suất cực lớn Công nghệ laser được ứng dụng rộng rãi và rất hiệu quả trong các lĩnh vực y tế (giải phẫu não, mắt, mổ các khối u với hiệu suất cao, khai thông tắc nghẽn các động mạch…), vật lý thiên văn, công nghệ vũ trụ, công nghệ thông tin (đầu đọc CD, chuyển tải tín hiệu trên cáp quang)
- Cáp sợi quang là vật liệu thuỷ tinh dạng sợi, được kéo thành những
dây cáp, gọi là cáp quang dẫn hay là cáp sợi quang, cấu tạo bởi hai loại thuỷ tinh có hệ số khúc xạ khác nhau và loại có hệ số khúc xạ thấp bọc ở phía ngoài để tia sáng laser khi đi trong sợi cáp không bị khuyếch tán ra bên ngoài.Với công nghệ cáp sợi quang, thông lượng truyền tải tín hiệu có thể tăng lên đến hàng trăm tỉ héc và khối lượng thông tin truyền đi có thể tăng lên gấp hàng nghìn lần, tốc độ truyền dẫn có thể đạt tới trên 40 tỉ bit/giây, cho phép đồng thời truyền hàng triệu kênh điện thoại
- Công nghệ nén số hình ảnh Để truyền tải những lượng thông tin
khổng lồ do kỹ thuật số hoá tạo ra, các thuật toán nén số đã cho phép giảm khối lượng thông tin xuống hàng trăm, hàng nghìn lần Công nghệ này đã thúc đẩy việc nâng cao chất lượng và hiệu quả truyền thông và cuộc cách mạng số hoá một cách thực sự
- Công nghệ truyền tải không đồng bộ - ATM (Asynchronous Mode of Transfer) Nhờ đơn giản hoá các tham số của gói thông tin và giảm thiểu hoá
công tác xử lý trên mạng trong quá trình truyền nên công nghệ ATM là một
kỹ thuật chuyển gói nhanh
- Mạng thông tin số hoá đa dịch vụ băng rộng B-ISDN (Broad Band Integrated Services Digital Network) cho phép thực hiện tất cả các ứng dụng
truyền tiếng nói, âm thanh, hình ảnh tĩnh, động và các dữ liệu, đồ hoạ, văn bản, bảng biểu… có khả năng cung cấp đồng thời các dịch vụ truyền tin với tốc độ thay đổi từ vài nghìn bit đến hàng tỉ bit/giây
- Truyền thông đa phương tiện trong thế giới thông tin tương tác Ngày
nay, máy tính không chỉ với chức năng xử lý thông tin đơn thuần mà còn là một chiếc máy truyền thông đa phương tiện, máy “thông minh”, là nguồn kiến thức và tri thức ngày càng đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp người - máy, giao tiếp giữa các đối tác nhanh chóng gần như tức thời không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý
- Các hệ thống thông tin di động Công nghệ viễn thông vũ trụ đang
Trang 17được triển khai mạnh mẽ với các dự án xây dựng mạng thông tin toàn cầu Hệ thống thông tin di động với 840 vệ tinh thông qua một hệ thống các vệ tinh quỹ đạo tầm thấp phủ quanh trái đất (trong khoảng 1.000 - 10.000km) đang tạo ra cho hệ thống thông tin di động những bước phát triển đầy hứa hẹn vào thời điểm bước sang thiên niên kỷ mới.
- Siêu lộ cao tốc thông tin Với công nghệ viễn thông vũ trụ, công nghệ
truyền tải không đồng bộ ATM, mạng đa dịch vụ số hoá băng rộng và hệ thống cáp quang toàn cầu đang tạo ra những tiền đề thuận lợi cho việc hình thành các siêu lộ cao tốc thông tin hay còn được gọi là xa lộ thông tin điện tử ngày càng phát triển mạnh mẽ
4 Công nghệ thông tin và truyền thông - động lực của sự phát triển
Với sự ra đời của máy tính cùng nhiều thành tựu đột phá khác trong công nghệ sinh học, khoa học vật liệu… vào những thập kỷ cuối thế kỷ 20 đã diễn ra cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, mà đặc trưng nổi bật
của nó là cách mạng tri thức và cách mạng thông tin Tác động của nó đên
mọi mặt đời sống xã hội loài người còn mạnh mẽ, sâu sắc hơn nhiều so với các bước ngoặt lịch sử trước đây; máy móc không chỉ nhân lên sức mạnh cơ bắp mà còn thay thế lao động trí óc của con người, nhân lên sức mạnh trí tuệ
con người Nền kinh tế công nghiệp đang chuyển sang nền kinh tế tri thức;
nhiều biến động to lớn, sâu sắc trong mọi mặt của đời sống xã hội loài người đang diễn ra hàng ngày Tác nhân chủ yếu nhất của sự thay đổi đó là công nghệ thông tin
Trong 4 yếu tố quyết định nhất (còn gọi là 4 trụ cột) đối với trình độ phát triển của một nền sản xuất: khoa học về sự sống, vật liệu, năng lượng và
thông tin, thì thông tin có ý nghĩa bao trùm hơn cả Hiện nay công nghệ thông tin đang hội tụ với công nghệ sinh học, công nghệ nano trở thành infornautic -
công nghệ chủ đạo của thế kỷ 21, hứa hẹn những đột phá to lớn trong phát triển khoa học công nghệ và phát triển xã hội loài người
Bất cứ hoạt động nào cũng cần có thông tin Có thông tin đầy đủ, chính xác mới có thể đi tới quyết định đúng và hành động đúng Khi máy tính phát triển đến giai đoạn tự động hoá xử lý thông tin thì thông tin sẽ cho ra tri thức mới; trí tuệ nhân tạo phát triển giúp cho con người trở nên thông minh hơn, có nhiều năng lực sáng tạo hơn Khi vốn tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sản xuất, là chỗ dựa chủ yếu của kinh tế - nền kinh tế dựa vào tri thức
- thì năng suất rất cao, công nghệ đổi mới nhanh, của cải dồi dào, lao động cơ bắp giảm đi đến tối thiểu, đó là giai đoạn phát triển cao nhất của lực lượng sản
Trang 18xuất xã hội Hiện nay các nền kinh tế phát triển nhất đang hướng tới đó Động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển đó là công nghệ thông tin.
Tác động của công nghệ thông tin đối với phát triển xã hội loài người
vô cùng to lớn: nó không chỉ thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng kinh tế dựa vào tri thức, phát triển bền vững, mà quan trọng hơn là thúc đẩy phát triển con người, phát triển văn hoá, phát triển xã hội
Mạng thông tin là môi trường lý tưởng cho sự sáng tạo, là phương tiện quan trọng để quảng bá và nhân nhanh vốn tri thức – động lực của sự phát triển, thúc đẩy phát triển dân chủ trong xã hội, phát triển năng lực con người…
Thương mại điện tử thúc đẩy mạnh mẽ các ngành sản xuất dịch vụ trên phạm vi toàn cầu; đặc biệt là nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nước đang phát triển, nhất là đối với các vùng xa xôi hẻo lánh, tạo cơ hội tiếp cận với thị trường toàn cầu
Giáo dục, đào tạo từ xa đang giúp nâng cao chất lượng các chương trình giảng dạy và học tập, giúp cho mọi người có thể học tập suốt đời, phát triển kỹ năng liên tục, thích ứng với sự phát triển ngày càng nhanh của khoa học công nghệ
Chính phủ điện tử, trên cơ sở điện tử hoá các hoạt động quản lý nhà
nước đang hình thành và trở nên ngày càng phổ biến Mạng thông tin lớn và
mạnh có thể nối các cơ quan quản lý với đối tượng quản lý giúp cho quá trình
ra quyết định được thực hiện nhanh chóng, kịp thời và chính xác Chính phủ điện tử còn cho phép mọi người dân có thể dễ dàng tiếp cận các dịch vụ của nhà nước, theo dõi, kiểm soát các hoạt động của nhà nước, khích lệ sự công khai, minh bạch, trong sáng, thúc đẩy sự phát triển dân chủ, dân biết, dân bàn, dân kiểm tra
An ninh, quốc phòng cũng có những thay đổi cơ bản do tác động của công nghệ thông tin Công nghệ thông tin đã tạo ra những thế hệ vũ khí, phương tiện chiến tranh “thông minh”; từ đó xuất hiện hình thái chiến tranh, phương thức tác chiến mới, làm thay đổi sâu sắc học thuyết quân sự của nhiều quốc gia
Công nghệ thông tin là nhân tố quan trọng nhằm đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá Mạng Internet làm cho thế giới ngày càng trở nên nhỏ bé Tri thức và thông tin không biên giới làm cho hoạt động kinh tế vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và trở thành hoạt động mang tính toàn cầu
Trang 19Thế nhưng công nghệ thông tin cũng đang đặt ra những thách thức lớn! Phát triển và ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin cùng với các thành tựu khoa học công nghệ khác hiên nay đang có những tác động tiêu cực đến quá trình phát triển chung của xã hội loài người Công nghệ thông tin và những công nghệ cao hiện nay chủ yếu do các nước tư bản phát triển, trước hết là Hoa Kỳ nắm và chi phối Với trật tự kinh tế thế giới do các siêu cường
áp đặt, sự phát triển khoa học công nghệ và công nghệ thông tin đã làm cho khoảng cách thông tin và tri thức trên thế giới càng ngày càng lớn, dẫn đến sự chênh lệch giầu nghèo, sự bất công, bất bình đẳng trên thế giới gia tăng nhanh chóng Chênh lệch giữa 20% những người giàu nhất thế giới so với 20% người nghèo nhất năm 1913 là 11, năm 1960 là 30 lần, năm 1990 là 60 lần, năm 1997 là 74 lần Thu nhập bình quân đầu người của nước giàu nhất so với nước nghèo nhất hiện nay là hơn 400 lần! (đầu thế kỷ 20 chênh lệch không quá 10 lần) Vốn và công nghệ tập trung ở những người giàu, làm cho họ càng giàu nhanh hơn! 20% dân số thế giới sống ở các nước có thu nhập cao nhất chiếm 86% GDP thế giới và 93% số người sử dụng Internet; trong khi 20% dân số nghèo nhất chỉ chiếm 1% GDP và chỉ có 0,2% người sử dụng Internet;
về thương mại thế giới thì con số trên là 82% so với 1%
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đã từng thừa nhận rằng tri thức không thể
bị chiếm hữu riêng, mà là tài sản công cộng của toàn xã hội; mọi người có quyền truy cập và chia xẻ thông tin UNESCO kiên trì với nguyên tắc: chế độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phải hài hoà với quyền được chia sẻ thông tin của mọi người Nếu không giải quyết thoả đáng vấn đề phân cực thông tin thì tình
trạng bất công, bất bình đẳng trên thế giới ngày càng trầm trọng Hội nghị G8
ở Okinawa đưa ra tuyên bố sẽ tăng cường viện trợ cho các nước đang phát triển để khắc phục khoảng cách thông tin (digital divide), nhưng việc thực hiện nó còn đang ở phía trước
Một vấn đề lớn khác cũng đang được đặt ra là làm sao ngăn chặn
những sản phẩm văn hoá không lành mạnh và nhất là giữ gìn bản sắc dân tộc
khi Internet phát triển Điều đáng lo ngại là Internet sẽ làm mất đi bản sắc văn hoá dân tộc, dễ làm cho các nền văn hoá trở nên pha tạp, lai căng không còn
là của chính mình nữa Cần có biện pháp công nghệ và hành chính để kiểm soát và ngăn chặn, nhưng quan trọng hơn là giáo dục truyền thống dân tộc, và phát triển nền văn hoá mang bản bản sắc riêng của mình để có thể đứng vững
và phát triển trước sự xâm nhập các nền văn hoá khác Cần đảm bảo hài hoà giữa việc kiểm soát thông tin với quyền truy cập chia sẻ thông tin của mọi người
Trang 20Đối với các nước đang phát triển, công nghệ thông tin không phải là
“liều thuốc tiên” chữa được bách bệnh Phát triển công nghệ thông tin không
có nghĩa là ngay lập tức giải quyết được mọi vấn đề bức xúc về kinh tế, xã
hội; nhưng cần phải khẳng định là không thể lưỡng lự hay chờ đợi, vì như vậy
sẽ bỏ lỡ cơ hội, làm cho sự tụt hậu càng xa hơn nữa Đầu tư để phát triển rất tốn kém, nếu không cân nhắc kỹ lưỡng sẽ là sự lãng phí lớn Vấn đề chủ yếu của các nước đang phát triển trước hết là sử dụng CNTT có hiệu quả nhất cho
sự phát triển của mình
Đứng trước những thách thức mới đó, mọi người cần có sự lựa chọn thận trọng Cần thiết có những cách thức mới trong làm việc, trong sản xuất kinh doanh, cần có những hình thức mới về hợp tác, những kiểu tổ chức mới
về kinh tế xã hội và quan trọng nhất là có những cách suy nghĩ mới Mọi người, mọi tổ chức cần nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm của mình
5 Con đường đi tới xã hội thông tin
Với tiềm năng to lớn của công nghệ thông tin và truyền thông, trong mọi lĩnh vực của đời sống con người, đã có thể có những lời giải đáp mới và tốt hơn cho những vấn dề cơ bản và lâu dài được đạt ra như giảm nghèo, làm tăng của cải, bảo vệ môi trường, cũng như tạo sự bình đẳng và công bằng xã hội
Tri thức luôn luôn là yếu tố quyết định của tiến bộ nhân loại Ngày nay, nhờ những thành tựu tuyệt vời của công nghệ thông tin và truyền thông, tri thức mới phát triển bùng nổ và việc chia xẻ tri thức trở nên rất thuận lợi và nhanh chóng, do đó vai trò động lực của tri thức đối với phát triển xã hội ngày càng nổi bật, mang tính quyết định, đang hứa hẹn về một tương lai tốt đẹp của
xã hội loài người
Khối lượng, tốc độ các dòng thông tin tăng lên nhanh chóng, công nghệ thông tin đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong tổ chức quản lý, kinh doanh, xã hội công dân và trong từng con người
Công nghệ thông tin và truyền thông cần được coi như một công cụ, một phương tiện, một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển và đổi mới; chứ không phải chỉ là một ngành kinh tế kỹ thuật, càng không phải là mục đích tự thân
Chúng ta đang chứng kiến mọi nơi trên trái đất những thành tựu to lớn
về sử dụng thông tin và tri thức cho sự phát triển cộng đồng, xã hội và cá
nhân Xã hội thông tin toàn cầu được hiểu là xã hội trong đó mọi người,
không có sự phân biệt, đều có quyền tự do trong việc tạo ra, thu nhận, chia xẻ
Trang 21và sử dụng thông tin và tri thức cho sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá và chính trị Hiện nay chưa có tiêu chí rõ ràng cho một xã hội thông tin, nhưng
có thể dùng các chỉ số để dánh giá mức độ phát triên xã hội thông tin Đó là:
- Cơ sở hạ tầng thông tin (từ mạng truyền thông radio, tivi đến mạng viễn thông, internet…) phát triển, phủ đến làng xã, những nơi xa xôi hẻo lánh, liên thông quốc tế; thông lượng lớn, giá rẻ, thuận tiện,
- Số lượng radio, tivi, báo chí, điện thoại (cố định và di động)… trên 100 dân,
- Số máy tính, số thuê bao internet trên 100 người dân,
- Trình độ học vấn của dân, số lượng người đi học trong độ tuổi ở các bậc học, nhất là bậc sau trung học, số lượng người học tập tại chức (học suốt đời)…
- Công nghệ thông tin được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực Thực hiện chính phủ điện tử, thương mại điện tử, ngân hàng điện tử, học tập điện tử, y tế điện tử, làm việc từ xa…
Nhiều nước đặt ra mục tiêu trở thành xã hội thông tin trước khi trở thành xã hội tri thức và nền kinh tế tri thức Coi xã hội thông tin là một tiền đề cho nền kinh tế dựa vào tri thức với giá trị gia tăng rất cao Hiện nay hầu hết các nước đều có chiến lược phát triển công nghệ thông tin, hướng tới xây dựng xã hội thông tin
Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về xã hội thông tin (sẽ họp lần đầu vào
tháng 12/2003 tại Geneve) đang được tích cực chuẩn bị sẽ có ý nghĩa đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu đó Hội Nghị và lần hai vào năm 2005 tại Tunis;
sự kiện lớn đó đánh dấu bước phát triển mới trong hợp tác toàn cầu nhằm khai thác tiềm năng của tri thức và công nghệ phục vụ sự phát triển cho tất cả mọi người
Hàng loạt những vấn đề rộng lớn, phức tạp mà loài người đang đối mặt trong quá trình tiến tới một xã hội thông tin toàn cầu đang được đặt ra Xu thế phát triển xã hội thông tin toàn cầu hoá cũng như nền kinh tế tri thức toàn cầu hoá là xu thế tất yếu Nhưng con đường đi tới đó còn đầy chông gai trắc trở, các dân tộc, các quốc gia phải hợp tác và đấu tranh để vượt qua, nhất là làm thay đổi được “trật tự thế giới” hiện nay do những thế lực cường quyền, những kẻ bóc lột thao túng, đang làm cho bất công xã hội, khoảng cách giàu nghèo gia tăng nhanh chóng; tri thức và thông tin tập trung về cho những nước giàu càng làm cho các nước giàu càng giàu lên nhanh chóng, các nước
Trang 22nghèo càng khó khăn hơn trong phát triển Hội nghị thượng đỉnh về xã hội thông tin không thể không đề cập đến những vấn đề ấy nếu muốn thúc đẩy quá trình tiến tới xã hội thông tin toàn cầu
Có ba vấn đề mấu chốt nhất cần được giải quyết:
- Trước hết đòi hỏi phải có cách nhìn giống nhau về xu thế phát triển hiện nay của cách mạng thông tin, cách mạng tri thức và tác động của nó đến sự phát triển xã hội loài người; từ đó đặt cơ sở cho một khuôn khổ hành động của toàn cầu hướng tới xã hội thông tin
- Cần tạo môi trường thuận lợi để các nước đều có thể tham gia thực
sự bình đẳng vào nền kinh tế toàn cầu hoá, chia xẻ các thành tựu của cuộc cách mạng thông tin, truy cập thuận lợi vào kho thông tin toàn cầu; và khuyến khích các nước đang phát triển xây dựng và thực hiện những chiến lược điện tử phù hợp mục tiêu và nguồn lực của mình
- Các nước hợp tác với nhau để định ra những nguyên tắc cơ bản cho các chính sách ở tầm quốc gia và khu vực về phát triển xã hội thông tin; từ đó có thể đi tới thoả thuận về những nguyên tắc chính quản lý xã hội thông tin toàn cầu
6 Những nguyên tắc cơ bản để hình thành và phát triển xã hội thông tin.
Hiện nay các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học đang tranh luận về những vấn đề có tính nguyên tắc sau đây:
- Truy cập vào thông tin và tự do thông tin là quyền cơ bản của con
người
- Công nghệ thông tin là hạt nhân của xã hội thông tin, và giữ vai trò quan trọng trong chống đói nghèo và bất bình đẳng trên toàn cầu; để khắc phục khoảng cách số hoá một cách có hiệu quả cần
tạo cơ hội cho mọi người truy cập vào thông tin với giả rẻ
- Để cho xã hội thông tin thực sự có lợi ích cho mọi người đòi hỏi
phải có môi trường dân chủ, minh bạch, phải có chính sách và
khuôn khổ luật pháp phù hợp
- Trong xã hội thông tin, sáng tạo là động lực chủ yếu của sự phát
triển, tốc độ đổi mới diễn ra nhanh chóng, cho nên sự phát triển khả năng con người là yêu cầu cơ bản và thường xuyên; giáo dục
Trang 23và đào tạo, khoa học và công nghệ là yếu tố quyết duy nhất, phải luôn luôn được đẩy mạnh.
- Tính đa dạng về văn hoá và ngôn ngữ là một tiêu chí của sự thành
công của xã hội thông tin; trong một xã hội đa dạng về văn hoá, khả năng sáng tạo càng lớn, sản phẩm sáng tạo càng phong phú; duy trì và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc là yếu tố hàng đầu đảm bảo sự phát triển bền vững;
- Đảm bảo sự hài hoà giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và nhu cầu
sử dụng thông tin của mọi người (Trong trật tự thế giới hiện nay,
chế độ sở hữu trí tuệ thiên về bảo vệ lợi ích người sáng tạo, hạn chế cơ hội chia xẻ, sử dụng thông tin của các nước đang phát triển);
- Xã hội công dân, doanh nghiệp, doanh nhân giữ vai trò then chốt
trong việc sử dụng sức mạnh của thông tin cho sự phát triển bền vững kinh tế, xã hội, văn hoá
- Sự phát triển của mạng thông tin là yếu tố quan trọng nhất trong
xây dựng xã hôi thông tin toàn cầu, trong đó mọi người tham gia
bình đẳng Độ tin cậy và tính an toàn của mạng là rất cần thiết cho
sự hoạt động bình thường của xã hội thông tin Cần có biện pháp bảo vệ tính riêng tư và độ tin cậy cho người dùng mạng thông tin
và phương tiện truyền thông
Để tiến tới xã hội thông tin, cần thực hiện những chính sách và biện pháp sau đây:
- Sử dụng hết tiềm năng của công nghệ thông tin cho phát triển: học
tập trên mạng (e-learning), chính phủ điện tử (e-government), chữa bệnh từ xa (e-health), kinh doanh điện tử (e-business), và trong rất nhiều lĩnh vực khác: nông nghiệp, dân số, môi trường thiên nhiên, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dự báo thời tiết…
- Khuyến khích tính đa dạng văn hoá và ngôn ngữ, nội dung thông
tin của các dân tộc, các địa phương, phát triển truyền thông đại chúng:
- Tăng cường tính đa dạng văn hoá và ngôn ngữ trong sử dụng công nghệ thông tin trên toàn thế giới, gìn giữ các tài liệu bằng các ngôn ngữ khác nhau hiện đang sử dụng; bảo tồn các di sản văn hoá; phát triển các khả năng tạo ra nội dung có chất lượng, bảo tồn
Trang 24và sử dụng tri thức bản địa và truyền thống; kết hợp một cách sáng tạo các phương tiện truyền thông khác nhau, bao gồm cả phương pháp tương tác để cung cấp dịch vụ thông tin; làm việc với các phương tiện truyền thông đại chúng để phổ cập việc sử dụng công
nghệ thông tin;
- Thông qua việc quản lý và phát triển nguồn nhân lực để phát triển khả năng của con người; tăng cường năng lực thể chế và tổ chức quản lý; tạo điều kiện cho con người hưởng lợi nhiều hơn từ công
nghệ thông tin, nhờ giáo dục và đào tạo;
- Thúc đẩy các chương trình phát triển kỹ năng công nghệ thông tin; nâng cao năng lực đào tạo chuyên gia công nghệ thông tin; lập các trung tâm công nghệ thông tin ở địa phương; phát triển năng lực R&D về công nghệ thông tin;
- Tạo lập và tăng cường mạng thông tin điện tử tạo điều kiện cho các nhà khoa học trao đổi thông tin rộng rãi hơn; tuyên truyền phổ biến rộng rãi lợi ích công nghệ thông tin đối với sự phát triển bền vững; tổ chức các chương trình năng cao nhận thức cho lãnh đạo
- Đẩy mạnh cơ hội số hoá: mở rộng khả năng truy nhập, kết nối
mạng và phát triển kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin Những tiến bộ trong công nghệ thông tin tạo cơ hội thuận lợi để mọi người có thể truy cập thông tin và tham gia mạng thông tin nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
Phục vụ cho tất cả mọi cộng đồng, mọi tầng lớp xã hội
Tạo sự kết nối bền vững đến mọi làng xã, mọi cộng đồng, nhất là đối với các quốc gia kém phát triển và những quốc đảo nhỏ
Tạo những trung tâm cộng đồng về thông tin và truyền thông ở nông thôn, ở những nơi xa xôi hẻo lánh
Đảm bảo sự truy cập bình đẳng các dịch vụ công nghệ thông tin cho mọi người nhất là phụ nữ và thanh niên
Chú ý đến những nhu cầu riêng của những người yếu thế, tàn tật, dân tộc thiểu số, bằng cách phát triển các công nghệ các ứng dụng và nội dung phù hợp
Các thiết bị đầu cuối cho người dùng phải rẻ tiền, dề sử dụng
Phát triển các doanh nghiệp và nhỏ
Trang 25 Giảm giá truy cập các dịch vụ công nghệ thông tin nhất là
ở các nước đang phát triển, các quốc đảo nhỏ
Phát triển các thế hệ mới công nghệ thông tin
Có phương pháp theo dõi, có các chỉ số đánh giá khoảng cách số hoá, bao gồm các chỉ số kết nối của cộng đồng
- Tạo môi trường thuận lợi: Rất cần thiết tạo ra một môi trường trong sáng, cạnh tranh và trung thực để cho các lợi ích của công
nghệ thông tin đạt tối đa:
Hoạch định và thực thi các chiến lược hữu hiệu về phát triển công nghệ thông tin ở cấp quốc gia và quốc tế
Có chính sách và chiến lược thu hút đầu tư cho kết cấu hạ tầng và phát triển dịch vụ cho mọi người với giá thấp
Có chính sách thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và hiệu quả trong việc tạo ra sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin
Tăng cường sự tham gia của các nước đang phát triển vào các diễn đàn quốc tế về chính sách công nghệ thông tin và tạo cơ hội trao đổi kinh nghiệm
Mở rộng việc tham gia của tất cả mọi người vào việc quản
lý xã hội thông tin
Xây dựng khuôn khổ pháp lý minh bạch, ổn định ở qui mô quốc gia và quốc tế cho sự phát triển xã hội thông tin
Có chính sách và chiến lược thúc đẩy phát triển thị trường
mở và cạnh tranh cho thương mại điện tử
Đẩy mạnh các sáng kiến nhằm đi tới cân đối giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với nhu cầu của người sử dụng thông tin
- Thúc đẩy sự tham gia và huy động các nguồn lực cho xã hội thông tin
Huy động sự tham gia của chính phủ, các tổ chức xã hội, khu vực tư nhân vào xây dựng và thực hiện các dự án công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)
Tạo ra các hình thức hợp tác mới cho phép mọi thành viên đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào quá trình ra quyết định về kế hoạch và thực hiện các dự án ICT
Trang 26 Chuyển các khó khăn do ICT đang gây ra thành các cơ hội bằng những sáng kiến hợp tác trong các ứng dụng xã hội.
- Đảm bảo sự tin cậy và an toàn trong sử dụng ICT
Bảo vệ tính riêng tư của dữ liệu và lợi ích người sử dụng
Đảm bảo sự trung thực trong các giao dịch điện tử và độ tin cậy trong kinh doanh điện tử
Xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật thích hợp cho toàn cầu
và khu vực để thúc đẩy sự phát triển các ứng dụng của công nghệ thông tin
Nâng cao chất lượng và đảm bảo sự kết nối tương tác của mạng toàn cầu và khu vực
Giải quyết kịp thời và thoả đáng các vấn đề mới nảy sinh
do sự hội tụ của công nghệ thông tin và truyền thông đại chúng
Tăng cường hợp tác quốc tế để chống lại tội phạm tin học
Có biện pháp, cơ chế để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề an toàn mạng và của nguồn tài nguyên cần thiết cho cộng đồng quốc tế
Tăng cường trao đổi kinh nghiệm và hợp tác quốc tế về an toàn mạng
Các chính sách và biện pháp nói trên nếu được thực hiện tốt thì xã hội thông tin toàn cầu sẽ là hiện thực, đem lai cơ hội to lớn cho các dân tộc, cho mọi người
7 Những mục tiêu cần đạt tới
Giới nghiên cứu cho rằng cần phải đạt được một số mục tiêu cụ thế như sau cho toàn thế giới:
- Năm 2010 - tất cả các làng xã đều có trung tâm viễn thông;
- Năm 2010 - tất cả các làng xã được nối mạng;
- Năm 2005 - tất cả các trường đại học được nối mạng, năm 2010 các trường trung học được nối mạng, năm 2015 các trườg tiểu học được nối mạng;
- Năm 2005 - tất cả các bệnh viện nối mạng, năm 2010 các trung tâm
y tế được nối mạng;
Trang 27- Năm 2010 - 90% dân số thế giới nằm trong vùng phủ sóng, đến năm
2015 - sẽ là 100%;
- Năm 2005 - mọi cơ quan của chính phủ trung ương có website và địa chỉ e-mail, và đến năm 2010 mọi cơ quan ở địa phương đều có website và e-mail;
Hiện nay một số nước đã có chiến lược tiến tới xã hội thông tin trước năm 2005, rất nhiều nước trước 2010 Singapore thì xem như đã thực hiện xong chiến lược “hòn đảo thông minh” vào năm 2000
Trong Khối APEC, ASEAN các nhà lãnh đạo đứng đầu chính phủ đã
có cam kết về thực hiện APEC điện tử và ASEAN điện tử trước năm 2010 Nước ta là thành viên của ASEAN và APEC đã cam kết vào đó
Đây là cơ hội lớn cho sự phát triển nhanh và rút ngắn của nước ta; chậm chạp bỏ lỡ cơ hội sẽ không tránh khỏi nguy cơ tụt hậu xa
III CHÍNH SÁCH QUỐC GIA VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở MỘT
SỐ NƯỚC
1 Phần Lan
Năm 1994, Chính phủ đã đưa ra chiến lược phát triển xã hội thông tin
mang tên: Phần Lan hướng tới xã hội thông tin, với một loạt các mục tiêu về
kinh tế - xã hội để thực hiện thành công xã hội thông tin
- Mục tiêu kinh tế: tiến hành toàn cầu hoá thành công; nâng cao vai trò
khu vực tư nhân; tăng cường sự cạnh tranh của khu vực nhà nước
- Mục tiêu xã hội: cân bằng sự phát triển xã hội; tạo cơ hội cho sự phát
triển cá nhân; xã hội phải dựa trên cơ sở cá nhân
Chiến lược của Phần Lan được soạn thảo dựa trên 2 lợi thế, 3 mục tiêu
và 5 lĩnh vực hành động Hai lợi thế là: Phần Lan vốn là xã hội thông tin và cũng là một đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ thông tin trên toàn cầu Ba mục tiêu là: phát triển xã hội thông tin Phần Lan; phát triển lĩnh vực thông tin; đảm bảo cung cấp đủ các điều kiện để phát triển xã hội thông tin (nghiên cứu, tri thức, cơ sở vật chất) Các hành động của Chính phủ bao gồm: coi công cụ thông tin mới là công cụ để thay đổi xã hội Phần Lan; lĩnh vực thông tin là lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế; tiến hành các hoạt động để duy trì, nâng cao chuyên môn trong lĩnh vực công nghệ thông tin; có nhiều người sử dụng công nghệ thông tin và các dịch vụ mới; duy trì cạnh tranh và chất lượng các dịch vụ thông tin hơn ở Phần Lan
Trang 28Là một nước mà rừng và đầm lầy chiếm đại bộ phận diện tích đã trở thành một nước phát triển đứng đầu thế giới, hơn cả Mỹ về tỷ lệ số người sử dụng Internet và số người có điện thoại di động Hơn 40 năm trước đây, kinh
tế nghề rừng của Phần Lan là trụ cột, chiếm tỷ lệ lớn trong GDP, nay chỉ còn 3%; nông dân chiếm 70% lực lượng lao động, nay chỉ còn 6%
2 Nhật Bản
Do không chú ý đúng mức đến vai trò của công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, Nhật Bản đang tụt hậu khá xa so với Hoa Kỳ trên con đường tiến tới kinh tế tri thức Để rút ngắn khoảng cách này, Nhật Bản đã có những quyết sách mạnh mẽ nhằm huy động tiềm năng trí tuệ của toàn xã hội, xây dựng xã hội thông tin hoá
Mặc dù vậy, trong thời gian qua, Nhật Bản cũng đạt được những kết quả đáng kể Những ngành dựa trên tri thức hiện chiếm trên 50% GDP, trở thành những ngành trụ cột của nền kinh tế Đầu tư cho công nghệ thông tin và viễn thông chiếm khoảng 4% GDP Đầu tư cho R&D thuộc loại cao nhất trong số các nước thuộc khu vực OECD Ở Nhật Bản, nhà nào cũng có máy vi tính riêng Để tạo điều kiện cho mọi người được tiếp xúc dễ dàng với công nghệ thông tin, Chính phủ đã có những chính sách khuyến khích các công ty công nghệ thông tin, điện thoại di động đưa ra những sản phẩm mới với giá
rẻ Đi đầu trong lĩnh vực này là Công ty viễn thông NTT Nhờ áp dụng phương thức kết nối không dây, người dân Nhật Bản khi sử dụng điện thoại di động có thể nối trực tiếp với mạng Internet mà không cần đến máy tính
Việc sử dụng Internet và thương mại điện tử đang bùng nổ tại Nhật Bản Từ năm 1994, Nhật Bản đã nhanh chóng thành lập 2000 công ty kinh doanh về phần mềm và Internet Hiện nay, Nhật Bản đã có một thị trường Internet với 15 triệu khách hàng thuê bao, chiếm tỷ lệ 13% tổng dân số, đạt doanh số 1,5 tỉ đôla Mỹ trong lĩnh vực thương mại điện tử năm 1999
Nhật Bản cũng đã có nhiều kế hoạch táo bạo nhằm tăng cường công nghệ thông tin Tháng 10-1994, Chính phủ thông qua quyết định thành lập Uỷ ban triển khai công nghệ thông tin, làm trụ cột phát triển các ngành kinh tế Nhật Bản cũng đưa ra kế hoạch xây dựng “Trục đường cao tốc thông tin Châu Á” nhằm xây dựng hệ thống tin học thống nhất toàn Châu Á và nối mạng với thế giới Chính phủ của Thủ tướng Y Mori đang phác hoạ một kế hoạch nâng cấp các cơ sở nghiên cứu khoa học, công nghệ, đầu tư mạnh vào chương trình
Trang 29nghiên cứu công nghệ nano và công nghệ vật liệu Các biện pháp nhằm thúc đẩy vai trò của công nghệ cao và công nghệ thông tin của Nhật Bản:
- Khuyến khích các công ty đầu tư rủi ro vào các lĩnh vực công nghệ mới và nhà nước thực hiện chính sách sửa đổi thuế cho phép các công
ty tránh được thiệt hại từ các vụ đầu tư này;
- Đầu tư vào công nghệ thông tin đạt 2% GDP và đang được chú trọng tăng lên;
- Xoá thuế đánh vào các sản phẩm máy tính và phần mềm được các công ty sử dụng, để thúc đẩy giao dịch mua bán với khách hàng và với các dịch vụ mới nhằm tăng mức tiêu thụ máy tính và sử dụng Internet;
- Cải cách giáo dục cấp 1 để giảm bớt thói quen học thuộc lòng và tăng cường tính sáng tạo cho học sinh cũng như tăng cường việc sử dụng máy tính trong nhà trường;
- Cải tạo lại phòng thí nghiệm ở các trường Đại học để tăng cường nghiên cứu cơ bản - một chiến lược quan trọng đã được đưa ra từ năm
1996 Đây là cách khắc phục tình trạng 80% hoạt động nghiên cứu của Nhật Bản chỉ là nghiên cứu ứng dụng Đây cũng là cách Nhật Bản chuẩn bị lực lượng để tranh chấp các ngành công nghệ tăng trưởng cao trong tương lai với các đối thủ Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu
Trong phát triển nguồn nhân lực, Chính phủ Nhật Bản luôn đặt trọng tâm vào mối liên hệ giữa giáo dục và công nghiệp Sự phát triển công nghiệp đóng vai trò định hướng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước Nhà nước đầu tư khá lớn để phát triển nguồn “vốn” nhân lực này Năm 1995, tổng đầu tư của Nhà nước cho nghiên cứu khoa học, công nghệ mới và phát triển giáo dục ở Nhật Bản là 6,6% GDP Nhật Bản đã tiến hành 3 lần cải cách giáo dục: lần thứ nhất với mục tiêu “học để biết”, lần thứ hai tập trung hướng “học
để làm” và lần thứ ba nhằm phục vụ mục đích “học để trở thành người Nhật Bản chân chính” Nhật Bản đã sớm đưa công nghệ thông tin vào chương trình phổ thông
Theo công bố mới nhất của tổ chức OECD, các yếu tố của kinh tế tri thức cũng đã phát triển cao ở Nhật Bản, hiện các ngành công nghiệp dựa trên kinh tế tri thức đã đóng góp tới 53% GDP Tuy nhiên, kinh tế tri thức ở Nhật Bản hiện chưa thể hiện một cách rõ nét Một trong những nguyên nhân là do phong cách quản lý từ trên xuống dưới và theo nguyên tắc nhất trí cao ở Nhật
Trang 30Bản đã làm chậm trễ quá trình nắm bắt cái mới, hạn chế năng lực quyết định của các nhà quản lý Nhật Bản đang hy vọng cách thức tiếp cận kinh tế tri thức thông qua công nghệ thông tin của Nhật Bản sẽ làm đảo lộn được quá trình trên.
3 Cộng hoà Liên bang Đức
Cộng hoà Liên bang Đức có kế hoạch hành động năm 2000 với tên gọi:
Năm 2000: nước Đức trên đường hướng tới xã hội thông tin Cũng giống các
nước châu Âu khác, nước Đức coi xã hội thông tin là một thách thức về mặt kinh tế, chính trị và xã hội Chính phủ Liên bang đặt ra 12 mục tiêu cơ bản:
“Hiện đại hóa nước Đức để đón nhận xã hội thông tin; thông qua khung pháp lý và kinh tế để khuyến khích đổi mới; phổ biến rộng rãi trong xã hội về
xã hội thông tin; đảm bảo công bằng; xây dựng và mở rộng cơ sở vật chất cho khu vực tư nhân; sử dụng phương tiện mới trong việc kết hợp với công nghệ thông tin; bảo vệ môi trường; bảo vệ các quyền cá nhân; xây dựng và phát triển hệ thống thông tin điện tử; tuân theo các quy tắc đã được đưa ra trong các hội nghị về chuyên đề này ở châu Âu và nhóm G7”
Kế hoạch hành động của Cộng hoà Liên bang Đức tập trung vào ba nội dung:
- Về kỹ thuật: Tăng cường và mở rộng các mạng lưới thông tin hiện
hành Nâng cao khả năng đảm bảo an toàn trong lĩnh vực thông tin và truyền thông
- Về pháp luật (bảo vệ người dân, thúc đẩy cạnh tranh): Nới lỏng các
quy định trong lĩnh vực thông tin, cạnh tranh Có biện pháp bảo vệ người dân, người tiêu dùng và quyền sở hữu trí tuệ Ngăn chặn tội phạm
- Về kinh tế - xã hội (giáo dục - đào tạo): Tư vấn cho xã hội và khu vực
kinh doanh Đảm bảo mối quan hệ tốt với nhân dân Mở rộng giáo dục, nghiên cứu và triển khai, sử dụng các chương trình của Liên minh châu Âu
Cộng hoà Liên bang Đức còn ra Luật về phương tiện truyền thông đa phương, gồm các điểm cơ bản sau: “Bảo vệ sự riêng tư cá nhân; chữ ký điện tử: tạo ra hệ thống chấp nhận giao dịch điện tử qua hệ thống mua bán, ngân hàng… Chống lại các hiện tượng bất hợp pháp”
Cho đến nay, Cộng hoà Liên bang Đức là nước duy nhất tạo ra khung pháp lý cho công nghệ thông tin (nhất là đối với Internet)
Trang 314 Đan Mạch
Chính phủ Đan Mạch đã hoạch định một chiến lược tổng thể về công nghệ thông tin để đưa Đan Mạch phát triển hướng tới xã hội thông tin Chiến lược này áp dụng thành công, công nghệ thông tin sẽ là nguồn lực cho phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân thông qua các chính sách mở rộng rãi, khuyến khích trao đổi thông tin cũng như tạo ra các dịch vụ ở khu vực chính phủ và và khu vực tư nhân tốt hơn Khu vực chính phủ sẽ chủ động thu hút khu vực tư nhân và đóng vai trò định hướng trong việc sử dụng có hiệu quả công nghệ thông tin
- Mục tiêu của chiến lược tổng thể: Khu vực chính phủ sẽ kết thúc công
việc gắn kết các mạng dịch vụ công cộng, dịch vụ điện tử với quyền lợi của mọi công dân và các công ty trước năm 2000; cố gắng tới mức cao nhất để có được lợi ích từ các chương trình của Liên minh châu Âu; mọi người dân Đan Mạch có khả năng truy cập và sử dụng công bằng Internet; có chính sách đặc biệt đối với các hoạt động mang tính chất văn hoá
Một số nội dung cụ thể trong chiến lược:
- Mạng dịch vụ công cộng: Tất cả công dân đều có thẻ công dân điện
tử, thay thế những giấy tờ không cần thiết Hình thành Chính phủ điện tử Người sử dụng có thể truy cập các kho thông tin từ máy tính, điện thoại ở mọi nơi
- Sử dụng dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân Đổi mới, đơn giản hoá tất
cả các vấn đề luật pháp liên quan đến thủ tục đăng ký, để việc đăng
ký có thể sử dụng các dữ liệu về cá nhân cho tất cả các mục đích hành chính và luật pháp, bỏ qua các thủ tục giấy tờ phiền phức
- Mạng lưới chăm sóc sức khoẻ tốt hơn, điều trị hiệu quả hơn Hình thành mạng lưới y tế khắp quốc gia phục vụ trao đổi thông tin giữa các bệnh viện, bác sĩ, bệnh nhân…
- Tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu, hình thành thư viện nghiên cứu điện tử
- Đổi mới phương thức và hệ thống giáo dục Công nghệ thông tin gắn với hệ thống giáo dục từ tiểu học, trung học Đảm bảo cho mọi trẻ em Đan Mạch làm chủ được công nghệ thông tin Các giáo viên sử dụng thành thạo máy tính Các trường học được kết nối với nhau và với Internet
Trang 32- Các thư viện điện tử thay thế dần thư viện truyền thống, hỗ trợ người
sử dụng tìm kiếm nhanh chóng thông tin trong các kho thông tin khổng lồ Xem xét vấn đề Luật bản quyền, lợi nhuận bản quyền đối với các ấn phẩm điện tử
- Phát triển các dịch vụ viễn thông với công nghệ mới hơn và rẻ hơn.Những người khuyết tật được đặc biệt chú ý ưu tiên trong xã hội thông tin của Đan Mạch
5 Ấn Độ
Ấn Độ chú trọng phát triển ưu thế giỏi chuyên môn và tiếng Anh của cán bộ làm phần mềm máy tính, tới mức “nhà nhà làm phần mềm” Sản xuất phần mềm là công nghiệp hiện đại duy nhất của Ấn Độ có khả năng cạnh tranh toàn cầu; giá trị sản lượng năm 1997 đạt 2,7 tỉ đôla Mỹ, xuất khẩu hàng năm tăng 55%, năm 1998 đạt 1,64 tỉ đôla Mỹ, năm 2000 đạt 4 tỉ đôla Mỹ, là một trong các mặt hàng xuất khẩu lớn nhất Chú trọng tăng cường đào tạo cán
bộ phần mềm; hiện có 100 nghìn người làm việc ở nước ngoài, 200 nghìn người làm trong nước Nhà nước xây dựng nhiều khu công nghệ phần mềm (STP) có trang bị cơ sở hạ tầng hiện đại dùng trạm vệ tinh mặt đất để nhận đơn đặt hàng nước ngoài và xuất sản phẩm; cách xuất khẩu phần mềm tại chỗ này đạt quy mô lớn nhất thế giới Bộ Điện tử lập một cơ quan quản lý STP Các công ty làm việc tại khu công nghệ phần mềm được miễn 10 năm thuế nhập khẩu và thuế thu nhập Ấn Độ đặt mục tiêu đẩy nhanh nền công nghiệp phần mềm, tăng mức xuất khẩu của ngành này lên 10 tỉ đôla Mỹ vào những năm đầu của thế kỷ XXI
Để thúc đẩy phát triển nông nghiệp, Ấn Độ đã có chính sách hỗ trợ sản xuất máy tính giá rẻ, phát triển kết nối Internet tới các làng nông nghiệp xa xôi, hẻo lánh, các trang trại với các trường đại học, các viện nghiên cứu, cho phép nông dân tiếp cận và cùng chia sẻ rộng rãi các thông tin thiết yếu về khí tượng thuỷ văn, y tế và canh tác… Với chính sách này, Ấn Độ kỳ vọng sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ 2 con số và lương thực tăng gấp đôi
6 Cuba
Cuba gặp nhiều vấn đề khó khăn về hệ thống y tế quốc gia Một trong những bước để duy trì chăm sóc y tế trong điều kiện thiếu mọi nguồn lực, hệ thống y tế công cộng của quốc gia là Cuba đã tập trung xây dựng mạng thông tin y tế Cuba bắt đầu bằng việc chia sẻ tri thức và tạo điều kiện tiếp cận thông tin liên quan đến y tế thông qua thư điện tử với việc sử dụng tối thiểu các
Trang 33nguồn lực Hiện nay, mạng thông tin y tế đã mở rộng ra khắp cả nước bao trùm cả các tỉnh và khu vực và dẫn đến việc áp dụng rộng rãi phổ biến hơn, nhất là trong lĩnh vực giáo dục.
7 Côxta Rica
Côxta Rica theo đuổi một chiến lược gắn chặt việc phổ biến công nghệ thông tin - truyền thông vào chương trình phát triển bền vững quốc gia của mình, và phần lớn nguyên nhân của tăng trưởng kinh tế hiện nay tại nước này (8.3% của tỷ lệ tăng trưởng GNP năm 1999, tỷ lệ cao nhất trong các nước Mỹ Latinh) là do chiến lược này Thành công của nỗ lực này là do vai trò lãnh đạo chính trị mạnh mẽ Các thành phần của chiến lược công nghệ thông tin và truyền thông của Côxta Rica bao gồm việc tập trung mạnh mẽ vào giáo dục
và phát triển các kỹ năng thích hợp trên khắp đất nước và nỗ lực đầy quyết tâm sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm giúp các dân tộc thiểu
số nông thôn sống cách biệt hoà nhập vào kinh tế quốc gia Một số bước đã được tiến hành là:
- Lắp đặt các phòng thí nghiệm máy tính ở 100% các trường đại học quốc gia;
- Giới thiệu “các thông minh” trên toàn quốc và ứng dụng phổ biến trong quản lý hành chính công cộng, giao thông, điện thoại công cộng
và các dịch vụ y tế;
- Phát triển các đơn vị di động đa phương tiện, đa mục đích độc lập có thể chuyển tới bất kỳ cộng đồng nông thôn nào Những đơn vị này (gọi là “LINCOS” - các cộng đồng kém thông minh) được đặt trong một côngtenơ chở hàng thông thường và cung cấp điện năng bằng các máy phát điện của chính nó, đã cung cấp một loạt các chức năng, bao gồm truy cập Internet, đào tạo về công nghệ thông tin - truyền thông, một nhà hát nhỏ, các phương tiện thư điện tử, v.v…
Trang 34rộng rãi đối với các loại dịch vụ của Nhà nước, như bệnh viện, giao thông công cộng, điện thoại công cộng…
Những kết quả này đạt được nhờ có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc nhanh chóng nối mạng sẽ góp phần duy trì sự tồn tại của một quốc gia nhỏ, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông có thể làm giảm khoảng cách giữa những người giàu và người nghèo và khuyến khích dân số nông thôn phát triển ở mức ổn định
Ngày nay, Mali đã thu được những lợi ích đáng kể từ những ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông như khám chữa bệnh từ xa, đào tạo từ xa,
và thương mại điện tử Chính sách quan trọng nhất được Chính phủ Mali quan tâm là việc tạo ra một môi trường cạnh tranh cho khu vực viễn thông Tác động của công nghệ thông tin và truyền thông đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Mali rất khả quan Chính phủ đang tiến hành triển khai những kế hoạch kết nối mạng cho toàn bộ 701 xã trên toàn quốc Một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến thành công của chương trình công nghệ thông tin và truyền thông quốc gia là do sự tham gia trực tiếp và hỗ trợ lớn của Tổng thống nước Cộng hoà
10 Các quốc đảo nhỏ đang phát triển
Các quốc đảo nhỏ đang phát triển đã nắm bắt cơ hội quý giá, ứng dụng
công nghệ thông tin vượt qua những bất lợi về vị trí địa lý cô lập và thị trường
nội địa nhỏ bé, tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, khuyến khích khả năng tiếp
cận các thị trường phù hợp về du lịch và xuất khẩu hàng nội địa Một số kết quả thu được đáng kể, như cung cấp 80% thông tin thị trường du lịch, đảm bảo thông tin thị trường cho xuất khẩu, tăng cường dịch vụ tài chính và bảo hiểm, giám sát và quản lý vùng đánh cá biển, đẩy mạnh các hoạt động đào tạo
và chữa bệnh từ xa
Trang 35IV CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN Ở NƯỚC TA.
Từ những năm 70 công nghệ thông tin ở nước ta đã được ứng dụng và phát triển, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất n-ước Nhận thức của toàn xã hội về vai trò và ý nghĩa quan trọng của công nghệ thông tin đã được nâng lên một bước Nguồn nhân lực về công nghệ thông tin tăng lên đáng kể Viễn thông đang phát triển nhanh theo hướng hiện đại hoá Việc xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000 -
2005 đã đạt được một số kết quả ban đầu Tuy nhiên, nhìn chung công nghệ thông tin Việt Nam hiện nay vẫn đang ở tình trạng lạc hậu, phát triển chậm,
có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trên thế giới và khu vực
1 Một số kết quả đã đạt được
Về công nghiệp máy tính
Hiện nay đã có nhiều công ty hợp tác với các công ty nước ngoài lắp ráp máy tính thương hiệu Việt Nam, giá và chất lượng đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Nhiều máy tính thương hiệu Việt Nam đã được lắp ráp
và phân phối rộng trên thị trường như CMC, SingPC, Mekong Green, VINACom, T&H, Robo… Tổng vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào các dây chuyền lắp ráp máy tính ước tính khoảng 51,2 tỷ đồng, tạo việc làm cho trên 1000 lao động Trong đã các doanh nghiệp nhà nước đã đầu tư tư 37,7 tỷ đồng (Hanel, Genpacific, Vitek- Viettronic Tân Bình), các công ty tư nhân có tổng đầu tư là 13,5 tỷ đồng Tổng công suất các dây chuyền trong nước có thể lắp ráp được trên 400 nghìn máy tính/năm Nếu phát huy hết công suất của các dây chuyền này có thể đủ thoả mãn nhu cầu máy tính trong nước hiện nay Năm 2001 các doanh nghiệp lắp ráp được 21.700 chiếc, năm 2002 lắp được 39.200 chiếc, năm 2003 dự kiến có thể lắp được 95.500 chiếc (máy tính thương hiệu Việt Nam có thể sẽ chiếm 25-30% thị phần trong năm 2003, so với 17% thị phần năm trước)
Ngoài việc cạnh tranh về chất lượng sản phẩm các doanh nghiệp lắp ráp máy tính trong nước đã chú trọng đến khâu dịch vụ hậu mãi Phần lớn các doanh nghiệp có mạng lưới bán hàng và bảo hành trên nhiều địa bàn, trong đó nhiều doanh nghiệp có mạng lưới dịch vụ hậu mãi khắp ở 61 tỉnh thành trên toàn quốc
Cho đến nay có hơn 20 doanh nghiệp lắp ráp máy tính có thương hiệu Hầu hết các doanh nghiệp tuyên bố lắp ráp máy tính có thương hiệu đều phấn