QUAN ĐIỂM DUY VẬT VỀ XÃ HỘI CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN TRONG HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨCNGUYỄN NGỌC HÀ ()Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra những quan điểm duy vật về xã hội mà nhờ đó, lần đầu tiên trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy tâm đã bị “tống ra khỏi” lĩnh vực xã hội. Đó là: quan điểm về các hành vi lịch sử đầu tiên của con người; quan điểm về tiêu chuẩn phân biệt con người với súc vật; quan điểm về vai trò của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của xã hội; quan điểm về hai quan hệ song trùng trong sự sản xuất ra đời sống; quan điểm về vai trò của quan hệ giữa người và người về vật chất đối với quan hệ giữa người và người về tinh thần. Trong Hệ tư tưởng Đức (chủ yếu ở chương “Phoiơbắc – sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm”), khi phê phán Phoiơbắc và một số nhà triết học khác, C.Mác và Ph.Ăngghen đã trình bày những quan điểm cơ bản của mình về xã hội. Đây là những quan điểm duy vật mà nhờ đó, lần đầu tiên trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy tâm đã bị “tống ra khỏi” lĩnh vực xã hội. Trong số các quan điểm duy vật đó, trước hết phải kể đến năm quan điểm sau đây.
Trang 1QUAN ĐIỂM DUY VẬT VỀ XÃ HỘI CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN TRONG HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC
NGUYỄN NGỌC HÀ (*)
Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra những quan điểm duy vật về xã hội mà
nhờ đó, lần đầu tiên trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy tâm đã bị “tống ra khỏi” lĩnh vực xã hội
Đó là: quan điểm về các hành vi lịch sử đầu tiên của con người; quan điểm về tiêu chuẩn phân biệt con người với súc vật; quan điểm về vai trò của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của xã hội; quan điểm về hai quan hệ song trùng trong sự sản xuất ra đời sống; quan điểm về vai trò của quan hệ giữa người và người về vật chất đối với quan hệ giữa người và người về tinh thần Trong Hệ tư tưởng Đức (chủ yếu ở chương “Phoiơbắc – sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan
điểm duy tâm”), khi phê phán Phoiơbắc và một số nhà triết học khác, C.Mác và Ph.Ăngghen đã trình bày những quan điểm cơ bản của mình về xã hội Đây là những quan điểm duy vật mà nhờ đó, lần đầu tiên trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy tâm đã bị “tống ra khỏi” lĩnh vực xã hội Trong số các quan điểm duy vật đó, trước hết phải kể đến năm quan điểm sau đây
Thứ nhất, quan điểm về các hành vi lịch sử đầu tiên C.Mác và Ph.Ăngghen nghiên cứu xã hội bắt
đầu từ việc xác định các hành vi lịch sử đầu tiên của con người, những hành vi quyết định sự tồn tại và phát triển của con người, của xã hội loài người, những hành vi không phụ thuộc vào ý muốn tùy tiện của bất kỳ ai Quan điểm này đã được các ông khẳng định một cách rõ ràng:
“Những tiền đề xuất phát của chúng tôi không phải là những tiền đề lịch sử tùy tiện, không phải là giáo điều; đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi
Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra Như vậy, những tiền đề ấy là có thể kiểm nghiệm được bằng con đường kinh nghiệm thuần túy”
“Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống”
“ Tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có khả năng “làm ra lịch sử” Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Như vậy hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất trong(**) những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất Vì vậy, khi làm sáng tỏ bất kỳ một hiện thực lịch sử nào, việc đầu tiên là phải quan sát sự kiện cơ bản đó với toàn bộ ý nghĩa và phạm vi của nó, và phải dành cho nó một vị trí xứng đáng”
“Điểm thứ hai là bản thân cái nhu cầu đầu tiên đã được thỏa mãn, hành động thỏa mãn và công cụ
để thỏa mãn mà người ta đã có được - đưa tới những nhu cầu mới; và sự sản sinh ra những nhu
Trang 2cầu mới này là hành vi lịch sử đầu tiên”.
“Quan hệ thứ ba tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển lịch sử: hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ
giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”(1).
Đúng như C.Mác và Ăngghen đã viết ở trên, việc con người sản xuất ra đời sống của bản thân mình bằng lao động và sản xuất ra đời sống của người khác bằng việc sinh con đẻ cái (cụ thể là hành vi lao động và hành vi sinh con đẻ cái) là hai hành vi lịch sử đầu tiên của con người (có từ khi con người đầu tiên xuất hiện và vẫn còn biểu hiện ra trong lịch sử) Hai hành vi này quyết định sự tồn tại của con người, cũng tức là quyết định sự tồn tại của loài người và lịch sử loài người Ngay
từ khi có lịch sử loài người cho đến nay và mãi về sau, con người không lúc nào ngừng sản xuất ra đời sống của mình, tức là không ngừng lao động và sinh con đẻ cái Lao động và sinh con đẻ cái là hai hành vi của con người đã và đang quyết định sự tồn tại và phát triển của loài người Đây là một chân lý đơn giản và dễ hiểu đối với mọi người Thế nhưng, trong giới lý luận, chỉ đến C.Mác và Ph.Ăngghen, chân lý đó mới được phát hiện Các nhà lý luận trước Mác đã coi thường hoạt động thực tiễn, đặc biệt là hoạt động sản xuất vật chất (tức là lao động)(2) Chẳng hạn, L.Phoiơbắc “chỉ coi hoạt động lý luận là hoạt động đích thực của con người, còn thực tiễn chỉ được ông xem xét và xác định trong hình thức biểu hiện Do Thái bẩn thỉu của nó mà thôi”(3) Điều đó đã cản trở các nhà
lý luận trước Mác tiếp cận đến quan điểm duy vật về xã hội loài người
Thừa nhận quan điểm con người sản xuất “ra đời sống của bản thân mình bằng lao động, cũng như
ra đời sống của người khác bằng việc sinh con đẻ cái ”(4) đã và đang quyết định sự tồn tại và phát triển của loài người là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với việc tìm ra những quan điểm duy vật khác về lịch sử xã hội loài người Có thể so sánh ý nghĩa của quan điểm này đối với sự nghiên cứu
xã hội giống như ý nghĩa của quan điểm về hàng hóa đối với sự nghiên cứu nền kinh tế của xã hội
tư bản chủ nghĩa
Thứ hai, quan điểm về tiêu chuẩn phân biệt con người với súc vật C.Mác và Ph.Ăngghen cho
rằng, tiêu chuẩn phân biệt con người với súc vật là ở chỗ, con người sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, còn súc vật thì không làm được như vậy Các ông viết: “Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con
người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu
sinh hoạt của mình”(5) Quan điểm thứ hai này là kết luận tất yếu suy ra từ quan điểm thứ nhất ở trên Trước đó, người ta thường định nghĩa “con người là động vật có tư duy” hoặc “người là động
vật xã hội” Những định nghĩa như vậy không sâu sắc bằng định nghĩa “con người là động vật sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình” Với tư cách động vật sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt
của mình, con người bao giờ cũng là con người cụ thể, vì nó phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của
việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt: “Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh
cũng tạo ra con người đến mức ấy”(6) Chúng ta không thể đòi hỏi một người hoặc những người
Trang 3nào đó phải có những tư tưởng (ý nghĩ, sự hiểu biết…) vượt ra ngoài điều kiện cụ thể mà họ sống, những điều kiện này, suy cho cùng, bị quy định bởi việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt: “Hoạt động sống của họ như thế nào thì họ là như thế ấy Do đó, họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với
sản xuất của họ, với cái mà họ sản xuất ra cũng như với cách mà họ sản xuất Do đó, những cá
nhân là như thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ”(7)
Thứ ba, quan điểm về vai trò của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của xã hội Đời sống
tinh thần của xã hội được hình thành từ đời sống tinh thần của các cá nhân Đời sống tinh thần của
các cá nhân cũng như của xã hội phụ thuộc vào đời sống vật chất, tức là phụ thuộc vào việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt Về điều này, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Chính con người là kẻ sản xuất ra những quan niệm, ý niệm, v.v của mình, song đây là những con người hiện thực, đang hành động, đúng như họ bị quy định bởi một sự phát triển nhất định của những lực lượng sản xuất của họ và bởi sự giao tiếp phù hợp với sự phát triển ấy, kể cả những hình thức rộng rãi nhất của sự giao tiếp ấy Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức, và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người”(8)
Do không thấy được vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của xã hội, nên các nhà triết học và sử học trước Mác “chỉ có thể thấy lịch sử là những hành động chính trị của vương công và của nhà nước, những cuộc đấu tranh tôn giáo và đấu tranh lý luận nói chung”(9) mà không thấy được vai trò quyết định của quần chúng nhân dân Họ không quan niệm lịch sử diễn ra một cách tự nhiên, mà lại hình dung lịch sử vận động một cách ngẫu nhiên, phụ thuộc vào sự xuất hiện của một nhân vật lịch sử nào đó hoặc vào ý kiến của một cá nhân nào đó C.Mác và Ph.Ăngghen “không xuất phát từ những điều mà con người nói, tưởng tượng, hình dung”, “cũng không xuất phát từ những con người chỉ tồn tại trong lời nói, trong ý nghĩ, trong tưởng tượng, trong biểu tượng của người khác, để từ đó mà đi tới những con người bằng xương bằng thịt”, mà
“xuất phát từ những con người đang hành động, hiện thực và chính là cũng xuất phát từ quá trình đời sống hiện thực của họ” để “mô tả sự phát triển của những phản ánh tư tưởng và tiếng vang tư tưởng của quá trình đời sống ấy” Theo các ông, “ngay cả những ảo tưởng hình thành trong đầu óc con người cũng là những vật thăng hoa tất yếu của quá trình đời sống vật chất của họ, một quá trình có thể xác định được bằng kinh nghiệm và gắn liền với những tiền đề vật chất Như vậy thì đạo đức, tôn giáo, siêu hình học và những dạng khác của hệ tư tưởng cùng với những hình thái ý thức tương ứng với chúng, liền mất ngay mọi vẻ độc lập bên ngoài Tất cả những cái đó không có lịch sử, không có sự phát triển; chính con người, khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức”(10)
Quan điểm về vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của xã hội, về thực chất, là quan điểm về vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội Đây chính là quan điểm trọng tâm trong hệ thống các quan điểm duy vật về xã hội loài người
Trang 4Thứ tư, quan điểm về hai quan hệ song trùng trong sự sản xuất ra đời sống Trong hoạt động sản
xuất ra đời sống có hai quan hệ song trùng là quan hệ giữa người với tự nhiên và quan hệ giưa người với người Về điều này, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Như vậy, sự sản xuất ra đời sống – ra đời sống của bản thân mình bằng lao động, cũng như ra đời sống của người khác bằng việc sinh con đẻ cái biểu hiện ngay ra là một quan hệ song trùng: một mặt là quan hệ tự nhiên, mặt khác là quan hệ xã hội, quan hệ xã hội với ý nghĩa đó là sự hợp tác của nhiều cá nhân, không kể là trong những điều kiện nào, theo cách nào và nhằm mục đích gì Do đó chúng thấy rằng một phương thức sản xuất nhất định hay một giai đoạn công nghiệp nhất định là luôn luôn gắn liền với một phương thức hợp tác nhất định hay một giai đoạn xã hội nhất định; rằng bản thân phương thức hợp tác ấy
là một “sức sản xuất”; và cũng do đó mà thấy rằng tổng thể những lực lực sản xuất mà con người
đã đạt được, quyết định trạng thái xã hội ”(11)
Trong quá trình sản xuất ra đời sống (không chỉ sản xuất ra đời sống của người khác), con người phải có quan hệ với nhau, quan hệ này phát triển cùng với sự phát triển của sản xuất Theo C.Mác
và Ph.Ăngghen, sự sản xuất “có tiền đề là sự giao tiếp (Verkehr) giữa những cá nhân với nhau
Hình thức của sự giao tiếp ấy, đến lượt nó, lại do sự sản xuất quy định”; “ ngay từ đầu, đã có mối liên hệ vật chất giữa người và người, mối liên hệ này bị quy định bởi những nhu cầu và những phương thức sản xuất và cũng lâu đời như bản thân loài người, - một mối liên hệ không ngừng mang những hình thức mới ”(12)
Giữa lực lượng sản xuất và quan hệ giao tiếp (quan hệ sản xuất) có thể có xung đột, và sự xung đột ấy là nguyên nhân khách quan dẫn đến sự xung đột xã hội “Tất cả mọi sự xung đột trong lịch
sử, - C.Mác và Ph.Ăngghen viết, - đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa những lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp”(13)
Quan điểm thứ tư trên đây, về thực chất, chính là quan điểm về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Thứ năm, quan điểm về vai trò của quan hệ giữa người và người về vật chất đối với quan hệ giữa
người và người về tinh thần Về điều này, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Trong mọi thời đại, những
tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực
lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội Giai cấp
nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất, thành thử nói chung những tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời
bị giai cấp thống trị đó chi phối Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện dưới hình thức tư tưởng; do đó là sự biểu hiện của chính ngay của những quan hệ làm cho một giai cấp trở thành giai cấp thống trị; do đó, đó là những tư tưởng của sự thống trị của giai cấp ấy”(14)
Quan hệ giữa con người với con người có hai loại là quan hệ vật chất và quan hệ tinh thần; trong
Trang 5đó, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, quan hệ vật chất quyết định quan hệ tinh thần Quan điểm đúng đắn này của C.Mác và Ph.Ăngghen về xã hội là cơ sở phương pháp luận khoa học vô cùng quan trọng để chúng ta xem xét và phân tích chính xác các vấn đề quan trọng và phức tạp của triết học
xã hội, như bản chất của chiến tranh, bản chất của nhà nước và pháp luật, bản chất của chính trị, đạo đức và tôn giáo…
Trong lịch sử, từ xa xưa cho đến nay, vẫn thường xuyên xảy ra những cuộc chiến tranh tàn khốc
mà thoạt nhìn, chúng ta dễ lầm tưởng đó là những cuộc chiến tranh thuần túy vì những tư tưởng nào đó (thuần túy vì tôn giáo, vì độc lập dân tộc, vì tự do, vì nhân nghĩa ) Thực ra thì không phải như vậy Nguyên nhân xâu sa của mọi cuộc chiến tranh giữa người và người là sự tranh giành các
tư liệu sinh hoạt (thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo ) Tranh giành về tư tưởng nào đó nếu có thì chỉ là nguyên nhân phái sinh chứ không phải là nguyên nhân sâu xa của các cuộc chiến tranh Thông thường, để gây ra một cuộc chiến tranh thì người gây chiến phải tìm một lý do tư tưởng nào
đó, tức là phải coi cuộc chiến chiến tranh ấy là “hợp lý”, “có giá trị phổ biến” Điều này cũng đúng đối với các hành vi bạo lực của nhà nước dùng để trấn áp sự phản kháng của những người không chấp hành pháp luật của nhà nước “Thật ra, mỗi giai cấp mới thay thế cho giai cấp thống trị trước mình, muốn thực hiện được mục đích của mình, đều nhất thiết phải biểu hiện lợi ích của bản thân mình thành lợi ích chung của mọi thành viên trong xã hội hay nói một cách trừu tượng: phải gắn cho những tư tưởng của bản thân mình một hình thức phổ biến, phải biểu hiện những tư tưởng đó thành những tư tưởng duy nhất hợp lý, duy nhất có giá trị phổ biến”(15) Nhà nước tư sản
“chẳng phải là cái gì khác mà chỉ là hình thức tổ chức mà những người tư sản buộc phải dùng đến
để bảo đảm lẫn cho nhau sở hữu và lợi ích của họ, ở ngoài nước cũng như ở trong nước”, “nhà nước là hình thức mà các cá nhân thuộc một giai cấp thống trị dùng để thực hiện lợi ích chung của
họ và là hình thức dưới đó toàn bộ xã hội công dân của một thời đại được biểu hiện một cách tập trung”(16)
Quan điểm thứ năm trên đây, về thực chất, chính là quan điểm về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng
và kiến trúc thượng tầng
Ngoài năm quan điểm trên đây, trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen còn trình bày nhiều
quan điểm duy vật khác về xã hội loài người Tuy nhiên, năm quan điểm ấy cũng đã tạo thành nội
dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Vì thế, có thể nói, với Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã tạo nên một cuộc cách mạng trong triết học.r
Trang 6Để khắc phục tình trạng này, đòi hỏi phải nắm vững phép biện chứng duy vật, phải thấy được mối quan hệ qua lại và sự thống nhất biện chứng giữa kinh nghiệm và lý luận Phải bám sát thực tiễn, khái quát thực tiễn, khái quát lý luận, xây dựng được chiến lược phát triển đúng đắn, phù hợp với từng thời kỳ lịch sử Vê bệnh giáo điều Bệnh giáo điều là trạng thái sai lầm trong quá trình tư duy của chủ thể ( tính máy móc, rập khuôn, cứng nhắc, thiếu sáng tạo), mang lại hiệu quả xấu cho hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn Thực chất của bệnh giáo điều là sự tuyệt đối hoá tri thức lý luận, tri thức khoa học, coi tri thức đã là chân lý tuyệt đối và vận dụng một cách máy móc những tri thức đó vào hoạt động nhận thức cũng như hoạt động cải tạo hiện thực mà không tính đến tính lịch
sử - cụ thể của những hoạt động đó
Xét từ khía cạnh trình độ nhận thức thì bệnh giáo điều có nguồn gốc từ sự yếu kém về tư duy lý luận, nhất là lý luận của CNDV biện chứng, do đó, dẫn đến hạn chế khả năng áp dụng tri thức một cách linh hoạt, sáng tạo vào cuộc sống và không hiểu được tính biện chứng của quá trình nhận thức cũng như biện chứng của lịch sử xã hội
Trong thực tiễn, đôi khi bệnh giáo điều biểu hiện ở việc áp dụng cái chung vào cái riêng một cách đơn giản, lấy cái phổ biến áp đặt cho cái riêng, cái đặc thù, hoặc áp dụng một lý thuyết, một mô hình chưa được kiểm nghiệm thực sự bởi thực tiễn Sai lấm đó chính là ở chỗ, như Lênin nói: "Nêu chỉ biết bắt chước, không có tinh thần phê phán mà đem rập khuôn kinh nghiệm đó một cách mù quáng vào những điều kiện khác, như thế là sai lầm nghiêm trọng"
Ở nước ta, ngay sau khi tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình, trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều” Lời căn dặn đó đến nay vẫn giữ nguyên giá trị trong việc học tập kinh nghiệm phát triển kinh tế và quản lý kinh tế của các nước phát triển trên thế giới
Trước đây chúng ta đã nhận thức giáo điều mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô, bởi coi đó là kiểu mẫu duy nhất mà không tính đến điều kiện đặc thù của Việt Nam Rất tiếc, khi phát hiện ra sai lầm, chúng ta đã chậm khắc phục, sửa chữa, nên căn bệnh này vẫn còn tác động tiêu cực đến sự phát triển của đất nước Để căn bản khắc phục căn bệnh này theo tinh thần của phép biện chứng duy vật, chúng ta phải triệt để phân tích mọi vấn đề trong tính lịch sử - cụ thể của nó Từ đó mà tìm ra những giải pháp phù hợp , tránh rập khuôn, máy móc, tránh tuyệt đối hoá các tri thức đã có
Những căn bệnh trên đây thường gắn bó chặt chẽ với nhau Chúng là một trong những nguyên nhân đưa nước ta vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế, xã hội những năm 80 Với tinh thần cách mạng khoa học, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, trong đó đổi mới tư duy lý luận được xem là cơ sở Từ đó đến nay, chúng ta đã có những bước tiên quan
Trang 7trọng trong việc khắc phục các khuynh hướng tư duy sai lẩm, vận dụng một cách khoa học tư duy biện chứng duy vật trong việc giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra.
Tuy nhiên, vốn là những bệnh đã tồn tại khá lâu dài và những cơ sở nảy sinh ra chúng chưa hoàn toàn mất đi, nên chúng chưa hoàn toàn bị loại trừ Ở mức độ nào đó, những căn bệnh này vẫn còn ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc đổi mới của chúng ta
Việc ngăn ngừa, khắc phục các căn bệnh nói trên về thực chất phải là quá trình xoá bỏ những nguồn gốc đã sinh ra chúng Điều đó có nghĩa là phải xoá bỏ tình trạng yếu kém về tư duy lý luận, phát triển tư duy lý luận lên trình độ cao Muốn vậy, trước hết phải nắm vững phương pháp luận biện chứng duy vật và thông qua đó, không ngừng nâng cao trình độ lý luận, năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn
Như vậy, nắm vững phép biện chứng duy vật sẽ giúp cho chủ thể vừa ngăn ngừa, khắc phục những khuynh hướng tư duy sai lầm, vừa nâng cao năng lực tư duy, tạo khả năng giải quyết đúng đắn những vấn đề do thực tiên đặt ra
Câu 2: Khái niệm thế giới quan, các hình thức thế giới quan, bản chất và những
nguyên tắc phương pháp
Câu 2: Khái niệm thế giới quan, các hình thức thế giới quan, bản chất và những nguyên tắc phương pháp luận của thế giới quan duy vật biện chứng và việc vận dụng chúng vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay?
1 Khái niệm thế giới quan duy vật biện chứng thế giới quan DVBC là thế giới quan mà cơ sở của nó
là duy vật và cách tiếp cận là biện chứng
Là hệ thống các quan điểm của con người về thế giới, là hệ thống các phương pháp nhận thức và cải tạo thế giới, là hệ thống các giá trị để con người đánh giá và điều chỉnh các hành vi trong hoạt động của mình Nó là khoa học về các quy luật chung nhất của sự vận động phát triển của tự nhiên, xã hội
và tư duy về các quy luật hệ thống
2 Hình thức thế giới quan duy vật biện chứng (Nội dung)
Nội dung = Hình thức? Nội dung của phép biện chứng duy vật bao gồm 2 nguyên lý (nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển), 3 quy luật cơ bản (quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại, quy luật phủ định của phủ định) và 6 cặp phạm trù với tính cách là những quy luật không
cơ bản (cái chung và cái riêng; nội dung và hình thức; nguyên nhân và kết quả; bản chất và hiện tượng; tất nhiên và ngẫu nhiên; khả năng và hiện thực)
3 Bản chất của thế giới quan duy vật biện chứng
Trang 8Bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng được thể hiện ở việc giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm thực tiễn, ở sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng, ở quan niệm duy vật triệt để và ở tính thực tiễn cách mạng của nó
- Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm thực tiễn
Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại Ở đây mối quan hệ này được hiểu
là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Bằng việc đưa quan điểm thực tiễn vào hoạt động nhận thức, đặc biệt việc thấy vai trò quyết định của hoạt động sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và sự phát triển của xã hội, các nhà duy vật biện chứng đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước
đó để giải quyết thoả đáng các vấn đề cơ bản của triết học
- Sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng
Trước Mác, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng về cơ bản bị tách rời nhau Chủ nghĩa duy vật tuy
có chứa đựng một số tư tưởng biện chứng nhất định, nhưng nhìn chung phương pháp siêu hình giữ vai trò giữ vai trò thống trị đặc biệt trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII Trong khi đó, phép biện chứng lại đạt đến đỉnh cao ở chủ nghĩa duy tâm với quan niệm về sự phát triển của "ý niệm tuyệt đối" trong triết học cổ điển Đức Việc tách rời giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng đã không chỉ làm các nhà duy tâm mà ngay cả các nhà duy vật trước Mác không hiểu về mối liên hệ phổ biến, về sự thống nhất và nối tiếp nhau của các sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất
Với việc kế thừa những tư tưởng hợp lý của các học thuyết trước đó, với việc tổng kết thành tựu các khoa học của xã hội đương thời, C Mac và Ăngghen đã giải thoát thế giới quan duy vật khỏi hạn chế siêu hình và cứu phép biện chứng khỏi tính chất duy tâm thần bí để hình thành nên chủ nghĩa duy vật biện chứng với sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng
- Quan niệm duy vật triệt để (duy vật cả về mặt xã hội)
Chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật không triệt để Khẳng định sản xuất vật chất là cơ
sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và coi sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử - tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục được tính không triệt để của chủ nghĩa duy vật cũ
- Tính thực tiễn - cách mạng
Tính thực tiễn - cách mạng của chủ nghĩa duy vật biện chứng trước hết thể hiện ở:
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ giải thích thế giới mà còn đóng vai trò cải tạo thế giới + Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ giải thích thế giới mà còn đóng vai trò cải tạo thế giới
Trang 94 Những nguyên tắc phương pháp luận của thế giới quan duy vật biện chứng
Nguyên tắc luận được rút ra để định hướng cho hoạt động của con người là: Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức, con người phải tôn trọng khách quan đồng thời phải phát huy tính năng động chủ quan của mình
4.1 Tôn trọng khách quan: Tôn trọng khách quan là tôn trọng vai trò quyết định của vật chất Điều này đòi hỏi trong nhận thức và hành động con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy khách quan làm cơ sở, phương tiện cho hành động của mình
- Một số biểu hiện của việc tôn trọng khách quan:
+ Mục đích, đường lối, chủ trương con người đặt ra không được xuất phát từ ý muốn chủ quan mà phải xuất phát từ hiện thực, phản ánh nhu cầu chín muồi và tính tất yếu của đời sống vật chất trong từng giai đoạn cụ thể
+ Tổng kết quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã rút ra kết luận mang tính định hướng là: "Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan"
- Khi đã có mục đích, đường lối, chủ trương đúng, phải tổ chức được lực lượng vật chất để thực hiện nó
4.2 Phát huy tính năng động chủ quan: Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò của nhân tố con người trong việc vật chất hoá những tính chất ấy
- Một số biểu hiện cơ bản của nó là:
Phải tôn trọng tri thức khoa học, phải làm chủ tri thức khoa học và truyền bá tri thức khoa học vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin định hướng cho quần chúng hành động Như vậy, tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan vừa là những ý nghĩa phương pháp luận cơ bản, vừa là những yêu cầu có tính nguyên tắc trong hoạt động thực tiễn
5 Vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng vào sự nghiệp đổi mới của đất nước ta hiện nay
- Ở Việt Nam, trong khoảng 10 năm sau khi thống nhất đất nước, bên cạnh những thành tựu đạt được chúng ta nôn nóng, tách rời hiện thực, vi phạm nhiều quy luật khách quan trong đó quan trọng nhất là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nên đã phạm một số sai lầm trong việc xác định mục tiêu, xác định các bước xây dựng cơ sở vật chất
- kỹ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế
- Ngày nay, với quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chúng ta xác định: "Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phát huy mọi tiềm năng và mọi nguồn lực của các thành kinh tế và của toàn xã hội" cũng chính là tạo lực lượng vật chất để thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới
Trang 10- Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của khoa học trong bối cảnh phức tạp của thế giới hiện nay, đối với cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta khẳng định "giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu" Việc đầu tư có trọng điểm trong hệ thống giáo dục và nghiên cứu khoa học, việc chủ trương xã hội hoá giáo dục để "cả nước trở thành một xã hội học tập"
Vì sao nói nền triết học phương đông cổ đại có tính hướng nội còn triết học phương tây có tính hướng ngoại
Đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây
-…
Đối tượng của triết học phương Tây rất rộng gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy mà gốc là tự nhiên Nó ngả theo hướng lấy ngoại (ngoài con người) để giải thích trong (con người), nói chung xu hướng nổi trội là duy vật
Trong khi đó phương Đông lấy xã hội, cá nhân làm gốc là tâm điểm để nhìn xung quanh Do đó đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh và do vậy xu hướng
là hướng nội, lấy trong để giải thích ngoài Đa số trường phái thiên về duy tâm
Theo thống kê thì triết học phương Tây thiện về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy
cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể
Khuynh hướng nổi trội của phương Đông lại là hướng nội, bị động, trực giác huyền bí, hoà hợp, quân bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác, giữ gìn, tập thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy hữu cơ, chú ý nhiều tới quan hệ
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỚI TÍNH CÁCH LÀ MỘT HỆ THỐNG
NGUYỄN NGỌC KHÁ
Phép biện chứng duy vật là một môn học thuyết khoa học, và cũng như bất kỳ một học thuyết khoa học, nó chứa đựng trong mình tính hệ thống chặt chẽ Với tính cách là một hệ thống, phép biện
chứng có nội dung rất phức tạp và đa dạng, có nhiều yếu tố, nhiều cấp độ và nhiều chức năng Điều
đó không phải ngẫu nhiên, vì nó phản ánh ngày càng sâu rộng thế giới hiện thực Theo nghĩa ấy,
Lê-nin viết: “Phép biện chứng với tính cách là nhận thức sinh động, nhiều mặt (số các mặt không ngừng tăng lên mãi mãi) bao hàm vô số khía cạnh trong cách tiếp cận, đi gần tới hiện thực (với một
hệ thống triết học đi từ mỗi khía cạnh mà phát triển thành một toàn thể)” (1) Trong bài viết này, tác giả cố gắng làm rõ những đặc trưng của phép biện chứng với tính cách là một hệ thống chỉ ra các yếu tố, cấu trúc, chức năng của nó theo lý thuyết hệ thống
1 Đặc trưng của phép biện chứng với tính cách là một hệ thống
Trang 11Sự tìm tòi nghiên cứu các hệ thống triết học đã có từ thời cổ đại
Nhưng về nguyên tắc, đó chỉ là sự cố gắng thiết lập nên các hệ thống trừu tượng, tư biện, không liên quan gì đến thế giới hiện thực, thậm chí có tham vọng đạt đến chân lý tận cùng, chân lý tuyệt đối
Một hệ thống kiểu như vậy, tiêu biểu là triết học Hê-ghen, mà nền tảng của nó là ý niệm tuyệt đối Hê-ghen tuyên bố hệ thống triết học của mình là đỉnh cao của tư tưởng nhân loại, là công cụ để giải quyết mọi vấn đề, mọi mâu thuẫn của tự nhiên cũng như của xã hội
Chính sự ra đời của phép biện chứng duy vật mác-xít đóng vai trò là tinh hoa, là đỉnh cao trong
sự nhận thức hiện thực khách quan.
Vậy phép biện chứng có phải là một hệ thống, một hệ thống khoa học hay không?
Bất kỳ một khoa học nào cũng đều biểu hiện là một hệ thống các nguyên lý và các quy luật, các tiên đề và các lý thuyết, các học thuyết và giả thuyết, các khái niệm, phán đoán và suy luận Đó là
tổng thể các hình thức lôgíc liên quan mật thiết với nhau, cái này được rút ra từ cái kia, cái này là sự
cụ thể hoá của cái khác Nguồn gốc của nó, cơ sở của nó, các yếu tố, cấu trúc và chức năng của nó không nằm ở chính nó, mà là ở trong hiện thực, trong thực tiễn
Tính chất phức tạp trên đây liên quan trực tiếp đến một khoa học trừu tượng và phổ biến- Đó là
phép biện chứng duy vật Xung quanh khoa học ấy có một số người đối lập cũng thừa nhận chức năng phương pháp luận, nhưng lại phủ nhận tính hệ thống của nó (chẳng hạn Carnap, Adorno, Marcuse ) Họ có những lý lẽ khác nhau:
Không tin vào khả năng phản ánh tính vô tận của thế giới khách quan, vào trong lôgíc của các phạm trù; khẳng định rằng, trong phạm trù, các khái niệm thì tính vật chất của thế giới bị mất đi;
đánh giá việc hệ thống hoá các phạm trù là công việc mang tính hình thức, tách rời khỏi nội dung của nó; khẳng định rằng, việc thiết lập một hệ thống triết học là công việc có quá khứ dã qua, không
có triển vọng, và phủ nhận sự phát triển của khoa học cũng như thực tiễn…
Trong khi đó tính hệ thống là bản tính tất yếu của tất thảy mọi khoa học Khoa học nghiên cứu
các quy luật vận động và phát triển của thế giới khách quan và sự phản ánh của chúng vào trong bộ
não con người Nhưng mọi quy luật đều là những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, ổn định và lập đi lập lại, nghĩa là thậm chí mỗi quy luật đều thể hiện tính hệ thống, các mối liên hệ, tác động qua lại của các hiện tượng và quá trình Nhưng một khi tổng thể các hiện tượng và quá trình được phản ánh vào trong một quy luật phạm trù nào đó, thì đồng thời nó cũng liên hệ, tác động qua lại với một tổng thể khác được phản ánh vào trong các phạm trù, quy luật khác Chính vì vậy, các quy luật, phạm trù
đó cũng liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau Như vậy, mối liên hệ, tác động qua lại của các quy luật
và các phạm trù là sự phản ánh các mối liên hệ, tác động qua lại của của thế giới khách quan Từ
đó, chúng hình thành nên các khoa học, mà được biểu hiện với tính cách là một hệ thống Nhiệm vụ
của mỗi khoa học với tính cách là hệ thống là làm thế nào để phản ánh ngày càng đầy đủ hơn, sâu
sắc hơn, phù hợp hơn tính hệ thống của các khách thể mà khoa học đó nghiên cứu
Trang 12Tất cả những vấn đề trên đều liên quan đầy đủ đến phép biện chứng duy vật với tính cách là hệ
thống các nguyên lý, quy luật và phạm trù, nhằm định hướng cho sự phát triển của các hệ thống khoa học chuyên ngành Phép biện chứng duy vật là một hệ thống chỉnh thể các hình thức lôgíc với các yếu tố nhất định, với cấu trúc nhất định, những chức năng nhất định, với mối liên hệ qua lại với môi trường, trong đó nó là một hệ thống mở, hệ thống phát triển
Thông thường chúng ta có hai phương thức xây dựng hệ thống phép biện chứng duy vật- bản
thể luận và nhận thức luận Ở phương thức thứ nhất thì cơ sở của nó là sự vận động của bản thân thế giới khách quan (từ sự vật đến các thuộc tính và các mối quan hệ của chúng); còn ở phương thức thứ hai thì đó là sự vận động của tư tưởng phản ánh sự vận động của thế giới khách quan (từ hiện tượng đến bản chất, từ cụ thể cảm tính đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể trong tư duy) Cả
hai phương thức trên đều có cơ sở để tồn tại, vì chúng đều biểu hiện tính chỉnh thể của hiện thực:
hiện thực khách quan và hiện thực chủ quan.
Nhiệm vụ cơ bản nhất, khó khăn nhất của các nhà nghiên cứu mác-xít là làm thế nào để liên kết
chặt chẽ giữa mặt bản thể luận và nhận thức luận trong phép biện chứng duy vật Điều này chúng ta
đã thực hiện được khi coi phép biện chứng duy vật là hệ thống các nguyên lý, quy luật và phạm trù nằm trong sự thống nhất, sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, mà cơ sở của sự thống nhất ấy là đi từ
phạm trù vật chất với các thuộc tính cơ bản và các quy luật vận động của chúng đến khái niệm tư duy với các quy luật vận động của tư duy, đến lôgíc biện chứng.
Phép biện chứng duy vật về mặt hình thức là chủ quan, nhưng về mặt nội dung là mang tính khách quan Nó là một hệ thống chỉnh thể của các hình thức tư tưởng, đồng thời nó luôn luôn được
bổ sung bởi các thành tựu của khoa học và thực tiễn Như vậy, phép biện chứng duy vật là một hệ
thống đa diện, đa chiều, có nhiều cách tiếp cận khác nhau Vì thế, có thể định nghĩa phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến, là khoa học về sự vận động, phát triển, hoặc với
tính cách là lôgíc học, cũng như với tính cách là lý luận nhận thức Song các khía cạnh ấy không mang bản chất độc lập, không phải là các lý luận độc lập, mà là các yếu tố có mối liên hệ hữu cơ với nhau, làm cho phép biện chứng duy vật trở thành một lý luận thống nhất, một hệ thống lý luận
Cơ sở thống nhất tất cả các khía cạnh, các mặt, các đặc điểm, các nguyên lý, phạm trù của phép
biện chứng duy vật- đó là thực tiễn Chính trên cơ sở thực tiễn mà phép biện chứng duy vật mới
xuất hiện và phát triển, Nhờ có cơ sở thực tiễn mà các nguyên lý, qui luật, phạm trù của phép biện chứng duy vật mới có tính chân lý, mới có sự phù hợp với hiện thực Thực tiễn khẳng định sự thống nhất cái vật chất và cái tinh thần, cái lịch sử và cái lôgíc, cái khách quan và cái chủ quan, cái
tự nhiên và cái xã hội loài người Và chính nhờ thực tiễn mới có sự thống nhất giữa phép biện chứng với chủ nghĩa duy vật tạo thành một chỉnh thể.
Trên cơ sở giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, phép biện chứng duy vật với tính cách là một
hệ thống khoa học khám phá ra các quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã
hội và tư duy, cũng như vạch ra những con đường nhận thức và cải tạo nó Các nguyên lý, quy luật
Trang 13và phạm trù của phép biện chứng duy vật mang tính chất chung nhất, tổng hợp nhất cả về mặt bản thể luận và mặt nhận thức luận Điều đó làm cho phép biện chứng duy vật mang một ý nghĩa
phương pháp luận phổ biến và là một trong những đặc trưng để phân biệt với các hệ thống khoa học khác
Các sự vật, hiện tượng trong thế giới biểu hiện với tính cách là hệ thống các quy luật, các
nguyên tắc chung nhất, các mối liên hệ tác động qua lại chung nhất, tổng hợp nhất Ăng-ghen nói:
“Tất cả giới tự nhiên mà chúng ta có thể nghiên cứu được, là một hệ thống, một tập hợp gồm các vật thể khăng khít với nhau, nhưng ở đây , chúng ta hiểu vật thể là tất cả những thực tại vật chất, từ tinh
tú đến nguyên tử, cho đến cả những hạt ê-te, nếu chúng ta thừa nhận sự tồn tại của hạt ê-te” (1) Vì vậy, phép biện chứng duy vật nghiên cứu thế giới như một chỉnh thể và nó không thể không là một
hệ thống
2 Các yếu tố, cấu trúc và chức năng của phép biện chứng duy vật
Các yếu tố của phép biện chứng duy vật với tính cách là một hệ
thống là các hình thức lôgíc của chúng để hình thành nên hệ thống ấy Theo Lênin, các yếu tố của phép biện chứng là tất cả những gì tham gia vào phép biện chứng, trong đó ông cho rằng, yếu tố có thể là nguyên lý, quy luật, phạm trù Trong “Bút ký triết học”, Lênin đã chỉ ra 16 yếu tố của phép
biện chứng, sau đó Lênin có bổ sung thêm và không đặt vấn đề về số lượng các yếu tố của phép biện chứng.
Các yếu tố của phép biện chứng duy vật mang tính chất bản thể luận (nội dung) và tính chất
nhận thức luận (hình thức) Các yếu tố bản thể luận như: sự vật, hiện tượng với tính cách là hiện thực tồn tại khách quan, sự thống nhất của các mặt đối lập, sự đấu tranh của các mặt đối lập, lượng
đổi dẫn đến chất đổi, Các yếu tố nhận thức luận như: quy luật, phạm trù,… Số lượng và bản chất của các yếu tố của phép biện chứng duy vật luôn luôn thay đổi và ngày càng chính xác, đầy đủ và
cụ thể hơn cùng với mức độ phát triển của tri thức triết học
Chiếm một vị trí quan trọng trong phép biện chứng duy vật là nguyên lý- những quan điểm cơ
sở, nền tảng, làm tiền đề cho các quy luật và các phạm trù Chẳn hạn: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển Cả hai nguyên lý ấy đều xuất phát và dựa trên nguyên lý tính thống
nhất vật chất của thế giới Các nguyên lý ấy mang tính phổ quát nhất, được xác định là đối tượng nghiên cứu của phép duy vật biện chứng Vì vậy, Ăngghen đã nói, phép biện chứng là khoa học về
mối liên hệ phổ biến và sự phát triển
Sự cụ thể hoá các nguyên lý là các quy luật và các phạm trù Các quy luật cơ bản của phép biện chứng (gọi là cơ bản bởi vì nó vạch ra các khía cạnh cơ bản của sự phát triển): quy luật thống nhất
và đấu tranh của các mặt đối lập, quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất
và ngược lại, quy luật phủ định của phủ định Chúng chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong quan niệm biện chứng về sự vận động, phát triển, bởi vì chúng biểu hiện bản chất của các quan
Trang 14niệm ấy, liên kết tất cả nội dung của nó Các phạm trù là các hình thức lôgíc thiết lập nên hệ thống phép biện chứng duy vật Đó là các khái niệm chung nhất, phản ánh những đặc điểm những mối liên hệ, những mặt, những thuộc tính chung nhất, tổng hợp nhất của thế giới khách quan và đóng
vai trò là những nấc thang trong hoạt động nhật thức và hoạt động thực tiễn của con người Đó là
các phạm trù: vật chất vận động, không gian và thời gian, lượng, chất, độ, tổng thể các cặp phạm
phạm trù liên hệ, tác động qua lại với nhau và như vậy, có thể xem cấu trúc của hệ thống phép biện
chứng với tính cách là hệ thống các phạm trù Phép biện chứng không thể là một khoa học, nếu nó
không phải là hệ thống các phạm trù
Trong hệ thống, các phạm trù phản ánh tính toàn vẹn, tính thống nhất của các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất, còn mối liên hệ nội tại của chúng biểu hiện tính toàn vẹn và tính quy luật của quá trình thống nhất của thế giới Các phạm trù riêng lẻ có thể phản ánh những mặt nào đó của quá
trình ấy, chỉ trong một tổng thể thì chúng mới mang lại cho chúng ta các tri thức một cách đầy đủ và sâu sắc
Việc xây dựng hệ thống các phạm trù cần xuất phát từ nguyên lý thống nhất giữa phép biện chứng, lôgíc và lý luận nhận thức và từ sự phân tích bản thân quá trình nhận thức Chúng ta có thể phân chia thành ba nhóm các phạm trù sau đây: Thứ nhất, các phạm trù liên quan trực tiếp đến việc
giải quyết vấn đề cơ bản của triết học (vận động, phát triển, không gian, thời gian, phản ánh…); thứ hai, các phạm trù biểu hiện các quy luật của phép biện chứng (cái toàn thể và cái bộ phận, cái
chung- cái riêng, bản chất- hiện tượng, thống nhất và mâu thuẫn, số lượng- chất lượng, phủ định và phủ định của phủ định, ); thứ ba, các phạm trù phản ánh trực tiếp quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn (chân lý, thực tiễn, chủ thể và khách thể, phân tích và tổng hợp, trừu tượng và cụ thể)… Các phạm trù trên đây biểu hiện là sự thống nhất của hai mặt bản thể luận và nhận thức luận, chúng
có nội dung khách quan, phản ánh trực tiếp hay gián tiếp thế giới khách quan và liên quan đến
viêc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học và có ý nghĩa sâu sắc
Với tính cách là một hệ thống và ngày càng được mở rộng, phép biện chứng duy vật có những chức năng đặc trưng riêng cho mình, tương ứng với các yếu tố và cấu trúc của nó Các chức năng ấy thể hiện vị trí và vai trò của nó trong hệ thống các khoa học và trong đời sống xã hội
Trang 15Sự khác biệt của phép biện chứng duy vật với các khoa học cụ thể trước hết là ở chỗ, nó thực
hiện hai chức năng cơ bản: chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận Cả hai chức
năng ấy đều chứa đựng các chức năng bộ phận của nó
*Chức năng thế giới quan của phép biện chứng duy vật còn được gọi là chức năng phản ánh-
thông tin, bởi vì phép biện chứng duy vật cũng như các khoa học khác đều thể hiện là một hệ thống thông tin phức tạp và là hệ thống các phương thức thu nhận thông tin, phân tích, xử lý thông tin, nhằm thu được các tri thức mới, các tiếp cận thực tiễn mới Hay nói cách khác, phép biện chứng duy vật là một hệ thống tri thức lý luận, phản ánh chân thực hiện thực khách quan và được thực
tiễn kiểm nghiệm
Trong phạm vi chức năng thế giới quan, chúng ta có thể phân chia thành chức năng bản thể luận
và chức năng nhận thức luận Chức năng bản thể luận thể hiện ở chỗ, phép biện chứng duy vật vẽ
ra được một bức tranh tổng hợp về thế giới, từ đó chúng ta có được một hệ thống các quan điểm về thế giới Còn chức năng nhận thức luận thể hiện ở chỗ, nó tạo ra học thuyết về mối quan hệ giữa
chủ thể và khách thể, về tính tích cực của chủ thể…
*Chức năng phương pháp luận của phép biện chứng duy vật thể hiện ở chỗ, với tính cách là kết quả của sự phát triển của các khoa học cụ thể và thực tiễn xã hội, nó cung cấp những nguyên tắc và
sự định hướng chung nhất cho khoa học cụ thể cũng như hoạt động thực tiễn của con người Phép
không thể tách rời với các khoa học cụ thể Không những thế, phép biện chứng duy vật còn trang
bị cho con người những công cụ, phương tiện, phương pháp để nhận thức và hoạt động thực tiễn
Giữa chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận có mối quan hệ mật thiết với
nhau Chỉ có thể xuất phát từ một lập trường triết học đúng đắn, chúng ta mới có được những cách giải quyết phù hợp về các vấn đề mà cuộc sống đặt ra Còn ngược lại, xuất phát từ một lập trường triết học sai lầm, chúng ta không thể tránh khỏi hành động sai lầm Chính ở đây thể hiện giá trị định hướng- một trong những biểu hiện cụ thể thể hiện chức năng phương pháp luận của phép biện
chứng duy vật.
Ngoài hai chức năng cơ bản trên đây, phép biện chứng duy vật còn thực hiện chức năng giá trị luận Gía trị là hệ thống những chuẩn mực, những lý tưởng mà con người khao khát vương tới nhằm hoàn thiện nhân cách của mình Ở đây, phép biện chứng duy vật cung cấp cho con người hệ thống
các giá trị nhằm xác định, định hướng, điều chỉnh các hành vi, từ đó hình thành nên nhân sinh quan
trong sự tồn tại ngày càng hợp lý của con người Con người cần phải thẩm định, đánh giá , làm cho
thế giới không chỉ tồn tại tự nó, mà còn là thế giới trong sự nhận thức và cải tạo của con người Một chức năng bộ phận quan trọng trong chức năng giá trị luận là chức năng giáo dục- tư tưởng
Phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận và phương pháp luận của hệ tư tưởng Cũng như hệ tư
tưởng nói chung, phép biện chứng duy vật mang tính đảng và tính giai cấp sâu sắc Được xuất hiện với tính cách là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư