1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ-CƯƠNG-ÔN-TẬP-LỊCH-SỬ-ĐẢNG-CỘNG-SẢN-VIỆT-NAM

20 56 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 37,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong báo cáo sơ kết thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính Trị về tăng cường công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Chiến lược q

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM-ĐHL

Câu 1: Trình bày những nhiệm vụ cách mạng được đề ra trong Cương lĩnh của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo và nhận xét đánh gía về kết quả thực hiện nhiệm vụ nam nữ bình quyền trong hoạt động lãnh đạo quản lý các cơ quan hay Toà án, VKS, cơ quan tư pháp ở Việt Nam

*Cương lĩnh xác định nhiệm vụ cụ thể của cách mạng Việt Nam:

- Về chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến tay sai, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, lập ra chính phủ công nông binh và tổ chức quân đội công nông

- Về kinh tế:

+ Tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn của đế quốc giao cho chính phủ công nông binh quản lý: bệnh viện, trường học, trạm xá…

+ Tịch thu ruộng đất của đế quốc làm của công chia cho dân cày nghèo mở mang công nghiệp – nông nghiệp miễn thuế cho dân cày nghèo thực hiện ngày làm 8h

- Về văn hoá: Thực hiện nam nữ bình quyền và phổ thông giáo dục công nông hoá

*Nhận xét đánh giá về kết quả thực hiện nhiệm vụ nam nữ bình quyền trong hoạt động lãnh đạo quản lý các cơ quan hay Toà án, VKS, cơ quan tư pháp ở Việt Nam:

Quan đim về “nam nữ bình quyền” đã được khẳng định trong Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 Tuy nhiên, có thể thấy vấn đề “nam nữ bình quyền” trong lĩnh vực chính trị ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập Trong báo cáo sơ kết thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính Trị về tăng cường công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đến năm 2020 đã cho thấy, các chức danh lãnh đạo chủ chốt trong Đảng, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân từ cấp trung ương đến địa phương chủ yếu do nam giới đảm nhiệm Trong đội ngũ lãnh đạo, phụ nữ thường chỉ giữ vai trò cấp phó Điều đó đã dẫn đến hạn chế quyền quyết định của nữ giới trong lĩnh vực chính trị Nghị quyết số 11-NQ/TW đưa ra chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp và nữ đại biểu Quốc hội đạt 35-40% Tuy nhiên trên thực tế,

tỷ lệ đó còn rất hạn chế: tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV là 26,72%; tỷ lệ

nữ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2016-2021 đạt 26,54%; tỷ lệ

nữ chủ tịch Hội đồng nhân dân ở mỗi cấp dao động trong khoảng 6% Tỷ lệ nữ giới giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân ở cấp tỉnh, huyện khoảng 20% Tỷ lệ này ở cấp xã thấp hơn (khoảng 14%) Mặc dù tỷ lệ phụ nữ là chủ

Trang 2

tịch/phó chủ tịch các cơ quan dân cử có xu hướng tăng lên nhưng không mang tính ổn định và chưa tương xứng với tỷ lệ nữ giới Có thể thấy việc thực hiện nhiệm vụ “nam nữ bình quyền” ở Việt Nam nói chung và trong các lĩnh vực chính trị nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế và thiếu sót trong các chính sách hay việc bổ nhiệm lãnh đạo giữa nam và nữ vẫn còn thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn mang tính trung lập về giới, chưa có biện pháp hành chính hiệu quả để khuyến khích và hỗ trợ việc thực hiện các chỉ tiêu về đại diện nữ Về nguyên tắc luân chuyển cán bộ, không có sự phân biệt giữa cán bộ nam và cán bộ nữ khi thực hiện luân chuyển, nhưng còn chưa tính đến sự khác biệt giới; chưa đề cập tới chính sách cho cán bộ nữ khi được luân chuyển; không có quy định về tỷ lệ cán bộ nữ được luân chuyển Vẫn còn một số hạn chế trong các văn bản hướng dẫn về bổ nhiệm cán bộ: chưa đưa ra các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới khi không quy định lựa chọn ứng cử viên nữ trong trường hợp cả nam và nữ có điều kiện, tiêu chuẩn như nhau; chưa xác định các giải pháp cụ thể để có thể đạt chỉ tiêu tỷ lệ cán bộ nữ đã đề ra

Câu 2: Phân tích những nguyên nhân hai cuộc đại chiến thế giới lần 1 và 2? Hậu quả của chiến tranh đối với nhân loại Từ đó đánh giá về đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi đất nước thống nhất đến nay

*Nguyên nhân chiến tranh thế giới lầ thứ nhất:

- Nguyên nhân sâu xa:

+ Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, sự phát triển không đồng đều giữa

cã nước tư bản về kinh tế chính trị đã làm thay đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa các nước đế quốc

+ Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc về vấn đề thuộc địa đã dẫn đến các cuộc chiến tranh đế quốc đầu tiên:

 Mĩ – Tây Ban Nha năm 1898

 Anh – Bô ơ năm 1899 – 1902

 Nga – Nhật năm 1904 – 1905

+ Để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh lớn nhất nhằm tranh giành thị trường thuộc địa, các nước đế quốc đã thành lập hai khối quân sự đối lập nhau:

 Khối Liên minh gồm Đức, Áo – Hung vào năm 1882

 Khối Hiệp ước gồm Anh, Pháp, Nga vào năm 1907

 Cả hai khối đều ra sức chạy đua vũ trang nhằm tranh giành nhau làm

bá chủ thế giới

Trang 3

 Như vậy, nguyên nhân sâu xa dẫn đến chiến tranh thế giớ thứ nhất ( 1914 – 1918) là do mâu thuẫn giữa các nước đế quốc về vấn đề thuộc địa

- Nguyên nhân trực tiếp: Ngày 28/6/1914 thái tử Áo – Hung bị một phần tử người Xéc – bi ám sát Sự kiện này châm ngòi cho cuộc chiến tranh

- Hậu quả của cuộc chiến tranh :

+ Chiến tranh thế giới thứ nhất gây nên những tổn thất to lớn về người và của: 10 triệu người chết, hơn 20 triệu người bị thương, nhiều thành phố làng mạc, nhà cửa, nhiều công trình văn hoá bị phá huỷ trong chiến tranh,

…chi phí lên tới 85 tỷ đô la

+ Chiến tranh chỉ đem lại lợi ích cho các nước đế quốc thắng trận, nhất là

Mĩ, bản đồ thế giới bị chia lại Đức mất hết toàn bộ thuộc địa, Anh, Pháp,

Mĩ được thêm nhiều thuộc địa

*Nguyên nhân chiến tranh thế giới lần thứ hai:

- Nguyên nhân sâu xa:

+ Do sự chênh lệch trình độ phát triển giữa các nước tư bản, dẫn đến những mâu thuẫn về thuộc địa, thị trường

+ Việc tổ chức và phân chia thế giới theo hệ thống Vecxai – oasinhton không còn phù hơjp nữa Đưa đến một cuộc chiến tranh mới để phân chia lại thế giới

- Nguyên nhân trực tiếp:

+ Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã làm những mâu thuẫn trở nên sâu sắc dẫn tới việc lên cầm quyền của chủ nghĩa phát xít với ý đồ gây chiến tranh để phân chia lại thế giới

+ Thủ phạm gây chiến là phát xít Đức, Nhật Bản Italia Nhưng các cường quốc phương Tây lại dung túng, nhượng bộ, tạo điều kiện cho phát xít gây ra cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai

- Hậu quả của chiến tranh thế giới thứ 2:

+ Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự sụp đổ hoàn toàn của phát xít Đức, I-ta-li-a, Nhật

+ Thắng lợi vĩ đại thuộc về các dân tộc trên thế giới đã kiên cường chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít

+ Liên Xô, Mĩ, Anh là lực lượng trụ cột, giữ vai trò quyết định trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít

Trang 4

+ Hơn 70 quốc gia với 1700 triệu người đã bị lôi cuốn vào vòng chiến, khoảng 60 triệu người chết, 90 triệu người bị tàn phế, thiệt hại vật chất 4000

tỉ đô-la

+ Chiến tranh kết thúc đã dẫn đến những biến đổi căn bản của tình hình thế giới

*Đánh giá về đường lối đối ngoại của Đảng từ khi đất nước thống nhất đến nay:

Sau hơn 30 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích to lớn, đưa đến nhiều sự thay đổi về tiềm lực của đất nước Trong đó, chính sách trong đường lối đối ngoại của Đảng cũng đã đạt được nhiều điểm tiến bộ, nổi bật đáng kể Đại hội XII của Đảng đã đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình và tạo điều thuận lợi để phát triển đất nước Đảng ta xác định đây là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020; đồng thời là sự thể hiện nhận thức, đánh giá của Đảng ta về vai trò to lớn của công tác đối ngoại trong tình hình mới Việt Nam đang bước vào thời kỳ mới với thế và lực mới do những thành tựu và kinh nghiệm 30 năm đổi mới mang lại, với vị thế ngày càng nâng cao trên trường quốc tế, cơ hội rất lớn và thách thức cũng không nhỏ Đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng qua các kỳ Đại hội nhất là Đại hội XII đã thể hiện sự nhất quán, sáng tạo và hệ thống với tầm cao mới Việc thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, trong thời gian tới hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta sẽ đạt được nhiều thành tựu to lớn, giữ vững môi trường hoà bình và phát huy ngoại lực sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và đạt được thắng lợi với mục tiêu từ lâu mà ta đã đặt ra “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”

Câu 3: Trình bày quan điểm của Đảng về đấu tranh phòng chống tham những trong thơi kì hội nhập quốc tế hãy cho biết có hiện tượng tham những trong hệ thống cơ quan tư pháp không? Vì sao? Làm ntn để ngăn chặn nạn tham nhũng ngày càng tốt hơn.

Chống tham nhũng là cuộc đấu tranh hết sức phức tạp, đòi hỏi có sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng, quan điểm, nguyên tắc xây dựng Luật phòng, chống tham nhũng chủ yếu dựa trên các quan điểm lớn đã được chỉ ra tại Nghị

Trang 5

quyết số 14-NQ/TW ngày 15-5-1996 và trong một số văn kiện khác của Đảng như sau:

- Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn chặt với đổi mới kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dân;

- Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Đảng và kiện toàn, tăng cường đoàn kết nội bộ;

- Chống tham nhũng phải gắn liền với chống quan liêu, lãng phí;

- Đấu tranh chống tham nhũng phải kết hợp giữa xây, phòng và chống Vừa tích cực phòng ngừa, vừa xử lý nghiêm mọi hành vi tham nhũng;

- Đẩy mạnh phòng và chống tham nhũng một cách chủ động, huy động và phối hợp chặt chẽ mọi lực lượng đấu tranh chống tham nhũng, thực hiện chống tham nhũng ở mọi cấp, mọi ngành;

- Đấu tranh chống tham nhũng là nhiệm vụ lâu dài, phải tiến hành kiên quyết, kiên trì và thận trọng, không nóng vội, không chủ quan; phải có kế hoạch cụ thể, có bước đi vững chắc; sử dụng nhiều biện pháp, trong đó lấy giáo dục làm

cơ sở, lấy pháp chế làm đảm bảo

- Thống nhất với quan điểm các kỳ Đại hội trước đó, Đại hội XII tiếp tục khẳng định và bổ sung quan điểm về đấu tranh phòng chống tham nhũng Trong đó nhấn mạnh “tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước”:

- Trước hết, cơ chế bầu cử, bổ nhiệm những đại biểu ưu tú của dân vào vị trí lãnh đạo, quản lý còn nhiều bất cập Cơ chế phát hiện và thải loại những người không có đủ phẩm chất ra khỏi bộ máy chưa hiệu quả, bởi vì việc thực thi còn hình thức, thiếu thực chất; bởi vì ứng cử viên đã được sắp đặt, nhắm trước, thậm chí do ê kíp, ô dù mà được cất nhắc chứ chưa phải do tài năng và phẩm hạnh

- Hai là, cơ chế kiểm tra, giám sát, bãi miễn những người có chức, có quyền khi

vi phạm cũng còn nhiều bất cập Ở nhiều nơi, việc xử lý cán bộ, đảng viên có sai phạm còn chậm Đa số các sai phạm là do quần chúng phát hiện, tố cáo mà chưa phải do cán bộ, đảng viên, cấp trên phát hiện cấp dưới sai phạm

Trang 6

- Ba là, tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, bảo đảm cho Đảng vững mạnh, nhưng phương thức tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách bên cạnh mặt tích cực là huy động được trí tuệ, sức mạnh tập thể và chống được sự độc đoán, chuyên quyền thì tình trạng khó quy trách nhiệm cá nhân, khi

có khuyết điểm không biết quy trách nhiệm cho ai, dẫn tới tình trạng tranh công,

đổ lỗi “công là của tôi, tội là của chúng ta”

Có tham nhũng trong hệ thống cơ quan tư pháp ví dụ như: Tham nhũng trong hoạt động tư pháp thì xuất hiện hầu hết ở các giai đoạn tố tụng, trong xử lý các

vụ việc, vụ án như chuyển đơn lòng vòng, không giải quyết dứt điểm và gây nên

sự phức tạp kéo dài, ra quyết định thì không có căn cứ…

Vì sao tham nhũng vẫn xảy ra ở các cơ quan này? do không có cơ chế quản lý chặt chẽ, quyền lực nhà nước đã bị lợi dụng trở thành quyền lực của cá nhân, hoặc của một nhóm người Do cơ chế quản lý yếu kém mà tài sản của Nhà nước, của nhân dân rơi vào tình trạng “vô chủ”, những cán bộ thoái hóa, biến chất đã lợi dụng quyền lực trong tay để chiếm tài sản công thành tài sản riêng của cá nhân hoặc của một nhóm người Tha hóa về quyền lực nhà nước, và vô chủ về sở hữu tài sản công là những nhân tố tác động trực tiếp làm cho sự tham nhũng, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên càng trở nên nghiêm trọng, đòi hỏi cần có biện pháp quyết liệt, hiệu quả hơn

Làm sao để ngan chặn nạn tham nhũng ngày càng tốt hơn:

- Một là, hoàn thiện thể chế, các văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp tới quyền sở hữu tài sản công, theo tinh thần “đảm bảo mọi tư liệu sản xuất đều có chủ sở hữu” Triển khai đồng bộ Luật phòng chống tham nhũng, luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí kết hợp chặt chẽ với việc xử lý kiên quyết, kịp thời, công khai những người tham nhũng, bất kể ở chức vụ nào, đương chức hay đã nghỉ hưu, tịch thu, sung công tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng; những người bao che cho tham nhũng, cố tình ngăn cản việc chống tham nhũng

- Hai là, thực hiện chế độ công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính trong các

cơ quan hành chính, đơn vị cung ứng dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước Công khai, minh bạch về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước, huy động đóng góp của nhân dân, quản lý và

sử dụng đất đai, tài sản công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ Thực hiện kê khai và công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức theo quy định Xây dựng chế tài xử lý những tổ chức, cá nhân gây thất thoát, lãng phí lớn tài sản

Trang 7

của Nhà nước và nhân dân Tăng cường công tác kiểm toán, thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng kết hợp với việc có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực Kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hóa biến chất, vi phạm lối sống, đạo đức

- Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu khi để cơ quan, đơn vị xảy ra tham nhũng, lãng phí với kiên quyết đấu tranh với tệ nạn bè cánh, ô dù, góp phần nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực đội ngũ cán bộ, đảng viên

- Bốn là, công tác tuyển chọn, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng cán bộ phải đảm bảo nguyên tắc cán bộ phải là người có đức, có tài, “lấy hiệu quả công tác và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu”; vì công việc mà bố trícán bộ chứ không phải vì cán bộ mà bố trí công việc, tránh tình trạng nể nang, tiêu cực trong công tác cán bộ

Câu 3:

Quan điểm nhất quán trong đấu tranh phòng chống tham nhũng:

Từ trước đến nay, Đảng đã ban hành rất nhiều chỉ thị, nghị quyết để lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng

Nghị quyết số 14/NQ/TW ngày 15/5/1996 về quan điểm chỉ đạo và một số

giải pháp để đấu tranh chống tham nhũng của Bộ chính trị khóa VII đã chỉ rõ: Đấu tranh chống tham nhũng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta hiện nay,

nó góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng , tăng cường hiệu lực quản

lý của Nhà nước, xây dựng Đảng và kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, Vì vậy, trong thời gian sắp tới, nhất thiết phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng Trong đấu tranh chống tham nhũng, cần nắm vững những quan điểm sau:

- Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới

kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trang 8

- Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới hệ

thống chính trị, xây dựng Đảng và kiện toàn bộ máy nhà nước, tăng cường đoàn kết nội bộ trong đấu tranh chống tham nhũng kết hợp giữa

“xây” và “chống”, tích cực chủ động phòng ngừa Vừa phải hoàn thiện

cơ chế, chính sách, tăng cường giáo dục, quản lý chặt chẽ Đảng viên, cán bộ, công chức, kiện toàn tổ chức, bố trí đúng cán bộ, vừa xử lý nghiêm mọi vi phạm, tội phạm Kết hợp các biện pháp tư tưởng với tổ chức, giáo dục với kỷ luật hành chính và xử lý theo pháp luật

- Huy động và phối hợp chặt chẽ mọi lực lượng đấu tranh chống tham

nhũng Xác định trách nhiệm của các tổ chức Đảng và thủ trưởng chính quyền; xây dựng, kiện toàn các cơ quan bảo vệ pháp luật làm nòng cốt; nêu cao trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội, động viên tích cực của nhân dân, phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong đấu tranh chống tham nhũng

- Đấu tranh chống tham nhũng là hai nhiệm vụ lâu dài phải tiến hành

kiên quyết, kiên trì và thận trọng; không được đơn giản, nóng vội, đồng thời phải khẩn trương, tích cực; chú trọng hiệu quả có kế hoạch

cụ thể, bước đi thích hợp

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Hội nghị lần thứ

ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ra Nghị quyết số

04/NQ-TW ngày 21/8/2006 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác

phòng, chống tham nhũng, lãng phí Đây là Nghị quyết đầu tiên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề cập một cách toàn diện, tập trung về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí

- Đảng lãnh đạo chặt chẽ công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức hành chính, kinh tế, hình sự

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế

-xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn -xã hội, củng cố hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh

- Vừa tích cực, chủ động phòng ngừa vừa kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, trong đó phòng ngừa là chính Gắn phòng, chống tham nhũng lãng phí

Trang 9

với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy dân chủ, thực hành tiết kiệm, chống chủ nghĩa cá nhân, chống quan liêu

- Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục với những bước đi vững chắc, tích cực và có trọng tâm, trọng điểm

- Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chú trọng tổng kết thực tiễn và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài

Cụ thể hóa Nghị quyết của Đảng, chiến lược quốc gia về phòng chống tham nhũng đến năm 2020 đã đề ra quan điểm về phòng chống tham

nhũng như sau:

- Phòng chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan,

tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổ chức, đoàn thể và quần chúng nhân dân

- Phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa

lâu dài, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kì mới

- Sử dụng tổng thể các biện pháp phòng chống tham nhũng; vừa tích

cực, chủ động trong phòng ngừa, vừa kiên quyết trong phát hiện, xử lý với những bước đi vững chắc, có trọng tâm, trọng điểm, trong đó phòng ngừa là cơ bản, lâu dài; gắn phòng, chống tham nhũng với thực hành tiết kiệm, chống quan liêu, lãng phí

- Xây dựng lực lượng chuyên trách đủ mạnh, có phẩm chất chính trị,

bãn lĩnh , đạo đức nghề nghiệp làm nòng cốt trong công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng theo hướng chuyên môn hóa với các phương tiện, công cụ, kỹ năng phù hợp, bảo đảm vừa chuyên sâu, vừa bao quát các lĩnh vực, các mặt của đời sống kinh tế - xã hội

- Đặt quá trình phòng chống tham nhũng trong điều kiện hội nhập, chủ

động hợp tác hiệu quả với các quốc gia, các tổ chức quốc tế; chú trọng tổng kết thực tiễn và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài trong công tác phòng, chống tham nhũng

Trang 10

- Hiện nay vẫn có hiện tượng tham nhũng trong hệ thống cơ quan tư

pháp Vì nhiều lí do:

+ Tham nhũng trong hoạt động tư pháp có đặc điểm riêng là khi thực hiện hoạt động tư pháp, người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thực hiện các hành vi xâm hại đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan có thẩm quyền; thực hiện các hoạt động tư pháp trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với vụ án hình sự, các vụ, việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính và các việc khác thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân

+ Thời gian qua, có một số vụ án oan, sai liên quan đến hoạt động của các cơ quan tư pháp Tuy số vụ án tham nhũng, tiêu cực xảy ra trong hoạt động tư pháp không nhiều (so với các vụ án tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế), nhưng tính chất, mức độ và hậu quả của nó là rất nghiêm trọng Bởi vì, chủ thể của loại tội phạm này là những người được giao nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm

đã trực tiếp xâm hại đến quyền con người, dẫn đến bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội, gây ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Ðảng, Nhà nước, ảnh hưởng đến sự nghiêm minh của pháp luật Về nguyên nhân dẫn đến những hạn chế nói trên, có thể kể đến là:

 Hệ thống pháp luật ở nước ta còn chồng chéo, chưa rõ ràng; một số chế định pháp luật còn áp dụng chế tài tùy nghi Việc kiểm soát quyền lực trong hoạt động tư pháp chưa chặt chẽ, phân công, phân cấp chưa rõ ràng

 Quy định về trách nhiệm người đứng đầu trong các cơ quan tư pháp thiếu

cụ thể, chưa khuyến khích họ tích cực, chủ động trong việc phát hiện và

xử lý các hành vi tham nhũng, tiêu cực trong cơ quan, đơn vị mình quản lý; người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tính nghiêm trọng của tệ tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động tư pháp Việc quản lý, giáo dục cán bộ, công chức trong hoạt động tư pháp còn

yếu Một số thủ trưởng đơn vị vẫn chưa quan tâm đúng mức đến công tác đấu tranh phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực trong đơn vị mình hoặc có triển khai nhưng chỉ mang tính hình thức Một số cán bộ chủ chốt trong các cơ quan tư pháp chưa giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; chưa đi đầu và nêu cao tính gương mẫu trong đơn vị do mình phụ trách Vì thành tích, lãnh đạo một số cơ quan tư pháp đã bao che, không xử lý cho dù

Ngày đăng: 19/07/2021, 21:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w