Nhiệt kế là thiết bị dùng để đo nhiệt độ.Một nhiệt kế có hai thành phần quan trọng: phần cảm nhận nhiệt độ (Ví dụ: bầu đựng thủy ngân hoặc rượu trong nhiệt kế) và phần hiển thị kết quả (Ví dụ: thang chia vạch trên nhiệt kế).Các loại nhiệt kế trong công nghiệp thường dùng thiết bị điện tử để biểu thị kết quả như máy vi tính.Nhiệt kế điện tử thường dùng lắp ở một số bảng đồng hồ treo tường kiểu Lịch Vạn niên, trong các máy đo nhanh của y học,... thì dùng cảm biến bán dẫn, biến đổi tín hiệu tương tự sang số (ADC) và hiện số liệu. Từ lâu người ta đã biết rằng tính chất của vật chất có liên quan mật thiết tới mức độ nóng lạnh của vật chất đó. Nóng lạnh là thể hiện tình trạng giữ nhiệt của vật và mức độ nóng lạnh đó được gọi là nhiệt độ. Vậy nhiệt độ là đại lượng đặc trưng cho trạng thái nhiệt, theo thuyết động học phân tử thì động năng của vật E = 32 KT. Trong đó K hằng số Bonltzman. E Động năng trung bình chuyển động thẳng của các phân tử T Nhiệt độ tuyệt đối của vật . Theo định luật 2 nhiệt động học: Nhiệt lượng nhận vào hay tỏa ra của môi chất trong chu trình Cácnô tương ứng với nhiệt độ của môi chất và có quan hệ Những vấn đề chung về đo nhiệt độ Q1Q2= T2T1Vậy khái niệm nhiệt độ không phụ thuộc vào bản chất mà chỉ phụ thuộc nhiệt lượng nhận vào hay tỏa ra của vật. Muốn đo nhiệt độ thì phải tìm cách xác định đơn vị nhiệt độ để xây dựng thành thang đo nhiệt độ (có khi gọi là thước đo nhiệt độ, nhiệt giai ). Dụng cụ dùng đo nhiệt độ gọi là nhiệt kế, nhiệt kế dùng đo nhiệt độ cao còn gọi là hỏa kế.
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN Dụng cụ đo nhiệt độ
Sinh viên thực hiện: Đoàn Thị Hạnh
Mã sinh viên : 1074140031
Lớp : CĐĐH Hóa 1 –K10
Trang 2MỞ ĐẦU
Nhiệt kế là thiết bị dùng để đo nhiệt độ.
Một nhiệt kế có hai thành phần quan trọng: phần cảm nhận nhiệt độ (Ví dụ: bầu đựng thủy ngân hoặc rượu trong nhiệt kế) và phần hiển thị kết quả (Ví dụ: thang
chia vạch trên nhiệt kế)
Các loại nhiệt kế trong công nghiệp thường dùng thiết bị điện tử để biểu thị kết quảnhư máy vi tính
Nhiệt kế điện tử thường dùng lắp ở một số bảng đồng hồ treo tường kiểu Lịch Vạn niên, trong các máy đo nhanh của y học, thì dùng cảm biến bán dẫn, biến đổi tín
hiệu tương tự sang số (ADC) và hiện số liệu
Từ lâu người ta đã biết rằng tính chất của vật chất có liên quan mật thiết tới mức độnóng lạnh của vật chất đó Nóng lạnh là thể hiện tình trạng giữ nhiệt của vật và mức độ nóng lạnh đó được gọi là nhiệt độ Vậy nhiệt độ là đại lượng đặc trưng chotrạng thái nhiệt, theo thuyết động học phân tử thì động năng của vật E = 3/2 KT Trong đó K- hằng số Bonltzman
E - Động năng trung bình chuyển động thẳng của các phân tử
T - Nhiệt độ tuyệt đối của vật
Theo định luật 2 nhiệt động học: Nhiệt lượng nhận vào hay tỏa ra của môi chất trong chu trình Cácnô tương ứng với nhiệt độ của môi chất và có quan hệ
Những vấn đề chung về đo nhiệt độ
Trang 3
Vậy khái niệm nhiệt độ không phụ thuộc vào bản chất mà chỉ phụ thuộc nhiệt lượng nhận vào hay tỏa ra của vật Muốn đo nhiệt độ thì phải tìm cách xác định đơn vị nhiệt độ để xây dựng thành thang đo nhiệt độ (có khi gọi là thước đo nhiệt
độ, nhiệt giai ) Dụng cụ dùng đo nhiệt độ gọi là nhiệt kế, nhiệt kế dùng đo nhiệt độcao còn gọi là hỏa kế Quá trình xây dựng thang đo nhiệt độ tương đối phức tạp
Từ năm 1597 khi xuất hiện nhiệt kế đầu tiên đến nay thước đo nhiệt độ thường dùng trên quốc tế vẫn còn những thiếu sót đòi hỏi cần phải tiếp tục nghiên cứu thêm
Trang 4CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ DỤNG CỤ ĐO
Lịch sử
Nhiệt kế của Galileo
Trang 5Các loại nhiệt kế khác nhau sản xuất vào thế kỷ 19
Nhiều nhà phát minh đã ghi công vào việc sáng tạo ra nhiệt kế
như Avicenna, Cornelius Drebbel, Robert Fludd, Galileo Galileihay Santorio Santorio Nhiệt kế không phải là kết quả của một phát minh duy nhất, mà nó phải trải qua quá trình phát triển
Philo và Hero of Alexandria biết một nguyên tắc là đối với một số chất, đặc biệt là không khí, sẽ co và dãn khi thay đổi nhiệt độ Cơ chế này sau đó được dùng để chỉ thị nhiệt độ không khí với một ống và mực nước bên trong được điều khiển bởi sự
co và dãn của không khí Các thiết bị này được phát triển bởi Avicenna vào thế kỷ
11, và nhiều nhà khoa học khác ở châu Âu vào thế kỷ 16 và thế kỷ 17, đặc biệt là Galileo Galilei
Một bản vẽ rõ ràng đầu tiên của nhiệt kế được xuất bản vào năm 1617 là
của Giuseppe Biancani: trong bản vẽ này có thang đo và sau đó cấu tạo thành nhiệt
kế bởi Robert Fludd vào năm 1638 Đây là một ống thẳng đứng với một bầu đặt ở phía trên và phía dưới nhúng vào nước Mực nước bên trong ống được điều khiển
Trang 6bởi sự co giãn không khí, vì vậy chúng ta còn gọi nó là nhiệt kế không khí Người đầu tiên đặt thang đo vào nhiệt kế có thể là nhiều người khác nhau như Francesco Sagredohay Santorio Santorio từ khoảng năm 1611 đến 1613.
Các dụng cụ trên mắc phải một nhược điểm là nó đồng thời cũng là một áp kế, nghĩa là nó nhạy cảm với sự thay đổi áp suất không khí Vào khoảng năm 1654, Ferdinando II de' Medici, đại công tước của Tuscany đã chế tạo nhiệt kế theo kiểu hiện đại bằng cách hàn kín phần ống với bầu chứa chất lỏng, do đó không bị ảnh hưởng bởi áp suất không khí và chỉ phụ thuộc vào sự giãn nở của chất lỏng Nhiều nhà khoa học khác đã thử nghiệm với những loại chất lỏng khác nhau và thiết kế ranhiệt kế
Tuy nhiên, mỗi nhà phát minh và mỗi loại nhiệt kế không tuân theo một chuẩn chung nào Vào năm 1665, Christiaan Huygens đề nghị dùng điểm nóng
chảy và điểm sôi của nước làm chuẩn, và vào năm 1694 Carlo Renaldini đưa ra đề nghị dùng nó như các điểm cố định trên tất cả các thang đo Vào năm 1701, Isaac Newton đưa ra một thang đo có 12 độ giữa điểm nóng chảy của nước và nhiệt độ
cơ thể Cuối cùng vào năm 1724, Daniel Gabriel Fahrenheit tạo ra một thang nhiệt
độ mà hiện nay (với một số thay đổi nhỏ) là thang Fahrenheit Ông có thể làm như vậy vì ông sản xuất nhiệt kế dùng thủy ngân (có hệ số co giãn cao) đầu tiên và chấtlượng của nhiệt kế có thể thể hiện thang chia nhỏ hơn và sản xuất dễ dàng hơn, dẫnđến việc sử dụng rộng rãi Vào năm 1742, Anders Celsius đề nghị thang đo với 0 ởđiểm nóng chảy của nước đá, và 100 ở điểm sôi của nướcvà hiện nay gọi là
thang Celsius với thang đo đặt ngược lại
Vào năm 1866, ngài Thomas Clifford Allbutt phát minh ra nhiệt kế y tế có thể đưa
ra nhiệt độ cơ thể chỉ sau 5 phút thay vì 20 phút như trước đó
Trang 7Các loại nhiệt kế
• Nhiệt kế chất lỏng: hoạt động trên cơ sở dãn nhiệt của các chất Các chất lỏng sử dụng ở đây phổ biến là thủy ngân, rượu màu, rượu etylic (C2H5OH), pentan (C5H12), benzen toluen (C6H5CH3)
• Nhiệt kế điện: Dụng cụ đo nhiệt điện sử dụng các đặc tính điện hoặc từ phụ thuộc nhiệt độ như hiệu ứng nhiệt điện trong một mạch có hai hoặc nhiều kim loại, hoặc sự thay đổi điện trở của một kim loại theo nhiệt độ
• Nhiệt kế điện trở: nhiệt kế đo nhiệt độ dựa trên hiệu ứng biến thiên điện trở của chất bán dẫn, bán kim hoặc kim loại khi nhiệt độ thay đổi; đặc tính loại này
có độ chính xác cao, số chỉ ổn định, có thể tự ghi và truyền kết quả đi xa Nhiệt
kế điện trở bằng bạch kim đo được nhiệt độ từ 263 °C đến 1.064 °C; niken và sắt tới 300 °C; đồng 50 °C - 180 °C; bằng các chất bán dẫn để đo nhiệt độ thấp (0,1°K – 100°K) Để đo nhiệt độ thấp, người ta áp dụng loại nhiệt kế ngưng tụ, nhiệt kế khí, nhiệt kế từ
Nhiệt kế điện tử dùng trong y khoa
• Nhiệt kế bán dẫn: Dùng cảm biến nhiệt là một linh kiện bán dẫn nhóm Điốt Zener (ví dụ Precision Temperature Sensor LM335có hệ số 10 mV/°K, có ở chợ Nhật Tảo, Tp Hồ Chí Minh), biến đổi tín hiệu tương tự sang số (ADC) và hiện số liệu Nó có mặt trong các máy đo nhanh của y tế, trong đồng hồ điện tử treo tường có Lịch Vạn niên, Trong đo nhiệt độ môi trường đất, nước, không khí, cũng đang dùng cảm biến nhiệt bán dẫn với vỏ thích hợp để dẫn nhiệt nhanh Dải nhiệt độ làm việc do mạch điện tử xác định, tức là cao nhất vào cỡ
80 đến 120 °C
Trang 8Nhiệt kế hiện số.
• Nhiệt kế hồng ngoại: Dựa trên hiệu ứng bức xạ nhiệt dưới dạng hồng ngoại của các vật nóng
Nhiệt kế chuyên dụng
• Nhiệt kế đảo: đo nhiệt độ nước biển ở các tầng có độ sâu khác nhau Nhiệt
kế đảo có cấu tạo đặc biệt, thắt hẹp ở gần bầu thuỷ ngân Đặt nhiệt kế này ở độ sâu cần đo, cột thủy ngân sẽ ngắt khỏi bầu, khi kéo nhiệt kế đảo lên thành tàu, nhiệt kế chỉ nhiệt độ đã đo được ở độ sâu đó
• Nhiệt kế độ sâu, còn được gọi là nhiệt kế sâu hay nhiệt kí đo sâu, đo phân bốnhiệt độ theo độ sâu, ứng dụng trong hải dương học Nhiệt kế độ sâu sử dụng
bộ cảm biến bằng thủy ngân hoặc dầu xilen
• Nhiệt kế tiếp điểm: dụng cụ đo và khống chế nhiệt độ tự động theo nguyên líđóng mở mạch khi chất lỏng trong dụng cụ tiếp xúc hoặc không tiếp xúc
với tiếp điểm của mạch điều khiển Nhiệt kế tiếp điểm thường sử dụng cho các
lò và tủ sấy với nhiệt độ thấp hơn 500 °C
• Cao kế điểm sôi: Nhiệt kế chuyên để đo các nhiệt độ cao như điểm sôi của các chất lỏng
• Nhiệt biểu thường hay còn gọi là nhiệt ký thường, là một dụng cụ khí tượng thủy văn dùng để đo nhiệt độ tại thời điểm quan trắc Nó thuộc loại nhiệt biểu
Trang 9chất lỏng Khi nhiệt độ môi trường thay đổi thể tích chất lỏng trong bầu cảm ứng cũng thay đổi, đẩy chất lỏng dâng lên hoặc hạ xuống trong ống vi quản Căn cứ vào mực trên của cột chất lỏng trong ống vi quản ta có thể xác định được nhiệt độ tại tới điểm đó nhờ thang chia độ.
• Vỏ bảo vệ: Làm bằng thủy tinh
• Bầu cảm ứng: Là bộ phận cảm ứng với nhiệt độ của môi trường, có chứa chất lỏng là rượu hoặc thủy ngân (còn gọi là chất cảm ứng)
• Ống vi quản: Bộ phận thể hiện sự thay đổi của chất cảm ứng Ống vi quản là ống thủy tinh rỗng, một đầu bịt kín, đầu kia hở thông với bầu cảm ứng
• Thang chia độ: Chia thành các vạch, để đánh dấu mức độ thay đổi củachất cảm ứng, thường chia theo hệ bách phân, vạch cao nhất là nhiệt độ khi nước nguyên chất bắt đâu sôi, vạch thấp nhất là nhiệt độ khi nước nguyên chất bắt đầu đóng băng
CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ DỤNG CỤ ĐO TRONG
Trang 10- Nhiệt kế gốm - kim loại(Dilatomet): gồm một thanh gốm (1) đặt trong ống kim loại (2), một đầu thanh gốm liên kết với ống kim loại, còn đầu A nối với hệ thống truyền động tới bộ phận chỉ thị Hệ số giãn nở nhiệt của kim loại và của gốm là αk
và αg Do αk > αg, khi nhiệt độ tăng một lượng dt, thanh kim loại giãn thêm một lượng dlk, thanh gốm giãn thêm dlg với dlk>dlg, làm cho thanh gốm dịch sang phải Dịch chuyển của thanh gốm phụ thuộc dlk - dlg do đó phụ thuộc nhiệt độ
- Nhiệt kế kim loại - kim loại: gồm hai thanh kim loại (1) và (2) có hệ số giãn nở nhiệt khác nhau liên kết với nhau theo chiều dọc Giả sử α1 > α2 , khi giãn nở nhiệt
hai thanh kim loại cong về phía thanh (2) Dựa vào độ cong của thanh kim loại để
xác định nhiệt độ Nhiệt kế giãn nở dùng chất rắn thường dùng để đo nhiệt độ dưới
700 0C
* Nguyên lý đo nhiệt độ là dựa trên độ dãn nở dài của chất rắn.
Lt = Lto [ 1 + α ( t - to ) ]
Lt và Lto là độ dài của vật ở nhiệt độ t và to
α - gọi là hệ số dãn nở dài của chất rắn
Các loại :
+ Nhiệt kế kiểu đũa :
Cơ cấu là gồm : 1 ống kim loại có α1 nhỏ và 1 chiếc đũa có α2 lớn
Trang 11+ Kiểu bản hai kim loại (thường dùng làm rơle trong hệ thống tự động đóng
Trang 12- Cấu tạo
+ Bao nhiệt làm bằng thép không hàn, bằng đồng thau đầu dưới bịt kín đầu trên nối với ống nhỏ đường kính khoảng 6 mm dài khoảng 300 mm, ống mao dẫn làm bằng ống thép hay đồng đường kính trong bằng 0.36
mm có độ dài đến 20 ÷ 60 m Phía ngoài ống mao dẫn có ống kim loại mềm (dây xoắn bằng kim loại hoặc ống cao su để bảo vệ)
+ Loại nhiệt kế này: Đo nhiệt độ từ -50oC ÷ 550oC và áp suất làm việc tới60kG/m2 cho số chỉ thị hoặc tự ghi có thể chuyển tín hiệu xa đến 60 m.+ Chính vì 2 kim loại độ giãn nở khác nhau nên khi nhiệt độ thay đổi chúng sẽ bị uốn cong về một bên (kim loại nào có độ giãn nở do sự thay đổi nhiệt thấp hơn thì uốn cong về bên đó) Lá kim loại có 1 đầu được cố định vào thành ống bảo vệ và đầu còn lại được cố định vào trục được thiết kế truyền động với kim chỉ thị của đồng hồ Khi nhiệt độ thay đổi hai lá kim loại có độ giãn nở khác nhau làm xoay trục kimchỉ thị Tất cả chuyển động này được tính toán hợp lý để kim chỉ thị chỉ đến vạch nhiệt
Trang 13và tác động rung từ môi trường nên ngoài nên hai lá kim loại được thiết
kế xoắn lại theo dạng lò xo đặt bên trong một ống bảo vệ bằng kim loại, thông thường là thép không gỉ
- Ưu điểm : nhỏ gọn ,dễ sử dụng
- Nhược điểm :Không thể đặt nhiệt kế trong phạm vi chặt hẹp
- Hạn chế sử dụng :
• Không gian tiếp xúc nhiệt
• Trong môi trường chất lỏng
• Trong môi trừng khí động
- Thao tác sử dụng:
• Kiểm tra nhiệt kế
• Cho nhiệt kế vào dung dịch cần đo
• Quan sát và đọc kết quả
2. Nhiệt kế giãn nở chất lỏng
Nguyên lý: tương tự như các loại khác nhưng sử dụng chất lỏng làm môi chất (như
Hg , rượu )
Cấu tạo: Gồm ống thủy tinh hoặc thạch anh trong đựng chất lỏng như thủy ngân
hay chất hữu cơ
Tuy Hg có α không lớn nhưng nó không bám vào thủy tinh khó bị ôxy hóa, dễ chếtạo, nguyên chất, phạm vi đo nhiệt độ rộng
Trang 14ở nhiệt độ < 200 oC thì đặc tính dãn nở của Hg và t là quan hệ đường thẳng nênnhiệt kế thủy ngân được dùng nhiều hơn các loại khác.
Nhiệt kế thủy ngân nếu đo nhiệt độ < 100 oC thì trong ống thủy tinh không cần nạpkhí, khi đo ở nhiệt độ cao hơn và nhất là khi muốn nâng cao giới hạn đo trên thìphải nâng cao điểm sôi của nó bằng cách nạp khí trơ (N2) vào
- Nếu nạp N2 với áp suất 20 bar thì đo đến 500 oC
- Nếu nạp N2 với áp suất 70 bar thì đo đến 750 oC
Người ta dùng loại này làm nhiệt kế chuẩn có độ chia nhỏ và thang đo từ 0 ÷ 50° ;
50 ÷ 100 o và có thể đo đến 600 oC
Ưu điểm : đơn giản rẻ tiền sử dụng dễ dàng thuận tiện khá chính xác.
Nhược điểm : độ chậm trễ tương đối lớn, khó đọc số, dễ vỡ không tự ghi số đo
phải đo tại chỗ không thích hợp với tất cả đối tượng (phải nhúng trực tiếp vào môichất)
Phân loại : Nhiệt kế chất nước có rất nhiều hình dạng khác nhau nhưng :
+ Xét về mặt thước chia độ thì có thể chia thành 2 loại chính :
- Hình chiếc đũa
- Loại thước chia độ trong
Trang 15+ Xét về mặt sử dụng thì có thể chia thành các loại sau:
- Nhiệt kế kỹ thuật :
khi sử dụng phần đuôi phải cắm ngập vào môi trường cần đo (có thể hình thẳnghay hình chữ L) Khoảng đo - 30 ÷ 50°C ; 0 ÷ 50 500
Độ chia : 0,5 oC , 1oC Loại có khoảng đo lớn độ chia có thể 5 oC
- Nhiệt kế phòng thí nghiệm : có thể là 1 trong các loại trên nhưng có kích thước
nhỏ hơn
- Chú ý : Khi đo ta cần nhúng ngập đầu nhiệt kế vào môi chất đến mức đọc
* Loại có khoảng đo ngắn
độ chia 0,0001 ÷ 0,02 oC dùng làm nhiệt lượng kế để tính nhiệt lượng
* Loại có khoảng đo nhỏ 50 oC do đến 350 oC chia độ 0,1 oC
* Loại có khoảng đo lớn 750 oC đo đến 500 oC chia độ 2 oC
Trang 16Ngoài ra : ta dùng nhiệt kế không dùng thủy ngân thang đo - 190 oC ÷100 oC vàloại nhiệt kế đặc biệt đo đến 600 oC
Trong tự động còn có loại nhiệt kế tiếp điểm điện Các tiếp điểm làm bằng bạchkim
Trong CN phải đặt nơi sáng sủa sạch sẽ ít chấn động thuận tiện cho đọc và vậnhành
Bao nhiệt phải đặt ở tâm dòng chất lỏng với độ sâu quy định
- Nếu đường kính ống đựng môi chất lớn thì ta đặt nhiệt kế thẳng đứng
- Nếu đo môi chất có nhiệt độ và áp suất cao thì cần phải có vỏ bảo vệ
+ Nếu nhiệt độ t < 150 oC thì ta bơm dầu vào vỏ bảo vệ
+ Nếu nhiệt độ cao hơn thì ta cho mạt đồng vào
Trang 172.1 Nhiệt kế rượu:
- Cấu tạo:
+ Vỏ bảo vệ: Làm bằng thủy tinh
Trang 18+ Bầu cảm ứng: Là bộ phận cảm ứng với nhiệt độ của môi trường, có chứa chất lỏng là rượu hoặc thủy ngân (còn gọi là chất cảm ứng).
+ Ống vi quản: Bộ phận thể hiện sự thay đổi của chất cảm ứng Ống vi quản
là ống thủy tinh rỗng, một đầu bịt kín, đầu kia hở thông với bầu cảm ứng.+ Thang chia độ: Chia thành các vạch, để đánh dấu mức độ thay đổi của chấtcảm ứng, thường chia theo hệ bách phân, vạch cao nhất là nhiệt độ khi nước nguyên chất bắt đâu sôi, vạch thấp
- Cách sử dụng:
+ Chuẩn nhiệt kế bằng nước sôi (100ᴼC) và nước đá (0ᴼC) Nếu nhiệt kế chokết quả không đúng thì ta đo và chia nhiệt độ tương ứng với 2 nhiệt độ trên.+ Nếu đo nhiệt độ chất lỏng, trước khi đo dùng đũa khuấy đều chất lỏng Nếu đô nhiệt độ không khí để nhiệt kế ở trong môi trường không khí
+ Đo nhiệt độc hất lỏng thì treo nhiệt kế vào giá
+ Chú ý, để phần bầu thủy ngân của nhiệt kế ngập trong lòng chất lỏng, ở khoảng giữa là tốt nhất Tuyệt đối không để bầu thủy ngân vừa chạm chất lỏng cũng như chạm đáy cốc
+ Quan sát độ tăng cột thủy ngân, đọc nhiệt độ Cần chú ý tầm mắt khi đọc nhiệt độ
Trang 192.2 Nhiệt kế thủy ngân:
- Cấu tạo: giống như nhiệt kế rượu chỉ khác phần cảm biến nhiệt độ là thủy
ngân
- Công dụng: Do nhiệt kế thủy ngân có giới hạn chịu nhiệt là -30ᴼC - 130ᴼC
nên thường được dùng để đo nhiệt độ trong phòng thí nghiệm và nhiệt độ cao
III Nhiệt kế giãn nở chất khí
* Nhiệt áp kế
Dựa vào sự phụ thuộc áp suất m/c vào nhiệt độ khi thể tích không đổi
Cấu tạo :
Trang 20Bao nhiệt làm bằng thép không hàn, bằng đồng thau đầu dưới bịt kín đầu trên nối với ống nhỏ đường kính khoảng 6 mm dài khoảng 300 mm, ống mao dẫn làm bằng ống thép hay đồng đường kính trong bằng 0,36 mm có độdài đến 20 ÷ 60 m
Phía ngoài ống mao dẫn có ống kim loại mềm (dây xoắn bằng kim loại hoặc ống cao su để bảo vệ)
Loại nhiệt kế này: Đo nhiệt độ từ -50oC ÷ 550oC và áp suất làm việc tới 60kG/m2 cho số chỉ thị hoặc tự ghi có thể chuyển tín hiệu xa đến 60 m, độ chính xác tương đối thấp CCX = 1,6 ; 4 ; 2,5 một số ít có CCX = 1
Ưu - Nhược điểm : Chịu được chấn động, cấu tạo đơn giản nhưng số chỉ bị
chậm trễ tương đối lớn phải hiệu chỉnh luôn, sửa chữa khó khăn
Phân loại :
Người ta phân loại dựa vào môi chất sử dụng, thường có 3 loại :
a- Loại chất lỏng : dựa vào mới liên hệ giữa áp suất p và nhiệt độ t
p - po = ( t - to )