1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu ôn thi HSG văn THPT

20 544 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 255,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu ôn thi HSG văn THPT tham khảo

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ THƠ

I LÍ THUYẾT

1 Thơ trong mối quan hệ với hiện thực

Thơ là cuộc hôn phối giữa con người và vũ trụ Thơ luôn tìm về với cuộc sống, thơ ở trong cuộc sống nên “Nhà thơ tuy chẳng muốn, cũng thấy mình bị ràng buộc vào cuộc biến chuyển của lịch sử” (Saint John Perse) Như vậy, dù ý thức hay vô thức, thơ vẫn chảy trong biển lớn cuộc đời và nhà thơ không thể đứng ngoài dòng chảy ấy Hơn ai hết, họ phải là người cảm nhận cuộc sống mãnh liệt nhất, tế vi nhất

“Thơ phản ảnh đời sống con người trên toàn diện sinh động của nó từ mặt tầng (hành động) tới đáy tầng (tâm linh) qua hết mọi phương diện xã hội”

2 Nhà thơ và quá trình sáng tạo

Để đi vào thế giới nghệ thuật thơ, có lẽ chúng ta cần xác định nhà thơ - họ là ai? Vì chính sứ mệnh nhà thơ chi phối quá trình sáng tạo thi ca Với Trần Nhựt Tân, “Thi sĩ là người duy nhất có được ngôn ngữ: hắn đã vượt thóat được ngôn ngữ Thi sĩ là người duy nhất có thể vượt thoát được hố thẳm, lập ngôn” “Thơ

là những xúc động đặc biệt được diễn tả bằng một ngôn ngữ đặc biệt của một sinh linh có năng khiếu đặc biệt mệnh danh là thi sĩ”

Như vậy, trong quan niệm của các nhà lý luận phê bình văn nhà thơ không phải là người bình thường

mà là người nghệ sĩ có phẩm chất khác thường Thật vậy, sáng tạo thi ca là quá trình phức tạp Như một ngọn

nến, thi nhân tự đốt cháy tâm hồn mới mong thơ tỏa sáng giữa cuộc đời Vì “thơ là kết tinh, thơ là ngọc

đọng, thơ là phiến Kỳ nam trong rừng trầm hương, thơ là hạt minh châu trong biển hạt trai, thơ là tinh hoa trong vườn phương thảo” Quá trình sáng tạo của nhà thơ là sự kết tinh của “hồn thơ” Để sáng tác thi ca

ngoài phần kỹ thuật, thi pháp cũng như nội dung tư tưởng, “còn đòi hỏi một nguyên lý sinh động đó là cái hồn thơ, cái khả năng cảm hứng và diễn tả của nhà thơ nó làm cho nội dung kết cấu với hình thức và bài thơ

có một sức sống linh diệu” (Nguyễn Sỹ Tế) Và “Những chất thơ có được trong tác phẩm đều xuất phát từ

một hồn thơ Hồn thơ là nguồn suối nguyên sinh của cái đẹp nghệ thuật tìm thấy trong một sáng tạo đam

mê” (Trần Nhựt Tân).

Với các nhà lý luận phê bình văn học, hồn thơ là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sinh thành thơ

ca Nó không những là nguyên nhân, động lực, là “nỗi niềm tinh vân” dậy lên đam mê và khát khao sáng tạo

mà còn là tiếng gọi từ trong vô thức của người thơ “Chất thơ thường hướng về tác phẩm, tức là ngoại giới, hồn thơ là dư vang chưa thành hình còn đang ở trong trạng thái tiềm thế, đồng hóa với mỹ cảm sống động trong tâm hồn thi sĩ”

3 Ngôn ngữ và hình ảnh thơ

“Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh” (Jakobson) Đó là thứ ngôn ngữ được chưng cất công phu vì “bài thơ là tổ chức ở trình độ cao của ngôn ngữ, một tổ chức chặt chẽ tinh tế của ngôn ngữ” Vì vậy với các nhà lý luận phê bình văn học, ngôn ngữ thơ là một phương tiện hình thức luôn được coi trọng, ngôn ngữ luôn là một giá trị không thể phủ nhận trong thơ, vì “thơ tức là phần tinh lọc nhất của ngôn ngữ” (Nguyễn Quốc Trụ) Và “ngôn ngữ thi ca là thứ ngôn ngữ kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ và tư tưởng và nhiệm vụ của thi nhân là phải tạo nên sự nhiệm màu kỳ diệu ấy” Đây mới thực sự là yếu tố làm nên giá trị thơ ca Tư tưởng trong ngôn ngữ thơ như một chiếc dây diều vừa đưa thơ cất cánh bay cao, bay xa trong bầu

trời của thực và mộng vừa neo thơ lại với bầu khí quyển đời sống Ngôn ngữ thơ theo Phú Hưng “không phải

là một thứ ngôn ngữ xác ve sau mùa hè đã im bặt tiếng kêu mà đó là một thứ ngôn ngữ không ngừng biến sinh mãnh liệt” Song ngôn ngữ trong thơ không phải là ngôn ngữ nguyên sinh của đời sống Đó là ngôn

ngữ có giá trị tạo nghĩa, là một thứ “bóng chữ” Nó có một “ma lực” riêng, nhiều khi vượt thoát khỏi ý thức của người cầm bút để trở thành một thứ ám ảnh của vô thức Như một “tiếng chim gọi đàn”, nó tràn ra ngòi

bút của thi nhân và phóng chiếu thành những cảm hứng sáng tạo Ngôn ngữ thơ vì thế “không những khác biệt ngôn ngữ nhật dụng, nó còn biệt lập với người cầm bút, nó còn khả năng tự tồn, sinh sôi, nẩy nở “Chữ đẻ

ra chữ và ra nghĩa” (Bùi Hữu Sủng)

4 Quan niệm về nhạc tính và âm điệu trong thơ

Cùng với ngôn ngữ và hình ảnh, nhạc tính và âm điệu trong thơ cũng là một yếu tố thi pháp được các nhà lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam đề cập khá nhiều trong quan niệm thơ của mình Theo họ,

“Nhạc điệu là một yếu tính của thi ca Thiếu nhạc tính thơ trở thành văn xuôi” Bởi nhạc tính như một nét

duyên thầm làm nên vẻ đẹp của thơ, cũng là một yếu tố tạo mỹ cảm cho người đọc “ Ly khai với nhạc tính,

thơ chỉ còn là một nhan sắc trơ trẽn thiếu duyên”(Tam Ích) Và “Thơ là sự phối hợp của âm thanh” Thơ

bao giờ cũng là sự kết hợp hài hòa giữa ý và nhạc Nếu “rơi vào cái vực ý thì thơ sẽ sâu nhưng rất dễ khô

Trang 2

khan Rơi vào cái vực nhạc thì thơ dễ làm say lòng người nhưng dễ nông cạn” (Chế Lan Viên) Rõ ràng, nhạc

tính là tiếng nói linh diệu của thi ca, gợi thức trí tưởng tượng của người đọc, nói như La Fontaine “Chẳng có thơ nào không có nhạc, song chẳng có thơ nào không có tưởng tượng”

Là một yếu tố không thể thiếu trong thơ, nhạc được tạo nên từ cách dùng ngôn ngữ, cách gieo vần, phối thanh Nếu ngôn ngữ và hình ảnh là những yếu tố song hành thì âm điệu cũng là yếu tố đồng hành với tính nhạc Nói một cách hình ảnh, nếu ngôn ngữ là sợi dây đàn thì nhạc tính và âm điệu là những cung bậc

thanh âm ngân lên từ sợi dây đàn ấy, “âm điệu là bố cục của tiết nhịp” mà “nhạc tính là dây giao cảm của

từng yếu tố trong toàn bộ bố cục ấy”(Trần Nhựt Tân) Vì vậy trong quan niệm lý luận phê bình văn học , âm

điệu cũng là một yếu tố hình thức nghệ thuật quan trọng trong thơ Việc kiến tạo âm điệu trong thơ cũng

chính là kiến tạo nhạc tính Và âm điệu cũng là chiếc cầu nối thơ với người đọc, nói như Trần Nhựt Tân “âm

điệu là một cảm nghiệm thi tánh như một sinh khí hội thoại của thơ với người thưởng lãm”

Quan niệm về ngôn ngữ, hình ảnh, âm điệu và nhạc tính trong thơ của lý luận phê bình văn học cũng tương hợp với quan niệm thơ phương Tây và quan niệm thơ ca truyền thống của dân tộc Bởi đây là những hằng số giá trị của thơ ca Nhưng thơ vẫn còn những ẩn số khác mà con người phải khám phá trong quá trình

tìm đến bản thể thơ “Thơ là vần điệu Thơ là ý nghĩa tác động lên tâm hồn người đọc Thơ là ẩn dụ nhằm

gây rung động hay cảm xúc” (Huỳnh Phan Anh) Thơ mãi là một thế giới đầy bí ẩn mà khi giải mã, không

phải lúc nào cũng có sự thống nhất; ngay cả trong quan niệm về việc chú giải, phê bình

-1 Khái lược về thơ trữ tình:

- Thơ là một thể loại VH được xây dựng bằng hình thức ngôn ngữ ngắn gọn súc tích, theo những quy luật ngữ âm nhất định, nhằm phản ánh tâm trạng, thái độ, tình cảm, của người nghệ sĩ về đ/s thông qua những hình tượng NT

- Trữ tình là phương thức phản ánh (hiện thực đ/s; hiện thực tâm trạng) bằng cách bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý thức của tác giả thông qua cái tôi trữ tình, mang đậm dấu ấn cá nhân của chủ thể

- Thơ trữ tình dùng để chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó nhà thơ bộc lộ một cách trực tiếp những cảm xúc riêng tư, cá thể về đ/s, thể hiện tư tưởng về con người, cuộc đời và thời đại nói chung Nội dung của thơ trữ tình là biểu hiện tư tưởng, tình cảm làm sống dậy cái thế giới chủ thể của hiện thực khách quan, giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy tư tâm trạng, nỗi niềm

2 Đặc điểm chung của thơ trữ tình:

2.1 Tính trữ tình:

Trữ tình là yếu tố quyết định tạo nên chất thơ TP thơ luôn thiên về diễn tả những cảm xúc, rung động, suy tư của chính nhà thơ về cuộc đời Những rung động ấy xét đến cùng là những tiếng dội của những sự kiện, những hiện tượng đ/s vào tâm hồn nhà thơ Đây là đặc điểm cơ bản nhất của TP thơ Nắm vững đặc điểm này ta sẽ có một định hướng rõ ràng trong việc tiếp cận, phân tích đúng TP thơ Nghĩa là, khi phân tích

TP thơ, ta không phải đi sâu vào mổ xẻ, cắt nghĩa, lí giải về các chi tiết, sự kiện, sự việc được nhà thơ đề cập,

mà điều cốt lõi là thấy và nói được những cảm xúc, tâm trạng, thái độ và suy tư của nhà thơ về các vấn đề trên

2.2 Chủ thể trữ tình:

Trong TP thơ ta luôn bắt gặp bóng dáng con người đang nhìn, ngắm, đang rung động, suy tư về cuộc sống Con người ấy được gọi là chủ thể trữ tình Nói cách khác, chủ thể trữ tình là con người đang cảm xúc, suy tư trong TP thơ Nhân vật trữ tình trong TP thơ chỉ hiện diện, đối thoại với độc giả bằng những sắc thái tình cảm, thái độ tình cảm Trong TP thơ, chủ thể trữ tình là yếu tố luôn có mặt để thể hiện nội dung trữ tình của TP Cho nên, khi phân tích thơ, ta phải phân tích nội dung trữ tình Muốn phân tích nội dung trữ tình thì nhất thiết, nắm bắt và phân tích được chủ thể trữ tình Bởi lẽ, nội dung trữ tình luôn chứa trong chủ thể trữ tình

2.3.Nội dung phản ánh trong thơ trữ tình:

2.3.1.Thơ trữ tình biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người.

Trong TP trữ tình, tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của TP Ở đây, nhà thơ có thể biểu hiện cảm xúc cá nhân mình mà không cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố, sự kiện nào Người đọc cảm nhận trước hết là thế giới nội tâm, là thái độ xúc cảm và tâm trạng của nhân vật trữ tình đối với con người, cuộc đời và thiên nhiên Nhà thơ có thể không cần phải miêu tả kỹ về con người và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tình cảm đó Ðiều này chứng tỏ sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của tác giả là đặc điểm tiêu biểu, đầu tiên của TP trữ tình

2.3.2 Thơ trữ tình phản ánh thế giới khách quan nhằm biểu hiện thế giới chủ quan.

Trang 3

TP trữ tình biểu hiện cảm xúc chủ quan của nhà thơ nhưng điều đó cũng được xác lập trong mối quan

hệ giữa con người và thực tại khách quan bởi vì mọi cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người bao giờ cũng đều là cảm xúc về cái gì, tâm trạng trước vấn đề gì Do đó, hiện tượng c/s vẫn được thể hiện trong TP trữ tình Mặc dù thể hiện thế giới chủ quan của con người, TP trữ tình vẫn coi trọng việc miêu tả các sự vật, hiện tượng trong đ/s khách quan bằng các chi tiết chân thật, sinh động Như vậy, TP trữ tình cũng phản ánh thế giới khách quan nhưng chức năng chủ yếu của nó là nhằm biểu hiện những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người

2.3.4.Đặc điểm của ngôn ngữ thơ trữ tình:

2.4.1.Ngôn ngữ thơ trữ tình hàm súc, cô đọng

Để có một vần thơ lắng đọng, các nhà thơ phải lao động hết mình để lựa chọn ra những ngôn từ thơ tốt nhất diễn tả được cảm xúc tình cảm của mình Đó là sự gọt giũa về mặt ngôn từ để tạo ra những từ ngữ thơ

mà đọc lên người đọc ấn tượng và hiểu thấu nội dung tư tưởng nhà thơ gửi gắm

2.4.2 Ngôn ngữ thơ giàu tính nhịp điệu

Trong thơ, sự phân dòng của lời thơ nhằm mục đích nhịp điệu, tạo ra nhịp điệu thơ Cuối mỗi dòng thơ đều có chỗ ngắt nhịp Tuỳ theo số chữ trong mỗi dòng mà nhịp thơ thể hiện khác nhau.Và theo từng cung bậc tình cảm thì nhà thơ sử dụng thể thơ 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ hoặc dài hơn, hoặc ngắn hơn chen nhau…Ngoài ra, trong các thể thơ Việt nam như lục bát, song thất lục bát tứ tuyệt, hát nói…là những cấu tạo nhịp điệu đặc biệt, có lưng, vần, chân, lối ngắt nhịp riêng độc đáo

2.4.3 Ngôn ngữ thơ giàu tính nhạc, tính hoạ

Bằng những âm thanh luyến láy, bằng những từ ngữ trùng điệp, sự phối hợp bằng trắc và cách ngắt nhịp, nhà thơ đã xây dựng nên những câu thơ, những hình tưọng thơ có sức truyền cảm lớn, tạo nên những cung bậc tình cảm tinh tế của người nghệ sỹ

Thơ được xây dựng bằng những hình tượng NT có sức gợi cảm lớn Thi trung hữu hoạ, trong thơ thể hiện những bức tranh hoàn mỹ mà người đọc có thể hình dung khi cảm nhận những vần thơ khắc hoạ Đó là tính hoạ trong thơ

2.4.4.Ngôn ngữ thơ phải có tính biểu hiện:

VH nói chung, thơ ca nói riêng phản ánh hiện thực c/s qua hình tượng NT Nghĩa là điều mà nhà nghệ

sĩ nhận thức, suy tư về c/s luôn được thể hiện một cách gián tiếp Để làm được điều này người nghệ sĩ đi vào khai thác khả năng biểu hiện của ngôn ngữ Đó là cách tổ chức sắp xếp ngôn ngữ sao cho từ một hình thức biểu đạt có thể có nhiều nội dung biểu đạt Đó là quá trình chuyển nghĩa tạo nên lượng ngữ nghĩa kép trong thơ

**********************************

THƠ MỚI VÀ SỰ BÙNG NỔ CỦA CÁI TÔI

1 Thơ mới – Sự bùng nổ của cái Tôi cá nhân, cá thể.

Trong giai đoạn “gió Âu mưa Mỹ” tràn vào nước ta, “người thanh niên Việt Nam đang đi tìm thi nhân

của mình như con đi tìm mẹ” (Lưu Trọng Lư) Và lẽ dĩ nhiên, “Phương Tây đã giúp chúng ta phát hiện ra mình” nhưng đó là sự phát hiện ra mình trên mảnh đất giàu tiềm năng và bề dày trầm tích văn hóa Vì vậy,

Thơ mới là “một bước tổng hợp mới những giá trị văn hóa Đông Tây, truyền thống và hiện đại” (Phan Cự Đệ) Có thể nói như nhà thơ Huy Cận: “Thơ mới là nỗi niềm, thái độ , là một cuộc ra trận của cả một thế hệ

văn chương, một lực lượng trẻ văn hóa dân tộc quyết đổi mới cả một nền văn thơ, văn chương đã mỏi mòn, khô cứng, bạc màu” Thơ mới đã làm một cuộc cách mạng, thay đổi cả hệ thống thi pháp Cuộc cách mạng

trong Thơ mới gắn với quá trình giải phóng cái tôi cá nhân khỏi những ràng buộc của con người phận vị, “con

người chức năng trong xã hội luân thường” (Trần Đình Hượu) Thơ mới là sản phẩm của “khát vọng thành thật” (Hoài Thanh), đưa cái tôi cá nhân vào trung tâm của thơ ca, cho phép biểu đạt mọi cung bậc của cảm

xúc và suy tưởng

Thơ ca bao giờ cũng là dấu ấn sáng tạo của người cầm bút, thể hiện bản ngã, cái tôi Từ thời trung đại,

Hồ Xuân Hương đã cá tính sắc nhọn trong từng lời thơ và tự xưng tên trong thơ “Quả cau nho nhỏ miếng trầu

hôi/ Này của Xuân Hương mới quệt rồi”(Mời trầu) Nguyễn Công Trứ cũng thể hiện rõ bản ngã của cái tôi tài

tử Thế nhưng, cái tôi trong thơ trung đại hầu hết hòa trong cái ta chung Thơ ca trung đại đề cao tính vô ngã Phải đến Thơ mới, cái tôi mới được nhận thức và thể hiện như là trung tâm của thơ ca Phương Tây đã đi một quãng đường khá xa trong sự khẳng định cái tôi cá nhân Thế nhưng ở nước ta, cùng những yếu tố nội sinh cộng với sự tiếp biến văn học phương Tây, cái tôi mới được tìm thấy và nở rộ trong thơ Cái tôi đó được thai nghén cả nghìn năm trong thơ ca trung đại, đến đầu thế kỷ XX mới trở dạ và thể hiện đậm nét trong dòng Thơ

Trang 4

mới Có thể nói, thơ ca hướng vào thể hiện cái tôi chính là con đường đưa thơ trở về với bản ngã của chính nó Thơ mới khám phá cái tôi với tư cách là chủ thể nhận thức và là đối tượng phản ánh của thi ca Với tư cách là chủ thể nhận thức, cái tôi cùng hệ thống quan niệm thẩm mĩ mới mang dấu ấn của những tìm kiếm mới, sáng tạo mới, phong cách mới mà văn học mấy thế kỷ qua chưa đạt tới được Cái tôi ấy không chỉ bó hẹp thơ ca trong mục đích tải đạo, nói chí, giáo huấn mà là chủ thể sáng tạo mang cá tính riêng, phong cách riêng với nhu cầu tự khẳng định mình Cái tôi cũng là đối tượng phản ánh của thi ca với tất cả sự phong phú, hấp dẫn, phức

tạp của nó Với nhu cầu khẳng định cái tôi cá nhân, cá thể, các nhà thơ Mới đã “đồng loạt cất lên bản hòa tấu

tuyệt đẹp với những âm thanh mới lạ, tân kỳ chưa từng có trước đó”(GS Hồ Thế Hà)

Thơ mới về cơ bản hoàn toàn đối lập với thơ cũ, như Lưu Trọng Lư đã nói một cách hình tượng “ Các

cụ ta ưa những màu đỏ chót, ta lịa ưa những màu xanh nhạt Các cụ bâng khuâng vì những tiếng trùng đêm khuya, ta lại nao nao vì tiếng gà gáy đúng Ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi, ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình giây phút, cái tình nghìn thu” Thơ mới đã làm một cuộc cách mạng thi ca, từ nghệ

thuật biểu hiện đến nội dung, tư tưởng Thơ mới đã đưa thơ ca nước ta tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa Con người cá nhân, cá thể xuất hiện trong Thơ mới là con người trực tiếp đối diện với thế giới và đối diện với chính mình, là con người đã rũ bỏ gánh nặng của nhà luân lý với thơ và bằng thơ, là con người hoàn

toàn tồn tại với tư cách là một cái tôi mang cảm xúc cá thể Xuân Diệu trong lời tựa “ Gửi hương cho gió” đã từng nhận mình "Tôi là con chim đến từ núi lạ/ Ngứa cổ hót chơi…” Chế Lan Viên cũng bộc lộ “Thi sĩ không

phải là Người Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu Nó thoát Hiện Tại Nó xối trộn Dĩ Vãng Nó ôm trùm Tương Lai” Còn Hàn Mặc Tử thì viết : " Người thơ là khách lạ đi giữa Nguồn Trong Trẻo Trên đầu Người là cao cả, vô biên và vô lượng; xung quanh Người là mơn trớn với yêu đương vây phủ bởi trăm giây quyến luyến - làm bằng êm dịu, làm bằng thanh bai Gió phương mô đẩy đưa Người đến bến bờ xa lạ, đầy trinh tiết và đầy thanh sắc Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi yếu đuối quá! Tôi bị cám dỗ Tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật" Mỗi nhà thơ với cá tính sáng

tạo riêng đã bộc lộ cái tôi không giống nhau Và có lẽ, chưa bao giờ như bây giờ, thơ ca đạt đến độ chín của nhiều phong cách, nhiều cái Tôi cá nhân, cá thể trong tư cách là chủ thể sáng tạo như thế Đúng như Hoài

Thanh đã khẳng định “Tôi quyết rằng chưa có thời đại nào phong phú như thời đại này trong lịch sử thi ca

Việt Nam Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và tha thiết, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”.

Khám phá vườn Thơ mới, ta có thể nhận ra hương sắc riêng của từng phong cách Và cũng từ những vần thơ mang dấu ấn chủ thể sáng tạo ấy, cái Tôi phức tạp nhưng đầy hấp dẫn đã đi vào trung tâm thơ ca với

đầy đủ ý nghĩa nhân bản Đó là một Thế Lữ như "người khách đi qua trần thế" thoát ly để đi tìm cái đẹp “Tôi

chỉ là một khách tình si/ Ham vẻ Đẹp có muôn hình, muôn thể”, mộng mơ trong chốn bồng lai tiên cảnh với

tiên nga, ngọc nữ, tiếng sáo Thiên Thai, hạc trắng hoa đào Đó là một Xuân Diệu tự xem mình “Ta là Một, là

Riêng, là Thứ nhất” luôn băn khoăn, rạo rực trong tình yêu với nỗi phấp phỏng muốn chiếm lĩnh thời gian:

“Mau với chứ, vội vàng lên với chứ/ Em, em ơi, tình non sắp già rồi”; “Gấp đi em anh rất sợ ngày mai/ Đời

trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn” Đó là một Huy Cận với cái tôi mang nỗi “sầu vạn kỷ” nơi quán chật đèo

cao, sông dài trời rộng “Một chiếc linh hồn nhỏ/ Mang mang thiên cổ sầu” Đó là một Chế Lan Viên với cái tôi tiếc thương quá khứ, lạc trong thế giới điêu tàn siêu hình, thần bí, băn khoăn nghi nghờ bản thể “Hồn của

ai trú ẩn ở đầu ta/ Ý của ai trào lên trong đáy óc” Dường như trước sự biến suy của xã hội cùng ảnh hưởng

văn hóa Tây phương, cái tôi trong Thơ mới bấy lâu dồn nét chợt vỡ òa Cái tôi đó vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của nền văn hoá mới Các nhà Thơ mới đều có ý thức khẳng định mình như một thực thể duy nhất không lặp lại Hướng đến khám phá và thể hiện cái tôi cá nhân, cá thể, Thơ mới mang lại cho thơ Việt sự thanh tân, tươi mới, một lối thơ hiện đại, đoạn tuyệt với thơ ca trung đại gò bó, khuôn thước

Cái tôi cá nhân, cá thể bùng nổ trong thơ làm đảo lộn mọi quan niệm Quan niệm thẩm mĩ thay đổi, nội dung tư tưởng đổi khác và chúng hiện lên trong bộ cánh hình thức cũng mới mẻ vô cùng Không còn là thơ để tải đạo, để nói chí, thơ ca bây giờ bám rễ vào cuộc đời trần thế với tất cả niềm vui, nỗi buồn, sự đam mê, cô đơn, hoài nghi, chán nản…Đến với thơ Xuân Diệu, ta bắt gặp ở đó cái tôi bộc lộ đầy đủ, trọn vẹn, cá tính

trong khát khao tình yêu, lồ lộ đam mê mãnh liệt “Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ không

thương một kẻ nào” Con người ấy nồng nhiệt, tha thiết sống, sống hối hả, sống cuống quýt, muốn là dây

“quấn quýt lấy mình xuân”, muốn “chân hóa rễ để hút màu dưới đất” nhưng cũng không tránh khỏi nỗi cô

Trang 5

đơn “Em là em, anh vẫn là anh/ Có lẽ nào qua Vạn Lý trường thành/ Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật” và cả

sự bế tắc trước cuộc đời “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới/ Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối” Thơ Hàn Mặc Tử lại đưa ta khám phá “một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng", “rộng không bờ không bến, càng đi xa càng

ớn lạnh " (Hoài Thanh) và bắt gặp một cái tôi mê dại, não nề đến rên xiết, cô độc đến trống rỗng, khát thèm

đến đê mê trong thú đau thương Cái tôi ấy đắm mình trong ngổn ngang nỗi niềm day diết quặn đau; xa đời,

xa người và xem thế giới ảo mộng là người tình tri kỉ Hàn Mặc Tử mê tơi trong những ảnh hình kì dị Cái tôi

phân thân, trao phận vào cõi hư vô ắp đầy ám gợi: “Ta đã ngậm hương trăng đầy lỗ miệng/ Cho ngây người

mê dại đến tâm can” (Rướm máu) Nếu trong thơ truyền thống, con người bé nhỏ, tan biến trong vũ trụ, hoặc

con người hướng tới cái thiêng liêng, cái siêu việt thì trong Thơ mới, cái tôi được giải phóng, con người cá nhân được ý thức và khẳng định như là trung tâm của vũ trụ Thơ mới khả năng diễn đạt những rung cảm tinh

tế của cái Tôi cá nhân cá thể, tạo nên sự cách tân đáng kể so với thơ cũ

Cùng với đó, quan niệm thẩm mĩ cũng đổi khác Nếu thơ xưa xem thiên nhiên là chuẩn mực cái đẹp thì

trong Thơ mới, con người mới là vẻ đẹp toàn bích Vì vậy, Xuân Diệu – “nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ

mới” (Hoài Thanh) khi miêu tả thiên nhiên luôn lấy vẻ đẹp con người làm chuẩn mực: “Lá liễu dài như một nét mi”, “Mây đa tình như thi sĩ thời xưa”, “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”…Còn với Huy cận,

thiên nhiên là bức tranh mang hồn quê, hồn nước, đẹp mà buồn: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót/ Sông dài,

trời rộng, bến cô liêu” (Tràng giang) Với Hàn Mặc Tử, thiên nhiên là hiện thân xác thịt, là người thiếu nữ

gợi cảm, là cám dỗ của trái cấm: “Trăng nằm sóng soải trên cành liễu/ Đợi gió đông về để lả lơi…Ô kìa,

bóng nguyệt trần truồng tắm/ Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe ” (Bẽn lẽn) Thơ mới biểu hiện một cuộc

cách mạng của tư duy thơ : đặt cái tôi cá nhân ở trung tâm cảm thụ thế giới Trong Thơ mới, có một sự giao hòa giữa thế giới nội cảm (cảm xúc, cảm giác, tâm trạng) của chủ thể trữ tình với thế giới ngoại cảnh, có sự nới rộng những biên độ của sự cảm thụ thế giới bằng việc kết hợp các giác quan một cách kỳ lạ Thiên nhiên

trong thơ mới là một thứ thiên nhiên rạo rực những cảm giác của con người: “Vườn cười bằng bướm hót bằng

chim / Dưới nhánh không còn một chút đêm / Những tiếng tung hô bằng ánh sáng /Ca đời hưng phục trẻ trung thêm” (Lạc quan - Xuân Diệu) Có khi nội cảm hóa ngoại cảnh, làm cho ngoại cảnh nhuốm màu cảm

xúc con người: “Nắng chia nửa bãi, chiều rồi / Vườn hoang trinh nữ khép đôi lá rầu / Sợi buồn con nhện

giăng mau / Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây” (Ngậm ngùi - Huy Cận) Có khi ngoại cảnh hóa tâm hồn “Đây chùm thương nhớ, khóm yêu đương / Đây em cành thẹn lẫn cành thương” (Xuân Diệu) Con người trong quan

niệm của các nhà Thơ mới là con người trần thế Từ đó, không gian và thời gian nghệ thuật trong Thơ mới là tính chất, hằng số tâm lí – xã hội của con người cá nhân, cá thể

Có thể nói, mọi phương diện thi pháp trong Thơ mới đã hoàn toàn thoát li thơ cũ Tất cả chịu sự chi phối của cái Tôi cá nhân, cá thể Trong khu vườn Thơ mới, mỗi cái Tôi mang một hương sắc riêng, tạo nên một thế giới thơ đa dạng, phong phú về phong cách Sự bùng nổ cái Tôi đã đưa thơ vươn tới bao giá trị mới chưa từng có trước đó

2 - Thơ mới – Sự bùng nổ ngôn từ.

Thơ mới không chỉ là sự nở rộ cái tôi cá nhân, cá thể mà còn đánh dấu sự bùng nổ ngôn từ trên con đường hiện đại hóa thơ ca Nhà thơ Huy Cận đã từng cho rằng: “Thơ mới tạo ra ngôn từ mới để biểu hiện cảm xúc mới Tiếng Việt trẻ lại với thơ Sự đóng góp của Thơ mới về ngôn ngữ là rất lớn …Tiếng Việt đến thời Thơ mới đã đổi thịt thay da một lần nữa” Có thể thấy, nếu thơ ca trung đại gò bó, ước lệ, khuôn sáo, ưa thích điển tích, điển cố trong câu chữ thì đến Thơ mới, ngôn ngữ đã tươi mới, phong phú, giàu phép tu từ và khả năng biểu cảm, vừa hàm ẩn, súc tích vừa trong sáng mà sang trọng, quý phái, vừa giàu nhạc tính vừa mang tính tương hợp cao, vừa có ngôn từ tượng trưng, siêu thực vừa có ngôn từ huyền ảo kinh dị Trải qua cả chục thế

kỷ nhưng chưa bao giờ, ngôn từ thơ lại phong phú, hấp dẫn và ngồn ngộn sức sống đến vậy Cái tôi thi nhân

Thơ mới đã tạo ra những bước đi liên tục của ngôn ngữ thơ, đưa ngôn ngữ thơ từ "điệu ngâm sang điệu nói"

(Trần Đình Sử), từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện

Theo Phan Ngọc thống kê thì trong 1000 bài thơ Đường luật, tức là tổng cộng 56.000 từ nhưng các nhà thơ trung đại chỉ sử dụng có 300 từ và hoán đổi chúng trong các bài thơ Điều đó cho thấy sự nghèo nàn, khô cứng, sự lặp lại đơn điệu của ngôn ngữ thơ ca trung đại Thế nhưng, khi các nhà Thơ mới đặt cái Tôi ở trung

tâm, đưa thơ về với cuộc sống trần thế trong “khát vọng thành thật” thì lối thơ mang nặng tính ước lệ, vay

mượn ngôn từ, điển tích đã không đủ sức chứa nổi muôn hình vạn trạng cảm xúc thi nhân Vì vậy, đến Thơ mới, thơ Việt đã làm cuộc ly thân hẳn ngữ liệu cũ, ước lệ xưa Các tác giả đã có nhãn quan mới, giọng điệu mới làm thay đổi ngôn ngữ thơ: giai đoạn này bắt đầu xuất hiện các câu thơ định nghĩa, câu thơ giãi bày với những hô ngữ, thán từ, cách nói bằng các con số và có thêm sự góp mặt của ngôn ngữ văn xuôi, giá trị biểu

Trang 6

đạt tinh tế được tăng cường Có sự trở về với ngôn ngữ thơ cổ nhưng vẫn mang trong nó những tình ý mới Con đường kiếm tìm cái tôi cá nhân ấy đã phân hóa ngôn ngữ thơ theo nhiều hướng, đẩy thơ bước vào địa hạt tượng trưng, siêu thực, mang màu sắc chủ nghĩa hiện đại Thơ được giải phóng triệt để khỏi các phép tắc, thanh vận chặt chẽ của các thể loại thơ truyền thống, thơ tự do bắt đầu xuất hiện với số lượng các câu thơ không còn bị giới hạn Đặc biệt, ngôn ngữ bình thường trong đời sống hàng ngày đã được nâng lên thành ngôn từ nghệ thuật trong thơ, không còn bị câu thúc bởi việc sử dụng các điển cố văn học Ngôn ngữ thơ phong phú, đầy năng lượng và biến hóa trong từng phong cách Sau bao năm thơ ca trung đại sử dụng ngôn từ

“như những viên gạch để lắp vào bộ khung cố định của luật thơ” (Trần Đình Sử) thì với Thơ mới, ngôn từ

bùng nổ và trở nên phong phú, mới lạ hơn bao giờ hết

Với ý thức khẳng định mình của cái tôi trong Thơ mới, ngôn ngữ Thơ mới có sự xuất hiện đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (ở thơ cũ hiếm thấy) nhằm khẳng định một cách rõ ràng, dứt khoát tư tưởng, tình cảm của cái tôi trữ tình Cùng với điều đó, Thơ mới xuất hiện những câu thơ định nghĩa, giai đoạn đầu có nhiều ở thơ Thế Lữ: “Tôi là người bộ hành phiêu lãng”, “Tôi chỉ là một khách tình si” Từ 1936, Thơ mới đi sâu hơn vào cái tôi, những câu thơ định nghĩa xuất hiện nhiều ở Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử Với những câu thơ định nghĩa như thế, cái tôi nhà thơ được khẳng định rõ ràng, dứt khoát hơn

Nếu Thơ cũ chủ yếu dùng “ý tại ngôn ngoại” thì Thơ mới là thơ hướng nội Đó là thơ của cái tôi nội cảm hướng đến thể hiện cảm giác, trình bày các trạng thái tình cảm, nên thế giới ngôn ngữ Thơ mới đầy ắp những hô ngữ, thán ngữ, lời than, lời kể Ví như tiếng thơ Chế Lan Viên ngỡ ngàng trước bước đi của thời

gian “Chao ôi, Thu đã đến rồi sao/ Thu trước vừa qua, mới độ nào” hay lời than não nề của Hàn Mặc Tử

“Trời hỡi bao giờ tôi chết đi/ Bao giờ tôi hết được yêu vì” Những yếu tố giao tiếp như hô ngữ, thán ngữ, lời

than, lời kể… bước vào thơ một cách tự nhiên làm cho ngôn ngữ sống động, tươi nguyên

Từ thơ trữ tình điệu ngâm sang thơ trữ tình điệu nói, ngôn ngữ thơ tiếng Việt đã làm cuộc chuyển hóa nhanh chóng từ thi pháp trung đại sang hiện đại Số từ vựng càng giàu có, cách diễn đạt càng tự nhiên, càng chuyên chở đầy đủ, tinh tế những cảm xúc phong phú, đa dạng, đa cung bậc của cái tôi trữ tình Sử dụng chữ quốc ngữ thay cho chữ Hán Nôm, Thơ mới ít dùng từ Hán Việt Thơ mới cũng khai thác nhiều giá trị các biện pháp

tu từ, tạo cho ngôn ngữ thơ giàu sắc thái biểu cảm, hình tượng và cảm xúc Từ đó, nó mở ra những kết hợp mới mẻ, táo bạo, làm giàu vốn từ tiếng Việt, cung cấp nhiều lượng thông tin mới cho từ trong hoạt động ngữ nghĩa Trong thơ Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, hệ thống từ vựng mới và cách sử

dụng mới xuất hiện nhiều Đó là những cách dùng từ rất lạ như “Chị ơi, em cưới mùa xuân nhé; - Nằm mãi

mà xem cái nhỡ nhàng” trong thơ Nguyễn Bính, “Hơn một loài hoa đã rụng cành”, “Vườn cười bằng bướm, hót bằng chim”, “Đây chùm mong nhớ, khóm yêu thương” trong thơ Xuân Diệu, “Trưa gọi kêu, nâng ngực gió lên trời”, “Dưới trời huyết, tháp chàm buồn tư lự” trong thơ Chế Lan Viên hay “Tôi vo nhớ tiếc như vo lụa, Tôi riết thời gian trong nắm tay” trong thơ Hàn Mặc Tử Có những từ vốn không xa lạ bước vào Thơ mới

cũng như thoát xác đầy ý vị mới mẻ Khi Xuân Diệu viết "Chiều góa không em lạnh lẽo sao" thì từ "góa" gợi

nhiều liên tưởng nghĩa mới, không chỉ gợi sự thiếu vắng mà cả trống vắng, đơn chiếc Hay thơ Nguyễn Bính vẫn là hình ảnh quen thuộc của ca dao nhưng mang một sinh khí mới mẻ, đầy tính hiện đại trong sự đồng nhất

cái tôi nhà thơ với thiên nhiên tạo vật: “Lợn không nuôi đặc ao bèo/ Giầu không dây chẳng buồn leo vào

giàn/ Giếng thơi mưa ngập nước tràn/ Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều” Những hình ảnh biểu tượng cho

tình yêu, sự hò hẹn và chia ly vào thơ Nguyễn Bính lại mang ý nghĩa của sự lỡ làng và lỡ bước

Không chỉ mới mẻ trong từ ngữ và cách diễn đạt, hàm súc, cô đọng ý tình mà ngôn từ Thơ mới rất giàu tính nhạc Bằng cách phối hợp thanh điệu, kết hợp nguyên âm cao và phụ âm vang cùng nhịp điệu tâm hồn của thi sĩ, ngôn từ Thơ mới tràn đầy tính nhạc Ngấm vào máu điệu hồn dân tộc qua ca dao, Đường thi và nhanh nhạy tiếp thu nhạc tính trong thơ tượng trưng Pháp, các nhà Thơ mới đã rất dụng công đưa nhạc vào thơ, nhạc làm nền cho thơ, nhạc hòa âm, phối nhịp với giọng điệu thơ, dẫn dắt hồn thơ, thơ đi theo nhạc, điệp trùng những vang ngân qua nhiều giai điệu.Thơ mới giàu nhạc điệu: nhạc điệu bằng - trắc theo kiểu thơ

Đường như câu thơ Xuân Diệu “Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh / Trăng thương, trăng nhớ, hởi trăng

ngần! / Đàn buồn, đàn lặng, ôi! đàn chậm / Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân” (Nguyệt cầm); nhạc điệu lục bát

của ca dao, dân ca được các nhà thơ tìm cách biến tấu, vắt dòng, ngắt nhịp như câu thơ Huy Cận “Rơi rơi

dìu dịu rơi rơi/ Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ ” (Buồn đêm mưa).; nhạc điệu bằng lối dùng từ tượng âm

của những từ xướng âm nhạc cổ để lồng ghép vào thơ như trong bài Say đi em của Vũ Hoàng Chương “ Khúc

nhạc hồng êm ái / Điệu kèn biếc quay cuồng / Một trời phấn hương / Đôi người gió sương” ; nhạc điệu bằng

cách xây dựng câu thơ, bài thơ hoàn toàn bình thanh theo kiểu của Bích Khê như “Ô hay! Buồn vương cây

ngô đồng/Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông ” hay Xuân Diệu như “Sương nương theo trăng ngừng lưng

trời/ Tương tư nâng hồn lên chơi vơi”; nhạc điệu bằng cách điệp âm, điệp thanh, lặp lại khổ thơ, vắt dòng câu

Trang 7

thơ như “Tiếng vi vút như khuyên van, như dìu dặt/ Như hắt hiu cùng hơi gió heo may” (Tiếng trúc tuyệt vời -

Thế Lữ) Thơ mới là tiếng nhạc vang ngân, da diết Các nhà thơ đều ra sức khai thác nhạc tính một cách tối

đa Thơ mới là thơ của những tiết tấu âm vang, của những con chữ biết hát ca và trò chuyện, thơ của sắc màu

rộn rã dù bàng bạc trong nó “nỗi buồn thế hệ” của một thời Với ngôn ngữ giàu nhạc tính, Thơ mới đã làm

giàu có, đẹp đẽ hơn giá trị của tiếng Việt

Ngôn từ Thơ mới còn mang tính tương hợp cao Đó là sự ảnh hưởng sâu đậm của Baudelaire với quan niệm

về sự tương hợp của các giác quan :hương thơm, màu sắc và âm thanh cùng nhau tương hợp Nhạc thơ xuất hiện trong tương hợp ấy nên nó rất đẹp, lung linh, kỳ ảo, lưu giữ lâu bền chất thơ trong lòng người, nhạc hoá hồn thơ, thông qua cách kiến trúc câu thơ đầy nhạc, đầy âm vang tất cả được hòa quyện, chuyển hóa trong nhau để tạo thành một thế giới nghệ thuật, thế giới của sự tương hợp giữa âm nhạc, màu sắc, hương thơm và cảm giác vang vọng, u sầu, trước hết của chính người thơ, và sau đó, vươn đến tha nhân, để vẫy gọi những

tấm lòng đồng điệu, tri âm, tri ngộ Thơ Xuân Diệu có những bài tràn đầy cảm giác như bài “Nguyệt cầm”

Bài thơ thể hiện sự giao cảm giữa hương sắc và thanh âm, giữa đất trời và cỏ cây, giữa vũ trụ và con người, giữa trần gian và âm cảnh Có sự tương giao, cộng hưởng giữa âm thanh và ánh sáng, da diết cảm giác tê lạnh

trôi trong các vần thơ: Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời/ Ðàn ghê như nước, lạnh, trời ơi / Long lanh

tiếng sỏi vang vang hận / Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người Tính tương hợp của ngôn ngữ thơ cũng

xuất hiện hiện nhiều trong những vần thơ đầy cảm giác của Hàn Mặc Tử Trong Thơ mới, cuộc sống được

cảm nhận vừa bằng cảm xúc, vừa bằng trí tuệ, vừa bằng cả thẩm mĩ các giác quan hòa quyện Một thế giới huyền ảo, thế giới của những cảm quan nghệ thuật được mở rộng từ các giác quan thẩm mĩ Sự tương ứng các

giác quan đã có từ Xuân Diệu với những tổ hợp từ lạ: "Long lanh tiếng sỏi", "Một tiếng cười hương", "Đàn

ghê như nước, lạnh, trời ơi !", sang đến Bích Khê và Hàn Mặc Tử thì càng có độ "chín" Điều này từ Xuân

Diệu đến Đoàn Phú Tứ, Bích Khê là sự vận động liên tục, là cuộc chạy tiếp sức

Ảnh hưởng tư tưởng nghệ thuật của Baudelaire ở quan niệm "tương ứng giữa các giác quan" nên các nhà thơ

đặc biệt chú ý đến sự dao động giữa ngữ âm và ngữ nghĩa, đưa thơ đi về phía tượng trưng Trong Thơ mới, những hư ảo, huyền thoại, tượng trưng, siêu thực, huyền ảo, kinh dị đậm đặc trong lớp từ mang màu sắc tôn giáo của Hàn Mặc Tử; hồn của Bích Khê; ma của Chế Lan Viên Vào khoảng 1941 – 1945, Thơ mới cũng đã

có nhánh rẽ về hướng siêu thực với các tác phẩm của Chế Lan Viên, Nguyễn Xuân Sanh, Hàn Mặc Tử, Bích Khê Việc đổi mới này đã làm tăng vốn từ vựng, mở rộng biên giới từ, thơ diễn tả được nhiều ý tứ mới Lớp

từ mới này trong ngôn ngữ Thơ mới hiếm thấy trong thơ cũ

Nói đến tính hiện đại trong ngôn ngữ Thơ mới so với thơ cũ không có nghĩa là Thơ mới đoạn tuyệt hẳn nhưng tinh hoa thơ cũ Những thể thơ cũ như bảy chữ, lục bát…hay luật đối, gieo vần cũ vẫn xuất hiện nhiều trong Thơ mới nhưng được biến hóa tự do, linh hoạt hơn Ngôn ngữ thơ Huy Cận hài hòa những yếu tố truyền thống

và hiện đại, phương Đông và phương Tây mà rất mới lạ Thơ lục bát Nguyễn Bính “chân quê” theo một kiểu rất riêng: “Anh đi đấy, anh về đâu?/ Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…” Sự trở về ngôn ngữ thơ

cổ chứng tỏ sức sống mạnh mẽ của Tiếng Việt và bề dày trầm tích văn hóa truyền thống Vừa học tập phương Tây, vừa tiếp thu thơ Đường, vừa sử dụng tinh hoa văn học dân tộc, các nhà Thơ mới đã làm được bước tổng hợp quan trọng giữa văn hóa Đông Tây và truyền thống, đưa thơ ca Việt Nam tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa

Có thể thấy, những bước đi đổi mới đầy sáng tạo của ngôn ngữ Thơ mới đã thêu dệt nên những vần thơ hay, đẹp, giàu chất nhạc Thơ mới có nhiều lớp từ vựng mới, nhiều cách diễn tả lạ chưa từng thấy, đầy cảm xúc,

cảm giác Đó là “ngôn ngữ của thế giới Huyền Diệu” (Xuân Diệu), ngôn ngữ của cái tôi thi nhân thăng hoa

cảm xúc Nó góp phần đưa thơ bước vững vàng trên con đường hiện đại hóa thơ ca

Đề bài 1: “Cái đẹp mà văn học mang lại không phải là cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật

đời sống được khám phá một cách nghệ thuật”

Bằng việc tìm hiểu một số bài thơ đã học, hãy làm sáng tỏ

Hướng dẫn làm bài

a Giải thích nhận định

- Cái đẹp của một TPVH: là những tư tưởng tốt đẹp, cao cả được thể hiện qua một hình thức nghệ thuật hấp dẫn, độc đáo

- VH bắt nguồn từ hiện thực c/s C/s là điểm xuất phát (cảm hứng, đề tài…) và cũng là đích đến của TPVC, bởi lẽ VH được sáng tác để phục vụ cho c/s con người

Trang 8

- TPVH chỉ có ý nghĩa thẫm mĩ, chỉ chinh phục được trái tim con người khi nó đụng chạm đến những vấn đề con người đang quan tâm, đang trăn trở

- TPVH phản ánh c/s qua sự tìm tòi, sáng tạo mới mẻ, độc đáo cả về mặt nội dung lẫn hình thức nghệ thuật -> vẻ đẹp của một TPVH phải có sự hài hoà cả về mặt ND lẫn HT

b Biểu hiện qua một số bài thơ mới tiêu biểu

- Vẻ đẹp về mặt tư tưởng, cảm xúc

+ Sự trỗi dậy mãnh liệt của cái tôi cá nhân, trực tiếp bộc lội cảm xúc…

+ Khám phá những khía cạnh tinh tế trong đ/s nội tâm con người, đặc biệt là tình yêu đôi lứa + Cảm nhận tinh tế c/s đắm say, khát khao giao cảm với đời, với người, với thiên nhiên tươi đẹp

+ Tình yêu quê hương, đất nước một cách thầm kín

- Vẻ đẹp về hình thức thể hiện

+ Phong phú về đề tài, đa dạng về thể thơ

+ Cách diễn đạt, dùng từ, hình ảnh mới mẻ, sáng tạo, độc đáo, mới lạ…

+ Lời thơ giàu tính nhạc, ngắt nhịp đa dạng…

Đề bài 2: Trong tác phẩm Tùy Viên thi thoại nhà phê bình văn học Viên Mai viết: “ Làm người thì không nên có cái tôi nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi”

Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ cái tôi của một số nhà thơ mới của phong trào thơ mới lãng mạn Việt Nam (1932- 1945)

Hướng dẫn làm bài

a/ Giải thích nhận định

- “Làm người không nên có cái tôi” là bởi vì cái tôi ở đây được hiểu là biểu hiện của tư tưởng cá nhân, ích kỷ nhỏ bé tầm thường đáng lên án

- “ Làm thơ không thể không có cái tôi” được hiểu là cái tôi xúc cảm là cá tính sáng tạo của nhà thơ

- Ý kiến của Viên Mai nhấn mạnh đến cái tôi làm thơ Ý kiến này đền ra yêu cầu đối với người làm thơ phải thể hiện được phong cách trong sáng tạo nghệ thuật, nhà thơ phải khẳng định được dấu ấn cá nhân chủ quan của mình trong thơ Ý kiến này xuất phát từ đặc trưng của thơ và yêu cầu của hoạt động sáng tạo nghệ thuật + Thơ chính là sự thể hiện mình một cách trực tiếp và chân thành nhất Thơ chính là tiếng lòng của nhà thơ vậy

+ Khi có những xúc cảm trào dâng mãnh liệt nhà thơ lại tìm đến thơ để giải bày sẻ chia

+ Xúc cảm trong thơ không phải là của ai khác mà chính là những băn khoăn trăn trở những tình cảm suy nghĩ của chính nhà thơ trước con người và cuộc đời Cho nên làm thơ không thể không có cái tôi

+ “Sáng tác thơ chính là một thứ sản xuất đặc biệt và cá thể do chính cá nhân thi sĩ làm” (Xuân Diệu)

+ Sáng tạo nghệ thuật đòi hỏi nhà thơ phải có phong cách rất riêng, độc đáo-“ cái tôi” thể hiện trong sáng tác của mình nếu không nhà thơ sẻ tự phủ nhận tư cách nghệ sĩ của mình cũng như tác phẩm của họ cũng chỉ là bản sao của người khác hoặc chỉ là những sản phẩm chung chung mờ nhạt Thơ ca chỉ có giá trị khi in đậm

cá tính sáng tạo cái tôi xúc cảm của chính nhà thơ, giống như khi dàn đồng ca cất lên vẫn thánh thót nhưng giọng điệu riêng không trộn lẫn

- Cái tôi trong làm thơ thể hiện ở các phương diện của nội dung và hình thức trong tác phẩm

2.Phân tích và chứng minh

- Điểm qua sự ra đời của phong trào thơ mới là sự trỗi dậy và khẳng định của cái tôi trong thơ

- Điểm qua các gương mặt của phong trào thơ mới ( trích dẫn nhận định của Hoài Thanh: trong dàn đồng ca của thơ mới…)

- Lựa chọn một số cái tôi của phong trào thơ mới

*Cái tôi Xuân Diệu thể hiện qua bài thơ Vội Vàng

+ Cái tôi xúc cảm đắm say, yêu đời yêu cuộc sống cuồng nhiệt khát khao giao cảm với đời

+ Cái tôi lo sợ và ám ảnh trước bước đi, trôi chảy của thời gian

+ Cái tôi ham mê khát khao giải phóng, thể hiện ái tình

+ Cái tôi khát khao đổi mới trong nội dung lẫn hình thức thể hiện

(Chú ý nhấn mạnh yếu tố riêng khi phân tích nội dung và các phương diện của hình thức)

*Cái tôi Huy Cận qua bài Tràng Giang

+ Cái tôi ám ảnh trước không gian và mang mối sầu vạn kỷ

Trang 9

+ Cái tôi tìm đến lối diễn đạt mang màu sắc cổ điển nhưng gửi gắm nỗi niềm cái tôi mang hơi thở của thời đại

*Cái tôi Hàn Mặc Tử với Đây Thôn Vĩ Dạ

+ Cái tôi khát khao sống khát khao yêu, khát khao hạnh phúc nhưng lúc nào cũng gắn liền với nỗi đau với nỗi ám ảnh chia lìa, sự mặc cảm số phận

+ Hình ảnh thơ tươi sáng nhưng mạch thơ vận động theo chiều càng hư ảo khó nắm bắt

( HS cần bám sát văn bản phân tích chỉ rõ cái tôi biểu hiện trên 2 phương diện nội dung và nghệ thuật để thấy được gương mặt riêng của các nhà thơ)

3.Bình luận

- Ý kiến xác định yêu cầu cần có của người nghệ sỹ là phải tạo được dấu ấn phong cách riêng của mình trong con đường sáng tạo nghệ thuật của mình

- Đồng thời chỉ dẫn cách xác lập, thẩm định tư cách nghệ sỹ của nhà văn cho người đọc

Đề bài 3: …Thơ của tôi là cánh cửa

Không cho ai mở dễ dàng

Thơ của tôi là hợp chất được làm

Từ tức giận, tình yêu và xấu hổ…

Là tất cả, thơ ơi chỉ trừ không là vô nghĩa.

(Raxun Gamatôp – Nhà thơ Liên Xô cũ)

Bạn hiểu ý thơ trên như thế nào ? Hãy làm sáng tỏ ý thơ trên qua việc phân tích ba thi phẩm Đây mùa thu tới (Xuân Diệu), Tương tư (Nguyễn Bính), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mạc Tử)

Yêu cầu cần đạt

a Giải thích ý thơ

- Đây là một quan niệm về thơ đích đáng, được phát biểu bằng thơ của một nhà thơ Thơ là nghệ thuật ngôn từ tinh tế, phức tạp (là cánh cửa- Không thể mở dễ dàng) Hình thức thơ thể hiện những cung bậc cảm xúc đa dạng phong phú, tấc lòng, tư tưởng tình cảm mà thi sĩ kí thác, gửi gắm tới độc giả, thơ chính là tình đời tình người ngân lên trong những âm vang ngôn ngữ, kết cấu hình ảnh giọng điệu, nhịp điệu… không có

ai chỉ nhai văn nhá chữ, chỉ chú trọng kĩ xảo ngôn từ mà thành nhà thơ(…là tất cả,…chỉ trừ không là vô

nghĩa) Nhà thơ đã nói được những đặc trưng cơ bản nhất của thơ trong quan hệ giữa tác giả và tác phẩm, tác

phẩm trong quan hệ nội tại của nó, tác phẩm trong mối quan hệ với người đọc, với hiện thực đời sống trong một đoạn thơ ngắn Muốn hiểu được thơ không chỉ cần nắm đặc trưng thể loại, kiến thức về tác giả, thời đại sản sinh ra nó… mà phải có tầm đón nhận phù hợp… tức phải có những chìa khóa, cách giải mã phù hợp trước những cánh cửa thơ không hề dễ mở để được đắm mình trong thế giới thơ

b Mở cánh cửa để vào thế giới nghệ thuật của ba thi phẩm:

- Đây mùa thu tới của Xuân Diệu nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới Đây là thi phẩm của thi sĩ

mang nỗi ám ảnh thời gian của cái tôi cá nhân thời hiện đại.Tứ thơ làm hiện hình bước đi của thời gian đáp xuống xứ Bắc Việt Nó đáp xuống rặng liễu, khu vườn, nhánh cây, trong từng tế bào lá, cánh chim, rặng núi, dòng sông, vầng trăng và cuối cùng ngấm vào lòng thiếu nữ Đó là cách cảm nhận thời gian tuyến tính một chiều khác hẳn cách cảm nhận tời gian trong thi ca trung đại phương Đông Mạch cảm hứng của bài thơ vừa

có nỗi buồn thu và niềm vui thu tới tạo thành cái bâng khuâng, sự rùng mình của một linh hồn trước sự gõ nhịp của thời gian Buồn vì sao? Vui vì sao? Sự mới mẻ của cảm xúc được thể hiện qua tài hoa của câu chữ mang dấu ấn Xuân Diệu, phép tương giao trong thơ tượng trưng pháp được thể hiện nhuần nhuyễn…

- Đây thôn Vĩ Dạ lại là thế giới nghệ thuật của hồn thơ lạ nhất trong các nhà thơ mới Đó là hồn thơ có cội

nguồn Đau Thương và hiện ra dưới hình thơ Thơ Điên, là lời tỏ tình của một tình yêu đời đến đau thương, tuyệt vọng Càng tuyệt vọng thấy đời càng đẹp, Đời càng đẹp lại càng tuyệt vọng và càng yêu thương lưu luyến níu đời Mạch tơ cóc nhảy, bất định, ba câu hỏi mà câu hỏi ở khổ cuối như là sự trả lời cho câu hỏi ở khổ đầu Cái tôi phân tán li hợp bất định, có sự đối lập giữa không gian ở đây và ngoài kia… Tất cả hiện ra trong những câu chữ mang đậm dấu ấn tài hoa, tâm huyết của người đứng đầu trường thơ Loạn Bình Định, một hồn thơ đã bước lãnh địa của thơ siêu thực …

- Tương tư lại là thi phẩm của hồn thơ chân quê nhât trong những nhà thơ mới Có một không gian, thời

gian, tâm trạng tương tư… của cái tôi mang mặc cảm lỡ làng dang dở, cái tôi của những mối tương tư một chiều được thể hiện trong giọng điệu, câu chữ, hình ảnh, cách cảm nghĩ… và thể lục bát chân quê…

Trang 10

+ Đến với mỗi bài thơ, mỗi tỏc giả cần cú những chỡa khúa hữu hiệu để mở vào thế giới nghệ thuật của nú Những chiếc chỡa khúa về kiến thức văn học, văn húa, sự từng trải và nghiệm sinh cuộc sống… nhưng khụng thể thiếu năng lực cảm thụ, trực cảm nghệ thuật của người tiếp nhận thơ

CHUYấN ĐỀ : HèNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ CA KHÁNG CHIẾN 1.Trong kháng chiến chống Pháp: Vẻ đẹp ngời lính thờng gắn bó với vẻ đẹp bình dị Họ nhanh chóng trở

thành linh hồn của cuộc kháng chiến, trở thành niềm tin yêu và hy vọng của cả dân tộc Tố Hữu đã nói hộ tình cảm của nhân dân đối với anh vệ quốc quân:

"Giọt giọt mồ hôi rơi

Trên má anh vàng nghệ

Anh vệ quốc quân ơi

Sao mà yêu anh thế!''

(Cá nớc - Tố Hữu)

*Anh bộ đội cụ Hồ vốn là những nông dân mặc áo lính mang trong mình lí tởng cao đẹp

Vì sự sống còn của Tổ quốc, họ tạm biệt bến nớc sân đình, bãi mía nơng dâu để ra đi chiến đấu Ta hãy nghe lời tâm sự của họ khi nói về quê hơng mình:

"Quê hơng anh nớc mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá''

(Đồng chí - Chính Hữu)

- Họ ra đi, để lại nơi quê nhà ngời mẹ già, ngời vợ trẻ một nắng hai sơng cày sâu cuốc bẫm Trần Hữu Thung đã khắc hoạ thành công hình ảnh anh vệ quốc quân nông dân qua trí nhớ của ngời vợ Trong buổi tòng quân rộn ràng tiếng trống, thấp thoáng bóng cờ, ngay phút tiễn đa bịn rịn, anh vẫn không quên nhắc vợ:

"Ruộng mình quên cày xáo

Nên lúa chín không đều

Nhớ lấy để mùa sau

Nhà cố làm cho tốt''

(Thăm lúa - Trần Hữu Thung)

Cái chất nông dân thuần phác ấy mới đáng qúy làm sao, và chính nó sẽ làm nên sức mạnh để anh vợt qua mọi gian khổ chiến thắng kẻ thù Các anh sẵn sàng ra đi với một quyết tâm lớn lao, sẵn sàng hy sinh riêng mình vì lí tởng cao đẹp, đó là lí tởng giải phóng đất nớc, giải phóng quê hơng, giải phóng chính cuộc đời mình khỏi lầm than nô lệ:

"Ruộng nơng anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay ''

(Đồng chí - Chính Hữu)

- Hình ảnh các anh khác xa lắm với hình ảnh ngời lính thú trong ca dao xa:

Thùng thùng trống đánh ngũ liên Bớc chân xuống thuyền, nớc mắt nh ma

(Ca dao)

Ta nh thấy ngời lính thú hiện lên thật tội nghiệp, đáng thơng Họ bớc đi bởi tiếng trống giục và trong nớc mắt, bởi họ hiểu rằng họ buộc phải đi làm điều mà mình không muốn Phía trớc họ là những cuộc khởi nghĩa của nông dân, là đồng bào của chính mình Họ cũng hiểu rằng máu xơng họ đổ xuống chỉ để dìm thêm cuộc sống của bao ngời trong màn đêm đen tối

Các anh cũng khác xa lắm ngời chinh phu trong "Chinh phụ ngâm'' Ngời chinh phu ấy ra đi trong tiếng

nức nở xé lòng của ngời chinh phụ, trong nỗi chán chờng, kinh sợ cảnh binh đao

- Cũng là ra trận, cũng là đi chiến đấu nhng ngời lính thú, hay ngời chinh phu xa làm sao có đợc t thế hiên ngang, đờng hoàng và hăm hở nh ngời chiến sĩ Việt Nam trong thơ cách mạng:

Những buổi vui sao cả nớc lên đờng

Xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục.

Xóm dới làng trên, con trai con gái

Xôi nắm cơm đùm rối rít theo nhau…

(Đờng ra mặt trận - Tố Hữu)

* Các anh là những ngời có ý chí nghị lực phi thờng, vợt lên trên mọi gian khổ khó khăn trong cuộc chiến đấu:

Ngày đăng: 12/08/2016, 18:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w