Mỗi ngày anh đều đọc được rất nhiều những tâm sự như thế và thậm chí nhiều bạn còn ví môn Văn là “kẻ thù số 1” hay là “tử thần” và việc học Văn chẳng khác nào một cực hình với các bạn :
Trang 1NGHIỆP MÔN NGỮ VĂN
Trang 21. HỌC VĂN – ĐÔI ĐIỀU CHIA SẺ
“ Anh ơi, e thấy học Văn chán lắm anh ạ, nhưng mà cứ phải thi Làm thế nào để học được nó hả anh ?”
“Anh ơi, anh có bí quyết gì để học tốt Văn không anh bảo em với?”
“Làm thế nào để được 7 điểm Văn hả các bạn?”
“Văn vừa dài vừa khó, lắm ý nhỏ, làm thế nào để nhớ được vậy mọi người?”
“Em năm nay thi khối D nhưng em kém Văn lắm chị ah”
………
Mỗi ngày anh đều đọc được rất nhiều những tâm sự như thế và thậm chí nhiều bạn còn ví môn Văn là “kẻ thù
số 1” hay là “tử thần” và việc học Văn chẳng khác nào một cực hình với các bạn :)))))
Với mong muốn giúp các em học tập bộ môn này hiệu quả hơn, với tư cách là người đi trước, bằng kinh nghiệm của cá nhân mình và những kinh nghiệm đúc rút được từ quá trình dạy học, anh sẽ chia sẻ một vài phương pháp mà anh cho là hữu ích nhé! Mỗi bạn hãy tham khảo và tìm ra cho mình những cách học hiệu quả nhé! 1/ Tạo cảm hứng học tập:
- Góc học tập luôn gọn gàng, ngăn nắp, sắp xếp khoa học, có hệ thống Hãy chia riêng khu từng môn, từng loại sách: SGK, sách tham khảo,… để dễ dàng tìm kiếm khi cần
- Có những trang trí/ kí hiệu riêng với vở ghi từng môn Ví dụ: môn Văn bọc bìa màu hồng, dán hình kitty,…:D
- Những tên bài học của chúng ta thường là “Tiết + tên bài + tên tác giả” Tại sao chúng ta không biến tấu đi 1 chút cho mềm mại, sinh động, hấp dẫn hơn nhỉ? Ví dụ: Đến với bài thơ hay: Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm,… Viết chữ bay bay 1 chút cũng là 1 cách hay :))
2/ Mục tiêu học tập và thời gian biểu:
- Hãy đặt ra mục tiêu lâu dài và mục tiêu ngắn hạn, mục tiêu từng ngày
VD:
+ Cả năm: 8,O – 8,2Văn Mỗi kì đạt 8,O trở lên Bài viết số 1: 9 điểm
+ Thứ 2: Tối 2h học Văn [7-9h], bài “Vợ chồng A Phủ”, đề Nhân vật Mị/ GT hiện thực và nhân đạo/ Nhân vật A Phủ
- Thực hiện nghiêm ngặt thời gian biểu này, về sau tự ép mình vào khung thời gian “căng” hơn để tập trung cao độ hơn :D
- Mỗi người có 1 “giờ vàng” học tập hiệu quả, hãy tìm ra nó nhé :]]
- Chú ý: Khi học, tắt toàn bộ máy tính, điện thoại, máy nghe nhạc, tivi, nói không với FB, Zalo,… để tập trung hơn Những thắc mắc nhớ ghi ra vở và giải quyết sau khi đã hoàn thành mục tiêu đặt ra [hỏi cô giáo, bạn bè,…] Mỗi ngày chỉ nên dành tối đa 1h cho mạng xã hội thôi nhé :3
3/ Đọc sách như thế nào?
- Hãy đọc mỗi văn bản VH trong SGK như đọc 1 cuốn truyện ngoài chúng ta vẫn thường đọc và đọc ít nhất 3 lần:+ Lần 1: Đọc nhanh để nắm được nội dung của toàn bộ tác phẩm – tóm tắt lại
+ Lần 2: Đọc và chú ý các chi tiết nhỏ, cảm nhận về từng nhân vật, sự kiện,…
+ Lần 3: Đọc để cảm nhận về nghệ thuật của tác phẩm: cách dùng từ, đặt câu ra sao? Dùng biện pháp tu từ gì? Xây dựng tình huống?
Chú ý: Lần 1 nên thực hiện vào đầu mỗi năm, mỗi kì học Các em hãy đọc qua 1 lượt toàn bộ chương trình của năm/ kì
đó để biết mình sẽ học những gì?
- Đọc phải đi liền với ghi chép Đừng ngại viết ra sách, đừng ham muốn giữ sách sau 1 năm học còn nguyên như mới J))) Cá nhân anh thường đọc và gạch chân ngay dưới những câu, từ, đoạn quan trọng, đặc sắc và chú thích ngay ra lề những điểm quan trọng hay những ý tưởng, những cảm nhận của riêng mình để sau khỏi quên nhưng nhớ là ghi từ khóa thôi, thật ngắn gọn :D
4/ Soạn bài trước khi đến lớp:
- Việc này giúp các em chủ động hơn trong việc lĩnh hội kiến thức Tự soạn bài các e đã năm được 4O – 5O% bài rồi nhé :D
- Không nhất thiết phải tuần tự trả lời các câu hỏi SGK một cách máy móc Hãy coi vở soạn như một cuốn sổ tay mà
ở đó bất cứ cái gì hay và các em tâm đắc về tác phẩm đều có thể ghi lại :D Nhớ là mình có thể đặt tiêu đề thật hấp dẫn nhé! :D
5/ Ghi chép bài ra sao?
- Sách k cần sạch sẽ tinh tươm nhưng vở thì nhất định phải sạch đẹp, rõ ràng :D Chữ k cần đẹp nhưng đừng cẩu thả, gạch xóa chi chít kẻo khi mở vở ra ôn bài rất nản :D
- Với mỗi bài, tiêu đều, tên đề mục lớn nên viết bằng mực đỏ và viết to hơn bình thường cho dễ nhìn Sử dụng hệ thống kí hiệu khoa học: A, B, C – I, II, III – 1,2,3 – 1.1, 1.2, 1.3 – a, b, c - * - +… Nhớ dùng thước gạch chân dưới các
đề mục nhé!
Trang 3- Vở ghi nên chia 2 cột, một cột lớn ghi chép những ý chính cô giáo dạy [bên trái], một cột nhỏ hơn [bên phải] để ghi nhanh những ý, những dẫn chứng mở rộng bên ngoài văn bản Điều này giúp các em rất nhiều khi viết văn phải không nào? :D
- Rèn tốc độ viết thật nhanh Hồi cấp 3, trong 5p anh có thể viết kín 1 trang A4 đấy, dĩ nhiên chữ có bị không được đẹp như bình thường :3 [Giờ dùng máy tính nhiều quá bị chậm rồi :P ]
6/ Ghi nhớ bằng cách nào?
- Muốn thuộc bài trước hết các em phải hiểu bài Muốn hiểu bài phải tập trung nghe giảng :D
- Não bộ của chúng ta ghi nhớ bằng hình ảnh cực tốt Vì vậy, khi ôn nên viết theo sơ đồ cành [bản đồ tư duy] để nắm được ý lớn nhỏ, nắm được tổng thể và thành phần cũng như mối liên hệ giữa chúng :D Kết hợp đầu nghĩ – tay viết – miệng có thể nhẩm thầm theo Chú ý, xây khung xương trước, đắp “thịt” vào sau [ đi từ khái quát đến cụ thể] và cần tìm ra các từ khóa cho mỗi ý
VD:
+ Chí Phèo khi được bà ba nhà Bá Kiến gọi lên bóp chân, chỉ thấy nhục chứ yêu thương gì… -> Tự trọng + Chí từng
mơ ước… -> Ước mơ lương thiện, bình dị mà xa vời
- Để test lại, đến lớp các e hãy cùng các bạn kiểm tra bài cho nhau nhé Vì thời gian có hạn nên chỉ cần nói ý chính
và từ khóa thôi Cách này cực hiệu quả nhé :D
7/ Học những gì, viết văn như thế nào?
Các em xem ở tệp "Để học tốt môn Ngữ văn" chị đã up từ lâu rồi nhé Vì dài nên c k post lại vào đây nữa :D
8/ Tài liệu tham khảo:
- Hãy nắm vững kiến thức cơ bản trước khi nâng cao, mở rộng
- Chọn nguồn tài liệu tin cậy Anh thường dùng sách của NXB Giáo dục, NXB Sư Phạm Hà Nội, NXB ĐH Quốc gia
HN, của các thầy Nguyễn Đăng Mạnh, Chu Văn Sơn, Trần Đăng Xuyền, Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Ninh, Vũ Dương Quý, … Trên mạng cũng nhiều tài liệu nhưng không phải tài liệu nào cũng chuẩn nên các em phải tỉnh táo lựa chọn nhé!
- Nên dùng sách nghiên cứu hơn là văn mẫu Ban đầu anh tự viết ra cảm nhận của mình [ghi ra sách], rồi đọc thêm các bài nghiên cứu, phê bình để bổ sung ý [vì những bài này thường tập trung vào từng khía cạnh của tác phẩm nên sâu
kĩ hơn, có nhiều phát hiện mới] Cuối cùng các em mới nên đọc văn mẫu để học tập cách diễn đạt, trình bày
- Tài liệu tham khảo có ở rất nhiều nơi: tivi, sách Quà tặng cuộc sống, báo chí, lịch treo tường,… :D => Nên có sổ tay văn học theo chủ đề nhé!
- Bất kì khi nào có ý tưởng mới hãy lưu lại vào sổ tay hoặc điện thoại nhé :D
7/ Khuyến khích đặt câu hỏi và tinh thần phản biện
-> Phát huy sự sáng tạo đồng thời giúp các e củng cố bài tốt hơn nhé!
- (Tài liệu trung tâm luyện thi Tuyển sinh 247.com)
- Các thành phần (bộ phận) và các giai đoạn phát triển của nền VH
- Những thành tựu lớn (nội dung, nghệ thuật) của nền VH
- Những tác giả, tác phẩm tiêu biểu
2 Khái quát 1 thời kì VH:
- Mốc thời gian, đặc điểm lịch sử, xã hội, văn hóa, tư tưởng
- Các bộ phận, giai đoạn phát triển của thời kì VH đó
- Đặc điểm phát triển của VH
- Những thành tựu về nội dung, nghệ thuật
3 Khát quát về một khuynh hướng (trào lưu) VH:
- Khái niệm và cơ sở hình thành khuynh hướng (trào lưu) VH
- Đặc trưng thi pháp của khuynh hướng (trào lưu) đó
- Những tác giả, tác phẩm tiêu biểu
4 Về tác gia VH ( Xuân Diệu, Nam Cao, Hồ Chí Minh, Nguyễn Tuân, Tố Hữu)
- Tiểu sử, con người và cuộc đời -> Ảnh hưởng tới thơ văn?
Trang 4- Sự nghiệp sáng tác: các tác phẩm chính, giá trị nội dung, thể loại sở trường.
- Quan điểm sáng tác và phong cách nghệ thuật
+ Thể loại, đặc trưng thể loại?
+ Ý nghĩa nhan đề? Lời đề từ? (nếu có)
+ Kết cấu của văn bản?
+ Đề tài, chủ đề, giá trị nội dung, nghệ thuật?
- Tích lũy có hệ thống các nhận định về tác phẩm.Vị trí, vai trò, đóng góp của tác phẩm đối với sự nghiệp sáng tác của nhà văn nói riêng và với nền VH, giai đoạn VH, trào lưu VH nói chung?
- Đặt văn bản trong hệ thống những văn bản cùng đề tài, chủ đề, cùng khuynh hướng, thể loại,… ra đời cùng thời và ở các thời kì khác nhau, thuộc các nền VH khác nhau để hình tư duy so sánh, chỉ ra cái riêng của tác phẩm đó
III LÍ LUẬN VĂN HỌC:
- Đặc trưng, chức năng, vai trò, tác dụng của VH.
- Các thể loại văn học và đặc trưng của nó
- Nhà văn và quá trình sáng tạo
- Phong cách nghệ thuật của nhà văn
B NHỮNG KĨ NĂNG CƠ BẢN ĐỂ VIẾT MỘT BÀI HAY:
I TÌM HIỂU ĐỀ:
- Xác định yêu cầu của đề:
+ Vấn đề cần nghị luận? Vấn đề đó được thể hiện qua từ ngữ, hình ảnh nào?
+ Thao tác nghị luận cần vận dụng? (chứng minh, giải thích, bình luận, thuyết minh,…) Xác định thao tác chính và các thao tác bổ sung?
+ Phạm vi yêu cầu của đề? (1 hay nhiều tác phẩm? 1 đoạn, 1 khía cạnh của tác phẩm? )
- Xác định các loại kiến thức cần vận dụng? (Về lí luận VH, về tác giả, tác phẩm, kiến thức xã hội, kinh nghiệm sống…)
II LẬP DÀN Ý:
- Xác định hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng cần trình bày.
- Xác định trọng tâm bài, đâu là ý chính, ý phụ để bài viết có điểm nhấn, lướt, tránh lan man, dàn trải, không có trọng tâm
- Tổ chức, sắp xếp các ý: chính trước phụ sau hoặc phụ trước chính sau
III VIẾT BÀI:
- Mở bài và kết bài:
+ Diễn đạt ngắn gọn, nội dung chính xác, lời văn hấp dẫn
+ Mở bài và kết bài phải hô ứng với nhau MB đặt vấn đề, phải trích dẫn đầy đủ nhận định - nếu có, nêu được giới hạn của đề KB khẳng định, mở rộng, nâng cao vấn đề
+ Có 2 cách mở bài: trực tiếp, gián tiếp
- Thân bài:
+ Nhiệm vụ: giải quyết vấn đề đã nêu ra ở mở bài bằng các luận điểm, luận cứ, luận chứng chính xác, cụ thể, logic, chặt chẽ, phù hợp
+ Triển khai nội dung từ khái quát đến cụ thể
+ Có thể viết đoạn văn theo các kiểu diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, song hành,… [tốt nhất là viết đoạn diễn dịch]
Bố cục rõ ràng, mạch lạc, tách câu, tách đoạn hợp lý
+ Biết cách chuyển ý, chuyển đoạn, liên kết đoạn văn
+ Để viết được câu văn hay cần phải viết đúng ngữ pháp, có sự liên tưởng, so sánh hoặc sử dụng kiểu câu tu từ…+ Tích lũy vốn từ theo trường nghĩa (đồng nghĩa/ trái nghĩa); liên hệ các nhận định của các tác giả, các nhà phê bình cho bài văn thêm sinh động, thuyết phục
Trang 5+ Có tiểu kết trước khi kết bài.
IV SỬA BÀI:
- Sau khi viết phải đọc rà soát lỗi và sửa lỗi, hoàn thiện bài
LƯU Ý: Cố gắng tìm ra "công thức" chung cho từng dạng đề các em nhé! :D
-3 Ôn thi môn Văn: Bí quyết viết mở bài
Mở bài là giới thiệu vấn đề cần bàn luận trong bài làm cơ sở cho phần thân và kết bài, đồng thời tạo không khí để thu hút người đọc, bởi vậy mở bài đóng một vai trò rất quan trọng Không ít bạn cảm thấy “cứng tay” và mất nhiều thời gian cho phần mở bài trong bài văn nghị luận
Nguyên tắc viết mở bài
Hai nguyên tắc mở bài mà các bạn phải luôn tâm niệm là:
- Nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề bài
- Chỉ được phép nêu những ý khái quát về vấn đề cần nghị luận
Một mở bài hay và đúng cần có các yếu tố sau:
- Ngắn gọn ( khoảng 3-4 câu ) Phần mở bài quá dài dòng không những khiến bạn mất thời gian mà còn khiến bạn bị
… cạn kiệt ý tưởng cho phần thân bài Hãy hé mở những gì mình định viết ở phần thân bài thôi nhé
- Đầy đủ: phải nêu được vấn đề cần nghị luận; phạm vi tư liệu, thao tác nghị luận chính)
-Độc đáo: gây được sự chú ý cho người đọc về vấn đề cần nghị luận bằng cách nêu, cách liên tưởng khác lạ, bất ngờ cho người đọc Bạn sẽ dễ chiếm cảm tình của người viết nhất bằng cách này, bởi nó làm bạn nổi bật giữa hàng trăm bàivăn khác
-Tự nhiên: ngôn từ giản dị, mộc mạc, tránh sáo rỗng, tránh gượng ép Điều này sẽ gây cho người đọc cảm giác mơ hồ, khó chịu về sự giả tạo
Nên nhớ đây là bài thi, nếu phần mở bài bạn lạc đề thì không những mất điểm mà còn mất luôn cảm tình của người chấm đấy!
Cách viết mở bài
1.Xác định vấn đề cần nêu trong mở bài
Bằng cách đặt và trả lời cho câu hỏi :Bài làm cần viết về cái gì? Từ đó xác định kiến thức cần nêu Hãy dùng bút tô
đậm những từ chìa khóa trong đề ra và lấy đó làm từ trọng điểm cho phần mở bài của mình nhé
Cách xác định vấn đề: Xác định vấn đề bàn luận là điều căn cốt nhất vì nếu xác định sai thì coi như toàn bộ nội dung bài viết sẽ chệch hướng hoàn toàn (lạc đề) Muốn xác định được vấn đề th́ì phải t́ìm hiểu đề bài Thông thường đề bài
có hai dạng:
-Dạng nổi (Lộ thiên): Là dạng đề mà các yêu cầu về nội dung, h́nh thức, cách thức, phương hướng, phạm vi, mức độ
nghị luận được nêu ra trực tiếp và rõ ràng trong đề bài Ở đề bài này vấn đề cần bàn luận đã có sẵn
Ví dụ 1: Đề bài: Vai tṛò của biển với đời sống nhân loại
Vấn đề trọng tâm đă được nói rõ ở đề bài đó là khẳng định vai tṛò quan trọng của biển đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại
Ví dụ 2: Tình yêu với biển đảo quê hương của thanh niên Việt Nam
Vấn đề cần tìm đã rất rõ ràng đó là tình yêu biển đảo của thanh niên Việt Nam
Lưu ý : Nhiều khi đề có đoạn dẫn rất dài hãy chú ý quan sát để tìm vấn đề được chỉ rõ ngay trong đề Ở những trường hợp này nhiều đề bài sau khi nêu nội dung (Đoạn trích thơ, văn hoặc nhận định) thường có yêu cầu thí sinh phải làm rõ điều gì đó Đấy chính là vấn đề cần lý giải
Ví dụ : Hãy phân tích đoạn Mỵ ở nhà thống lý Pá Tra để thấy được nỗi đau và sức sống tiềm tàng của người phụ nữ mèo vùng Tây bắc
Ta xác định vấn đề rất nhanh : Thể loại phân tích vấn đề để nêu bật 2 nội dung đề yêu cầu : Nỗi đau khổ và sức sống tiềm tàng của nhân vật Mỵ
Trang 6-Dạng chìm: Là dạng đề trong đó người ra đề không cho dữ kiện rõ về các yêu cầu của nội dung cũng như cách thức, phạm vi…nghị luận Bởi thế người viết phải phân tích, tổng hợp, khái quát nội dung vấn đề từ chính nội dung của đoạnvăn, đoạn thơ, hoặc tác phẩm, câu trích…
Ví dụ: Biển đảo quê hương hôm nay với thanh niên Việt Nam
Đề bài đưa ra một vấn đề “nóng” hiện nay, để làm rõ vấn đề cần có suy nghĩ : biển đảo quê hương hôm nay có vấn đề
gì ? Vì sao phải đặt vấn đề đó hôm nay ? trách nhiệm của thanh niên với biển đảo
Học sinh khi đọc đề cần xác định thật rõ ràng những yêu cầu của đề theo hướng :
Về nội dung cần xem yêu cầu vấn đề cần nghị luận có giới hạn ở đâu ? giai đoạn nào ? tác phẩm hay đoạn nào ? đề tài
gì ? chủ đề gì ?
Về hình thức : quan tâm đến kiểu bài mà đề yêu cầu : Phân tích, bình luận, bình giảng hay đi kèm 2 kiểu bài hoặc tổng hợp các kiểu ?
2.Xác định cách nêu vấn đề
Bạn có thể viết mở bài theo 1 trong 3 cách sau:
Mở bài trực tiếp ( trực khởi ): Là cách giới thiệu ngay vào vấn đề cần nghị luận
Ví dụ :
Mở bài cho đề bài : Phân tích bài thơ “Chiều tối” trong tập thơ Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh
“Chiều tối” là một bài thơ trong tập thơ “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh Bài thơ được Bác sáng tác ngay trên đường bị giải đi từ nhà ngục Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo vào lúc chiều tàn Ra đời trong hoàn cảnh ấy, bài thơ đã ghi lại bức tranh thiên nhiên và cảnh sinh hoạt của con người ở vùng rừng núi một cách sinh động
- Ưu điểm của cách mở bài trực tiếp :
+ Đi thẳng ngay vào bài nên tránh được sự lan man, xa đề hoặc lạc đề
+ Dễ vận dụng đối với các học sinh có kỹ năng lập luận yếu
+Tiết kiệm được thời gian suy nghĩ cho người viết
- Nhược điểm:
Ít tạo được không khí lôi cuốn cho người đọc
Mở bài gián tiếp ( lung khởi ):
Là cách mở bài đi từ xa đến gần : nêu ra những ý liên quan đến vấn đề cần nghị luận để dẫn đến vấn đề cần nghị luận
Có 4 cách mở bài gián tiếp :
+ Mở bài theo lối diễn dịch:
Ví dụ:
Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là một "bài thơ cuộc đời" Bài thơ được sáng tác năm 1958 nhân một chuyến đi thực
tế ở vùng mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả Thông qua một đêm đánh cá của đoàn thuyền lớn trên biển, tác giả ca ngợi kiểu lao động mới mẻ của người lao động tràn đầy lạc quan tin tưởng, làm chủ thiên nhiên, biển cả bao la Qua bài thơ ta cảm nhận được không khí lao động khẩn trương, hăng say, nhộn nhịp của miền Bắc thời kì xây dựng CNXH
+Mở bài theo lối quy nạp
Ví dụ: Cảm nhận về bức tranh xuân trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”
Thời gian vẫn trôi đi và bốn mùa luôn luân chuyển Con người chỉ xuất hiện một lần trong đời và cũng chỉ một lần ra đimãi mãi vào cõi vĩnh hằng Nhưng những gì là thơ, là văn, là nghệ thuật đích thực…thì vẫn còn mãi mãi với thời gian Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm nghệ thuật như thế, đặc biệt là đoạn thơ viết về Cảnh ngày xuân – một mùa xuân mới mẻ, tinh khôi và giàu sức sống
+ Mở bài theo lối tương liên.Tìm 1 vấn đề tương tự (đề tài, chủ đề, hình ảnh , tác phẩm ) làm cầu nối so sánh với vấn
đề của đề bài để tạo đoạn dẫn
Ví dụ:
Khi đọc Mùa Lạc của Nguyễn Khải ta gặp nhân vật Đào, cô gái có quá khứ đau thương nhưng đã trỗi dậy mạnh mẽ khiđón nhận cuộc sống mới và những con người mới ; nhưng đau thương hơn và sự vươn dậy quyết liệt hơn phải kể đến nhân vật phụ nữ trong tác phẩm viết cùng thời của nhà văn Tô Hoài
+ Mở bài theo lối tương phản (đối lập): Tìm 1 vấn đề đối lập tạo thế bắc cầu để giới thiệu vấn đề cần bàn.
Trang 7Ví dụ:
Chúng ta đã gặp không ít những số phận người phụ nữ bi thương trong các tác phẩm văn học Việt Nam, đó là một nàng
Vũ Nương oan khuất, một nàng Kiều bi kịch, một Chị Dậu tủi hờn Nhưng khi tiếp cận với dòng văn học cách mạng, vẫn những người phụ nữ ngày xưa ấy lại trỗi dậy mạnh mẽ đứng dậy làm chủ đời mình Một trong những nhân vật văn học nữ tiêu biêu biểu là Mỵ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Nhà văn Tô Hoài + Mb2a
* Kết cấu của đoạn mở bài theo cách gián tiếp gồm 3 phần :
- Mở đầu đoạn :
+ Viết những câu dẫn dắt có liên quan gần gũi với vấn đề chính cần nghị luận
+ Tuỳ nội dung vấn đề cần nghị luận mà người viết lựa chọn câu dẫn dắt có thể là một câu thơ, một câu danh
ngôn,hoặc một câu chuyện kể…
-Phần giữa đoạn:
+Nêu luận đề ( nếu bình giảng thơ thì thường là nêu ấn tượng bao trùm mang tư tưởng chủ đề mà bản thân cảm nhận được)
- Phần kết đoạn : Nêu phương thức nghị luận và phạm vi tư liệu sẽ trình bày.
Ví dụ : Bình luận về mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và hiện thực cuộc sống Chứng minh bằng một số tác phẩm văn học
-Mở bài 1: Có ai đó đã ví sáng tạo nghệ thuật như việc thả diều Con diều dù có bay bổng bao nhiêu vẫn phải gắn với
mặt đất bằng một sợi dây vững chắc Ý tưởng ấy gợi cho ta nhiều suy nghĩ sâu sắc về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống Hãy đến với một số tác phẩm văn học lớn, chúng ta sẽ thấy rõ mối quan hệ máu thịt này
-Mở bài 2 :
Thần thoại Hy Lạp còn để lại một câu chuyện đầy cảm động về chàng lực sĩ Ăngtê và đất mẹ.Thần Ăngtê sẽ bất khả chiến bại khi chân chàng gắn chặt vào lòng đất mẹ Gaia Có thể ví mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống hệt như quan hệ giữa Ăngtê và đất mẹ vậy Chưa tin ư, bạn hãy đến với những tác phẩm văn học lớn mà xem
-Mở bài 3 :
Trong một lần tâm sự với văn nghệ sĩ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Nghệ thuật phải bắt nguồn từ đời sống, thoát ly đời sống,nghệ thuật nhất định sẽ khô héo”.Văn học là một loại hình cơ bản của nghệ thuật Lời tâm sự trên đã trực tiếp khẳng định mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống Phân tích một số tác phẩm văn học lớn, chúng
ta sẽ thấy rõ điều đó
Cách duy nhất khiến bạn không “cứng tay” khi viết mở bài là luyện tập, luyện tập và luyện tập Cố lên bạn nhé!
4 Các phương pháp ghi nhớ, học thuộc môn Văn
1 Ghi thành dàn bài:
Thực tế có nhiều bạn chỉ nghe nói ghi dàn bài, nhưng chưa rõ phương thức ghi cụ thể ra sao
- Trước tiên bạn đọc toàn bài môn bạn đang học 1 lần - 2 lần - hoặc cũng có thể là 3 lần Ðến lúc bạn nắm chắc yêu cầubài mới thôi Vì có hiểu sơ bộ bài, bạn mới lập được dàn bài Bạn chia nội dung toàn bài thành 3 phần chính (Ví dụ là
A - B - C) Trong phần A - có nhiều mục nhỏ, bạn có thể sắp xếp các mục nhỏ ấy gọi là "tiêu đề" bằng những chữ số:1,
2, 3
- Và tiếp theo các phần B-C cũng thế Phần nào cũng có những tiêu đề riêng
- Nhưng trong mỗi phần đều có những yêu cầu quan trọng của nó Bạn nên ghi nhận cụ thể các phần quan trọng ấy trong mỗi phần của dàn bài, có thể gạch dưới hoặc viết đậm để dễ nhớ
- Ðã có dàn bài chi tiết rồi sẽ là điều kiện giúp bạn dễ dàng việc học bài sau đó
2 Nhẩm trong óc:
Bạn hệ thống bài bằng cách "nhẩm trong óc" nhẩm từng phần một của dàn bài, chỗ nào quên bạn dừng lại, lật dàn bài
ra xem lại Bạn cứ tiếp tục nhẩm sang phần khác và đừng quên các phần quan trọng đáng ghi nhớ, đừng bỏ sót một chi tiết nào Lần lượt như vậy cho đến hết toàn bài
- Lần thứ hai, bạn bắt đầu nhẩm lại tất cả có hệ thống toàn bài hơn
Trang 8- Lần này bạn ghi nhận phần đã bị quên Bạn mở sách xem lại, ghi ra giấy hoặc đánh dấu những phần đó Bạn tìm ý những chỗ quên sót để rồi học lại cho nhuần nhuyễn
- Lần thứ ba, bạn hệ thống lại bài và bạn đặt thành câu hỏi rồi tự giải quyết trong óc câu hỏi ấy Bạn xem lại việc trả lời
có thông suốt phân minh chưa Nếu chỗ nào vướng mắc lật dàn bài ra xem
* Một bài học gọi là được nắm chắc là khi bạn:
- Trả lời gãy gọn các câu hỏi đặt ra
- Hi
ểu bài thông suốt từng phần cũng như toàn bài
- Nắm vững trọng tâm bài học một cách chuẩn xác Nếu là môn học như Toán - Lý- Hóa- Sinh thì các quy tắc các côngthức, các định lý, định đề bạn phải thuộc thật nhuần nhuyễn mới được
Môn Văn: Cần ghi nhớ các tên và tiểu sử tác giả Thuộc kỹ các bài thơ, các đoạn văn xuôi, chọn lọc và nhớ bài thơ này của tác giả nào, bài văn kia tác giả là ai Tránh tình trạng lộn xộn, lẫn tên tác giả này với tác giả khác, hoặc bài văn xuôi mà lại ghi tên tác giả là một nhà thơ v.v
Các phần văn xuôi hay thơ, bạn đều phải nắm bố cục chặt chẽ, chủ đề tư tưởng và nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng Ngoài ra bạn nên trích dẫn những đoạn văn hay, bài thơ hay, ghi vào sổ tay bạn để dễ học thuộc Thuộc nhiều thơ văn
để tạo vốn từ phong phú khi làm bài
Môn Sử, Ðịa: Cần nắm rõ đặc thù từng môn để dễ học
- Sử: Cần nhớ chính xác các mốc thời gian của sự kiện và luyện cách phân tích tổng hợp để rút ra được những bài học lịch sử một cách chính xác
- Ðịa: Nắm rõ đặc điểm địa thế từng bước từng vùng, tên sông, tên núi, nguồn tài nguyên khoáng sản.v.v
3 Ghi ra giấy:
Ngoài cách ghi thành dàn bài chi tiết, bạn có thể ghi riêng ra giấy Nhất là những công thức, những định lý, định đề Từgiấy xếp lại bỏ túi để lâu lâu khi cần nhẩm lại, nếu quên bạn có thể mở ra xem
Nhưng phải ghi bằng cách nào?
Ghi những điểm chính yếu nhất, còn điều quan trọng là bạn phải học thuộc
Nói tóm: Khi ghi bạn chỉ tóm tắt phần quan trọng, sao cho khi mở trang giấy ra nhắc nhở bạn hệ thống bài học bằng trí nhớ và một cách hoàn hảo mà không cần mở sách
Tránh ghi rườm rà, dư thừa, vừa mất thời an vô mà ích lại phí sức Nói chung làm thế nào để bạn có thể tổng hợp các phương pháp (nhẩm nhớ - ghi chép - và lập dàn bài) sao cho tạo được điều kiện để bạn đọc bài mau thuộc đó là đíều quan trọng nhất
Một điểm nữa là bạn phải hết sức sử dụng các phương pháp ấy thật hài hòa và kết hợp chặt chẽ để việc học tập của bạn
có kết quả mỹ mãn theo ý muốn Không nhất thiết phải áp dụng tất cả các phương pháp mà tùy khả năng vận dụng cho phù hợp
5 KĨ NĂNG – PHƯƠNG PHÁP LÀM VĂN NGHỊ LUẬN
1.Yêu cầu chung
- Nắm vững kĩ năng tìm ý, lập dàn ý, mở bài, thân bài, kết bài, hành văn trong văn nghị luận
- Biết cách kết hợp các thao tác chứng minh, giải thích, phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận,… một cách hợp lí trongkhi viết bài văn nghị luận
2.Yêu cầu cụ thể với từng kiểu bài
a Nghị luận xã hội
* Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
- Nhận diện được vấn đề tư tưởng đạo lí cần nghị luận; xác định các thao tác lập luận
- Nắm vững các bước tiến hành:
+ Nêu vấn đề nghị luận
+ Giải thích
+ Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những hiểu hiện sai lệch
+ Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động
Trang 9- Huy động kiến thức sách vở và những kiến thức xã hội của bản thân để làm rõ vấn đề nghị luận.
* Nghị luận về một hiện t ượng đời sống
- Nhận diện được hiện tượng đời sống đang bàn luận, xác định các thao tác lập luận
- Nắm vững các bước tiến hành:
+ Nêu hiện tượng
+ Phân tích các mặt đúng – sai, lợi - hại…
+ Chỉ ra nguyên nhân
+ Bày tỏ thái độ, ý kiến của bản thân về hiện tượng xã hội đó
- Huy động kiến thức sách vở và những kiến thức xã hội của bản thân, tham khảo sách báo… để bài viết sinh động,
thuyết phục hơn
b Nghị luận văn học
* Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
- Nắm kiến thức khái quát về tác giả, tác phẩm
- Nội dung, nghệ thuật của bài thơ hoặc từng đoạn thơ trong bài thơ
- Các bước tiến hành:
+ Giới thiệu khái quát về bài thơ, đoạn thơ
+ Bàn về những giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ
+ Đánh giá chung về bài thơ, đoạn thơ đó
* Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
- Nắm những kiến thức khái quát về tác giả, tác phẩm
- Nội dung, nghệ thuật của tác phẩm hoặc của đoạn trích được nghị luận
- Học thuộc những dẫn chứng tiêu biểu trong từng phần, từng đoạn trong từng tác phẩm
* Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
- Nắm rõ nhận định, nội dung mà nhận định đề cập đến
- Tập trung giải thích ý kiến, làm sáng tỏ ý kiến, nêu ý nghĩa và tác dụng của ý kiến đó đối với văn học và đời sống
TÀI LIỆU ÔN THI TỐT NGHIỆP THPT MÔN NGỮ VĂN
PHẦN 1: VĂN HỌC VIỆT NAM
KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM
TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐẾN HẾT THẾ KỶ XX
I KIẾN THỨC CƠ BẢN
1 Về hoàn cảnh lịch sử - xã hội từ 1945 đến hết thế kỉ XX
Văn học Việt Nam trong thời kì từ 1945 đến hết thế kỉ XX phát triển trong điều kiện lịch sử có nhiều biến động
- Đường lối văn nghệ của Đảng cộng sản, sự lãnh đạo của Đảng tạo nên một nền văn học thống nhất trên đất nướcta
- Giai đoạn 1945 – 1975, diễn ra hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, kéo dài suốt 30 năm đã tác độngsâu sắc đến đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật Trong giai đoạn này,Việt Nam có
sự giao lưu tiếp xúc với thế giới, nhưng chủ yếu thông qua vùng ảnh hưởng của phe xã hội chủ nghĩa, mà chủ yếu làLiên Xô và Trung Quốc
- Giai đoạn 1975 đến hết thế kỉ XX, đất nước bước vào thời kì hòa bình, ổn định và hướng tới đổi mới toàn diện, sâusắc;quan niệm văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam có những thay đổi (coi văn học không chỉ là công cụ chính trị
mà còn là nhu cầu văn hóa – thẩm mĩ thiết yếu của con người) Trong giai đoạn này, nhất là từ thập kỉ 90, Việt Nam có
sự tiếp xúc rộng rãi với văn hóa – văn học thế giới theo con đường hội nhập kinh tế - văn hóa
2 Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng 8/1945 – 1975.
* Chặng đường từ năm 1945 đến 1954:
- Một số tác phẩm trong những năm 1945-1946 đã phản ánh được không khí hồ hởi, vui sướng đặc biệt của nhân dân ta
khi đất nước vừa giành được độc lập( Ngọn Quốc kì, Hội nghị non sông của Xuân Diệu ).
- Từ cuối năm 1946, văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, khám phá sức mạnh và nhữngphẩm chất tốt đẹp của quần chúng nhân dân, thể hiện niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng của cuộckháng chiến
- Truyện ngắn và kí: là những thể loại mở đầu cho văn xuôi chặng đường kháng chiến chống Pháp Những tác phẩm
tiêu biểu: Một lần tới Thủ đô và Trận phố Ràng của Trần Đăng, Đôi mắt và Nhật kí Ở rừng của Nam Cao, Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc
Trang 10- Thơ ca: đạt được nhiều thành tựu xuất sắc.
+Tiêu biểu là những tác phẩm: Rằm tháng giêng của Hồ Chí Minh, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Tây Tiến của Quang Dũng, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Việt Bắc của Tố Hữu
+ Cảm hứng chính là tình yêu quê hương đất nước, lòng căm thù giặc, ca ngợi cuộc sống kháng chiến và con ngườikháng chiến
- Kịch: một số vở gây sự chú ý như Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng, Chị Hòa của Học Phi
- Lí luận, phê bình văn học có những tác phẩm có ý nghĩa quan trọng như : bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và vấn đề
văn hóa Việt Nam của Trường Chinh, bài tiểu luận Nhận đường của Nguyễn Đình Thi
* Chặng đường từ 1955 đến 1964.
- Văn xuôi: về đề tài kháng chiến chống Pháp: Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng ; đề tài hiện thực đời
sống trước Cách mạng: Tranh tối tranh sáng của Nguyễn Công Hoan ; đề tài công cuộc xây dựng CNXH: Sông Đà
của Nguyễn Tuân
- Thơ ca: phát triển mạnh mẽ Các tập thơ tập thơ xuất sắc gồm có: Gió lộng của Tố Hữu, Ánh sáng và phù sa của
Chế Lan Viên
- Kịch nói: có phát triển, tiêu biểu là các vở: Một đảng viên của Học Phi, Chị Nhàn của Đào Hồng Cẩm
* Chặng đường từ 1965 đến 1975.
- Văn xuôi: chặng đường này tập trung phản ánh cuộc sống chiến đấu và lao động, đã khắc họa khá thành công hình
ảnh con người Việt Nam anh dũng, kiên cường, bất khuất
+ Ở miền Nam, truyện kí viết trong máu lửa của chiến tranh đã phản ánh nhanh nhạy và kịp thời cuộc chiến đấu của
quân dân miền Nam anh dũng như: Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.
+ Ở miền Bắc, truyện kí cũng phát triển mạnh, tiêu biểu là kí chống Mĩ của Nguyễn Tuân Tiểu thuyết cũng phát triển:
Bão biển của Chu Văn, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu
-Thơ: đạt nhiều thành tựu xuất sắc Thơ chặng đường này thể hiện rõ khuynh hướng mở rộng và đào sâu chất liệu hiện
thực, khái quát, chất suy tưởng, chính luận như: Máu và hoa của Tố Hữu, Hoa ngày thường, chim báo bão của Chế
Lan Viên
-Kịch: cũng có những thành tựu đáng ghi nhận, nổi bật là Quê hương Việt Nam của Xuân Trình, Đại đội trưởng của
tôi của Đào Hồng Cẩm là những vở kịch tạo được tiếng vang bấy giờ.
3 Những đặc điểm cơ bản của văn học 1945 – 1975
- Văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hoá,gắn bó với vận mệnh chung của đất nước
- Văn học hướng về đại chúng và đậm đà tính dân tộc
- Văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
4 Những chuyển biến và một số thành tựu ban đầu của văn học Việt Nam từ 1975 đến hết thế kỷ XX.
- Thơ sau năm 1975: có những tác giả ít nhiều tạo được sự chú ý của người đọc, tiêu biểu là trường ca: Những người
đi tới biển của Thanh Thảo, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh
- Văn xuôi sau năm 1975: bộc lộ ý thức muốn đổi mới cách viết về chiến tranh, cách tiếp cận hiện thực đời sống
như: Đứng trước biển của Nguyễn Mạnh Tuấn, Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải
-Từ năm 1986, văn học chính thức bước vào chặng đường đổi mới Văn học gắn bó hơn, cập nhật hơn những vấn đề
của đời sống hàng ngày
+ Văn xuôi thực sự khởi sắc với những tập truyện ngắn: Chiếc thuyền ngoài xa và Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu,
Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp
+ Kịch phát triển mạnh mẽ Một số tác phẩm tạo được sự chú ý của khán giả như Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, Mùa hè ở biển của Xuân Trình
+ Lí luận, nghiên cứu phê bình văn học cũng có sự đổi mới, Ngoài những cây bút có tên tuổi, đã xuất hiện một số câybút trẻ có nhiều triển vọng
* Tóm lại từ sau 1975, văn học Việt Nam đã có những nét đổi mới:
- Sự đổi mới ý thức nghệ thuật của giới cầm bút, xa dần với khuynh hướng chính trị hóa trong nghệ thuật
-Văn học Vận động theo xu hướng dân chủ hóa
-Văn học phát triển trên nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo là tinh thần nhân bản và sự ý thức sâu sắc ý thức cánhân
- Văn học phát triển đa dạng hơn về đề tài, phong phú và mới mẻ hơn về thủ pháp nghệ thuật, khuynh hướng… hướngtới tính hiện đại
- Văn học đổi mới trên tất cả các thể loại:
+ Về văn xuôi: có sự đổi mới trong quan niệm và cách thức tiếp cận hiện thực, đổi mới về nghệ thuật trần thuật, đổimới quan niệm nghệ thuật về con người dẫn đến sự biến đổi về hệ thống nhân vật, đổi mới về ngôn ngữ, đổi mới trongcấu trúc các thể loại văn xuôi
+Về thơ: tính chất phi sử thi hóa, hướng vào đời sống thế sự và cá nhân, đã làm xuất hiện nhiều dạng thức mới của cáitôi trữ tình, muốn vượt ra khỏi cái truyền thống “duy cảm” của thơ phương Đông; thơ phát triển theo hai xu hướng:đưa thơ về gần với văn xuôi, với triết học hoặc đưa thơ sang địa hạt của tâm linh vô thức, về hình thức thơ phát triểntheo hướng tự do hóa
II LUYỆN TẬP
1 Hãy trình bày những nét chính về tình hình lịch sử, xã hội, văn hóa có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của
văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975?
Trang 11Gợi ý trả lời : Xem mục 1, phần kiến thức cơ bản.
2 Văn học Việt Nam 1945 – 1975 chia làm mấy chặng? Nêu những thành tựu chủ yếu của mỗi chặng ?
Gợi ý trả lời : Xem mục 2, phần kiến thức cơ bản.
3 Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 ?
Gợi ý trả lời : Xem mục 3, phần kiến thức cơ bản.
4 Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, hãy giải thích tại sao văn học Việt Nam từ 1975 đến hết thế kỉ XX
phải đổỉ mới?
Gợi ý:
- Đất nước hết chiến tranh Các vấn đề hậu chiến nảy sinh: nạn nhân chiến tranh, hoàn cảnh kinh tế chưa phục hồi…
- Đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường: xã hội thay đổi quan điểm, góc nhìn đối với con người và nghệ thuật(Cái nhìn của nhà văn không đơn giản, một chiều như trước mà đa diện hơn, linh hoạt, góc cạnh hơn …)
- Tiếp xúc rộng rãi với văn hóa thế giới
- Nhu cầu bạn đọc phong phú và đa dạng hơn trước
- Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều đổi mới trong quan điểm chỉ đạo văn học nghệ thuật
5 Quá trình phát triển và thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ 1975 đến cuối thế kỉ XX ?
Gợi ý trả lời: Xem mục 4, phần kiến thức cơ bản.
6 Chứng minh một trong những đặc điểm của văn học Việt Nam từ 1945 – 1975: chủ yếu được sáng tác theo khuynh
hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn cách mạng?
Gợi ý:
a Khuynh hướng sử thi
* Khái niệm" sử thi" : không là khái niệm thể loại sử thi cổ đại, mà là đặc điểm của văn học sáng tác trên nền tảng của
ý thức cộng đồng toàn dân xuất hiện vào thời kì có đấu tranh chống , có phong trào xã hội bảo vệ lợi ích toàn dân, đượcthể hiện ở các khía cạnh: xung đột sử thi là xung đột giữa dân tộc với kẻ xâm lược Chủ đề sử thi là dân tộc, nhân dân,
Tổ quốc Nhân vật sử thi là nhân vật anh hùng đại diện cho phẩm chất, ý chí và sức mạnh của dân tộc Giọng điệu sửthi là ca ngợi
đứa con trong gia đình ( Nguyễn Thi)
- Cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ của nhân dân ta là những cuộc kháng chiến vệ quốc Văn học thể hiệnsức mạnh vĩ đại của cả dân tộ, mà nhân vật trung tâm là hình ảnh bộ đội, dân công, nhân dân …họ tiêu biểu cho khíphách, phẩm chất, ý chí của toàn dân tộc:
+ Bức tranh Việt Bắc ra quân tiêu biểu cho sức mạnh, tinh thần đoàn kết của cả dân tộc trong cuộc kháng chiến
chống Pháp : “Những đường …mai lên” (Việt Bắc của Tố Hữu)
+ Hình ảnh những chiến sĩ từ những chiến hào đã xông lên tiêu điệt quân thù làm nên một đất nước chói loà “Nước
Việt Nam từ máu lửa – Rũ bùn đứng dậy sáng loà”( Đất nước của Nguyễn Đình Thi), sức mạnh của đất nước như một
sự hoá thân màu nhiệm
+ Các kí sự của Trần Đăng như Trận phố Ràng, Một cuộc chuẩn bị; của Nguyễn Huy Tưởng Kí sự Cao Lạng; truyện ngắn Thư nhà của Hồ Phương, Xung kích của Nguyễn Đình Thi … Tất cả đã phản ánh chân thực, phong phú
hình ảnh chiến sĩ ta với những phẩm chất cao đẹp, tinh thần anh dũng và cuộc chiến đấu gay go, quyết liệt, sự trưởngthành của quân dân
+ Đói rét, nguy hiểm vẫn không làm các anh bộ đội sờn lòng, nản chí mà ngược lại tư thế của các anh vẫn hiênngang, hào hùng:
“Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo.”
(Lên Tây Bắc – Tố Hữu)
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm …”
(Tây Tiến – Quang Dũng) + Xây dựng được nhân vật mang cốt cách của cả cộng đồng, nhân vật chính thường tiêu biểu cho lí tưởng chungcủa dân tộc, gắn bó số phận mình với số phận đất nước, thể hiện và kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cả cộng
đồng: Đó là Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành - tiêu biểu cho khí phách hiên ngang, tinh thần bất khuất của đồng bào Tây Nguyên; Việt, Chiến trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi mang
khí phách anh hùng của người nông dân Nam bộ trong kháng chiến chống Mĩ
- Văn xuôi chống Mĩ xây dựng được những hình ảnh sinh động về những chiến sĩ anh hùng như chị Sứ (Hòn đất – Anh Đức), chị út Tịch (Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi), Mẫn ( Mẫn và tôi – Phan Tứ) …
- Ngôn ngữ sử thi mang giọng điệu ca ngợi trang trọng :
Trang 12+ “Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ Sau này tau chết
rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe ” (Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành)
+ Trong Việt Bắc: “Những đường Việt Bắc … núi Hồng” (Việt Bắc-Tố Hữu)
b Cảm hứng lãng mạn
-Cảm hứng lãng mạn tạo nên cho văn học giai đoạn này chủ nghĩa lãng mạn anh hùng; khẳng định phương diện lítưởng của cuộc sống và vẻ đẹp của con người mới, ca ngợi chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng, sống trong giankhổ thiếu thốn nhưng con người vẫn hướng đến tương lai tươi sáng và niềm tin vào cách mạng với một ý chí, nghị lựcphi thường:
“ Ở đâu u ám quân thù nuôi chí bền " (Việt Bắc - Tố Hữu)
"Trường sơn xẻ dọc, rọc ngang
Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng"(Nước non ngàn dặm- Tố Hữu)
- Cảm hứng lãng mạn đã khiến cho nhà thơ, nhà văn nhìn hiện tại bằng con mắt hi vọng về tương lai tươi sáng:
Thơ Tố Hữu phơi phới niềm lạc quan tin tưởng: "Năm năm mới bấy nhiêu ngày – Mà trông trời đất đổi thay đã
nhiều" ; "Xuân ơi xuân em mới đến dăm năm – Mà cuộc sống đã tưng bừng ngày hội"
Cái nhìn của Nguyễn Đình Thi cũng tràn đầy hi vọng "Trán cháy rực nghĩ trời đất mới – Lòng ta bát ngát ánh bình
minh" (Đất nước)
7 Hãy trình bày tóm lược những nét đổi mới của văn học từ sau năm 1975 ?
Gợi ý trả lời: Xem phần" Đổi mới" trong mục 4, kiến thức cơ bản.
TÁC GIẢ HỒ CHÍ MINH
I KIẾN THỨC CƠ BẢN
1 Hồ Chí Minh (1890-1969 ) là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, đồng thời là nhà hoạt động cách mạng lỗi lạc
của phong trào Quốc tế cộng sản Bên cạnh sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người còn để lại một di sản văn học quí giá
Hồ Chí Minh là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc
( Cảm tưởng đọc “ Thiên gia thi”)
- Hồ Chí Minh luôn chú trọng tính chân thật và tính dân tộc trong văn học
- Khi cầm bút, Người bao giờ cũng xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức
của tác phẩm Người đặt câu hỏi “ Viết cho ai ?” trước khi xác định “ Viết để làm gì ?”, sau đó mới “ Viết cái gì ?” và“ Viết thế nào ?”
3 Di sản văn học :
Người để lại một di sản văn học lớn lao về tầm vóc tư tưởng , phong phú về thể loại và đa dạng về phong cáchnghệ thuật:
a Văn chính luận: Những áng văn chính luận tiêu biểu của Người cho thấy tác giả viết không chỉ bằng lí trí sáng suốt,
trí tuệ sắc sảo mà còn bằng cả tấm lòng yêu, ghét sâu sắc mãnh liệt, nồng nàn Văn chính luận của Người được biểu đạt
bằng hệ thống lập luận chặt chẽ, lời văn súc tích giàu tính chiến đấu Tác phẩm tiêu biểu: Bản án chế độ thực dân
Pháp( 1925), Tuyên ngôn độc lập ( 1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946 ), Không có gì quí hơn độc lập tự
do ( 1966 ) , Di chúc ( 1969 ) …
b Truyện và kí: Thể hiện tài năng của một cây bút văn xuôi với trí tưởng tượng phong phú, một vốn văn hoá sâu
rộng, một trí tuệ sắc sảo và một trái tim tràn đầy nhiệt tình yêu nước và cách mạng; bút pháp hiện đại và nghệ thuật
trần thuật linh hoạt Tác phẩm tiêu biểu: Pari (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Vi hành (1923), Những
trò lố hay Varen và Phan Bội Châu (1925); Nhật kí chìm tàu (1931), Vừa đi đường vừa kể chuyện (1963) …
c Thơ ca :
- Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù): Tập thơ chữ Hán gồm 134 bài, được viết trong thời gian Người bị chính
quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943 tại Quảng Tây (Trung Quốc)
Tập thơ đã tái hiện một cách chân thật bộ mặt tàn bạo của chế độ nhà tù Quốc dân đảng và một phần hình ảnh xã
hội Trung Quốc bấy giờ Nội dung chủ yếu của tập thơ là ghi lại tâm trạng, cảm xúc và suy nghĩ của “ bậc đại trí, đại
nhân, đại dũng”; là bức chân dung tự họa phản ánh tâm hồn và nhân cách cao đẹp của Người (lòng yêu nước, nhân ái,
yêu thiên nhiên, nghị lực phi thường, khao khát tự do, lạc quan, tin tưởng …)
Nhật kí trong tù là tập thơ đặc sắc, đa dạng và linh hoạt về bút pháp.
Trang 13- Thơ chữ Hán và thơ tiếng Việt được sáng tác từ 1941 đến 1945 và trong thời kì kháng chiến chống Pháp; chia làm
hai loại: thơ tuyên truyền như Dân cày, Công nhân, Ca binh lính, Ca sợi chỉ … ; thơ nghệ thuật như Pắc Pó hùng vĩ,
Tức cảnh Pắc Pó, Cảnh khuya, Cảnh rừng Việt Bắc, Thướng sơn (Lên núi), Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng), Thu dạ (Đêm thu), Báo tiệp (Tin thắng trận)…
4 Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh: độc đáo , đa dạng
- Văn chính luận của Người thường ngắn gọn, súc tích, lập luận sắc sảo, chặt chẽ , bằng chứng giàu sức thuyết phục và
đa dạng về bút pháp
- Truyện và kí của Người rất hiện đại, có tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén
- Thơ nghệ thuật của Hồ Chí Minh có sự hoà hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại; giữa chất trữtình và chất “thép”; giữa sự trong sáng, giản dị và sự hàm súc sâu sắc
II LUYỆN TẬP
1 Nêu những nét chính về quan điểm sáng tác văn học nghệ thuật của Hồ Chí Minh.
Gợi ý trả lời: Xem mục 2, phần kiến thức cơ bản
2 Trình bày những nét khái quát về sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh.
Gợi ý trả lời: Xem mục 3, phần kiến thức cơ bản
3 Những đặc điểm cơ bản của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh ?
Gợi ý trả lời: Xem mục 4, phần kiến thức cơ bản
4 Cho biết ý kiến của anh chị về hai dòng thơ sau trích trong bài Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi” của Hồ Chí Minh.
Nay ở trong thơ nên có thép,
Nhà thơ cũng phải biết xung phong
Gợi ý trả lời: Đây là hai dòng sau trong bài tứ tuyệt “Cảm tưởng đọc Thiên gia thi” , một bài thơ trong tập Nhật kí
trong tù được Bác Hồ viết nhân dịp đọc một tập thơ cổ của Trung Quốc có nhan đề là “Thiên gia thi”
a Theo Hồ Chí Minh, thơ ngày nay cần phải có thêm một phẩm chất mới mà thơ xưa chưa có, đó là chất thép Nói
cách khác, đó là tính chiến đấu trong thơ nói riêng và văn chương nghệ thuật nói chung; chức năng của thơ cách mạng
là vũ khí chiến đấu chống lại mọi kẻ thù và cái ác
Dòng thơ cuối đề cập tới vai trò của nhà thơ Người cầm bút phải biết xung phong, nghĩa là phải biết dùng vănchương nghệ thuật để làm cách mạng, để cải tạo cuộc sống Nhà văn là người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá nghệ thuật
b thơ trên chứa đựng một quan niệm phong phú và sâu sắc của Hồ Chí Minh về thơ :
- Trong thơ phải có tình yêu và vẻ đẹp, bao gồm tình yêu đối với vẻ đẹp của thiên nhiên Nhà thơ không phủ nhận tìnhyêu thiên nhiên của thơ xưa
- Tuy vậy, Người cho rằng nếu thơ chỉ dừng lại ở tình yêu vẻ đẹp thiên nhiên như thơ xưa thì chưa đủ Hồ Chí Minh
còn mong cho thơ có thêm một chất mới: chất thép, mong cho nhà thơ có sứ mệnh mới: xung phong Nói cách khác,
thơ không chỉ khẳng định tình yêu đối với vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn phải biết đấu tranh cho tình yêu và cái đẹptrong cuộc đời Thơ và nhà thơ phải có tính chiến đấu, phải có tinh thần cách mạng
- Bài thơ trên của Bác Hồ được sáng tác trong hoàn cảnh đất nước còn chìm đắm trong cảnh nô lệ, bản thân tác giảđang bị giam cầm Lúc này thơ và nhà thơ phải tham gia đấu tranh để cứu nước, phải làm nhiệm vụ công dân và cáchmạng Quan niệm về thơ và nhà thơ, hay nói rộng hơn, về văn học nghệ thuật và về người nghệ sĩ như vậy là một quanniệm có tầm rộng lớn, cao cả, sâu sắc Quan niệm của Người - một nhà thơ cách mạng - đặt nền móng cho văn họccách mạng hiện đại Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh
5 Anh chị hiểu như thế nào về sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại trong thơ Hồ Chí Minh ? Gợi ý trả lời: Thơ Hồ Chí Minh có sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp cổ điển và tinh thần thời đại Đó là một đặc điểm
phong cách nghệ thuật của Người
- Nhân vật trữ tình không phải là một ẩn sĩ mà là chiến sĩ,luôn trong tư thế làm chủ hoàn cảnh
- Thơ Người thể hiện rõ chất thép, tính chiến đấu, tính cách mạng…
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
HỒ CHÍ MINH
I KIẾN THỨC CƠ BẢN
Trang 141 Hoàn cảnh sáng tác: Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 26- 8- 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt
Bắc về tới Hà Nội Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập Ngày 02 - 9- 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Đối tượng và mục đích sáng tác: Văn kiện này không chỉ được đọc trước quốc dân đồng bào mà còn để công bố với
thế giới, đặc biệt là thực dân Pháp và những lực lượng cơ hội quốc tế khác đang thực hiện âm mưu xâm lược nước ta.Cũng vào thời gian đó, thực dân Pháp tuyên bố: Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp, nay Nhật đầu hàng Đồngminh, do vậy Đông Dương phải thuộc quyền “bảo hộ” của người Pháp Bản tuyên ngôn đã cương quyết bác bỏ luậnđiệu này
Giá trị : Tuyên ngôn độc lập là văn kiện vừa có giá trị lịch sử (đánh dấu mốc son lịch sử mở ra kỷ nguyên độc lập tự
do của nước ta), vừa có giá trị văn học (một tác phẩm chính luận đặc sắc)
2 Tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận mẫu mực với cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực
và có tính thuyết phục cao độ
Bố cục (lập luận đại cương) của văn bản có ba phần :
- Phần 1: (từ đầu … “chối cãi được”) : Cơ sở pháp lý và chính nghĩa của tuyên ngôn : nêu những nguyên lý về quyền
bình đẳng , tự do , độc lập
- Phần 2: (từ “Thế mà” … “ phải được độc lập” ) : Cơ sở thực tế của Tuyên ngôn
+ Bản cáo trạng về tội ác của thực dân Pháp trong 80 năm
+ Lập trường chính nghĩa và cuộc đấu tranh cách mạng của ta
+ Sự ra đời tất yếu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
- Phần 3: (còn lại): Lời tuyên bố và nêu quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc
3 Phần 1 nêu nguyên lý “không ai chối cãi được” có ý nghĩa vô cùng quan trọng tạo nên sức thuyết phục của văn
bản Tác giả đã trích dẫn từ hai bản Tuyên ngôn độc lập của Mĩ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của
Pháp (1791) để nêu lên những quyền cơ bản: bình đẳng, quyền tự do, quyền hạnh phúc, quyền độc lập dân tộc Đây là
những dẫn chứng được thế giới thừa nhận nên cơ sở pháp lý càng vững vàng và giàu sức thuyết phục Nền độc lập vàchủ quyền của nước ta được đặt ngang hàng với Pháp và Mĩ Để bác bỏ luận điệu của đối phương bằng lời lẽ của chính
họ Đây là cách tranh luận hiệu quả theo lối “lấy gậy ông đập lưng ông” Tác giả đã vận dụng dẫn chứng theo lối mở
rộng nâng cao từ quyền con người đến quyền dân tộc
Đoạn mở đầu hết sức súc tích, ngắn gọn gồm: hai câu trích, một lời bình, một câu kết thúc gói lại thật chặt
4 Sau khi nêu những nguyên lý không chối cãi được, Tuyên ngôn độc lập lần lượt bác bỏ luận điệu xảo trá của
thực dân Pháp hòng tái xâm lược nước ta Tác giả đã tố cáo thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do bình đẳng, bác ái đến
cướp nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động ấy trái với nhân đạo và chính nghĩa Chúng đã thực hiện chính sách ngu
dân và bóc lột tàn bạo Chúng lớn tiếng “ bảo hộ” Việt Nam nhưng trong vòng năm năm , chúng đã bán nước ta hai
lần cho Nhật Chúng nhân danh Đồng minh đánh phát xít nhưng chúng đã quỳ gối đầu hàng Nhật, lại còn khủng bốViệt Minh
Phần cuối: Bản Tuyên ngôn đã nhấn mạnh ý “dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”.
Do đó, việc chính phủ nước Việt Nam mới tuyên bố thoát ly quan hệ thực dân với Pháp là hoàn toàn hợp lý, hợp pháp.Đồng thời tuyên bố nước Việt Nam độc lập và nêu quyết tâm bảo vệ nền độc lập ấy
II LUYỆN TẬP
1 Cho biết hoàn cảnh sáng tác, mục đích sáng tác, đối tượng hướng đến và giá trị của bản Tuyên ngôn độc lập.
Gợi ý trả lời : Xem mục 1, phần kiến thức cơ bản.
2 Phân tích cách lập luận của bản Tuyên ngôn độc lập.
Gợi ý trả lời : Xem mục 3 và 4, phần kiến thức cơ bản.
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ CỦA DÂN TỘC
PHẠM VĂN ĐỒNG
I KIẾN THỨC CƠ BẢN
1 Tác giả Phạm Văn Đồng (1906-2000)
Nhà cách mạng xuất sắc, nhà giáo dục tâm huyết và một nhà lí luận văn hoá, văn nghệ lớn của Việt Nam thế kỉ
XX Ông luôn dành mối quan tâm đặc biệt đến mặt trận văn hoá, văn nghệ của nước ta
2 Hoàn cảnh, mục đích sáng tác
Hoàn cảnh sáng tác: Bài viết “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” được Phạm Văn Đồng
viết nhân dịp kỉ niệm 75 năm ngày mất Nguyễn Đình Chiểu (3/ 7/1888 - 3/7/1963) Bài được in trên Tạp chí Văn học,
tháng 7/1963
Mục đích sáng tác:
* Nhằm để tưởng nhớ Nguyễn Đình Chiểu
* Nhằm định hướng, điều chỉnh cách nhìn, cách tiếp nhận, đánh giá về cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu:
- Từ cách nhìn đúng đắn về một tác giả trong hoàn cảnh đặc biệt và thời đại lịch sử bi tráng để khẳng định bảnlĩnh và lòng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu
- Khôi phục giá trị đích thực của tác phẩm Lục Vân Tiên
Qua đó nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước trong thời đại chống Mĩ cứu nước
Trang 153 Tóm lược nội dung và luận điểm của bài viết
* Luận đề bài viết: Nguyễn Đình Chiểu-ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc
* Bố cục bài viết có ba phần
Phần mở đầu: Tác giả nêu vấn đề:“ Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ lớn của nước ta, đáng lẽ phải sáng tỏ hơn
nữa trong bầu trời văn nghệ của nước ta”.
Nội dung:
- Khẳng định vị trí và tôn vinh Nguyễn Đình Chiểu “Ngôi sao…nhà thơ lớn”
- Khẳng định cần phải nghiên cứu, tìm hiểu, làm sáng tỏ ánh sáng cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
Cách nêu vấn đề: trực tiếp, ngắn gọn, diễn đạt bằng hình ảnh gợi cảm.
Phần tiếp theo
* Tác giả xác định chuẩn mực tiêu chí, nêu lên cách nhìn cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình chiểu:
- Ánh sáng khác thường trong thơ văn Nguyễn Đình chiểu
- Phải chăm chú nhìn mới thấy
- Phải hiểu thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu
- Phải hiểu tác phẩm Lục Vân Tiên về nội dung và nghệ thuật.
Bằng so sánh liên tưởng, tác giả nêu vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa định hướng cho việc nghiên cứu, tiếp nhận thơ vănNguyễn Đình Chiểu: cần có cách nhìn nhận sâu sắc, khoa học, hợp lí
* Tác giả khẳng định ánh sáng yêu nước chói ngời trong cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu:
- Nguyễn Đình Chiểu nhà nho bị mù, sống trong cảnh triều đình nhà Nguyễn bán nước, nhân dân và sĩ phu anhdũng đánh giặc cứu nước Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác thơ văn chống xâm lược và ghi lại một thời khổ nhục nhưng
vĩ đại
- Cảnh đất nước đen tối, cảnh riêng long đong thì khí tiết chí sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu càng rạng rỡ
- Nguyễn Đình Chiểu - Chiến sĩ chiến đấu vì nghĩa lớn dùng thơ văn đánh thẳng vào giặc ngoại xâm…
- Nguyễn Đình Chiểu coi cầm bút, viết văn là thiên chức
* Tác giả làm sáng tỏ tình cảm yêu nước sáng ngời trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,
- Làm sống lại phong trào kháng Pháp oanh liệt, bền bỉ của nhân dân Nam Bộ
- Ngòi bút – nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu- ca ngợi anh hùng tận trung với nước, thankhóc liệt sĩ trọn nghĩa với dân
Tác giả dùng bằng chứng lịch sử và dẫn chứng Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh, Văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc
và bài Xúc cảnh của Nguyễn Đình Chiểu.
* Tác giả làm sáng tỏ ánh sáng “khác thường” tác phẩm Lục Vân Tiên, yêu cầu phải hiểu đúng mới thấy hết giá trị tác
phẩm:
- Lục Vân Tiên là bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, đạo đức và người trung nghĩa
- Lục Vân Tiên là chuyện kể - nói lối văn nôm na, chân chất, mộc mạc được nhân dân miền Nam yêu thích,say mê
Phần kết bài
- Tóm lược: Nguyễn Đình Chiểu chí sĩ yêu nước, nhà thơ lớn
- Khẳng định: Đời sống và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu - tấm gương sáng của mọi thời đại
- Bộc lộ thái độ: bài viết như một nén hương tưởng nhớ Nguyễn Đình Chiểu
Cách kết thúc ngắn gọn nhưng có ý nghĩa gợi mở, tạo sự đồng cảm ở người đọc
4 Nghệ thuật :
Bài văn nghị luận văn học có tính thời sự
Bố cục chặt chẽ, hệ thống luận điểm, luận cứ rõ ràng
Trình bày luận điểm không kết cấu theo trật tự thời gian mà theo tầm quan trọng của từng luận điểm vàmục đích của bài viết
Kết hợp nhiều thao tác lập luận, sử dụng lí lẽ, bằng chứng và dẫn chứng tiêu biểu có sức thuyết phục
Đậm màu sắc biểu cảm: ngôn từ trong sáng, giàu hình ảnh, cảm hứng ngợi ca, giọng điệu hùng hồn
II LUYỆN TẬP
1 Trình bày hoàn cảnh và mục đích sáng tác của bài viết Nguyễn đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ
của dân tộc (Phạm Văn Đồng )
Gợi ý trả lời: Xem Kiến thức cơ bản - phần 2
2 Tóm lược nội dung và luận điểm của bài viết Nguyễn đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ của dân
tộc
Gợi ý trả lời
Nội dung bài viết: Xem Kiến thức cơ bản -phần 3
Luận điểm bài viết
Nguyễn Đình Chiểu – nhà thơ yêu nước
Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu - tấm gương phản chiếu phong trào chống thực dân Phápoanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ
Lục Vân Tiên, tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu, có ảnh hưởng sâu rộng trong dân gian nhất là
ở miền Nam
Trang 163 Trong bài Nguyễn đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ của dân tộc, Phạm Văn Đồng đã viết “Trên
trời có những vì sao có ánh sáng khác thường , nhưng con mắt chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy , và càng nhìn càng thấy sáng Văn thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy.”
Anh (Chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên
Gợi ý trả lời:
* Đây là luận đề của bài viết Trong luận đề này, tác giả triển khai ý trong phần đầu “Ngôi sao Nguyễn đình Chiểu” và
phát triển “Có ánh sáng khác thường”
* Ánh sáng khác thường là ánh sáng đẹp, nguồn sáng từ trong một hoàn cảnh đặc biệt (đất nước bị xâm lăng),
được tạo bởi con người đặc biệt( bị mù vẫn sáng tác thơ văn)
* “Con mắt chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn càng thấy sáng”có nghĩa là phải dày công kiên trì
tìm hiểu, nghiên cứu, thì mới khám phá hết cái hay, cái đẹp, cái ánh sáng tư tưởng, nội dung của thơ văn Nguyễn ĐìnhChiểu
* Cách nói có hình ảnh “bầu trời”, “Vì sao”, tạo nên sự hấp dẫn Cách lập luận so sánh bắc cầu “Văn thơ Nguyễn đình
chiểu cũng vậy.”
Tóm lại ý kiến này có ý nghĩa điều chỉnh, định hướng cho việc nghiên cứu và tiếp nhận thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
4 Bài viết Nguyễn đình Chiểu, ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ của dân tộc (Phạm Văn Đồng ) không
khô khan và mà trái lại có sức hấp dẫn lôi cuốn
Gợi ý trả lời: Xem Kiến thức cơ bản
- Năm 2001, Quang Dũng được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
-Tác phẩm tiêu biểu: Rừng biển quê hương (Tập thơ in chung, 1957) Đường lên Châu Thuận (truyện ký, 1964), Mây
đầu ô (tập thơ, 1986), Thơ văn Quang Dũng (1988)…
- Tây Tiến là một đơn vị bộ đội được thành lập đầu năm 1947.
* Nhiệm vụ: phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt –Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở ThượngLào cũng như miền tây Bắc Bộ Việt Nam
* Địa bàn hoạt động rộng lớn: Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, miền tây Thanh Hoá và cả Sầm Nưa (Lào)
* Thành phần: Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên
* Hoàn cảnh chiến đấu của họ vô cùng thiếu thốn, gian khổ
* Tinh thần: họ vẫn lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm
4 Chủ đề
Quang Dũng đã khắc hoạ thành công hình tượng người lính Tây tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng miềntây hùng vĩ, dữ dội và mĩ lệ, từ đó nêu bật hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng
Đó cũng là hào khí của tuổi trẻ Việt Nam thời chống Pháp
5 Giá trị nội dung, nghệ thuật
a Đoạn thứ nhất (từ câu 1 đến câu 14) : Những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến và khung cảnh
thiên nhiên miền tây hùng vĩ, hoang sơ và dữ dội
- Sử dụng một loạt địa danh “Sài Khao”, “Mường Lát”, “Pha Luông gợi lên cảm giác xa xôi hoang dã.
- Dùng nhiều từ ngữ bạo khỏe “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, “súng ngửi trời”, “bỏ quên đời” có sức diễn tả mạnh mẽ, gây ấn tượng và cách phối hợp âm thanh tạo giọng điệu lạ “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống – Nhà ai
Pha Luông mưa xa khơi ”
- Quang Dũng không những khắc họa được một cách sinh động cảnh núi rừng hiểm trở, dữ dội, hoang vu mà còn diễn
tả được những cuộc hành quân đầy gian lao của người lính Tây Tiến ở vùng núi hiểm trở, xa xôi
b Đoạn thứ hai (từ câu 15 đến câu 22) :Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh sông nườc
miền Tây thơ mộng
- Phác hoạ cảnh vật và con người Tây Bắc Với những nét tinh tế, mềm mại, Tây Bắc không những hiện lên thật dịudàng, tươi mát, thơ mộng mà còn có cảnh trú quân với những đêm liên hoan văn nghệ rực rỡ Đây chính là vẻ đẹp củanúi rừng xứ lạ có sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với những người lính xuất thân từ học sinh, sinh viên:
Trang 17“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.
- Bốn câu sau của đoạn hai gợi cảnh thiên nhiên sông nước tuyệt đẹp Thiên nhiên tựa hồ cũng tình tứ, cũng có linh hồnnhư con người Dường như thiên nhiên và con người với dáng đứng đẹp, hiên ngang có sự sóng đôi, tạo nên chất thơhào hùng đằm thắm :
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”.
c Đoạn thứ ba (từ câu 22 đến câu 30): Chân dung người lính Tây Tiến.
Nhà thơ khắc họa chân dung người lính Tây Tiến bằng bút pháp lãng mạn
- Họ hiện lên với diện mạo khác thường, dáng vẻ oai phong dữ dội :
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”.
- Với một chí khí phảng phất chất anh hùng tráng sĩ của một thời xa xưa:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.”
- Và một tâm hồn rất lãng mạn: mộng chiến công, mơ về những cô gái Hà Nội – những “dáng kiều thơm”.
- Đoạn thứ ba này còn thể hiện rõ tính chất bi tráng Nhà thơ không ngần ngại nói đến sự hy sinh, nhưng ông đã nhìn
gian khổ thành sự oai hùng, dữ dội; nhìn cái chết lại thấy đó là sự hy sinh “sang trọng” của người anh hùng :
“Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
d Bốn dòng thơ cuối: lời thề gắn bó với Tây Tiến và miền Tây
Quyết chiến đấu cùng đồng đội, dù có ngã xuống trên đường hành quân, hồn (tinh thần của các anh) vẫn đi cùng đồng
đội, vẫn sống trong lòng đồng đội “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.
e Nghệ thuật
- Sự kết hợp tài hoa bút pháp hiện thực và bút pháp lãng mạn.
- Ngôn ngữ thơ rất giàu nhạc điệu
- Từ ngữ, hình ảnh vừa quen thuộc vừa độc đáo, vừa có nét cổ kính lại vừa mới lạ đem lại ấn tượng mạnh mẽ tronglòng người đọc
II LUYỆN TẬP
1 Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Tây Tiến”.
Gợi ý trả lời: Xem mục 2, phần kiến thức cơ bản
2 Nêu bố cục bài thơ “Tây Tiến”và chỉ ra mạch liên kết giữa các đoạn
Gợi ý trả lời:
- Bài thơ chia bốn đoạn:
+ Đoạn 1: Những cuộc hành quân gian khổ cửa đoàn quân Tây Tiến và khung
cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ và dữ dội
+ Đoạn 2: Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh
sông nước miền Tây thơ mộng
+ Đoạn 3: Chân dung của người lính Tây Tiến
+ Đoạn 4: Lời thề gắn bó với Tây Tiến và miền Tây
- Mạch liên kết giữa các đoạn của bài thơ là mạch cảm xúc, tâm trạng của nhà thơ Bài thơ được viết trong một nỗi nhớ
da diết của Quang Dũng về đồng đội, về những kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến gắn liền với khung cảnh thiên nhiênmiền Tây hùng vĩ, hoang sơ, thơ mộng Bài thơ là những kí ức của Quang Dũng về Tây Tiến ; những kí ức, những kỉniệm ñược tái hiện lại một cách tự nhiên, kí ức này gọi kí ức khác, kỉ niệm này khơi dậy kỉ niệm khác như những đợtsóng nối tiếp nhau Ngòi bút tinh tế và tài hoa của Quang Dũng dành cho những kí ức ấy trở nên sống động và ngườiđọc có cảm tưởng đang sống cùng với nhà thơ trong những hồi tưởng ấy
3 Vì sao nói “Tây Tiến” là bài thơ có nội dung mới mẻ và nghệ thuật đặc sắc?
Gợi ý trả lời:
- Nội dung mới mẻ của bài thơ thể hiện ở nhiều yếu tố như: hình ảnh người lính Tây Tiến kiên cường dũng cảm, có nét
dữ dội nhưng lại lãng mạn, mơ mộng, hào hoa phong nhã cả trong gian khổ; cảnh rừng núi Tây Bắc hùng vĩ và dữ dộikhác thường, nhưng không kém phần dịu dàng thơ mộng; con người Tây Bắc đầy hấp dẫn; nói đến mất mát đau thương
mà vẫn toát lên sự cứng cỏi hùng tráng…
- Nghệ thuật đặc sắc của bài thơ được thể hiện khá đa dạng, chẳng hạn: Sự kết hợp tài hoa bút pháp hiện thực và bútpháp lãng mạn Ngôn ngữ thơ rất giàu nhạc điệu Từ ngữ, hình ảnh vừa quen thuộc vừa độc đáo, vừa có nét cổ kính lạivừa mới lạ đem lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc…
4 Nêu chủ đề bài thơ “Tây Tiến”
Gợi ý trả lời: Xem mục 4, phần kiến thức cơ bản
Trang 185 Một nét đặc sắc của bài thơ “Tây Tiến” là tinh thần bi tráng Do đâu mà có tinh thần bi tráng ấy và nó được thể hiện
rõ nhất ở hình ảnh nào trong bài thơ?
Gợi ý trả lời
- Cái "tráng" này là của Quang Dũng và cả một lớp trai trẻ như ông thời ấy thổi vào bầu máu nóng "thề quyết tử cho
Tổ quốc quyết sinh",.
b) Tinh thần bi tráng đã làm nên vẻ đẹp riêng của người lính Tây Tiến Bài thơ không lẩn tránh cái bi, thường đề cậpđến cái chết, nhưng không phải là cái chết bi luỵ mà là cái chết hào hùng, lẫm liệt của người chiến sĩ đi vào cõi bất tử.Bài thơ ba lần nói đến cái chết, cái chết nào cũng đẹp nhưng đẹp nhất là cái chết sang trọng này:
Áo bào thay chiếu anh về đất
6 Theo em trong bài thơ “Tây Tiến” khổ thơ nào được đánh giá là “thi trung hữu họa” ?
Gợi ý trả lời
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Khổ thơ này là một bằng chứng trong thơ có hoạ ("thi trung hữu hoạ") Chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ
ra một bức tranh hoành tráng diễn tả rất đạt sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng miền Tây - địa
bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến Hai câu thơ đầu, những từ ngữ giàu giá trị tạo hình khúc khuỷu, thăm thắm,
cồn mây, súng ngửi trời đã diễn tả thật đắc địa sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời của núi đèo miền Tây Hai
chữ “ngửi trời" được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vữa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của người lính.
Núi cao tưởng chừng chạm mây, mây nổi thành cồn "heo hút" Người lính trèo lên những ngọn núi cao dường nhưđang đi trong mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời Câu thứ ba như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần nhưthẳng đứng nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm Đọc câu thứ tư, có thể hình dung cảnh những người línhtạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua một không gian mịt mù sương rừng, mưa núi, thấythấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi
Bốn câu thơ này phối hợp với nhau, tạo nên một âm hưởng đặc biệt- Sau ba câu thơ được vẽ bằng những nét gânguốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét rất mềm mại (câu thứ tư toàn thanh bằng) Quy luật này cũng giống như cách sửdụng những gam màu trong hội hoạ : giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng một gam màu lạnh làm dịu lại cả khổthơ
7 Vì sao nói hình ảnh người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng?
Gợi ý trả lời
- Chất lãng mạn thể ở:
+ Ngoại hình đậm vẻ khác thường, thể hiện sự kiêu hùng "không mọc tóc";xanh màu lá", "dữ oai hùm".
+ Tâm hồn lãng mạn giàu mơ mộng, khát khao hướng về vẻ đẹp hào hoa của Hà Nội "Mắt trừng gởi mộng qua biên
giới - Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm".
+ Chất lãng mạn còn ơ khí phách hào hùng của tuổi trẻ "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh"
- Chất bi tráng thể hiện ở:
+ Những gian khổ, thiếu thốn tột cùng và sự hi sinh của người lính Hình ảnh những nấm mồ rải rác nơi biên cương
viễn xứ gợi lên cảm xúc bi thương rất đậm Hình ảnh "áo bào thay chiếu” khi mai táng những người chiến sĩ đã hi sinh
cũng gợi lên cảm xúc bi thương
+ Nhưng vượt lên cái bi là cái tráng, cái hùng thể hiện ở khí phách của người lính vượt lên, xem thường mọi gian khổ,thiếu thốn và thái độ sẵn sàng, thanh thản của họ trong sự hi sinh
+ Vẻ bi tráng còn thể hiện ở hình ảnh “ Sông Mã gầm lên khúc độc hành”tiếng gầm của dòng sông chứa nỗi đau và sức
mạnh, nó cũng là tinh thần và tâm trạng của những người lính Tây Tiến trong giờ phút vĩnh biệt đồng đội của mình
TIẾNG HÁT CON TÀU
CHẾ LAN VIÊN
I KIẾN THỨC CƠ BẢN
1 Tác giả
Trang 19- Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan (1920 – 1989) Quê Quảng Trị, nhiều năm sống ở Bình Định nên cóthể xem Bình Định là quê hương thứ hai của ông.
Ông tham gia Cách mạng tháng Tám ở Quy Nhơn, rồi tham gia kháng chiến chống Pháp Sau năm 1954, ông về
Hà Nội tiếp tục hoạt động văn học, nhiều năm trong ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam, từng là đại biểu quốc hội…Chế Lan Viên được nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996
- Sự nghiệp sáng tác:
+ Trước Cách mạng tháng Tám: Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới Tác phẩm tiêu
biểu: “Điêu tàn”…
+ Sau Cách mạng tháng Tám: Thấm nhuần tư tưởng Cách mạng, thơ ông đến với nhân dân và đất nước Tác phẩm
tiêu biểu: “Ánh sáng phù sa”, “Hoa ngày thường”, “Hoa trước lăng Người”…
- Thơ ông có phong cách độc đáo: giàu chất suy tưởng triết lý, mang vẻ đẹp trí tuệ, hình ảnh thơ sáng tạo bởi mộtngòi bút thông minh và tài hoa…
2 Xuất xứ - hoàn cảnh sáng tác, mục đích sáng tác
- Bài thơ “Tiếng hát con tàu” rút từ tập thơ “Ánh sáng và phù sa”.
- Ra đời 1960, bài thơ được gợi cảm hứng từ sự kiện Đảng và Chính phủ vận động nhân dân miền xuôi lên xây dựngkinh tế miền núi Bài thơ còn kêu gọi các nghệ sĩ gắn bó với nhân dân, đất nước để tìm cảm hứng cho sáng tác
3 Tìm hiểu bài thơ
a Hình ảnh “con tàu” và “Tây Bắc” có ý nghĩa biểu tượng trong suốt bài thơ:
- “Con tàu” là biểu tượng của khát vọng đi xa thoát khỏi cuộc sống cá nhân chật hẹp, đến với cuộc sống rộng lớn của nhân dân, của những ước mơ cao đẹp và đến với ngọn lửa sáng tạo nghệ thuật “Con tàu” còn thể hiện tấm lòng của nhà thơ (“Khi lòng ta đã hóa những con tàu”, “Tàu đói những vành trăng”, “Tàu gọi anh sau chửa ra đi”…)
- “Tây Bắc” không chỉ là chiến khu cách mạng trong kháng chiến chống Pháp mà còn gợi nhớ đến mọi miền xa xôi của
Tổ quốc, nơi gian lao vất vả, nhưng ân tình sâu nặng, với những kỷ niệm không thể nào quên Mảnh đất này chính là
nơi “con tàu” khát vọng hướng tới tức là cuộc sống lớn của nhân dân, nguồn cảm hứng của thời đại Lên Tây Bắc là trở lại với chính lòng mình, trong sự hòa hợp và gắn bó mật thiết với nhân dân, với đất nước “Tây Bắc” chính là Tổ quốc
(“Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát – Lòng ta là Tây Bắc chứ còn đâu”), là “gió ngàn”, là “vành trăng”, là “đất nước mênh mông”, là nguồn thơ (“Tây Bắc ôi, người là mẹ của hồn thơ”).
b Hai khổ thơ đầu là lời thúc giục, mời gọi lên đường:
Nhiều câu hỏi tu từ, câu hỏi chất vấn (“Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?”, “Anh có nghe gió ngàn đang đang rú
gọi”, “Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng” – “Tàu gọi anh đi sao chửa ra đi”), vừa thể hiện sự băn khoăn, suy
tư của tác giả trước một lối sống “nhỏ hẹp” ích kỷ, vừa thôi thúc, giục giã mời gọi mọi người lên đường để xây dựngquê hương đất nước, để tìm cảm hứng cho thơ ca
c Hình ảnh “Tây Bắc” hiện lên trong hồi ức của tác giả:
- Cuộc kháng chiến mười năm ở Tây Bắc khiến tác giả nhận ra Tây Bắc là nơi “xứ thiêng liêng, rừng núi anh hùng”,
“nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất”, đồng thời là nơi tạo ra sự chuyển biến trong hồn thơ cuả tác giả:
“Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường”.
Tác giả nói về cuộc kháng chiến ở Tây Bắc với sự trân trọng và lòng biết ơn sâu nặng
- Đến với Tây Bắc là đến với nhân dân trong niềm hạnh phúc vô biên Ý này được tác giả diễn tả qua năm hình ảnh sosánh vừa dung dị vừa mới lạ, lấp lánh trí tuệ tài hoa:
“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”
- Về Tây Bắc để gặp lại những con người yêu thương, một thời gắn bó:
+ Đó là “người anh du kích” có cuộc sống lam lũ, vất vả gắn liền với “chiếc áo nâu suốt một đời vá rách” nhưng sống
đầy tình đầy nghĩa và một lòng một dạ chiến đấu hy sinh cho cách mạng:
“Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn
…Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con”.
+ Đó là “thằng em liên lạc” xông xáo, thông minh, nhanh nhẹn, đầy tinh thần trách nhiệm, hoàn thành công việc mộtcách xuất sắc:
“Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ
Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc”
Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư ”.
+ Hình ảnh người mế nuôi tình nghĩa, nhân hậu đêm đêm bên bếp lửa hồng chăm sóc những người chiến sĩ:
“Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc
Năm con đau mế thức một mùa dài”
Tác giả viết về người mế với tình cảm thiết tha, bồi hồi với lòng biết ơn sâu nặng (“Nhưng trọn đời con nhớ
mãi ơn nuôi”).
- Về Tây Bắc để gặp lại thiên nhiên thơ mộng và huyền ảo (“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ”).
- Từ sự cảm nhận cụ thể về vùng đất Tây Bắc anh hùng, nhân dân Tây Bắc nghĩa tình với kháng chiến, tác giả đã kháiquát thành những quy luật tình cảm:
Trang 20“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”
d Đôi nét về nghệ thuật:
Kết hợp giữa cảm xúc và suy tưởng, rút ra những vấn đề khái quát có ý nghĩa triết lý là đặc điểm của thơ Chế LanViên Bài thơ xây dựng được một loạt hình ảnh mới có giá trị thẩm mỹ và thể hiện một cách nói thông minh, sắc sảo,tài hoa
II LUYỆN TẬP
1 Nêu ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh con tàu và địa danh Tây Bắc.
Gợi ý trả lời:
- Hình ảnh con tàu: biểu tượng cho khát vọng lên đường, khát vọng đi xa, hướng tới đời sống lớn của đất nước, nhân
dân, đi tới chân trời của ước mơ lớn, đi tới ngọn nguồn cảm hứng của những sáng tạo nghệ thuật
- Tây Bắc: vừa là một địa danh cụ thể mang nhiều ý nghĩa lịch sử nơi miền tây Tổ quốc, vừa là biểu tượng của đất nước
bao la, nhân dân vĩ đại
2 Nêu cảm nhận 4 câu đề từ của bài thơ
Gợi ý trả lời: Xem phần 3, kiến thức cơ bản
3 Nêu cảm nhận đoạn thơ sau:
“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”
Gợi ý trả lời:
Đoạn thơ trích nằm ở phần thứ hai trong bố cục bài thơ “Tiếng hát con tàu”, đã tập trung thể hiện niềm khao khát và
hạnh phúc được trở về với nhân dân của nhà thơ
- Cả đoạn thơ xuất hiện hàng loạt hình ảnh, trùng điệp, liên tiếp: “nai về suối cũ”, “cỏ đón giêng hai”, “chim én gặp
mùa”, “đứa trẻ thơ” Nhà thơ như nói cho hết, cho thỏa khát vọng và niềm hạnh phúc được trở về với nhân dân.
- Rất nhiều ví von so sánh Nhà thơ (chủ thể) được ví như: nai, cỏ, chim én, trẻ thơ, nôi Nhân dân – cuộc sống lớn(khách thể) được ví như: suối, mùa xuân, sữa, cánh tay đưa Nhà thơ thấy mình nhỏ bé, non dại, mềm yếu; còn nhândân như suối nguồn bồi đắp, vỗ về
- Trở về với nhân dân là việc hết sức tự nhiên (nai về suối cũ, cỏ đón giêng hai), là việc hợp quy luật (chim én gặp
mùa) và rất kịp thời (đói lòng gặp sữa) Bởi nhân dân là nguồn nuôi dưỡng sự sống, làm hồi sinh những hồn thơ bế tắc,
cằn cỗi; nhân dân là ngọn nguồn của cảm hứng sáng tạo nghệ thuật
- Giọng điệu thơ tha thiết, chân thành, cách xưng hô khi nói đến nhân dân có sự thay đổi: đang từ “anh”, “ta” chuyểnsang “con”, tạo độ sâu lắng trong cảm xúc, diễn đạt tình cảm thân thiết, ruột thịt của nhà thơ
- Những hình ảnh gần gũi mà vẫn mới lạ, so sánh bất ngờ, độc đáo, khiến đoạn thơ giàu suy nghĩ triết lý mà không khókhăn, và lung linh biến hóa
- So sánh với “Điêu tàn” – một hồn thơ từng trốn đời, trốn người cho thật xa để hiểu hết mấy chữ “ con gặp lại nhân
dân”, để thấy hết ước vọng tha thiết chân thành của nhà thơ.
- Đây là đoạn thơ hay, thâu tóm được cảm hứng chính của “Tiếng hát con tàu”: khát vọng được hòa nhập vào đời sống
lớn của nhân dân
Đoạn thơ cũng kết tinh được những nét đặc sắc của hồn thơ Chế Lan Viên: phong phú và sáng tạo về hình ảnh,giàu triết lý suy tư, nhạy cảm trước những nhiệm vụ chính trị của đất nước
4 Phân tích đoạn thơ sau:
“Con nhớ anh con, người anh du kích
Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn
Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách
Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con.
Con nhớ em con, thằng em liên lạc
Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ
Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc
Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư.
Con nhớ mế, lửa hồng soi tóc bạc
Năm con đau, mế thức một mùa dài.
Con với mế không phải hòn máu cắt
Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi.”
Gợi ý trả lời : Xem phần 3, kiến thức cơ bản
5 Bình giảng đoạn thơ sau:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương?
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Trang 21Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng,
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương”
Gợi ý trả lời:
“Tiếng hát con tàu” là khúc hát say mê rạo rực của một tâm hồn đã thoát khỏi cái khung chật hẹp cuả một cái
tôi nhỏ bé để ra với chân trời rộng lớn của nhân dân, đất nước Trong niềm vui mới, hồn thơ của Chế Lan Viên như hóathành con tàu tâm tưởng hăm hở trong hành trình về với nhân dân, về với cuộc đời rộng lớn Nhưng về với nhân dân
cũng chính là đến với lòng mình, làm giàu có thêm cho tâm hồn mình; từ đó nhà thơ đã đi tới sự khẳng định “Tâm hồn
ta là Tây Bắc chứ còn đâu” Cả phần hai – phần chủ yếu của bài thơ – dành cho việc tái hiện hình ảnh nhân dân và gợi
lại những kỷ niệm đẹp, sâu nặng tình nghĩa trong những năm kháng chiến gian khổ Theo dòng hoài niệm, mạch thơdẫn đến những câu thơ mang tính khái quát, triết lý:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương”
Cảnh sương giăng, đèo mây phủ hiện lên rất chung (bởi không nói về một làng bản cụ thể nào) nhưng lại không hềchung chung, bởi ta vẫn dễ dàng nhận ra cảnh sắc riêng của Tây Bắc Khi bình giảng có thể so sánh với những câu thơ
của Tố Hữu: “Nhớ từng bản khói cùng sương – Sớm khuya bếp lửa người thương đi về” (Việt Bắc)
Câu thơ thứ hai “Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương?” là một câu hỏi tu từ - hỏi chỉ để khẳng định rõ hơn tình
cảm gắn bó sâu nặng của nhà thơ đối với con người, cảnh vật Tây Bắc với mọi miền đất xa xôi và hẻo lánh khác củađất nước
Ở hai câu thơ tiếp theo, Chế Lan Viên đã sử dụng những cặp đối xứng: khi ta ở/ khi ta đi; đất ở/ đất hóa tâm hồn, để
qua đó nói lên tình cảm gắn bó máu thịt của mình với Tây Bắc Chính tình cảm đó đã dẫn đến một sự chuyển hóa từ
“đất ở” vốn vô tri vô giác trở thành “đất đã hóa tâm hồn”.
- Ý nghĩa lớn lao của tình yêu, tình cảm con người đối với một vùng quê
Sang khổ thứ hai, mạch thơ dường như đột ngột chuyển sang một rung cảm và suy tưởng khác – về tình yêu và đấtlạ
“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”
Ở khổ thơ này, ta cũng thấy một nét quen thuộc rất dễ nhận ra của phong cách thơ Chế Lan Viên – đó là sự suyngẫm, triết lý Những câu thơ viết về tình yêu không phải chỉ là của một tâm hồn tự bộc lộ, biểu hiện những trạng tháicủa lòng mình, mà còn là của người tự quan sát lòng mình và suy ngẫm, triết lý về tình yêu qua sự chiêm nghiệm.Những hình ảnh so sánh ở đây mang một ý nghĩa triết lý: mỗi hiện tượng, sự vật chỉ có thể tồn tại và phát triển trongmối quan hệ khăng khít với một hiện tượng, sự vật khác – như cái rét với mùa đông, như mùa xuân với bộ lông trở biếccủa chim rừng Đó cũng là bản chất của tình yêu như là sự khăng khít giữa hai tâm hồn – nó diễn ra như một tấtyếu của tự nhiên và không thể tách rời
Tất cả những câu thơ trên như là tiền đề Chế Lan Viên đi tới một nhận xét có tính đúc kết, khái quát:
“Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”
Như vậy, chính tình yêu là chất kết dính, làm nên sự chuyển hóa kỳ diệu, khiến cho “đất lạ” – mảnh đất vốn xa lạvới chúng ta trở thành “quê hương” – nơi chôn nhau cắt rốn, gắn bó máu thịt với mỗi con người Nhưng tình yêu ở đâykhông chỉ giới hạn trong tình yêu lứa đôi, mà còn là biểu hiện kết tinh của những tình cảm quê hương đất nước Bởi thế
mà khổ thơ này dường như có sự đột ngột rẽ ngang của dòng xúc cảm, nhưng thực ra vẫn nằm trong mạch suy nghĩ vàdòng cảm xúc chung của cả bài
6 Hãy nêu xuất xứ, chủ đề bài thơ
Gợi ý trả lời: Xem mục 2, phần kiến thức cơ bản.
TÁC GIẢ TỐ HỮU
I KIẾN THỨC CƠ BẢN
1 Tố Hữu tên thật Nguyễn Kim Thành (1920-2002) xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo tại Thừa Thiên - Huế.
Cuộc đời Tố Hữu có thể chia thành ba giai đoạn :
- Thời niên thiếu: sớm mồ côi mẹ, học sinh trường Quốc học Huế
- Thời thanh niên: Tố Hữu sớm giác ngộ cách mạng và hăng say hoạt động, kiên cường đấu tranh trong các nhà tù thựcdân
- Thời trưởng thành: Lần lượt đảm nhiệm những cương vị trọng yếu trên mặt trận văn hoá văn nghệ, trong bộ máy lãnhđạo của Đảng và Nhà nước
2 Những chặng đường thơ của Tố Hữu luôn gắn bó với những chặng đường cách mạng của bản thân nhà thơ, với
những giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam:
Trang 22a Tập thơ “Từ ấy” (1937 – 1946): Đánh dấu bước trưởng thành của người thanh niên quyết đi theo ngọn cờ của Đảng Tập thơ gồm ba phần : Máu lửa ; Xiềng xích ; Giải phóng.
b Tập thơ “Việt Bắc” (1946 – 1954): Là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc kháng chiến chống Pháp và những con
người kháng chiến; ca ngợi Đảng và Bác Hồ; thể hiện những tình cảm lớn: yêu nước, tình yêu thiên nhiên, tình quândân, tình cảm quốc tế vô sản …
c Tập thơ “Gió lộng” (1955-1961) Thể hiện nguồn cảm hứng lớn về cuộc sống mới, con người mới trong thời kì hoà
bình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; diễn tả nỗi đau chia cắt của đất nước và tình cảm sâu nặng với miền Nam,bày tỏ niềm tin vào ngày mai tất thắng
d Hai tập thơ : “Ra trận” (1962-1971), “Máu và hoa” (1972-1977) thể hiện khí thế quyết liệt của cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước và niềm vui toàn thắng
e Hai tập thơ “Một tiếng đờn” (1992) và “Ta với ta” (1999) đánh dấu bước chuyển biến mới trong thơ Tố Hữu Tố
Hữu tìm đến những chiêm nghiệm mang tính phổ quát về cuộc đời và con người
3 Phong cách thơ Tố Hữu:
a.Về nội dung, thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị rất sâu sắc:
- Trong việc biểu hiện tâm hồn, thơ Tố Hữu hướng tới cái ta chung
- Trong việc miêu tả đời sống, thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi
Những điều đó được thể hiện qua giọng thơ mang tính chất tâm tình rất tự nhiên, đằm thắm, chân thành
b Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà
- Về thể thơ, Tố Hữu vận dụng rất thành công những thể thơ truyền thống của dân tộc như lục bát, song thất lục bát, thểthơ bảy chữ
- Về ngôn ngữ, Tố Hữu không chú ý sáng tạo những từ mới, cách diễn đạt mới mà thường sử dụng những từ ngữ vàcách nói quen thuộc của dân tộc Đặc biệt, thơ Tố Hữu phát huy cao độ nhạc tính của tiếng Việt
II LUYỆN TẬP
1 Nêu những nét lớn trong cuộc đời Tố Hữu
Gợi ý trả lời: Xem mục 1, kiến thức cơ bản
2 Trình bày vắn tắt những chặng đường thơ của Tố Hữu
Gợi ý trả lời: Xem mục 2, kiến thức cơ bản.
3 Nêu những đặc điểm chính về phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.
Gợi ý trả lời: Xem mục 3, kiến thức cơ bản.
VIỆT BẮC
( TRÍCH - TỐ HỮU )
I KIẾN THỨC CƠ BẢN
1 Tháng 7/1954, hiệp định Giơnevơ được kí kết, hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng Tháng 10/1954,
Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy,
Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.
Bài thơ có hai phần: phần đầu tái hiện một giai đoạn gian khổ, vẻ vang của cách mạng và kháng chiến nay đã trở thànhnhững kỉ niệm sâu nặng trong lòng người; phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ngợi ca công ơn Đảng,Bác Hồ Đoạn trích trong sách giáo khoa thuộc phần đầu bài thơ
2 Kết cấu bài thơ theo lối hát giao duyên (đối – đáp) của hai nhân vật trữ tình (mình – ta) Nội dung “bài hát” là nghĩa
tình cách mạng của người về xuôi và chiến khu Việt Bắc
- Lời người ở lại (Việt Bắc): Hỏi người về xuôi có nhớ Việt Bắc không, có thuỷ chung với Việt Bắc không?
- Lời người về xuôi (cán bộ cách mạng): Trả lời là rất nhớ Việt Bắc, thuỷ chung với Việt Bắc Tâm trạng người ra đi
“bâng khuâng, bồn chồn” vì đã gắn bó với Việt Bắc, biết bao kỉ niệm mặn nồng trong mười lăm năm.
3 Bao trùm lên nửa đầu bài thơ là nỗi nhớ Việt Bắc, nhà thơ (người cán bộ về xuôi) đã tái hiện nỗi nhớ ấy ở những
phương diện sau:
a Phong cảnh và con người Việt Bắc cùng những sinh hoạt của cán bộ và nhân dân Việt Bắc (từ câu 25 đến câu 52):Cảnh đẹp và thi vị - đặc trưng của miền núi rừng Việt Bắc (hình ảnh bếp lửa nhà sàn, ánh trăng rừng, nắng chiều lưngnương, hoa chuối, hoa mơ; tiếng ve kêu, tiếng mõ rừng chiều, tiếng chày nước giã gạo) Con người Việt Bắc đáng yêu
vì sống có nghĩa có tình, cần cù nhẫn nại, chịu đựng hy sinh để che chở, nuôi giấu cán bộ Sinh hoạt của đồng bào vàcán bộ cực kì thiếu thốn nhưng họ rất lạc quan
b Việt Bắc đánh giặc lập nhiều chiến công, Việt Bắc anh hùng (từ câu 53 “ Nhớ khi giặc đến giặc lùng” đến câu 74
“Vui lên Việt Bắc, đèo De , núi Hồng” ): Đoạn thơ này diễn tả khí thế ra trận và đánh giặc hào hùng của quân dân ta;
sử dụng các biện pháp hoán dụ, đối lập, láy từ, điệp âm, thậm xưng … giúp người đọc hình dung những chiến cônghiển hách của thời chín năm chống Pháp; đoạn thơ này còn liệt kê hàng loạt những địa danh (tên đất , tên làng, tênsông, tên núi) ghi lại những trận đánh từ nhỏ đến lớn và vang dội đến ngày chiến thắng
c Việt Bắc là căn cứ địa, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi có Trung ương Đảng, Chính phủ, Bác Hồ lãnh đạokháng chiến (từ câu 75 đến hết)
4 “Việt Bắc” là bài thơ đậm đà màu sắc dân tộc, tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu Màu sắc dân tộc ấy thắm đượm
từ nội dung đến hình thức nghệ thuật, đặc biệt ở tình cảm của nhân vật trữ tình:
- Tái hiện lại cuộc sống và chiến đấu của quân dân ta ở Việt Bắc bằng lòng tự hào dân tộc, thể hiện nghĩa tình thuỷchung, biết ơn cội nguồn như đạo lý truyền thống của dân tộc
Trang 23- Sử dụng thể lục bát quen thuộc, và kết cấu đối đáp theo lối hát giao duyên ; vận dụng khéo léo hai đại từ “mình – ta”
thường gặp trong ca dao
- Sử dụng từ ngữ và lối nói quen thuộc của dân tộc, những so sánh ví von truyền thống nhưng lại biểu hiện được nộidung mới của thời đại
- Phát huy tính nhạc phong phú của tiếng Việt tạo nên giọng thơ ngọt ngào tâm tình
II LUYỆN TẬP
1.Cho biết hoàn cảnh sáng tác và vị trí của đoạn trích “Việt Bắc”.
Gợi ý trả lời: Xem mục 1, kiến thức cơ bản.
2 Kết cấu của lối hát giao duyên (đối - đáp) được Tố Hữu vận dụng như thế nào trong đoạn trích “Việt Bắc” ?
Gợi ý trả lời : Xem mục 2, kiến thức cơ bản.
3 Nội dung bao trùm của đoạn trích “Việt Bắc”.
Gợi ý trả lời: Xem mục 3, kiến thức cơ bản.
4 Phân tích tính dân tộc đậm đà được thể hiện qua đoạn thơ
Gợi ý trả lời: Xem mục 4, kiến thức cơ bản.
5 Cảm nhận của anh chị về đoạn thơ sau trích trong “Việt Bắc” của Tố Hữu.
“Ta về, mình có nhớ ta ,
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón, chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.”
Gợi ý trả lời :
Mười dòng lục bát nhắc lại những kỉ niệm thân thiết và đẹp nhất từ cảnh và người Việt Bắc trong nỗi nhớ của
người cán bộ về xuôi Đây là đoạn thơ đặc sắc của bài Việt Bắc nói về “hoa cùng người”
a Hai dòng mở đầu giới thiệu chung nỗi nhớ hoa cùng người, trình bày cảm xúc bao trùm của cả đoạn:
- Người cán bộ về xuôi đối đáp với người ở lại: “mình có nhớ ta” Kết cấu đoạn này cũng là kết cấu của toàn bài theo
lối đối đáp giao duyên giống ca dao truyền thống Nội dung đối đáp là để bộc lộ, bày tỏ tình cảm lưu luyến, thuỷ chungvới quê hương cách mạng
- Câu hỏi tu từ là cái cớ để bộc lộ tình cảm: về xuôi rất nhớ Việt Bắc, nhất là hoa (thiên nhiên) và người – hai yếu tốkhông tách rời trong ấn tượng và kỉ niệm về Việt Bắc
b Tám dòng lục bát còn lại tràn ngập ánh sáng, màu sắc, đường nét… đặc tả thiên nhiên và con người Việt Bắc:
- Thiên nhiên ở đây là phong cảnh núi rừng qua bốn mùa, mỗi mùa phác hoạ một vẻ đẹp riêng: Xuân thì “ mơ nở trắng
rừng”, hè thì “Ve kêu rừng phách đổ vàng”, thu là những đêm trăng thanh bình, thơ mộng, mùa đông thì có “hoa chuối đỏ tươi” Vẻ đẹp nên thơ và rực rỡ của Việt Bắc gợi ở người đọc những rung động sâu xa.
- Linh hồn của bức tranh Việt Bắc là con người lao động Mỗi mùa, gắn với thiên nhiên (một loại hoa) là hình ảnh mộtcon người: người đan nón, cô gái hái măng, tiếng hát ân tình, người đi rừng với dao gài thắt lưng Trong nỗi nhớ củangười về xuôi, con người và thiên nhiên hoà quyện khiến cho những kỉ niệm ấy trở nên thân thương và da diết
c Cảm hứng chủ đạo của cả đoạn thơ là tình cảm nhớ thương tha thiết, thuỷ chung Nó được tạo nên bởi những yếu tốsau:
- Nhịp thơ lục bát uyển chuyển, câu nọ gọi câu kia như kí ức trở lại không bao giờ nguôi
- Cách xưng hô “mình – ta” như là cách nói của đôi lứa yêu nhau
- Điệp từ “nhớ” tô đậm tình cảm thắm thiết thuỷ chung.
- Câu cuối của đoạn thơ như là lời đồng vọng trong tâm hồn của hai người yêư nhau
ĐẤT NƯỚC
NGUYỄN KHOA ĐIỀM
I KIẾN THỨC CƠ BẢN
1 Tác giả
-Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943 tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hoà, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế,
trong một gia đình trí thức có truyền thống yêu nước và cách mạng
- Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, ông về Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên thàngphố Huế; xây dựng cơ sở cách mạng, viết báo, làm thơ… Sau 1975, ông tiếp tục hoạt động chính trị và văn nghệ ởThứa Thiên – Huế Ông từng là Tổng thư kí Hội Nhà văn việt Nam khoá V, Bộ trưởng Bộ Văn hoá- Thông tin…
- Năm 2000, ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
- Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ thời chống Mĩ cứu nước Thơ ông giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén,mang màu sắc chính luận
- Tác phẩm tiêu biểu:“Đất ngoại ô” (thơ, 1972), “Mặt đường khát vọng”(trường ca,1974), “Ngôi nhà có ngọn lửa
ấm”( thơ, 1986)…
Trang 242 Xuất xứ – hoàn cảnh sáng tác
- Trường ca Mặt đường khát vọng được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1 974, viết
về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình,xuống đường đấu tranh hoà nhịp với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược
- “Đất nước” trích phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng (1971), được sáng tác khi tác giả ở chiến
- Đất nước có từ bao giờ ?
- Đất nước có từ trước khi ta ra đời (“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”) Đất nước hiện diện cuộc sống mỗi gia đình chúng ta : gắn với những câu chuyện “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể với “miếng trầu” bà ăn; với những phong tục tập quán quen thuộc (“Tóc mẹ thì bới sau đầu”) Tình nghĩa thủy chung của cha và mẹ (“Cha mẹ thương nhau bằng
gừng cay muối mặn”), với “Cái kèo cái cột.” trong nhà, với công cuộc lao động vất vả làm ra hạt gạo (“Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”), đất nước lớn lên bằng sự nghiệp chiến đấu hy sinh bảovệ bờ cõi (“Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”).
- Ngôn ngữ bình dị, mang đậm chất liệu dân gian, nhà thơ thể hiện cảm nhận của mình về sự sinh thành và trường tồncủa đất nước Đất nước gắn liền với những hình ảnh quen thuộc, giản dị, với những quan hệ ruột rà, với công cuộc laođộng vất vã, với sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước
- Đất nước là gì ? Đất nước được cảm nhận trong sự thống nhất, hài hoà các phương diện địa lí và lịch sử, không gian
và thời gian
+ Đất nước xét về không gian điạ lí : gần gủi, gắn bó với mỗi con người (“Là nơi anh đến trường”, “Là nơi em tắm”),
là không gian của tình yêu đôi lứa (“nơi ta hò hẹn”, “nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”) ; Đất nước xét theo phương diện địa lí còn là núi non hùng vĩ, biển khơi rộng lớn bao la (“ chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”,
“con cá ngư ông móng nước biển khơi”), là không gian sinh tồn của dân tộc qua bao thế hệ (“Đất nước là nơi dân mình
đoàn tụ”).
Điệp ngữ “Đất là nơi”, “Nước là nơi”, “Đất Nước” được tách thành hai thành tố “Đất” và “Nước” đã diễn tả đất nước
vừa mang ý nghĩa cụ thể, gắn bó gần gủi với từng cá nhân vừa mang ý nghĩa khái quát là lãnh thổ chủ quyền quốc gia
+ Đất nước được cảm nhận theo chiều dài “thời gian đằng đẵng” với lịch sử hàng mấy nghìn năm Đất nước gắn liền
với thần thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, với truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ Tổ Một thần thoại tiêu biểu vàmột truyền thuyết tiêu biểu, vừa thể hiện niềm tự hào và nguồn gốc cao quý của toàn dân tộc, về truyền thống dựngnước và giữ nước của cha ông, vừa gợi được hồn sông núi một cách thiêng liêng và trang trọng
+ Đất nước là sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và dân tộc: Đất nước bao hàm mọi cá nhân, nênmỗi cá nhân “đều có một phần Đất Nước”
* Đất nước là sự thống nhất giữa tình yêu lứa đôi với tình yêu đất nước:
“Khi hai đứa cầm tay
Đất nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm”
* Là sự gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng, với tình đồng bào, tình đoàn kết dân tộc :
“Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất nước vẹn tròn to lớn”.
* Trách nhiệm của mọi người đối với đất nước:
Mỗi thế hệ phải có trách nhiệm cụ thể đối với đất nước (“Những ai đã khuất,những ai bây giờ”), phải “gắn bó”,
“san sẽ”, “hóa thân” để đất nước trường tồn (“làm nên Đất Nước muôn đời”) nghĩa là gìn giữ, phát triển, truyền lại cho
thế hệ sau những di sản, văn hóa tinh thần và vật chất của dân tộc Lời thơ như một lời tự nhủ, tự dặn mình chân thành,tha thiết
- Ai đã làm nên đất nước?
+ Nhân dân hóa thân làm nên dáng hình đất nước
Những mối tình chung thủy (“núi Vọng Phu”, “hòn Trống Mái”) truyền thống đánh giặc ngoại xâm (“Thánh
Gióng”) và xây dựng đất nước (“Đất tổ Hùng Vương”), truyền thống hiếu học (“núi Bút, non Nghiên”), và những cái
rất bình thường gắn bó với con người trong cuộc sống (“dòng sông”, “con cóc”, “con gà” ), những danh nhân (“Ông
Đốc”, “Ông Trang”, “Bà Đen”, “Bà Điểm”), tất cả góp phần tạo nên những danh lam thắng cảnh, những địa danh nổi
tiếng cho đất nước, mang trong đó “một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha”.
Núi sông này và cuộc đời của dân tộc này là một:
“Ô! Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta ”
Tổ quốc là kết tinh của những tình cảm cao đẹp, những truyền thống quý báu, là máu thịt của con người
+ Đất nước của nhân dân
- Những con người vô danh và bình dị của biết bao thế hệ đã hy sinh thân mình để làm ra đất nước (“Em ơi em
Nhưng họ đã làm Đất Nước ”).
Trang 25- Chính họ đã giữ gìn và truyền lại cho thế hệ đi sau những gí trị văn hóa tinh thần, văn nghệ, vật chất của đất nước:truyền nghề trồng lúa, tiếng nói, tên xã, tên làng và truyền tinh thần yêu nước chống ngoại xâm.
- Vì những lẽ đó mà đất nước này là đất nước của chính họ:
“Để Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của ca dao, thần thoại”
- Khẳng định truyền thống dân tộc ta đắm say, thủy chung trong tình yêu, quý trọng tình nghĩa, quyết liệt trong căm thù
và chiến đấu:
“Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội,
Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu”.
Chỉ sử dụng ý và hình ảnh của ca dao nhưng đã gợi nhớ được cả câu ca dao truyền thống, vẻ đẹp tinh thần củanhân dân bộc lộ tập trung trong ca dao, dân ca, cổ tích
* Nghệ thuật:
- Thơ trữ tình - chính luận sâu lắng thiết tha
- Sử dụng nhuần nhị và sáng tạo các chất liệu văn hoá và văn học dân gian trong câu thơ hiện đại
II LUYỆN TẬP
1 Hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Đất nước”?
Gợi ý trả lời: Xem mục 2, phần kiến thức cơ bản.
2 Chủ đề bài thơ “Đất nước”? (Kiến thức cơ bản)
Gợi ý trả lời: Xem mục 3, phần kiến thức cơ bản.
3 Phân tích tư tưởng “đất nước của nhân dân” trong chương “Đất nước “ của Nguyễn Khoa Điềm.
Gợi ý trả lời: Xem mục 4, phần kiến thức cơ bản.
4 Phân tích đoạn thơ sau:
… …Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời
(Trích trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm)
Gợi ý:
Phân tích 9 dòng thơ đầu: Cảm nhận mới của nhà thơ về đất nước
Chín dòng thơ đầu, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm nêu lên những cảm nhận của mình về đất nước Nếu như ởđoạn thơ trước đó trong bài thơ, tác giả nhìn nhận đất nước từ bề dày văn hoá dân tộc hàng nghìn năm qua, thì ở đây lại
là những suy nghĩ về đất nước từ cuộc sống hiện tại trong các mối quan hệ riêng – chung, cá nhân – cộng đồng, sự tiếpnối giữa các thế hệ
Khổ thơ mở đầu bằng một lời khẳng định:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Lâu nay, trong suy nghĩ của nhiều người, đất nước, quê hương, tổ quốc, dân tộc luôn là những khái niệm trừu tượng Với nhà thơ trẻ đang đối mặt với cuộc chiến tranh khốc liệt một mất một còn, đất nước gần gũi, thân thiết Điều này chưa hẳn đã mới, trong ca dao, dân ca có không ít những câu hát như thế:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.
Quê hương là tất cả những gì gắn bó ruột rà với con người Đó là nơi ta yêu tha thiết Đó là buổi sáng làm đồng
Đó là từng miếng ăn quê mỗi ngày
Song, cái mới ở khổ thơ của Nguyễn Khoa Điềm là Đất Nước ở trong mỗi một con người, Đất Nước ở trong ta:Trong anh và em Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm Đất Nước là máu xương của mình Đó là nhận thứcmới về đất nước Nhận thức ấy được nêu ra để dẫn dắt đến một ý tứ khác của những dòng thơ ở cuối khổ này (từng cánhân phải làm gì cho đất nước)
Trang 26Bốn dòng thơ kế tiếp mở rộng ý ban đầu:
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn
Hai câu thơ (bốn dòng) được cấu trúc giống nhau theo kiểu cấu trúc của câu có điều kiện trong văn xuôi hay lời
nói thông thường: Khi Đất Nước Hai câu thơ cũng là những lời khẳng định (kết quả của sự nhận thức) về một chân
lý Cả bốn dòng chỉ có một hình ảnh, lại là hình ảnh mang tính tượng trưng: cầm tay diễn tả sự thân thiết, tin cậy, yêu
thương lẫn nhau Hình ảnh ấy đi liền với những tính từ chỉ mức độ ( hài hoà, nồng thắm, vẹn tròn, to lớn) Bởi vậy, dù
ý tứ tuy không phải là quá mới mẻ, song, những câu thơ ấy lại có sức nặng của tình cảm chân thành Những câu thơnày còn có một tầng nghĩa thứ hai, tác giả không trực tiếp nói ra Đó là đất nước không phải là một khái niệm trừutượng, càng không phải một giá trị bất biến, có sẵn Đất nước là một thực thể sống và sự sống ấy ra sao ở về phía tất cảnhững con người trong đất nước đó Nói rõ ràng ra, đó là mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, giữa mỗi một conngười với đất nước
Từ câu chuyện hiện tại, nhà thơ tiếp tục mạch cảm xúc và suy nghĩ về đất nước ở tương lai:
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Bốn câu thơ cuối, nhà thơ nêu lên trách nhiệm của cá nhân đối với đất nước
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời
Cấu trúc của câu thơ cũng theo kiểu suy luận: Đất nước là nêu lên một tiền đề Từ tiền đề ấy, phải biết / phải
biết để làm nên Câu thơ giàu chất duy lý nhưng không lên gân mà trở thành lời nhắn nhủ tha thiết Ở đây có những
từ tượng trưng rất đáng chú ý: máu xương, gắn bó, san sẻ, hoá thân, dáng hình, muôn đời Sau rất nhiều suy nghĩ cụ thể
về đất nước, đến đây nhà thơ khẳng định Đất nước là máu xương của mình Máu xương là sự sống Rất ít trường hợpngười ta ví một điều gì đó với máu xương, bởi nó có ý nghĩa biểu trưng cho sự thiêng liêng Đất nước là máu xương cónghĩa là đất nước tồn tại như một sự sống và để có sự sống ấy hẳn phải có rất nhiều hi sinh Quả đúng như vậy, biếtbao con người, bao thế hệ đã ngã xuống cho sự sống còn của đất nước Vì thế, mỗi một con người phải biết gắn bó vàsan sẻ Gắn bó là yêu thương, quan hệ mật thiết với nhau Từ sự gắn bó ấy mới có thể san sẻ San sẻ trách nhiệm, san
sẻ niềm vui, niềm hạnh phúc cho nhau Đất nước vĩ đại nhưng đất nước là một thực thể sống Thực thể ấy không phải
là sự tập hợp của những cá nhân rời rạc mà là một cộng đồng Hoá thân cũng có nghĩa là dâng hiến Thời bình, người tadâng hiến sức lực, mồ hôi cho tổ quốc Thời chiến, người ta dâng hiến cả sự sống của mình Sự dâng hiến ấy, theo suyngẫm của nhà thơ, là cuộc hoá thân Bóng dáng mỗi người đã làm nên bóng dáng quê hương xứ sở, đất nước Không có
sự hoá thân kia làm sao đất nước trường tồn, làm sao có được đất nước muôn đời!
Những câu thơ in đậm chất duy lý (khá chặt chẽ, logic) cất lên như tiếng gọi của trái tim, vì thế nó thiết tha, thúc giục lòng người
5 Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm:
Những người vợ nhớ chồng góp cho Đất nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm in góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non nghiên
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…
Gợi ý trả lời: Xem mục 4, phần kiến thức cơ bản
Trang 27- Từng làm diễn viên múa, làm báo, biên tập viên báo Văn nghệ, biên tập viên nhà xuất bản Tác phẩm mới, ủy viênBan Chấp hành Hội nhà văn Việt Nam khoá III.
- Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ thời chống Mĩ Thơ Xuân Quỳnh làtiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diếttrong khát vọng về hạnh phúc bình dị, đời thường
- Năm 2001, Xuân Quỳnh được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
- Tác phẩm tiêu biểu: “Hoa dọc chiến hào” (1968), “Gió Lào cát trắng”(1974), “Tự hát”(1984)
2 Hoàn cảnh sáng tác
- Bài thơ được viết 29/12/1967 trong tập “Hoa dọc chiến hào”
- Xuân Quỳnh viết bài thơ “Sóng” (1967) khi đã nếm trải sự đổ vỡ trong tình yêu, nhưng bài thơ vẫn thể hiện niềmthiết tha yêu đời
- Bài thơ cho thấy ý thức về cái tôi riêng tư đã có vị trí bên cạnh cái ta cộng đồng Cái tôi này cũng ghi nhận sự mởrộng của quan niệm nghệ thuật so với thơ giai đoạn trước đó
3 Chủ đề bài thơ
Qua hình tượng sóng trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hoà hợp giữa sóng và em, bài thơ diễn tả tình yêu củangười phụ nữ thiết tha nồng nàn, chung thuỷ, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người Từ
đó thấy được tình yêu là một tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người
4 Nội dung, nghệ thuật
a Ý nghĩa hình tượng “Sóng”
“Sóng” là hình ảnh ẩn dụ của tâm hồn người con gái với trái tim rạo rực khao khát yêu thương.
b Trạng thái tâm lý đặc biệt của tâm hồn người con gái đang yêu (khổ 1, 2)
Từ những đặc tính đối cực của sóng (“dữ dội”,“ ồn ào”” và “dịu êm”, lặng lẽ”), Xuân Quỳnh phát hiện ra trạng
thái phong phú, phức tạp, đối lập trong trái tim người phụ nữ đang yêu; cũng có lúc khát khao cháy bỏng, cũng có lúctha thiết, nồng nàn đi vào chiều sâu thương nhớ
- Người con gái đang yêu muốn vượt ra khỏi những cái tầm thường hạn hẹp, vươn tới những cái rộng lớn bao la để tựkhám phá và nhận thức:
“Sông không hiểu nổi mình
Bồi hồi trong ngực trẻ”
c Nhu cầu phân tích lí giải tình yêu (khổ 3,4)
Khi tình yêu đến, như tâm lí tự nhiên và thường tình, người ta có nhu cầu tự tìm hiểu và phân tích Nhưng tìnhyêu là hiện tượng tâm lí khác thường, đầy bí ẩn không thể giải thích được câu hỏi về khởi nguồn của nó, về thời điểmbắt đầu của một tình yêu.Tình yêu cũng giống như sóng biển, như gió trời, làm sao mà hiểu hết được Nó cũng tựnhiên, hồn nhiên như thiên nhiên và cũng khó hiểu nhiều bất ngờ như thiên nhiên:
“Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu ?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau”
“Em cũng không biết nữa” là tâm trạng bối rối rất nữ tính và đáng yêu của một tấm chân tình không ham phân tích
rạch ròi dẫu đòi hỏi nhận thức mãnh liệt
Đây là cách cắt nghĩa tình yêu rất Xuân Quỳnh - một cách cắt nghĩa nữ tính và trực cảm
d Nỗi nhớ tình yêu (khổ 5 )
“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước”
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Trong ba câu thơ, hình ảnh sóng lặp lại ba lần như điệp khúc của một bản tình ca với những giai điệu da diết, như
ám ảnh thường trực về tình yêu và nỗi nhớ Ba câu thơ gắn liền vói hình ảnh sóng giống như những đợt sóng gối lên nhau, hối hả vươn tới bờ Đó cũng là một ẩn dụ nghệ thuật về những đợt sóng lòng đang dâng trào trong tâm hồn người
phụ nữ đang yêu
Mượn hình tượng con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được để diễn tả nội nhớ da diết, mạnh mẽ của người
phụ nữ khi yêu nhưng với Xuân Quỳnh dường như điều đó chưa đủ Một lần nữa nhà thơ phát biểu trực tiếp:
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
Nhớ ngập đầy cõi lòng, không chỉ trong ý thức mà còn trong cả tiềm thức
e Ước nguyện thủy chung (khổ 6,7)
Trang 28Hai khổ thơ vừa khẳng định vừa thể hiện ước nguyện thuỷ chung của người phụ nữ trong tình yêu Chọn cáchnói ngược:
“Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam”
Xuân Quỳnh muốn khẳng định: Dù cuộc đời có nghịch lí, trái ngang đến mức nào thì em cũng vẫn chỉ hướng về một
"phương'' duy nhất - phương anh
Như chưa thoả mãn với sự khẳng định ấy, nhà thơ còn nhấn mạnh thêm qua hình ảnh sóng:
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Sóng khát khao tới bờ như em khao khát có anh Sóng vượt qua mọi trở ngại để tới bờ như em bước qua mọikhó khăn, cách trở để cập bến hạnh phúc
f Một thoáng lo âu, khát vọng tình yêu vĩnh hằng (hai khồ cuối)
Xuân Quỳnh là người nhạy cảm với sự chảy trôi của thời gian Ý thức về thời gian trong chị thường đi liền với niềm
lo âu và khát khao nắm lấy hạnh phúc trong hiện tại Tuy lúc này thời gian với Xuân Quỳnh dường như còn ở cả phíatrước, cuộc đời còn rộng dài nhưng ý thức về sự hữu hạn của đời người và sự mong manh khó bền chặt của hạnh phúc
đã hiện ra thành một thoáng âu lo:
“Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa”
Sau những vần thơ về cái vĩnh hằng, trường cửu của thiên nhiên, ta vẫn nhận ra cái hiện thực đối lập: sự hữuhạn, nhỏ bé của đời người, sự ngắn ngủi, mong manh sương khói của tình yêu
Xuân Quỳnh đã chọn cho mình một cách ứng xử thật tích cực và thật đẹp Chị không chán nản, tuyệt vọng mà
trái lại càng khao khát được sống hết mình trong tình yêu Chị ước muốn được hoá thân thành trăm con sóng nhỏ để
vĩnh viễn hoá tình yêu của mình, để cho nó sống mãi với thời gian, nhịp bước cùng năm tháng:
“Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ ”
Như vậy, hành trình của sóng, của tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu có một sự vận động rất nhất quán dù
ý thơ đôi chỗ có vẻ tự do, tản mạn Đó là "cuộc hành trình mà khởi đầu là sự từ bỏ cái chật chội, nhỏ hẹp để tìm đếnmột tình yêu bao la, rộng lớn, cuối cùng là khát vọng được sống hết mình trong tình yêu, muốn hoá thân vĩnh viễnthành tình yêu muôn thuở'' (Trần Đăng Suyễn) Trước sau, Xuân Quỳnh vẫn là nhà thơ của những khát vọng tình yêu
và hạnh phúc cao đẹp, đáng trân trọng
* Nghệ thuật:
- Thể thơ năm chữ, không có ngừng ngắt như để chuyển tải làn sóng tình cảm đang dâng tràn
- Giọng thơ sôi nổi, tha thiết, sâu lắng
- Xây dựng hình tượng sóng độc đáo
II LUYỆN TẬP
1 Hiểu gì về hoàn cảnh ra đời bài thơ “Sóng”?
Gợi ý trả lời: Xem mục 2, phần kiến thức cơ bản.
2 Nhận xét về âm điệu, nhịp điệu bài thơ “Sóng” Âm điệu, nhịp điệu đó tạo nên bởi những yếu tố nào?
Gợi ý trả lời: Âm điệu bài Sóng dược tạo bởi hai yếu tố chính:
- Thứ nhất là thể thơ: thể thơ năm chữ tự nó đã có khả năng gợi đến cái nhịp nhàng của sóng (Biển của Xuân Diệucũng chọn thể thơ này) Xuân Quỳnh đã rất linh hoạt, phóng túng khi ngắt nhịp, phối âm, luân phiên bằng - trắc đểkhắc hoạ nhịp sóng khi dịu êm, khoan thai, khi dồn dập, dữ dội, dạt dào, v.v
- Thứ hai là phương thức tổ chức ngôn từ, hình ảnh: Sóng mượn hình tượng con sóng biển để diễn đạt những lớp sónglòng nhiều cung bậc, sắc thái cảm xúc nên âm điệu bài thơ là sự hoà trộn thanh âm, nhịp điệu của sóng với những trăntrở, khát khao, nhớ thương, hờn giận đan xen, tiếp nối trong cõi lòng người con gái đang yêu Theo Chu Văn Sơn,Xuân Quỳnh đã "triệt để tận dụng lối tổ chức theo nguyên tắc tương xứng, hô ứng, trùng điệp Nhất là việc tạo ra cáccặp từ, các vế câu các cặp câu thậm chí ngay cả các khổ thơ cũng hình thành các cặp đi liền kề, kế tiếp luân phiên đắpđổi nhau về bằng - trắc nữa" Nhờ đó qua âm điệu, người đọc dễ liên tưởng đến hình ảnh những con sóng trập trùng vôtận trên mặt biển
- Hình tượng sóng được khắc họa toàn vẹn qua mạch kết nối các khổ thơ: mỗi khổ là một khám phá về sóng Songhành với sóng là em Cấu trúc song trùng này tạo thành chiều sâu nhận thức và nét độc đáo cho bài thơ: mọi tính chất
của sóng đều được quy chiếu về bản năng nữ, hướng tới cắt nghĩa bản chất tình yêu (Dữ dội và dịu êm - Ồn ào và lặng
Trang 29lẽ) Đó là những thái cực luôn chuyển động, chuyển hoá Vì là con sóng nữ tính nên nó không huỷ diệt mà đổ về " dịu êm", lặng lẽ" - bản năng muôn đời của người phụ nữ
4 Hãy cho biết chủ đề bài thơ “sóng” ?
Gợi ý trả lời: Xem mục 3, phần kiến thức cơ bản.
5 Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Anh (chị) cảm nhận gì về vẻ đẹp tâm hồn người phụ
nữ trong tình yêu qua hình tượng này?
Gợi ý trả lời: Xem mục 4, phần kiến thức cơ bản.
ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA
THANH THẢO
I ĐỊNH HƯỚNG KIẾN THỨC CƠ BẢN
A Tác giả:
1 Tiểu sử và quá trình sáng tác của Thanh Thảo
2 Đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ Thanh Thảo
B Tác phẩm:
1 Xuất xứ.
2 Chủ đề.
3 Ý nghĩa của hình ảnh “đàn ghi ta” của Lor-ca đề cập trong bài thơ.
4 Vẻ đẹp của hình tượng Lor-ca trong mạch cảm xúc và suy tư đa chiều sâu sâu sắc, mãnh liệt của tác giả:
- Một công dân Lor-ca với khát vọng tự do và kiên cường đấu tranh cho tự do, chống chế độ độc tài Tây Ban Nha lúc bấy giờ
- Một nghệ sĩ Lor-ca với khát vọng cách tân nền nghệ thuật già nua, lạc hậu của Tây Ban Nha lúc bấy giờ
5 Vẻ đẹp riêng trong hình thức biểu đạt mang phong cách hiện đại của tác giả
Nghệ thuật thể hiện của tác giả: mang dấu ấn phong cách tượng trưng, siêu thực (qua hình ảnh, cấu trúc…bài thơ)
6 Bố cục bài thơ:
- Đoạn 1 (6 dòng đầu): Hình ảnh Lor-ca, con người tự do, nghệ sĩ cách tân trong khung cảnh chính trị và nghệ thuật Tây Ban Nha
- Đoạn 2 (12 dòng tiếp theo): Hình ảnh Lor-ca bị hạ sát và nỗi xót xa về sự dang dở của khát vọng cách tân
- Đoạn 3 (4 dòng tiếp theo): Niềm xót thương Lor-ca và nỗi tiếc nuối những cách tân nghệ thuật của Lor-ca không ai tiếp tục
- Đoạn 4 (9 dòng cuối): Sự suy tư về cuộc giải thoát và cách giã từ của Lor-ca
7 Phân tích nội dung từng đoạn thơ (theo bố cục)
II LUYỆN TẬP
1 Phân tích đoạn thơ đầu ( “những tiếng đàn bọt nước… trên yên ngựa mỏi mòn”)
Gợi ý:
Hình ảnh Lor-ca, con người tự do, nghệ sĩ cách tân trong khung cảnh chính trị và nghệ thuật Tây Ban Nha:
- Hình ảnh Lor-ca trong bối cảnh chính trị, nghệ thuật Tây Ban Nha được giới thiệu bằng những nét chấm phá
mang dấu ấn nghệ thuật ấn tượng có sức gợi qua những chi tiết: “những tiếng đàn bọt nước – Tây Ban Nha áo choàng
đỏ gắt - …trên yên ngựa mỏi mòn”, vừa giúp ta hình dung về Lor-ca, vừa gợi liên tưởng đến khung cảnh một đấu
trường (“Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt”), mà ở đó, đang diễn ra cuộc đấu giữa khát vọng dân chủ của công dân
Lor-ca với nền chính trị độc tài, giữa khát vọng cách tân nghệ thuật của nghệ sĩ Lor-Lor-ca với nền nghệ thuật già nua, lạc hậu
- Trong cuộc đấu này, công dân Lor-ca, nghệ sĩ Lor-ca là kẻ đơn độc: “những tiếng đàn bọt nước” gợi ra sự mong manh; những từ “lang thang”, “đơn độc”, “chếnh choáng”, “mỏi mòn” trong các dòng thơ tiếp theo gợi ra hình ảnh
Lor-ca hoàn toàn đơn độc trong cuộc hành trình thực hiện khát vọng cao cả
Lor-ca là người đi tiên phong trong cuộc đấu lớn, Lor-ca là điểm khởi đầu cho quá trình đổi thay về sau, nên sựmong manh của khát vọng và sự đơn độc như là một tất yếu, nhưng nó đã đánh dấu một khởi sự tốt đẹp
2 Phân tích đoạn thơ 2 (“Tây Ban Nha – hát nghêu ngao - …tiếng ghi ta ròng ròng – máu chảy”)
Gợi ý:
Hình ảnh Lor-ca bị sát hại và nỗi xót xa về sự dang dở của khát vọng cách tân:
- Cái chết bất ngờ đến với Lor-ca: “Tây Ban Nha – hát nghêu ngao – bỗng kinh hoàng – áo choàng bê bết đỏ” Cảnh Lor-ca bị hành hình lúc đầu được diễn tả bằng hình ảnh thực: “áo chàng bê bết đỏ”, “Lor-ca bị điệu về bãi bắn – chàng
đi như người mộng du”, và cái chết ấy đã tạo ra cơn sốc dây chuyền được diễn tả theo lối tượng trưng, liên tục chuyển
đổi cảm giác, qua hệ thống âm thanh vỡ ra thành màu sắc: “tiếng ghi ta nâu”, “tiếng ghi ta lá xanh biết mấy”; thành hình khối: “tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan”; thành dòng máu chảy: “tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy”
- Vì “đàn ghi ta” được nhà thơ nói đến trong bài thơ là biểu tượng sự nghiệp nghệ thuật của Lor-ca, gắn liền và làm
nên ý nghĩa cuộc đời Lor-ca, nên khi Lor-ca bị kẻ thù của tự do, dân chủ là chế độ độc tài lúc bấy giờ giết hại thì sự
nghiệp nghệ thuật của Lor-ca cũng chấm dứt Nhà thơ Thanh Thảo đã dùng “tiếng đàn” như một cách nói, để chỉ cả
cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của Lor-ca
3 Phân tích đoạn 3 (“không ai chôn cất tiếng đàn -….long lanh trong đáy giếng”)
Gợi ý:
Niềm xót thương Lor-ca và sự nuối tiếc cho những cách tân nghệ thuật của Lor-ca không có ai tiếp tục:
Trang 30- Lời di chúc của nhà thơ cách tân Lor-ca mà Thanh Thảo lấy làm lời đề từ cho bài thơ của mình gợi nhắc đến ý muốn,nguyện vọng của Lor-ca là khi mình chết muốn mọi người chôn mình với cả sự nghiệp nghệ thuật của mình, vì khôngmuốn đến một lúc nào đó nó trở thành vật cản trong cuộc cách tân nghệ thuật của những người đi sau Lor-ca mongmuốn cách tân là sự đổi mới liên tục, chứ không phải bắt chước người đi trước Nhưng vì lòng ngưỡng mộ một nhà
cách tân tài năng nên “không ai chôn cất tiếng đàn”
- Lor-ca chết là một mất mát lớn cho nền nghệ thuật Tây Ban Nha Nhà thơ Thanh Thảo xót thương cái chết của mộttài năng, xót xa cho sự cách tân dang dở không chỉ với riêng với Lor-ca mà còn với nền văn chương Tây Ban Nha Vì
nhà cách tân Lor-ca chết, nghệ thuật thiếu người dẫn đường, trở thành thứ “cỏ mọc hoang”
Không ai muốn thực hiện lời di chúc của Lor-ca vì ngưỡng mộ, nhưng cũng chẳng có ai tiếp nối sự nghiệp cáchtân mà Lor-ca đang làm dở dang…
- Nguyễn Tuân sáng tác từ những năm 1930, nổi tiếng từ năm 1938 với tác phẩm “Vang bóng một thời”.
- Sau Cách mạng tháng Tám, ông nhiệt tình tham gia Cách mạng, tham gia kháng chiến và trở thành cây bút tiêu
biểu cho nền văn học mới Ông chuyên viết bút kí và tùy bút (“Sông Đà”, “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi”…) Văn Nguyễn
Tuân rất đặc sắc với lối viết tài hoa – đặc sắc
- 1948 – 1958 Nguyễn Tuân là Tổng thư ký hội Văn nghệ Việt Nam
- 1996 được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí minh về văn học nghệ thuật
2 Con người
Nguyễn Tuân là một tri thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc Lòng yêu nước của ông thể hiện qua việcyêu những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc, yêu tiếng mẹ đẻ, yêu phong cảnh, yêu những thú chơi tao nhã…Nguyễn Tuân có ý thức cá nhân phát triển cao Ông viết văn để khẳng định cái tôi độc đáo Nguyễn Tuân thích
du lịch theo chủ nghĩa “xê dịch” Nguyễn Tuân sống tự do phóng khoáng
Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa Ông am hiểu hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh… Ông từng làdiễn viên kịch, điện ảnh
Nguyễn Tuân là nhà văn biết quý trọng thật sự nghề viết văn Ông coi nghệ thuật là một hình thái lao độngnghiêm túc, thậm chí “khổ hạnh”
3 Quá trình sáng tác
Nguyễn Tuân sáng tác từ những năm 1930, nổi tiếng từ năm 1938 viết nhiều thể loại: bút ký, truyện ngắn, thơ…Đặc biệt thành công ở tùy bút – bút kí
a Trước Cách mạng tháng Tám: Nguyễn Tuân sáng tác 3 đề tài chính:
- Đề tài “chủ nghĩa xê dịch”: ghi lại vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước (“Một chuyến đi”)
- Đề tài “vẻ đẹp quá khứ”: ca ngợi những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc (“Vang bóng một thời”)
- Đề tài “đời sống trụy lạc”: nhưng thể hiện niềm khao khát một thế giới thanh cao tinh khiết (“Chiếc lư đồng mắt
cua”)
b Sau Cách mạng tháng Tám: Nguyễn Tuân đem ngòi bút tài hoa – uyên bác phục vụ kháng chiến, viết những
bài ký và tùy bút về nhân dân, người chiến sĩ, ca ngợi đất nước
- Ông viết về vẻ đẹp, nhiệm vụ của đất nước trong chiến đấu “Tùy bút kháng chiến” và sản xuất “Đường vui”
- Viết về nhân dân lao động “Sông Đà” (1960) và người chiến sĩ “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” (1972).
4 Phong cách nghệ thuật
Văn Nguyễn Tuân rất độc đáo và sâu sắc với tính chất tài hoa, uyên bác, thể văn sở trường là tùy bút và được biếnđổi theo thời gian
a Trước Cách mạng tháng Tám: Văn Nguyễn Tuân có phong cách “ngông” “Ngông” là thái độ khinh đời dựa trên sự
tài hoa - uyên bác và nhân cách hơn người của mình
- Nhân vật của Nguyễn Tuân dù là loại người nào đều được quan sát chủ yếu ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ
- Văn Nguyễn Tuân thể hiện tính cách phi thường, những tình cảm mãnh liệt với sự độc đáo, tài hoa phong phú
- Ông hay tô đậm cái siêu phàm, thích miêu tả gió bão thác dữ…
- Nguyễn Tuân thường sử dụng kiến thức nhiều ngành như lịch sử, điêu khắc, quân sự, hội họa, âm nhạc… để viết văn
b Sau Cách mạng tháng Tám: Văn Nguyễn Tuân vẫn giữ được chất tài hoa uyên bác nhưng có sự thay
đổi:
- Ông tìm thấy chất tài hoa ở những nhân vật đại chúng: anh bộ đội, ông lái đò…
- Nguyễn Tuân viết với một giọng văn tin yêu đôn hậu
- Nguyễn Tuân không còn đối lập xưa với nay mà tìm thấy sự gắn bó giữa quá khứ - hiện tại – tương lai
c Thể văn sở trường của Nguyễn Tuân là tùy bút
Tùy bút là thể văn cho phép cảm xúc tuôn trào, trí tưởng tượng được thể hiện tự nhiên, rất tự do, phóng túng
Trang 31Đặc biệt ngôn ngữ văn chương phóng túng, sinh động, giàu hình ảnh Câu văn xuôi giàu tính tạo hình và tínhnhạc cao Mạch văn biến hóa, linh hoạt.
Nguyễn Tuân luôn tìm tòi và sáng tạo trong cách diễn đạt Ông đã sáng tạo ra nhiều từ ngữ mới, hình ảnh độcđáo… Nguyễn Tuân đã đóng góp lớn cho sự phát triển của thể loại tùy bút
II LUYỆN TẬP
1 Hãy trình bày đặc điểm con người Nguyễn Tuân ?
Gợi ý trả lời: Xem mục 2, phần kiến thức cơ bản.
2 Trình bày quá trình sáng tác của Nguyễn Tuân ?
Gợi ý trả lời: Xem mục 3, phần kiến thức cơ bản.
3 Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân ?
Gợi ý trả lời: Xem mục 4, phần kiến thức cơ bản.
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
NGUYỄN TUÂN
I ĐỊNH HƯỚNG KIẾN THỨC CƠ BẢN
1 Xuất xứ tác phẩm
2 Chủ đề tác phẩm
3 Nội dung chính của tập tuỳ bút “Sông Đà”
4 Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm:
a Đặc điểm hình tượng sông Đà:
- Biện pháp nghệ thuật so sánh, ví von
- Lối viết liên tưởng “tạt ngang”
- Vận dụng tri thức phong phú từ các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật khác trong miêu tả
II LUYỆN TẬP
1 Hãy nêu xuất xứ và chủ đề tác phẩm.
Gợi ý trả lời:
- Xuất xứ: Là bài tuỳ bút được in trong tập “Sông Đà” của Nguyễn Tuân
- Chủ đề: Bằng tình yêu thiết tha, say đắm, qua tác phẩm của mình, Nguyễn Tuân đã ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ, trữ tình,thơ mộng của thiên nhiên và vẻ đẹp tâm hồn những con người lao động bình dị miền Tây Bắc
2 Hãy nêu nội dung chính của tập tuỳ bút “Sông Đà”.
Gợi ý trả lời:
Là thành quả nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong chuyến đi thực tế Tây Bắc, tập tuỳ bút đã khắc hoạ thành công vẻđẹp của thiên nhiên và vẻ đẹp tâm hồn những con người lao động và chiến đấu trên miền núi hùng vĩ và thơ mộng này
3 Phân tích vẻ đẹp hình tượng sông Đà.
Gợi ý trả lời:
Vẻ đẹp hình tượng sông Đà
- Vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội… thể hiện qua các chi tiết hình ảnh:
+ Bờ sông đá dựng vách thành, hiểm trở
+ Sức mạnh của những cái “hút nước”
+ Sức mạnh của thác qua cách miêu tả âm thanh nghe từ xa đến gần
+ Sức mạnh của sóng nước
+ Những “trùng vi thạch trận” gồm nhiều vòng.
- Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng thể hiện qua các chi tiết hình ảnh ở những vị trí quan sát khác nhau:
+ Quan sát xa, từ trên cao (máy bay); sông Đà mềm mại, xinh xắn như sợi dây thừng ngoằn ngoèo dưới chân mình; thơ
mộng và duyên dáng như một “áng tóc trữ tình” thấp thoáng trong làn mây mùa xuân, sắc đỏ của hoa ban, hoa gạo
tháng hai, và màu khói huyền ảo người Mèo đốt nương xuân
+ Quan sát gần, dưới mặt đất: mặt sông lấp lánh trong màu nắng; dòng sông mùa xuân xanh màu ngọc bích; cảnh bờ
bãi sông Đà mang vẻ đẹp “hoang dại như một bờ tiền sử”, thơ mộng “hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”
với các hình ảnh chuồn chuồn bươm bướm bay lượn; cảnh ven sông lặng tờ, nương ngô nhú lên mấy lá non đầu mùa,
cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp, một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh còn đẫm sương đêm; đàn cá dầmxanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như rơi thoi
4 Phân tích vẻ đẹp hình tượng người lái đò sông Đà.
Gợi ý:
- Vẻ đẹp anh hùng:
Trang 32+ Nghề chèo đò trên sông Đà là một nghề thật nguy hiểm Cuộc sống của người lái đò sông Đà là một cuộc chiến đấu
hằng ngày với thiên nhiên “để giành sự sống từ tây nó về tay mình” Mỗi lần chèo đò vượt thác là một lần thử thách tính mạng mình, “giành lấy cái sống từ tay những cái thác”
+ Hình ảnh người lái đò trong một lần vượt thác tiêu biểu: Phải vượt qua ba “trùng vi thạch trận” sóng dữ, đá ngầm
nguy hiểm: vòng vây thứ nhất gồm năm cửa, bốn cửa tử, một cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn; vòng thứ hai tăng thêmnhiều cửa tử, còn cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn; vòng vây thứ ba ít cửa hơn, bên phải bên trái đều làluồng chết, còn luồng sống lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác Thế trận ấy quả là thử thách khắc nghiệt tàinăng và bản lĩnh người lái đò khi phải đối diện (lược thuật diễn biến cuộc vượt thác theo từng chặng)
+ Nhưng với kinh nghiệm, lòng dũng cảm, bản lĩnh, sự thông minh khéo léo trong phán đoán, xử lí tình huống, dù giannan, bị thương, người lái đò đã chiến thắng
+ Sau cuộc vượt thác gian khổ thành công, nhưng sau đó chẳng ai bàn thêm một lời nào về chiến thắng vừa qua.Cái cách chiến thắng ấy gợi ra những phẩm chất của một người anh hùng
- Vẻ đẹp nghệ sĩ:
+ Sự khéo léo trong cách xử lí mọi tình huống nguy hiểm, thái độ điềm tĩnh, tự tin, tư thế ngạo nghễ cao vời
+ Sự phối hợp động tác lái đò vượt thác nhanh, gọn, chính xác, điêu luyện đến mức ngoạn mục, nhất là hình ảnh conthuyền cưỡi lên bờm sóng, lượn vun vút như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước vượt qua thác dữ, đã gây ấntượng người lái đò như một nghệ sĩ tài năng trong nghệ thuật vượt thác
AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?
HOÀNG PHỦ NỤOC TƯỜNG
I ĐỊNH HƯỚNG KIẾN THỨC CƠ BẢN
C Nội dung đoạn trích:
Vẻ đẹp của sông Hương nhìn từ nhiều phương diện, mối quan hệ khác nhau:
1 Sông Hương nhìn từ cội nguồn
2 Sông Hương nhìn trong mối quan hệ với kinh thành Huế
3 Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc, cuộc đời và thi ca
II LUYỆN TẬP
1 Hãy nêu những nét vắn tắt về tiểu sử tác giả.
Gợi ý trả lời:
- Sinh 1937 tại Huế (quê gốc ở Quảng Trị)
- Học hết Trung học tại Huế, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn (1960) và Đại học Huế (1964)
- 1966 thoát li lên chiến khu tham gia kháng chiến chống Mĩ bằng hoạt động văn nghệ
- Từng là Tổng thư kí Hội Văn học nghệ thuật Trị Thiên – Huế, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên,Tổngbiên tập tạp chí “Cửa Việt”
2 Hãy nêu tên một vài tác phẩm và nét đặc sắc trong sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Gợi ý trả lời:
- Vài tác phẩm tiêu biểu: Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971), Ai đã đặt tên cho dòng sông? (1986), Ngọn núi ảo
ảnh (1999)
- Nét đặc sắc trong sáng tác: Sự kết hợp giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc sảo và tư duy đa chiềuđược tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hoá, lịch sử, địa lí…Tất cả được thể hiện qua lối viết vănhướng nội, súc tích, lịch lãm và tài hoa
3 Hãy nêu chủ đề và bố cục của đoạn trích.
Gợi ý trả lời:
- Chủ đề: Vẻ đẹp đa dạng và sinh động của sông Hương nhìn từ nhiều góc độ, mối quan hệ được thể hiện qua tình yêuđắm say và ngòi bút tinh tế, lịch lãm và tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Bố cục:
+ Đoạn 1 ( từ đầu đến “dưới chân núi Kim Phụng”): Sông Hương nhìn từ cội nguồn
+ Đoạn 2 ( tiếp theo đến “quê hương xứ sở”): Sông Hương nhìn trong mối quan hệ với kinh thành Huế
+ Đoạn 3 (còn lại): Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc, cuộc đời và thi ca
4 Phân tích vẻ đẹp của sông Hương nhìn từ cội nguồn.
Gợi ý:
Vẻ đẹp của sông Hương từ cội nguồn đó là sức sống mãnh liệt, hoang dại, nhưng cũng dịu dàng, đắm say:
Trang 33- Sức sống mãnh liệt qua hình ảnh ghềnh thác “cuộn xoáy như cơn lốc”, như là “bản trường ca của rừng già, rầm rộ
giữa bóng cây đại ngàn”, khi đi qua Trường Sơn, sông Hương giống như “một cô gái Di-gan phóng khoáng mà man dại”
- Dịu dàng, đắm say giữa “những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng” “Rừng đã hun đúc cho nó một bản
lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do, trong sáng”
5 Vẻ đẹp của sông Hương khi về đồng bằng, nhìn trong mối quan hệ với kinh thành Huế?
Gợi ý:
- Khi chảy xuôi về đồng bằng, nhất là giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại, sông Hương giống như “cô gái đẹp ngủ
mơ màng” Ngay sau khi ra khỏi vùng núi, sông Hương lại bừng lên sức sống tươi trẻ, như nàng tiên được đánh thức
bỗng bừng lên sức trẻ và niềm khao khát của tuổi thanh xuân qua sự “chuyển dòng liên tục”, “những khúc quanh đột
ngột”, vẽ một hình cung thật tròn “ôm lấy chân đồi Thiên Mụ”, rồi “trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững”
- Sông Hương có lúc “mềm mại như tấm lụa”, có khi ánh lên “những phản quang nhiều màu sắc”, có lúc lại mang “vẻ
đẹp trầm mặc” khi qua lăng tẩm, đền đài, có lúc lại bừng sáng, tươi tắn, trẻ trung khi gặp “tiếng chuông Thiên Mụ ngân nga giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”
6 Vẻ đẹp của sông Hương khi chảy vào thành phố?
Gợi ý:
- Như tìm thấy chính mình khi gặp thành phố thân yêu, sông Hương “vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh
biếc…”, rồi “mềm hẳn đi” như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu khi uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn
Hến
- Khi nằm giữa ngay giữa lòng thành phố thân yêu của mình, những chi lưu của nó tạo những đường nét thật tinh tếlàm nên vẻ đẹp cổ kính của cố đô Sông Hương đẹp như điệu slow chậm rãi, sâu lắng, trữ tình Sông Hương giống nhưmột người tình dịu dàng, chung thuỷ
- Rời khỏi kinh thành, sông Hương ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói rồi lưu luyến ra đi giữamàu xanh biếc của tre trúc và những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ Nhưng rồi lại đột ngột đổi dòng để gặp lại thành
phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ Khúc quanh đó tựa như một “nỗi vương vấn” mang “chút lẳng lơ kín đáo
của tình yêu”
VỢ CHỒNG A PHỦ
TÔ HOÀI
I KIẾN THỨC CƠ BẢN
1 Tác giả: Tô Hoài sinh năm 1920, tại quê ngoại là làng Nghĩa Đô, Hà Nội Ông sáng tác từ trước Cách mạng tháng
Tám 1945 Từ Cách mạng tháng Tám đến nay, ông vẫn viết đều và viết nhiều Tác phẩm của Tô Hoài phong phú về đềtài và thể loại, thể hiện vốn hiểu biết đa dạng, lời văn giàu chất tạo hình với lối kể chuyện sinh động…
Những tác phẩm chính: Dế mèn phiêu lưu ký (1941), Nhà nghèo (1944), Truyện Tây Bắc (1953), Cát bụi chân ai
(1992)
2 Tác phẩm:
a/ Tóm tắt tác phẩm: Mị là một cô gái H.Mông trẻ đẹp, giỏi lao động, có tài thổi sáo, thổi kèn lá rất hay, nhiều trai làng
mê và Mị đã có người yêu Nhưng vì món nợ truyền kiếp, nên Mị bị bắt về làm dâu gạt nợ cho nhà Thống lý Pá Tra
Do Mị bị áp bức, bị bóc lột nặng nề nên đã có lần định tự tử Thương bố Mị cam chịu kiếp sống đọa đày A phủ là mộtthanh niên khỏe mạnh, lao động giỏi, được nhiều cô gái yêu thích, nhưng A Phủ không lấy được vợ vì quá nghèo Vào
một đêm xuân, A Phủ và A Sử (con thống lý Pá Tra) xảy ra việc đánh nhau A Phủ bị bắt và trở thành nô lệ cho nhà
thống lý Pá Tra Vì sơ ý để mất một con bò A Phủ bị Pá Tra trói đứng mấy ngày đêm Mị cảm thông, cởi trói cho APhủ và sợ cha con thống lý bắt trói thay vào chỗ của A Phủ nên bỏ trốn cùng anh Hai người đến Phiềng Sa, thành vợchồng Mị và A Phủ giác ngộ cách mạng cùng dân làng chống bọn thực dân Pháp và bọn tay sai
b/ Xuất xứ- hoàn cảnh sáng tác: Truyện Vợ chồng A Phủ là một trong ba truyện của tập Truyện Tây Bắc Đây là kết
quả chuyến đi thực tế của Tô Hoài cùng bộ đội về giải phóng Tây Bắc (1952) Đoạn trích thuộc phần đầu của truyện
Vợ chồng A Phủ kể về cuộc đời của Mỵ và A Phủ ở Hồng Ngài
c/ Nội dung chính:
- Mị: Là nhân vật chính- nhân vật được nhà văn dụng công thể hiện nhiều nhất Mị vốn là một cô gái xinh đẹp ở Hồng
Ngài, nhưng chưa kịp lớn lên Mị phải gánh trên vai món nợ truyền kiếp từ đời cha mẹ Không trả được nợ, cha conthống lý bắt Mị về làm dâu gạt nợ Mị trở thành đứa con dâu hờ, trở thành người ở không công cho nhà thống lý Pá
Tra Ngày qua ngày, Mị sống “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” Mị nín lặng, âm thầm chịu đựng số phận như
bao người đàn bà khác ở Hồng Ngài bị rơi vào nhà thống lý Pá Tra Mặt khác, ở người đàn bà bất hạnh này, vẫn tiềmtàng một sức sống thật bền bỉ, mãnh liệt, một khát vọng hạnh phúc lớn lao; hễ gặp cơ hội thuận lợi thì sức sống đó,khát vọng đó lại trỗi dậy mạnh mẽ Tô Hoài đã dụng công miêu tả diễn biến tâm lý của nhân vật trong quá trình pháttriển phong phú, phức tạp
Ngay sau khi bị bắt làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lý Pá Tra, Mị đã cầm nắm lá ngón về nhà định lạy chàovĩnh biệt cha rồi tự tử Ý thức về cuộc sống tủi nhục của mình, không chấp nhận cuộc sống đó, lòng ham sống, khát
vọng tự do khiến Mị định tìm đến cái chết như một phương tiện giải thoát Thương bố, Mị không nỡ chết Rồi “ở lâu
trong cái khổ Mỵ quen khổ rồi ” Tưởng rằng Mị an phận chấp nhận cuộc sống trâu ngựa, nhưng đêm tình mùa xuân đã
đến, lòng ham sống, niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi ở Mị trỗi dậy (Cô thả hồn theo tiếng sáo gọi bạn tình, nhớ lại
ngày xuân tươi đẹp và xử sự như một người được tự do) Nhưng lập tức nó bị vùi dập phủ phàng.