Nguồn vốn FDI phân bố rộng rãi vào nhiều tỉnh và thành phố trên khắp cả nước, các lĩnh vực tiếp nhận vốn đầu tư cũng được mở rộng tạo điều kiện cho việc tiếp nhận trình độ khoa học kỹ th
Trang 1TIỂU LUẬN: QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
ĐẦU TƯ FDI VÀ VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm
Lớp: K29.QTR.ĐN
Nhóm thực hiện: Trương Thị Kim Cương
Nguyễn Thị Thu Hoài
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Với xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, không một nước nào trên thế giới có thể đơn phương phát triển về kinh tế Vì thế, các nước luôn cần phải tăng cường hợp tác với nhau trên nhiều mặt, trong đó lĩnh vực đầu tư nước ngoài là yếu tố then chốt Qua việc tìm hiểu tình hình xu hướng phát triển FDI trên thế giới thì rất dễ dàng nhận thấy sự phát triển nhanh chóng của nó và ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của 1 quốc gia, 1 vùng kinh tế nói riêng và cả nền kinh tế thế giới nói chung
Trải qua khoảng một thời gian dài mở cửa nền kinh tế kêu gọi đầu tư, Việt Nam nhận được nguồn vốn FDI từ rất nhiều quốc gia trên thế giới với nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau Nhưng đặc biệt trong những năm gần đây nguồn vốn FDI đổ vào Việt Nam không ngừng tăng lên và vượt xa so với những năm trước và liên tiếp lập những mốc kỷ lục mới về tổng mức vốn đầu tư Nguồn vốn FDI đổ vào nước ta không chỉ là tăng về số lượng các dự án mà tăng về cả qui mô và chất lượng của các dự án Nguồn vốn FDI phân bố rộng rãi vào nhiều tỉnh và thành phố trên khắp cả nước, các lĩnh vực tiếp nhận vốn đầu tư cũng được mở rộng tạo điều kiện cho việc tiếp nhận trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý kinh tế tầm cao, giải quyết công ăn việc làm cho lao động trong nước FDI trở thành một trong những nguồn cung cấp vốn quan trọng cho nền kinh
tế, là động lực thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển, tạo nên tính năng động và cạnh tranh cho thị trường
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực mà nguồn vốn đầu tư nước ngoài FDI mang lại thì cũng không ít mặt tiêu cực từ vấn đề này, trong đó vấn đề “chuyển giá” là một trong những “chiêu” mà các doanh nghiệp này thực hiện làm cho Việt Nam bị thất thu thuế, ảnh hưởng trực tiếp đến ngân sách, gây khó khăn cho công tác quản lý và ảnh hưởng đến vấn đề canh tranh trên thị trường Đứng trước vấn đề đó nhóm chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài : “Đầu tư FDI và vấn đề chuyển giá”
Trang 3PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm FDI:
- Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy
ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ
để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu
tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là
"công ty con" hay "chi nhánh công ty"
- Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, FDI là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc
gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền
sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI
- Theo WB (Ngân hàng thế giới), FDI là việc công dân của một nước thành lập hoặc
mua lại một phần đáng kể sở hữu và quản lý ít nhất là 10% vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ở nước khác
- Theo OECD (Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế), FDI bao gồm các hoạt động
kinh tế của các cá nhân, kể cả việc cho vay dài hạn hoặc sử dụng nguồn lợi nhuận tại nước sở tại nhằm mục đích tạo dựng quan hệ kinh tế lâu dài và mang lại khả năng gây ảnh hưởng thực sự về quản lý
- Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (Điều 1): FDI là việc nhà đầu tư nước
ngoài đầu tư vào Việt Nam vốn bằng tiền hay bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư
Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng chung quy lại có thể hiểu: đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là sự di chuyển vốn quốc tế xuyên qua các đường biên giới khi lợi nhuận được dự đoán ở nước ngoài cao hơn trong nước
Trang 42 Đặc điểm của FDI
- Các chủ đầu tư thực hiện đầu tư trên nước sở tại phải tuân thủ nghiêm chỉnh theo pháp luật của nước đó
- Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Hình thức này thường mang tình khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế
- Hiện tượng đa cực và đa biến trong FDI là hiện tượng đặc thù, không chỉ gồm nhiều bên với tỷ lệ góp vốn khác nhau mà còn các hình thức khác nhau của Tư Bản tư nhân và tư bản nhà nước cũng tham gia
- Tồn tại hiện tượng hai chiều trong FDI một nước vừa nhận đầu tư vừa thực hiện đầu tư ra nước ngoài nhằm tận dụng lợi thế so sánh giữa các nước
- Do nhà đầu tư muốn đầu tư vào thì phải tuân thủ các quyết định của nước sở tại nên tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định để tham gia vào điều hành doanh nghiệp nhận đầu tư của nhà đầu tư là do luật đầu tư của mỗi nước quyết định Ví dụ: theo Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam là tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án
- Các nhà đầu tư là nguồn bỏ vốn và đồng thời tự mình trực tiếp quản lý và điều hành dự án Quyến quản lý phụ thuộc vào vốn đóng góp mà chủ đầu tư đã góp trong vốn pháp định của dự án, nếu doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì họ có toàn quyền quyết định
- Nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được
- Thu nhập chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ
bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức
- Kết quả thu được từ dự án được phân chia cho các bên theo tỷ lệ vốn góp vào vốn pháp định sau khi đã nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần cho các cổ đông nếu là công ty cổ phần
- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý…đây là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được
- FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng mới hay mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đang hoạt động, thông qua việc mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau để thông tin xác nhận
3 Các hình thức FDI
Trang 53.1 Phân theo bản chất đầu tư
- Đầu tư phương tiện hoạt động
Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư
- Mua lại và sáp nhập
Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư
3.2 Phân theo tính chất dòng vốn
- Vốn chứng khoán
Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty
- Vốn tái đầu tư
Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm
- Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ
Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau
3.3 Phân theo động cơ của nhà đầu tư
- Vốn tìm kiếm tài nguyên
Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào
- Vốn tìm kiếm hiệu quả
Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v
Trang 6Hoạt động FDI có tính hai mặt với nước đầu tư cũng như nước tiếp nhận đầu tư đều có tác động tiêu cực và tác động tích cực.
4.1 Đối với nước đi đầu tư
Tác động tích cực:
- Bên đầu tư là người nước ngoài, trực tiếp điều hành và quản lí vốn nên họ có trách nhiệm cao, thường đưa ra những quyết định có lợi cho họ Vì thế họ có đảm bảo hiệu quả của vốn FDI
- Đầu tư nước ngoài mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm nguyên liệu, cả công nghệ và thiết bị trong khu vực mà họ đầu tư cũng như trên thế giới Do khai thác được nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động rẻ, thị trường tiêu thụ rộng lớn nên có thể
mở rộng quy mô, khai thác được lợi thế kinh tế của quy mô từ đó có thể nâng cao năng suất, giảm giá thành sản phẩm
- Tránh được các hàng rào bảo hộ mậu dịch và phí mậu dịch của nước tiếp nhận đầu tư với thông qua FDI chủ đầu tư hay doanh nghiệp nước ngoài xây dựng được các doanh nghiệp của mình nằm trong lòng nước thi hành chính sách bảo hộ
Tác động tiêu cực:
- Khi các doanh nghiệp thực hiện việc đầu tư ra nước ngoài thì trong nước sẽ mất
đi khoản vốn đầu tư, khó khăn hơn trong việc tìm nguồn vốn phát triển cũng như giải quyết việc làm Do đó trong nước có thể dẫn tới nguy cơ suy thoái, vì thế mà nước chủ nhà không đưa ra những chính sách khuyến khích cho việc đầu tư ra nước ngoài
- Đầu tư ra nước ngoài thì doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn trong môi trường mới về chính trị, sự xung đột vũ trang của các tổ chức trong các quốc gia hay những tranh chấp nội bộ của quốc gia hay đơn thuần chỉ là sự thay đổi trong chính sách
và pháp luật của quốc gia tiếp nhận… tất cả những điều đó đều khiến cho các doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng mất tài sản cơ sở hạ tầng Do vậy mà họ thường phải đầu
tư vào các nước ổn định về chính trị cũng như trong chính sách và môi trường kinh tế
4.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư
Tác động tích cực:
- Nhờ nguồn vốn FDI đầu tư mà có thể khai thác tốt nhất các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí Bởi các nước tiếp nhận thì thường là nước đang phát triển có tài nguyên song không biệt cách khai thác
- Tạo điều kiện để khai thác được nguồn vốn từ bên ngoài do không quy định mức vốn góp tối đa mà chỉ quyết định mức vốn góp tối thiểu cho nhà đầu tư Không những vậy, nguồn vốn FDI có thể cứu nguy cho các doanh nghiệp có nguy cơ phá sản do các chủ đầu tư nước ngoài mua lại các doanh nghiệp đó
Trang 7- Tạo điều kiện cho nước tiếp nhận có thể tiếp thu công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý và chuyển giao công nghệ Việc tiếp nhận FDI cho phép các quốc gia này “đi tắt, đón đầu”, tiếp nhận các thành tựu khoa học công nghệ và kinh nghiệm quản lý nhanh hơn, rút ngắn giai đoạn trong nghiên cứu, sáng chế và ứng dụng công nghệ, kinh nghiệm quản
lý, đồng thời có thể cải tiến, nâng tầm công nghệ sẵn có trên cơ sở tiếp thu hiệu quả công nghệ của nước đầu tư
- Giúp giải quyết những vấn đề khó khăn về thất nghiệp, lạm phát và giúp tăng trưởng kinh tế Cụ thể: gia tăng công ăn việc làm cho địa phương, qua đó nâng cao đời sống nhân dân Mặt khác, thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy quốc gia nào thực hiện chiến lược mở cửa với bên ngoài, tranh thủ và phát huy tác dụng của các nhân
tố bên ngoài, biến nó thành các nhân tố bên trong thì quốc gia đó tạo ra được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn các quốc gia khác Mà chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thường được thể hiện thông qua tổng sản phẩm quốc nội (GDP), GDP biểu hiện thông qua cơ cấu theo ngành, theo thành phần kinh tế và theo vùng Sự hiện diện của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài giúp cải thiện quy mô GDP, qua đó tốc độ tăng trưởng được cải thiện
- Tăng nguồn thu ngân sách dưới hình thức thuế Thông qua cách thức xâm nhập
này, các doanh nghiệp FDI đã vượt qua các rào cản thương mại, kỹ thuật nên khi hoạt động và chịu sự chi phối của Luật đầu tư nước sở tại, nguồn thu từ thuế hoạt động gồm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập, thuế môn bài, thuế sử dụng đất trở thành nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn trong các mục phải nộp của các doanh nghiệp FDI
- Tạo môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại, giúp các
doanh nghiệp trong nước học tập kinh nghiệm Khi các loại hình doanh nghiệp trong nước
trở nên phong phú, hình thức, tính chất cạnh tranh trở nên đa dạng hơn, môi trường kinh doanh, cạnh tranh của các doanh nghiệp thay đổi theo hướng tích cực Việc các nước phát triển tiếp nhận nguồn FDI, phần lớn xuất phát từ những nước phát triển có trình độ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, lao động chất lượng cao tương đồng sự phát triển của nước
sở tại, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước không ngừng cải thiện năng lực trên mọi mặt của hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt những kinh nghiệm lớn trong bối cảnh hiện nay gồm: kinh nghiệm duy trì và cải thiện thị phần, giữ chân khách hàng
- Thúc đẩy quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa.Độ mở nền kinh tế của quốc gia được thể hiện thông qua tổng kim ngạch xuất khẩu và tổng mức thu hút FDI Trong đó, việc đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài giúp quốc gia tiếp nhận đầu tư tham gia nhanh hơn vào tiến trình toàn cầu hóa, vị thế quốc gia được cải thiện trên trường thế giới
Trang 8với sự hiện diện của các tập đoàn, các công ty đa quốc gia Yếu tố, chính trị, kinh tế, xã hội không ngừng được cải thiện rõ rệt.
Tác động tiêu cực:
- Nếu không có quy hoạch cụ thể và khoa học, có thể đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên có thể bị khai thác bừa bãi, gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
- Môi trường chính trị trong nước có thể bị ảnh hưởng, các chính sách trong nước
có thể bị thay đổi do khi đầu tư vào thì các nhà đầu tư thường có các biện pháp vận động quan chức địa phương theo hướng có lợi cho mình
- Hiệu quả của đầu tư phụ thuộc vào nước tiếp nhận có thể tiếp nhận từ các nước đi đầu tư những công nghệ thiết bị lạc hậu không phù hợp với nền kinh tế gây ô nhiễm môi trường
- Các lĩnh vực và địa bàn đầu tư phụ thuộc vào sự lựa chọn của nhà đầu tư nước ngoài mà không theo ý muốn của nước tiếp nhận Do vậy việc bố trí cơ cấu đầu tư sẽ gặp khó khăn sẽ tạo ra sự phát triển mất cân đối giữa các vùng
- Giảm số lượng doanh nghiệp trong nước do quá trình cạnh tranh nên nhiều doanh nghiệp trong nước bị phá sản, hay ảnh hưởng tới cán cân thanh toán quốc tế do sự di chuyển của các luồng vốn cũng như luồng hàng hoá ra vào trong nước
- Ngày nay hầu hết việc đầu tư là của các công ty đa quốc gia vì thế các nước tiếp nhận thường bị thua thiệt, thất thu thuế hay các liên doanh sẽ phải chuyển thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do các vấn đề chuyển nhượng giá nội bộ của các công ty này
5 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút FDI
5.1 Nhóm động cơ về kinh tế
5.1.1 Nhân tố thị trường
Qui mô và tiềm năng phát triển của thị trường là một trong những nhân tố quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài Khi đề cập đến qui mô của thị trường, tổng giá trị GDP - chỉ số đo lường qui mô của nền kinh tế - thường được quan tâm Theo Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), qui mô thị trường là cơ sở quan trọng trong việc thu hút đầu tư tại tất cả các quốc gia và các nền kinh tế Nhiều nghiên cứu cho thấy FDI là hàm số phụ thuộc vào qui mô thị trường của nước mời gọi đầu tư (Trích dẫn từ [3]) Nhằm duy trì và mở rộng thị phần, các công ty đa quốc gia (MNEs) thường thiết lập các nhà máy sản xuất ở các nước dựa theo chiến lược thay thế nhập khẩu của các nước này Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, mức tăng trưởng GDP cũng là tín hiệu tốt cho việc thu hút FDI Bên cạnh đó, nhiều nhà đầu tư với chiến lược “đi tắt đón đầu” cũng sẽ mạnh dạn đầu tư vào những nơi có nhiều kỳ vọng tăng trưởng nhanh trong
Trang 9tương lai và có các cơ hội mở rộng ra các thị trường lân cận Khi lựa chọn địa điểm để đầu tư trong một nước, các nhà đầu tư nước ngoài cũng nhắm đến những vùng tập trung đông dân cư – thị trường tiềm năng của họ
5.1.2 Nhân tố lợi nhuận
Lợi nhuận thường được xem là động cơ và mục tiêu cuối cùng của nhà đầu tư Trong thời đại toàn cầu hóa, việc thiết lập các xí nghiệp ở nước ngoài được xem là phương tiện rất hữu hiệu của các MNEs trong việc tối đa hóa lợi nhuận Điều này được thực hiện thông qua việc thiết lập các mối liên kết chặt chẽ với khách hàng và thị trường, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, chia rủi ro trong kinh doanh và tránh được các rào cản thương mại Tuy vậy trong ngắn hạn, không phải lúc nào lợi nhuận cũng được đặt lên hàng đầu để cân nhắc
5.1.3 Nhân tố về chi phí
Nhiều nghiên cứu cho thấy, phần đông các MNEs đầu tư vào các nước là để khai thác các tiềm năng, lợi thế về chi phí Trong đó, chi phí về lao động thường được xem là nhân tố quan trọng nhất khi ra quyết định đầu tư Khi giá nhân công tăng lên, đầu tư nước ngoài có khuynh hướng giảm rõ rệch Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư trực tiếp ở nước ngoài cho phép các công ty tránh được hoặc giảm thiểu các chi phí vận chuyển và do vậy
có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, kiểm soát được trực tiếp các nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu với giá rẻ, nhận được các ưu đãi về đầu tư và thuế, cũng như các chi phí sử dụng đất Ngoài chi phí vận chuyển và các khía cạnh chi phí khác, cũng cần nhấn mạnh đến động cơ đầu tư của các công ty xuyên quốc gia nhằm tránh ảnh hưởng của hàng rào quan thuế và phi quan thuế, cũng như giúp giảm thiểu đáng kể chi phí xuất nhập khẩu Trong một cuộc điều tra các MNEs có mặt tại Philippines hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau cho thấy vị trí địa lý, chi phí nhân công thấp và thị trường nội địa là ba nhân tố
cơ bản có tính quyết định đến việc thu hút đầu tư nước ngoài vào các vùng khác nhau quốc gia này Trong khi đó, những nhân tố quan trọng nhất giúp thu hút đầu tư nước ngoài vào các địa phương của Thái Lan là chi phí nhân công thấp, các điều kiện ưu đãi đầu tư của chính quyền địa phương và sự sẵn có về tài nguyên thiên nhiên
5.2 Nhóm động cơ về tài nguyên
5.2.1 Nguồn nhân lực
Khi quyết định đầu tư một cơ sở sản xuất mới ở một nước đang phát triển, các MNEs cũng nhắm đến việc khai thác nguồn nhân lực trẻ và tương đối thừa thãi ở các nước này Thông thường nguồn lao động phổ thông luôn được đáp ứng đầy đủ và có thể thỏa mãn yêu cầu của các công ty Tuy vậy, chỉ có thể tìm được các nhà quản lý giỏi,
Trang 10cũng như cán bộ kỹ thuật có trình độ và kinh nghiệm ở các thành phố lớn Động cơ, thái
độ làm việc của người lao động cũng là yếu tố quan trọng trong việc xem xét, lựa chọn địa điểm để đầu tư
5.2.2 Tài nguyên thiên nhiên
Sự dồi dào về nguyên vật liệu với giá rẻ cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài Trong trường hợp của Malaysia, nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước này có sức hút FDI mạnh mẽ nhất Các nhà đầu tư nước ngoài đổ xô đến nước này
là nhắm đến các nguồn tài nguyên dồi dào về dầu mỏ, khí đốt, cao su, gỗ Đặc biệt tại các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), khai thác tài nguyên thiên nhiên là mục tiêu quan trọng của nhiều MNEs trong các thập kỷ qua Thực tế cho thấy, trước khi có sự xuất hiện của Trung Quốc trên lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài, FDI chỉ tập trung vào một số quốc gia có thị trường rộng lớn và nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào
vụ cho khu chế xuất, vị trí địa lý và các cơ chế chính sách khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành công của các khu chế xuất Nói đến cơ sở hạ tầng kỹ thuật không chỉ nói đến đường sá, cầu cống, kho tàng, bến bãi mà còn phải kể đến các dịch vụ hỗ trợ khác như hệ thống ngân hàng, các công ty kiểm toán, tư vấn Thiếu sự hỗ trợ cần thiết của các hoạt động này, môi trường đầu tư cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Ngoài ra, hiệu quả hoạt động của các cơ sở công nghiệp địa phương, sự có mặt của các ngành công nghiệp
hỗ trợ, sự tồn tại các đối tác tin cậy để các công ty nước ngoài có thể liên doanh liên kết cũng là những yêu cầu rất quan trọng cần phải được xem xét đến
Trang 115.3.2 Cơ sở hạ tầng xã hội
Ngoài cơ sở hạ tầng kỹ thuật, môi trường thu hút đầu tư còn chịu ảnh hưởng khá lớn của cơ sở hạ tầng xã hội Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe cho người dân, hệ thống giáo dục và đào tạo, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác Ngoài ra, các giá trị đạo đức xã hội, phong tục tập quán, tôn giáo, văn hóa cũng cấu thành trong bức tranh chung về cơ sở hạ tầng xã hội của một nước hoặc một địa phương
5.4 Nhóm động cơ về cơ chế chính sách
Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các nước đang phát triển không chỉ được quyết định bởi các yếu tố về kinh tế, mà còn chịu sự chi phối của các yếu tố chính trị Sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô, kết hợp với các ổn định về chính trị được xem là rất quan trọng Một số nghiên cứu gần đây cho thấy mối quan hệ rất chặt chẽ giữa ổn định về chính trị với việc thu hút đầu tư nước ngoài Chính sách cởi mở và nhất quán của chính phủ cũng đóng một vai trò rất quan trọng
6 Sự can thiệp của Chính Phủ đến FDI
6.1 Nguyên nhân can thiệp của các quốc gia nhận đầu tư.
FDI là một bộ phận kinh tế đối ngoại, nó chiếm một vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Vì vậy, bất kỳ một quốc gia nào cũng phải can thiệp vào dòng vận động của FDI sao cho phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế chung của nước đó Có rất nhiều nguyên nhân đòi hỏi chính phủ phảNi can thiệp vào đầu tư trực tiếp nước ngoài Hai nguyên nhân giải thích tại sao chính phủ các quốc gia lại can thiệp đối với FDI, đó là cán cân thanh toán và huy động các nguồn lực cùng những lợi ích từ bên ngoài
Cán cân thanh toán quốc tế chịu sự chi phối bởi xuất nhập khẩu và FDI của bản thân nước đó với thế giới bên ngoài Rất nhiều chính phủ coi việc can thiệp đối với FDI như là một phương thức hữu hiệu nhằm điều chỉnh và kiểm soát cán cân thanh toán
Thứ nhất, khi dòng vốn FDI chảy vào được ghi như những mức tăng thêm của cán
cân thanh toán nên các quốc gia đã có thể tạo đà gia tăng cán cân thanh toán từ lượng FDI chuyển vào đầu tiên
Thứ hai, một số dự án FDI sản xuất thay thế hàng nhập khẩu, nên vô hình dung có thể giúp cho việc giảm nhập khẩu và như vậy tăng cán cân thanh toán
Thứ ba, khả năng xuất khẩu sản phẩm của các dự án sản xuất mới cũng gây ảnh
hưởng tích cực đối với cán cân thanh toán
6.2 Nguyên nhân can thiệp của các quốc gia đi đầu tư
Trang 12Các quốc gia đi đầu tư cũng thường tìm cách khuyến khích hay hạn chế dòng vốn FDI đổ ra do nhiều nguyên nhân khác nhau Trong thời gian gần đây, xuất hiện một xu hướng chung đáng lo ngại của các quốc gia đầu tư ra ngày càng giảm bởi vì họ đặt mục đích trở thành những quốc gia công nghiệp hùng mạnh và thịnh vượng Đối với những quốc gia này, việc di chuyển tự do FDI mang lại những tác dộng riêng đối với nền kinh tế quốc dân, không giống như những tác động đối với các quốc gia đang phát triển hoặc những thị trường mới nổi tiếp nhận FDI.
Thông thường, những nguyên nhân chính dẫn tới việc hạn chế dòng FDI chảy ra ngoài là:
- Việc đầu tư cho quốc gia khác sẽ dẫn tới chảy máu các nguồn lực của quốc gia đi đầu tư Bởi vậy các nguồn lực được tập trung sử dụng cho phát triển và tăng trưởng kinh
tế tại chính quốc sẽ ngày càng ít đi
- Việc chảy ra của dòng vốn FDI có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới cán cân thanh toán của quốc gia đi đầu vì lấy mất thị trường của xuất khẩu
- Việc làm này do FDI tạo ra ở các nước sở tại có thể thay thế việc làm tại chính quốc Đây là một vấn đề khá nhạy cảm đối với quốc gia đi đầu tư Việc chuyển cơ sở sản xuất sang một quốc gia có mức lương rẻ hơn sẽ gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình làm việc tại một số khu vực trong nước
- Hơn nữa, một số nước phát triển còn có những quỹ hoặc ngân hàng đặc biệt cung cấp tín dụng cho các công ty muốn đầu tư sang các nước đang phát triển Để khuyến khích FDI, nhiều nước còn xóa bỏ việc đánh thuế hai lần đối với thu nhập được tạo ra ở nước ngoài (nghĩa là thuế đánh vào thu nhập ở cả nước nhận đầu tư và nước chủ đầu tư)
- Cuối cùng và quan trọng nhất, nhiều nước chủ đầu tư (trong đó có Mỹ), đã dùng ảnh hưởng chính trị để thuyết phục các nước nhận đầu tư nới lỏng những hạn chế đối với FDI vào Ví dụ, trước sức ép trực tiếp của Hoa Kỳ, Nhật đã nới lỏng những hạn chế chính
Trang 13thức đối với FDI vào trong những năm 1980 Giờ đây, trước sức ép lại càng tăng từ Hoa
Kỳ, Nhật đã tiến thêm một bước nới lỏng cả các rào cản phi chính thức đối với FDI vào
sử dụng, theo đó hệ thống thuế doanh nghiệp tiên tiến của nước này áp mức thuế suất đối
từ nội địa Luật thuế đó đã khuyến khích các công ty Anh đầu tư trong nước.với phần thu nhập từ nước ngoài của các công ty Anh cao hơn đối với thu nhập
- Cuối cùng, các nước đôi khi ngăn cấm các công ty trong nước đầu tư vào một số quốc gia nhất định vì lý do chính trị Những hạn chế này có thể là chính thức hoặc phi chính thức Ví dụ, có những quy định chính thức cấm các công ty Hoa Kỳ đầu tư vào những nước như Cuba và Iran, những nước mà hệ tư tưởng và hoạt động chính trị bị coi là
đi ngược lại quyền lợi của Hoa Kỳ
6.3.2 Chính sách của nước nhận đầu tư
Khuyến khích FDI vào
Việc các chính phủ đưa ra những ưu đãi thu hút đầu tư các công ty nước ngoài đã trở nên ngày càng phổ biến Những ưu đãi đó thể hiện dưới nhiều hình thức, nhưng hay gặp nhất là các ưu đãi thuế, cho vay lãi suất thấp, và trợ cấp Động cơ của các ưu đãi này
là mong muốn giành lấy FDI từ các nước cạnh tranh thu hút đầu tư tiềm năng khác Ví dụ, trong những năm 1990, chính phủ Anh và Pháp đã cạnh tranh nhau để đưa ra các ưu đãi cho Toyota đầu tư vào nước họ Ở Hoa Kỳ, chính phủ các bang cũng cạnh tranh nhau nhằm thu hút FDI Kentucky đưa ra gói ưu đãi trị giá 112 triệu USD nhằm thuyết phục Toyota xây dựng một nhà máy lắp ráp ô tô ở đó Gói ưu đãi này bao gồm giảm thuế, đầu
tư của bang vào cơ sở hạ tầng, và các khoản tín dụng với lãi suất thấp
Hạn chế FDI vào
Chính phủ các nước nhận đầu tư sử dụng một hệ thống đa dạng các biện pháp kiểm soát nhằm hạn chế FDI theo cách này hay cách khác Hai cách phổ biến nhất là hạn chế quyền sở hữu và các yêu cầu về hoạt động:
Hạn chế quyền sở hữu có thể thể hiện dưới nhiều hình thức Ở một số nước, các công ty nước ngoài không được đầu tư vào những lĩnh vực nhất định Ví dụ, ở Thụy Điển
đó là ngành thuốc lá và khai khoáng, ở Braxin, Phần Lan và Marốc là một số ngành khai
Trang 14thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhất định Trong những ngành khác, quyền sở hữu của nước ngoài vẫn có thể được phép nhưng một tỷ lệ lớn nhất định vốn cổ phần của công
ty con phải do các nhà đầu tư trong nước nắm giữ Ở Hoa Kỳ, vốn nước ngoài trong một hãng hàng không bị hạn chế không quá 25%
Lý do cho việc giới hạn quyền sở hữu gồm 2 phần Một là, một số lĩnh vực nhất định bị loại trừ ra khỏi danh mục cho phép nước ngoài đầu tư vì lý do an ninh hoặc cạnh tranh Đặc biệt, ở những nước chậm phát triển, nhiều người lo rằng các công ty trong nước sẽ không thể phát triển nếu không hạn chế sự cạnh tranh từ nước ngoài bằng sự kết hợp của thuế quan nhập khẩu cao và việc kiểm soát FDI Hai là, hạn chế quyền sở hữu dường như được dựa trên niềm tin rằng chủ sở hữu trong nước sẽ giúp tối đa hóa lợi ích
về chuyển giao nguồn lực và tạo việc làm của FDI cho nước nhận đầu tư Cho tới tận đầu những năm 1980, chính phủ Nhật vẫn cấm hầu hết các hình thức FDI nhưng cho phép liên doanh giữa các công ty Nhật và công ty đa quốc gia nước ngoài nếu như công ty nước ngoài có công nghệ có giá trị Chính phủ Nhật rõ ràng là tin rằng những thỏa thuận như vậy sẽ đẩy nhanh việc lan tỏa công nghệ có giá trị từ công ty nước ngoài vào nền kinh tế Nhật
Các yêu cầu về hoạt động cũng có thể có nhiều hình thức Yêu cầu về hoạt động lànhững biện pháp kiểm soát các hoạt động của công ty con của một MNE ở nước nhận đầu
tư Phổ biến nhất, đó là tỷ lệ nội địa hóa, tỷ lệ xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, và mức
độ tham gia của nhân lực nước sở tại trong bộ máy quản l cao cấp Giống như với việc hạn chế quyền sở hữu, logic nằm sau các yêu cầu về hoạt động là những quy định như thế
sẽ giúp tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu chi phí FDI đối với nước nhận đầu tư Hầu như tất cả các nước đều áp dụng một số hình thức yêu cầu hoạt động nếu phù hợp với mục tiêu của họ Tuy nhiên, những biện pháp này phổ biến ở các nước chậm phát triển hơn là
ở những nước công nghiệp phát triển Ví dụ, một nghiên cứu cho thấy khoảng 30% các công ty con của MNEs Hoa Kỳ ở những nước chậm phát triển gặp phải các yêu cầu này, trong đó tỷ lệ tương tự ở những nước tiên tiến chỉ là 6%
Trang 15Tổng số vốn lưu chuyển quốc tế trong những năm gần đây tăng mạnh, khoảng 30% một năm, nhưng chủ yếu tập trung vào các nước công nghiệp phát triển Điều đó phản ánh xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế phát triển mạnh mẽ, các nước ngày càng phụ thuộc lẫn nhau và tham gia tích cực hơn vào các quá trình liên kết và hợp tác quốc tế
20-Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự bùng nổ làn sóng FDI là do xu hướng M&A tạo nên các công ty lớn hơn với sức cạnh tranh rất cao Điều đó cho thấy, mối quan hệ chặt chẽ giữa FDI với chiến lược toàn cầu hóa của các công ty xuyên quốc gia
Một đặc trưng của FDI hiện nay là có sự tham gia ngày càng nhiều của các công ty xuyên quốc gia Các công ty xuyên quốc gia Các công ty xuyên quốc gia thường dựa vào chiến lược phát triển cạnh tranh độc quyền và lợi thế của họ ở các nước đang phát triển để tiến hành hoạt động FDI Các công ty xuyên quốc gia kiểm soát 90% vốn FDI trên thế giới
Toàn cầu hóa cũng là một nguyên nhân thúc đẩy FDI của các công ty xuyên quốc gia, nó làm tăng thêm khả năng tương tác quốc tế và tính cạnh tranh của các chủ đầu tư và
nó cũng là đối tượng cạnh tranh chủ yếu của các nước đang phát triển, sự ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia được thể hiện ở sự gia tăng về lượng vốn FDI trên thế giới Điều này đặt ra cho các nước đang phát triển một vấn đề khó là cần chú trọng vào thu hút FDI của các công ty xuyên quốc gia
Theo dự đoán của các nhà kinh tế, FDI sẽ vận động theo những xu hướng sau đây:
- FDI sẽ tiếp tục được tập trung vào các nước phát triển
- Sáp nhập sẽ là hình thức đầu tư chủ yếu
- FDI tập trung vào các ngành kinh tế mới đó là: Tin học, công nghệ thông tin và công nghệ sinh học dẫn đến tình trạng các ngành sản xuất mới phát triển mạnh mẽ, còn các ngành sản xuất truyền thống sẽ bị sáp nhập thành các công ty cực lớn hoặc được tổ chức lại
- Dòng vốn FDI ở các nước đang phát triển như sau: Châu Á vẫn là khu vực quan trọng và năng động nhất trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng cơ cấu trong nội bộ FDI có thể thay đổi
- Một số nước đang phát triển quay trở lại đầu tư sang các nước đã và đang là nhà đầu lớn nhất của các nước này
Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, có hai nguyên nhân chính khiến dòng vốn FDI đang quay trở lại các nước công nghiệp hóa phát triển Đó là các nước đang phát triển đã
Trang 16giảm lợi thế về nhân công, trong khi các nước phát triển lại có nhiều lợi thế về cơ sở hạ tầng, nhân công trình độ cao cũng như gắn với thị trường tiêu thụ.
Diễn đàn Thương Mại và Phát triển Liên Hợp Quốc (UNCTAD) dự báo, bất chấp những rủi ro trong các nền kinh tế trên toàn thế giới, dòng vốn FDI sẽ tiếp tục tăng lên trong các năm tiếp theo lần lượt là 1.700 tỷ USD trong năm 2015 và 1.800 tỷ USD vào năm 2016 Trong đó, phần lớn các nước phát triển sẽ đón nhận phần lớn dòng vốn FDI này, còn ở những thị trường mới nổi, thì dòng vốn này có thể sẽ giảm do kinh tế phục hồi chậm, các chính sách về tài chính và chính trị chưa ổn định
Như vậy, có thể nhận thấy, phân công lao động quốc tế và những diễn biến của nền kinh tế toàn cầu tạo nên những chuyển dịch của dòng vốn FDI cũng như những xu hướng mới trong hợp tác đầu tư toàn cầu
II VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ
1 Khái niệm
- Là hành vi thông đồng giữa các công ty của cùng một tập đoàn để thực hiện dàn xếp áp đặt về mặt giá cả giữa các công ty không dựa trên giá thị trường nhằm chuyển lợi nhuận từ nước này sang nước khác, tránh nộp thuế đầy đủ, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của tập đoàn
- Là việc định giá hàng hóa dịch vụ chuyển giao giữa các công ty liên kết đóng ở các quốc gia khác nhau nhằm tối ưu hóa lợi nhuận của tập đoàn
- Là hoạt động mang tính chủ quan, cố ý của các tập đoàn đa quốc gia nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp bằng cách định giá mua bán sản phẩm, nguyên vật liệu giữa các công ty trong cùng một tập đoàn, không theo giá thị trường nhằm thu được lợi nhuận cao nhất
Như vậy, chuyển giá được hiểu là hành vi thực hiện bởi các chủ thể kinh doanh về việc thay đổi giá của tài sản, hàng hoá, dịch vụ so với giá thị trường thông qua các giao dịch liên kết nhằm mục đích tối thiểu hoá nghĩa vụ nộp thuế
Trang 17Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch như thế xuất phát từ ba lý
do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn
toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch Do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn
Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên
sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục
Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm
liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của họ Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại Tồn tại sự khác nhau về chính sách thuế của các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế - xã hội của họ không thể đồng nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu Chênh lệch mức
độ điều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảy ra
2 Một số đặc điểm của hành vi chuyển giá
- Không có sự thương lượng trước trong điều kiện thị trường cạnh tranh mà nó thường gắn với quan hệ, liên kết giữa bên giao và bên nhận, do chủ công ty điều hành
- Được xác định không hợp lý nhằm chủ động dồn thu nhập vào nơi không phải nộp thuế hoặc nộp thuế thấp, dồn chi phí vào nơi có thuế cao
- Đối với công ty đa quốc gia, việc giao nhận là cùng trong một tập đoàn, nên thu nhập chung của tập đoàn thường là không thay đổi, nhưng thu nhập sau thuế thì lớn hơn
vì đã gian lận được thuế
- Đối với nước nhận đầu tư thì ngân sách quốc gia bị mất đi một khoản thuế do bị gian lận, đồng thời còn tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng với các doanh nghiệp trong nước
3 Các hình thức chuyển giá
Hiện tượng chuyển giá xảy ra nhiều nhất ở những doanh nghiệp đa quốc gia Những loại doanh nghiệp này là dễ chuyển giá nhất Họ chuyển giá từ nơi sản xuất sang nơi có trụ sở Công ty mẹ để tránh thuế, trốn thuế Các phương thức mà doanh nghiệp FDI thường dùng để thực hiện chuyển giá
3.1 Chuyển giá để khai báo thua lỗ - mua cao bán thấp
Trang 18Khi một doanh nghiệp có kết quả sản xuất kinh doanh thua lỗ liên tục trong nhiều năm, lúc đó có thể xảy ra trường hợp chuyển giá nhằm tính đội chi phí lên để tối thiểu hóa phát sinh thu nhập chịu thuế.
3.2 Công ty mẹ không trả đầy đủ tiền phí dịch vụ cho các chi nhánh
Chi nhánh ngoài việc thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh có làm thêm dịch
vụ đại lý nhập khẩu và phân phối sản phẩm cho công ty mẹ Việc thực hiện dịch vụ đại lý này không được phản ánh trong phần phân tích chức năng hoạt động của chi nhánh Trên thực tế làm phát sinh chi phí cho chi nhánh nhưng công ty mẹ không chi trả phí/hoa hồng đại lý Hoạt động đại lý này là một chức năng bổ sung mà chi nhánh đã thực hiện, đã bỏ chi phí và chịu rủi ro của ngành kinh doanh dịch vụ đại lý nhưng do quan hệ liên kết nên chi nhánh đã không tính phí hoa hồng để công ty mẹ trả
3.3 Lợi dụng sự khác biệt về thuế suất thuế TNDN giữa các nước: xuất hàng hóa đến quốc gia và vùng lãnh thổ có thuế suất thuế TNDN thấp hơn
Ví dụ, công ty mẹ tại Singapore chịu thuế TNDN là 19%, công ty con tại Việt Nam chịu thuế TNDN là 25% Trong giao dịch với công ty con, công ty mẹ sẽ tính giá hàng hóa cao hơn thực tế Doanh thu và lợi nhuận thu về từ việc giao dịch này sẽ cao và thuế thu nhập phải nộp của công ty mẹ cũng cao hơn so với mức giá thực ngược lại, công ty con sẽ có chi phí đầu vào cao, phần lợi nhuận và thu nhập chịu thuế giảm đi Phần thu nhập này cũng phải chịu mức thuế 25%, cao hơn mức 19% Kết quả, khi hợp nhất báo cáo giữa công ty mẹ và công ty con, tổng lợi nhuận thu về sẽ lớn hơn so với giao dịch bằng mức giá thực tế
3.4 Tăng chi phí khấu hao
Tăng chi phí khấu hao khiến thu nhập chịu thuế giảm, đồng nghĩa với việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp
Ví dụ, khi doanh nghiệp nâng giá trị một TSCĐ khoản 1000 USD với thời gian khấu hao 10 năm thì mỗi năm sẽ đưa vào chi phí 100 USD, nghĩa là thu nhập chịu thuế giảm 100 USD; mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp 25%, Việt Nam thất thu 25 USD
3.5 Định giá chi phí nghiên cứu, phí bản quyền, chuyển giao công nghệ cao
Hành động này làm tăng giá vốn hàng bán, giảm lợi nhuận trước thuế, chịu thuế TNDN thấp hơn Phần vốn góp cao lên cùng tỷ lệ góp vốn cao làm tỷ lệ lợi nhuận được chia cao hơn nhiều so với vốn thực Đây là cách chuyển lợi nhuận về nước cho công ty mẹ
4 Hậu quả của việc chuyển giá
- Việc chuyển giá trốn thuế gây thất thu ngân sách nhà nước