Khi đã bước chân vào làm trong các đồn điền, hầm mỏ xí nghiệp, người công nhân bị bọn chủ tư bản tìm mọi cách bóc lột sức lao động cho đến mức tối đa... Kéo dài đến mức tối đa thời gian
Trang 1PHONG TRÀO CÔNG NHÂN TỪ 1919-1925
I Nguyên nhân diễn ra các cuộc đấu tranh của công nhân trong giai đoạn 1919-1925.
Sau khi cướp nước ta, thực dân Pháp tăng cường đàn áp, bóc lột Chính sách tăng cường đầu tư, đẩy mạnh khai thác thuộc địa của bọn thực dân đã đưa lại một hệ quả ngoài ý muốn chủ quan của chúng Đó là sự trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng của giai cấp công nhân Việt Nam
Phần lớn công nhân xuất thân từ nông dân lao động bị bần cùng hóa, phần còn lại từ những người thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ…bị phá sản
Dưới chế độ thực dân phong kiến, người công nhân Việt Nam vừa là nô lệ làm thuê, vừa là nô lệ mất nước
Là kẻ nô lệ làm thuê, người công nhân bị lừa đảo ăn chặn, cướp công, hành hạ suốt đời từ khi kí vào “bản giao kèo”, bán sức lao động cho đến khi hoàn toàn kiệt sức và bị nghiền nát trong những guồng máy sản xuất tư bản chủ nghĩa ở thuộc địa
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, bọn tư bản thực dân đã phải thay lối bắt phu cưỡng bức trước kia bằng lối mộ phu theo “giao kèo” Chúng cho cai thầu đi mộ phu ở khắp thành thị và nông thôn Khi dã điểm chỉ vào giao kèo, thực chất là “điểm chỉ vào giấy bán đứt tính mạng và tự do của mình cho chủ tư bản”
Người đi mộ phu bị nhốt vào trại tập trung có lính gác rồi bị
áp tải tới các đồn điền, hầm mỏ Trước cảnh tượng đó, ngay tên đại địa chủ Pháp Đơ-Mông-pơ-da cũng đã phải thốt lên “đó là sự tái diễn cảnh chợ bán nô lệ ở giữa thế kỉ XX này”
Khi đã bước chân vào làm trong các đồn điền, hầm mỏ xí nghiệp, người công nhân bị bọn chủ tư bản tìm mọi cách bóc lột sức lao động cho đến mức tối đa
Trang 2Chủ tư bản tùy ý định số giờ lao động trong các doanh nghiệp của chúng Thực tế công nhân phải làm việc 12-14 giờ, có khi tới 15-16 giờ một ngày
Làm việc đến mức không còn thì giờ để kịp ăn uống và kịp
cả thở nữa Người công nhân lại chỉ nhận được một thứ tiền lương chết đói Bọn chủ tùy ý quyết định tiền lương của công nhân: Lương ngày, lương tháng, lương khoán… hình thức nào chủ tư bản thấy có lợi cho chúng thì chúng áp dụng Chúng thuê khá nhiều nhân công đàn bà và trẻ em để chỉ phải trả cho họ bằng 1/2 hoặc 1/3 tiền công của thợ đàn ông
Thực tế là ở các mỏ than, thợ đàn ông chỉ được trả 0,3-0,32 đồng một ngày công, thợ đàn bà: 0,2-0,25 đồng, thợ trẻ em: 0,09-0,15 đồng Ở các đồn điền cao su, tiền công thợ chỉ được 0,12-0,25 đồng Ở các nhà máy dệt,thợ đàn ông được trả 0,17-0,2 đồng, thợ đàn bà: 0,12-0,15 đồng, còn trẻ em từ 8-10 tuổi thì được trả 0,07 đồng
Kéo dài đến mức tối đa thời gian lao động, đồng thời giảm đến mức tối thiểu tiền lương của người công nhân, bọn tư bản thực dân Pháp đã bòn rút được những khoản siêu lợi nhuận thuộc địa béo bở hơn nhiều so với lợi nhuận thu được ở chính quốc
Một phần số lãi thu được bọn tư bản Pháp mang về nước để
ăn chơi phè phỡn, phần còn lại dùng vào việc tái đầu tư Thế là vốn
đẻ ra lãi, lãi mẹ đẻ lãi con, cứ như thế chúng làm giàu nhanh chóng bằng cách vắt kiệt máu và mồ hôi của công nhân Việt Nam
Đã khổ vì chế độ bóc lột giá trị thặng dư tư bản công nghiệp, người công nhân lại càng khổ hơn nữa vì chế độ bóc lột ấy thường được kết hợp chặt chẽ với những hình thức bóc lột có tính chất phong kiến, siêu kinh tế
Bọn tư bản thực dân đã sử dụng cả một hệ thống nhà thầu cai, ký, xếp nhiều tầng, nhiều loại để theo dõi, kiểm soát, áp chế hành hạ người công nhân trong sản xuất và đời sống Anh em công nhân đã căm phẫn mô tả lại tình cảnh ấy như sau:
“ Đi trở ra gặp cai thầu khoán
Chạy trở vào gặp Xuba giăng
Trang 3Chúng như đàn sói nhe răng
Mắt như cú vọ cướp phăng cơm mình”
Được bọn chủ tư bản dung túng, tầng lớp trung gian này giở
đủ mọi thủ đoạn, mánh khóe để bóp họng người công nhân làm thuê
Chúng tha hồ ăn của đút, cúp phạt, cho vay nặng lãi, mua rẻ tiền công non, mở đại lý bán hàng cho chủ hoặc nắm độc quyền bán những mặt hàng thiết yếu cho công nhân với giá cắt cổ Chúng còn bắt công nhân phải quà cáp, phục dịch chủ tư bản Pháp và bản thân chúng những trong những ngày lễ, ngày tết Đó chưa kể tệ đánh đập, chửi mắng, hãm hiếp, thậm chí giết người một cách vô tội vạ mà bọn cai ác ôn thường gây ra đối với công nhân làm thuê
Giờ làm quá dài, đồng lương chết đói, điều kiện ăn ở tồi tệ, lại thêm roi vọt, đấm đá, chửi mắng liên miên đã khiến cho người công nhân làm thuê trong các đồn điền, hầm mỏ, xí nghiệp của bọn
tư bản Pháp chẳng bao lâu mà ngã gục dưới sức nặng của chế độ lao động khổ sai
Tại những đồn điền ở Nam Kì và Cam-phu-chia, người ta thấy: “Những người nông dân bất hạnh Bắc Kì chất phác và dũng cảm đến đó làm việc…với hi vọng kiếm được miếng ăn và rồi mang được vài xu về làng Nhưng sau 3 hay 4 năm, họ chỉ còn là những kẻ thân tàn ma dại đến sốt rét, phù thũng…Phần lớn những những người ấy sẽ không bao giờ được trông thấy gia đình nữa Thản hoặc có một số người lê được về tới làng quê thì đấy chỉ còn
là những cái xác thật sự, không tiền và kiệt sức Họ trở về để chết Nhưng trước khi đó, họ gieo rắc ra xung quanh những mầm mống của bệnh tật, của sự nổi loạn và hận thù”
Theo báo L’Humanite: Năm 1922, ở công ty cao su Cây nhiệt đới có 474 người chết trong số 1000 công nhân Tính chung, tỷ lệ
tử vong trong các hầm mỏ, xí nghiệp số phận của người công nhân làm thuê cũng bi thảm không kém Chính anh, chị em công nhân
đã phải thốt lên:
“ Ngày ngày nghe tiếng còi tầm,
Như nghe tiếng vọng từ âm phủ về”
Trang 4Là kẻ nô lệ làm thuê, người công nhân bị bóc lột đến tận xương tủy, là người nô lệ mất nước, họ hoàn toàn không có chút quyền tự do, dân chủ nào
Thực dân Pháp cấm ngặt công nhân họp hành, lập hội và bãi công Công nhân tham gia bãi công và tổ chức bãi công đều bị chúng ghép vào “tội hình”, “tội phá rối trị an” Các nghị định của chính quyền thực dân ngày 11-11-1918 còn quy định rằng công nhân làm hư hỏng công cụ, làm hỏng cây cối hay mùa màng, tự gây cho mình thương tích, thậm chí làm ồn hoặc nêu yêu sách không có căn cứ…đều có thể bị phạt tiền, sa thải, phạt giam, phạt
tù Như vậy, vô luận việc gì xảy ra không có lới cho chủ tư bản thì chúng đều có thể dựa vào luật pháp để đàn áp công nhân
Tiếp theo nghị định 26-08-1899 là nghị định ngày
08-03-1924 bắt buộc người thợ từ 18 tuổi trở lên đều phải lập một “sổ công nhân”
Đây là một thứ căn cước có tính chất cảnh sát để bọn chủ tư bản có thể theo dõi lai lịch, hành vi, thái độ của từng công nhân khi
họ thuyên chuyển nơi làm việc
Bên cạnh tòa án, luật pháp, cảnh sát nhà tù của chính quyền thực dân, nơi có nhiều bọn tư bản Pháp còn ngang nhiên lập cả một
bộ máy bạo lực để đàn áp công nhân
Ở khu vực Hồng Gai, đằng sau đội tuần cảnh vũ trang công khai, bọn chủ tư bản đã tổ chức ra mạng lưới mật thám, chỉ điểm bí mật để dò xết công nhân các tầng, các lò, các lán Chúng còn lập nhà tù riêng, bắt bớ, đánh đập, tra tấn, giam cầm những người mà chúng cho là có ý chống đối
Ngoài những nỗi thống khổ mà riêng họ phải gánh chịu, giai cấp công nhân còn phải chịu chung nỗi khổ của cả dân tộc: Sưu cao, thuế nặng và bị giam hãm trong vòng dốt nát Như vậy nỗi khổ của kẻ nô lệ làm thuê lại càng tăng gấp bội bởi nỗi nhục nhã của kẻ nô lệ mất nước và ngược lại Do đó đối với giai cấp công nhân, kẻ thù giai cấp và kẻ thù dân tộc là một Trong tim họ, mối thù giai cấp và mối thù dân tộc hòa quyện vào nhau
Trang 5Nhưng giai cấp công nhân không chỉ là giai cấp khổ đau, nó còn là giai cấp có tiềm năng cách mạng to lớn Bởi lẽ, như Mác phân tích: “mâu thuẫn giữa bản tính con người của giai cấp vô sản với hoàn cảnh sống của nó-hoàn cảnh này là sự phủ định cái bản tính kia một cách công nhiên, quyết liệt và toàn diện, mâu thuẫn đó tất yếu gây ra sự căm phẫn của nó đối với hoàn cảnh ấy” và “trực tiếp buộc nó phải căm phẫn chống lại hoàn cảnh phi nhân tính ấy” Ngoài bản chất chung của giai cấp vô sản, tiềm năng cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam còn được tăng thêm bởi đặc điểm quá trình hình thành và phát triển chính nó
Trước hết, giai cấp công nhân Việt Nam đã ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, nó là sản phẩm trực tiếp của công cuộc khai thác thuộc địa của tư bản thực dân Pháp Nó bị lôi ra khỏi phương thức sản xuất cổ truyền và được đưa vào một phương thức sản xuất mới có trình độ phát triển cao hơn
Do đó đế quốc Pháp kìm hãm sự phát triển nền công nghiệp thuộc đia
Giai cấp công nhân Việt Nam lúc này chỉ chiếm 1.3% dân
số, song nó sống “rất tập trung và mỗi ngày lại thêm đông” cùng với quá trình tích tụ tư bản và tâp trung của tư bản tại những trung tâm công nghiệp và tại các đô thị lớn Điều đó khiến cho sự đối lập giữa giai cấp vô sản và tư sản ngày càng trở nên sâu sắc, đồng thời làm dễ dàng cho việc tập hợp giác ngộ và tổ chức công nhân
Giữa những năm 20: Có 16.500 công nhân ở mỏ Hồng Gai,
2500 công nhân ở mỏ Bắc Cạn, một trong những đồn điền cao su lớn ở Nam Kì sử dụng 3600 công nhân, nhà máy dệt Nam Định có
2000 công nhân….Còn những nhà máy xí nghiệp sử dụng 400 công nhân thì có rất nhiều
Sống và lao động tập trung, gắn liền với sự phân công, chuyên môn hóa trong dây chuyền sản xuất công nghiệp đã rèn luyện cho người công nhân tinh thần đoàn kết, ý thức tổ chức và kỉ luật Ngoài quá trình xã hội hóa lao động, những đặc điểm chung
về đời sống kinh tế, về địa vị chính trị cũng như về tiếng nói, về văn hóa, về tâm lý…Đã hình thành trong lịch sử dân tộc, còn giúp
Trang 6cho giai cấp công nhân Việt Nam vượt qua những trở ngại do chính sách “Chia để trị” của thực dân Pháp gây ra và kết thành một khối thống nhất trong toàn quốc Trong nội bộ công nhân không có tầng lớp công nhân quý tộc, không có mâu thuẫn về tiếng nói, về tôn giáo dân tộc
Thực dân Pháp chủ tâm chia rẽ công nhân Bắc, Trung, Nam Chúng đặt ra những thể lệ riêng cho lao động từng xứ ( Bắc Kì có
14 bản, Trung Kì: 8 bản, Nam Kì: 14 bản) chúng gọi việc đưa mộ phu ở Bắc Kì và Trung Kì vào Nam Kì là “xuất cảng” công nhân Song mọi thủ đoạn chúng đưa ra đều không đem lại kết quả mong muốn
Vì phần lớn công nhân mới đều xuất thân từ nông dân bị bần cùng hóa và còn nhiều mối quan hệ với nông thôn, nên giai cấp công nhân Việt Nam ở thời kì này có nhược điểm là số công nhân lâu đời ít, trình độ văn hóa, trình độ kĩ thuật thấp, nhiều người chưa thoát khỏi những tư tưởng hẹp hòi, tập quán sản xuất nhỏ lạc hậu…Tuy nhiên, cũng chính do vừa mới từ nông dân phá sản mà
ra giai cấp công nhân rất cảm thông với số phận bi thảm và nguyện vọng thiết tha của quần chúng nông dân Đây là mặt cơ bản và là điều kiện để giai cấp công nhân thiết lập khối liên minh công-nông vững chắc trong quá trình đấu tranh cách mạng
Sau chiến tranh, thong qua hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều người Việt Nam yêu nước khác, các sách báo cách
mạng đã bắt đầu được truyền bá vào trong nước Các tờ báo Người
cùng khổ, Việt Nam hồn.
Trang 7Báo Người cùng khổ
.Cũng như các tác phẩm của chủ nghĩa Mác-Lênin đã lọt qua
lưới sắt của thực dân Pháp đến với giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam Cũng vào thời kì sau chiến tranh nhiều thuỷ thủ, lính thợ Việt Nam được hồi hương, mang theo các hiểu biết mới, tư tưởng mới và cả các kinh nghiệm đấu tranh của những người anh
em đồng chí ở Châu Âu về nước Nhờ vậy, giai cấp công nhân Việt Nam mới bắt đầu biết tới Cách mạng tháng Mười, biết đến Lênin-lãnh tụ của cách mạng thế giới, trên cơ sở đó dần dần tiếp thu ánh sáng của chủ nghĩa cộng sản Ánh sang cách mạng ấy đã thôi thúc, lôi cuốn công nhân Việt Nam vùng dậy đấu tranh, trước hết là chĩa mũi nhọn vào bọn tư bản thực dân Pháp Thể hiện ý thức giai cấp
và lập trường chính trị của giai cấp công nhân
Trang 8Với những phẩm chất trên, giai cấp công nhân Việt Nam có một sức mạnh lớn hơn rất nhiều so với tỉ lệ của nó trong tổng số dân cư Sức mạnh đó sẽ còn được phát huy và nhân lên gấp bội một khi giai cấp công nhân Việt Nam trưởng thành nhờ ánh sáng
lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và kinh nghiệm của cách mạng Tháng Mười Nga, của phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, mà giác ngộ được xứ mạng lịch sử của mình Đi đầu trong cuộc đấu tranh đánh đổ đế quốc và phong kiến giành lại độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày, tiến lên xây dựng một nước Việt Nam mới không có áp bức, người bóc lột người
II Hình thức đấu tranh của công nhân từ năm 1919-1925
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, giống như nhiều nước khác tại Việt Nam “cuộc phản công của bọn chủ liên tiếp diễn ra ở khắp nơi, và khắp nơi giai cấp công nhân cũng bắt đầu giác ngộ về lực lượng và giá trị của mình” Sự giác ngộ đó được thể hiện ra bằng nhiều hình thức đấu tranh của công nhân cho các quyền lợi của giai cấp mình
Hình thức đấu tranh thấp và ngày càng tăng lên là từng nhóm hoặc từng công nhân lẻ tẻ bỏ việc, phá giao kèo
Từ 1919-1922 có 2.219 vụ công nhân bỏ việc, phá giao kèo Trung bình mỗi năm có 555 vụ
+ năm 1923 tăng lên 730 vụ,
+ năm 1924 tăng lên 847 vụ,
+ năm 1925 tăng lên 1.081 vụ
Tính chung, trong vòng 7 năn (1919-1925), số công nhân bỏ việc, phá giao kèo nhiều gấp 2 lần so với số công nhân hết hạn trở
về làng
Trang 9Tiến lên một bước, công nhân hùa nhau đánh lại bọn cai, ký, đốc công gian ác, hoặc biểu tình tập thể và đưa yêu sách chung lên cho chủ…
Hình thức đấu tranh ngày càng phổ biến là bãi công-một hình thức đấu tranh điển hình của công nhân quốc tế, một vũ khí lợi hại của lao động chống lại tư bản Từ năm 1919-1925 diễn ra 25 cuộc bãi công của công nhân
Các cuộc đấu tranh của công nhân trong giai đoạn 1919-1925 diễn ra khắp cả nước Từ Bắc đến Nam, tất cả các nhà máy lớn nhỏ đều diễn ra các cuộc bãi công với mức độ khác nhau
III những cộc đấu tranh của công nhân từ 1919-1925.
Tháng 8 năm 1919 nổ ra cuộc bãi công của công nhân thủy thủ tàu Sácnơ (Sharmhort) đậu ở cảng Hải Phòng đòi tăng lương
và chống việc thực dân Pháp đưa binh lính Việt Nam sang đàn áp
Công nhân thuỷ thủ tàu Sacnơ bãi công
Trang 10cách mạng Xiri Năm 1920, trên 200 thủy thủ tàu của 5 chiếc tàu Pháp ở cảng Sài Gòn đã bãi công đòi đắt đỏ Sự thắng lợi của các cuộc bãi công của công nhân, thủy thủ tàu Sác-nơ tại cảng Hải Phòng(8-1919) và của trên 200 thủy thủ Pháp tại cảng Sài Gòn (3-1920) đã có ảnh hưởng tích cực của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam
Mùa hè năm 1922, công nhân viên chức ở các sở công nghiệp, thương nghiệp và đồn điền tư nhân ở Bắc Kì bãi công đòi nghỉ ngày chủ nhật như công nhân viên chức ở Nam Kì đã được hưởng từ năm 1907 Cuộc đấu tranh đã buộc viên thống xứ Bắc KÌ trong thông tư gửi các phòng thương mại Hà Nội và Hải Phòng phải thừa nhận “Vấn đề nghỉ ngày chủ nhật là yêu cầu chính đáng của người làm công mà ta phải chịu nhận thôi”
Tháng 11-1922, 600 thợ nhuộm ở Chợ lớn, vì bị bớt lương đã quyết định bãi công
Ở Chợ Lớn hồi đó không có lò nhuộm nào có tới hàng trăm công nhân Vì thế, đây là cuộc đấu tranh có phối hợp của công nhân ở hàng chục lò nhuộm khác nhau