1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ÔN THI TRIẾT học CAO học đầu RA CHUẨN

41 365 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 495 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỆ THỐNG KIẾN THỨC THEO CÁC CHỦ ĐỀ TRIẾT HỌC CHO ĐỐI TƯỢNG CAO HỌC KHÔNG CHUYÊN TRIẾT. BAO GỒM CẢ PHẦM CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ. PHÂN CHIA THEO CÁC DẠNG CÂU HỎI KHÁC NHAU CÓ PHẦN LIÊN HỆ VÀ VẬN DỤNG. TÀI LIỆU KIẾN THỨC TRIẾT HỌC ĐẦY ĐỦ NHẤT HIỆN NAY

Trang 1

Câu 1: Vấn đề cơ bản của triết học Ý nghĩa PPL trong đấu tranh bảo vệ và phát triển triết học Mác hiện nay.

1 K/niệm: Triết học là hệ thống quan điểm lý luận chung nhất về thế giới (bao gồm cả giới tự nhiên, xã hội và

con người) và mối quan hệ của con người với thế giới

- Hệ thống tri thức của khoa học triết học mang tính khái quát dựa trên sự trừu tượng hóa cao độ và sâu sắc về thế giới, về bản chất cuộc sống con người

- PP nghiên cứu của triết học là xem xét thế giới với tư cách một chỉnh thể và tìm cách đưa lại một hệ thống các quan niệm về cái bản chất, quy luật của chỉnh thể đó

- Khác với các khoa học khác, triết học chỉ trả lời những vấn đề thuộc về bản thể luận và nhận thức luận, chứ không đi vào mô tả khách thể nghiên cứu

2 Khái quát sự ra đời:

- Tr/học ra đời vào khoảng T.Kỷ VIII đến T.KỷVI tr.CN với những học thuyết tr/học đầu tiên trong l/sử ở Ấn Độ

cổ đại, Tr/Quốc cổ đại, Hy Lạp và LaMã cổ đại

- Từ khi ra đời cho đến nay, từ thời cổ đại cho đến h/đại, dù ở trường phái nào, cũng đều hướng đến vấn đề c/bản của tr/học, đó là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại

- Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là tr/học h/đại, là vấn đề MQH giữa tư duy và tồn tại”( VC-YT)

* Vì sao đây là vấn đề cơ bản của triết học?

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tư duy và tồn tại là vấn đề cơ bản của triết học, bởi vì:

- Vật chất và ý thức là 2 phạm trự rộng lớn nhất của triết học Các học thuyết triết học (duy tâm, duy vật, tôn giáo…) dù khác nhau, song đều có nội dung cơ bản về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

- Việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vật chất - ý thức ảnh hưởng quyết định trong giải quyết các vấn

đề khác trong triết học như: tồn tại xã hội, ý thức xã hội, khách quan với chủ quan, các nguyên lý, các quy luật của phép biện chứng duy vật

- Giải quyết đúng đắn mối quan hệ VC – YT là xuất phát điểm thế giới quan, là căn cứ để phân biệt chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm

* Nội dung vấn đề cơ bản của triết học: Vấn đề cơ bản của triết học cú 2 mặt:

- Một là: Trong quan hệ vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau và cái nào quyết định cái nào?

Tùy theo cách giải quyết khác nhau mà chia ra làm 2 trường phái: triết học duy vật và triết học duy tâm

+ Chủ nghĩa duy vật: khi giải quyết khía cạnh thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, đó là sự khẳng định vật

chất có trước, quyết định ý thức Thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người Còn ý

thức, tinh thần chỉ là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người CNDV là một trào lưu cơ

bản trong lịch sử phát triển của triết học đã trải qua những hình thức khác nhau như: CNDV cổ đại; CNDV máy móc, siêu hình thế kỷ XVII-XVIII; CNDVBC (triết học Mác-Lênin) là đỉnh cao của triết học nói chung và

triết học duy vật nói riêng

+ Chủ nghĩa duy tâm: xuất hiện và tồn tại dưới 2 dạng chủ yếu: Chủ nghĩa duy tâm khách quan

và chủ nghĩa duy tâm chủ quan cả hai dạng của chủ nghĩa duy tâm đều thống nhất với nhau ở chỗ: Cho rằng cảm giác, ý thức của con người là tính thứ nhất có trước vật chất, hoặc cho rằng “Ý niệm tuyệt đối”

có trước quyết định đối với thế giới vật chất, thế giới vật chất là tính thứ hai, có sau phụ thuộc vào “ý niệm”, “cảm giác” của con người Chủ nghĩa duy tâm cũng là một trào lưu cơ bản của lịch sử triết học, dù tồn tại dưới hai hình thức khác nhau nhưng về cơ bản đều thừa nhận ý thức có trước vật chất, ý thức quyết định vật chất

- Hai là: Con người cú khả năng nhận thức được thế giới hay không?

Tùy theo cách trả lời, mà chia ra hai trường phái: Phái bất khả tri và phái khả tri

Trang 2

+ Phái khả tri: Các nhà triết học duy vật cho rằng: con người có khả năng nhận thức được thế giới Song do mặt thứ nhất quy định, nên sự nhận thức đó là sự phản ánh của thế giới VC vào óc con người Các nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới nhưng sự nhận thức đó là sự tự nhận thức của tinh thần, tư duy.

+ Phái bất khả tri: Một số nhà duy tâm khác như Hium và Cantơ lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người Đây là những người theo thuyết không thể biết

* Hai cấp độ lớn trong vấn đề cơ bản của triết học:

Vấn đề cơ bản của triết học có hai cấp độ lớn: Cấp độ thứ nhất, giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Cấp độ thứ hai, giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa TTXH và YTXH.

* Việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học:

Vấn đề cơ bản của triết học chỉ được giải quyết triệt để, nhất quấn khi hai cấp độ của nó được giải quyết gắn bó, thống nhất với nhau

- Mác - Ănghen có công: Đã làm cho CNDV trở thành triệt để và nhất quán bằng cách phát triển quan điểm duy vật về tự nhiên thành quan điểm duy vật hoàn chỉnh bao hàm cả quan điểm duy vật về xã hội, lịch sử

Đánh giá ý nghĩa của cấp độ thứ hai như một cuộc cách mạng trong triết học

Các nhà duy vật trước đây đã không làm được điều đó Họ duy vật về mặt tự nhiên nhưng lại duy tâm về mặt xã hội

- Sự phát triển của Lênin:

Lênin xem xét vấn đề cơ bản của triết học như một hệ thống vấn đề, ông cụ thể hóa và chính xác hóa tư tưởng của Mác-Ănghen

+ Trước hết, Lênin chú ý đến 2 khía cạnh trong mặt thứ nhất, đó là khía cạnh nguồn gốc và khía cạnh quyết định luận: Về nguồn gốc phát sinh: trong quan hệ giữa vật chất và ý thức xét cho cùng cái nào có trước, cái nào sinh ra cái nào? Về mặt quyết định luận: trong quan hệ VC - YT cái nào quyết định cái nào?

+ Ở trong 2 cấp độ thì cấp độ thứ nhất (giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức), mặt nguồn gốc hình thành là mặt trội; ở cấp độ thứ 2 (giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa TTXH và YTXH), thì mặt quyết định luận là mặt trội Lênin cũng nhấn mạnh TTXH không lệ thuộc vào YTXH, song điều đó chỉ làm nổi bật mặt quyết định luận trong quan hệ giữa tình thứ nhất với tính thứ hai chứ không thủ tiêu quan hệ nhân quả của vấn đề

C Ý nghĩa phương pháp luận.

- Tóm lại, việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học đã chia triết học ra thành 2 trường phái, 2 khuynh hướng, 2 phương pháp đối lập nhau trong lịch sử triết học là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

+ Phương pháp biện chứng: là phương pháp xem xét sự vật trong sự vận động, biến đổi, phát triển, trong mối liên hệ với các SVHT khác

+ Phương pháp siêu hình: là phương pháp xem xét SV trong trạng thái tĩnh, chết cứng, không vận động, không biến đổi, không phát triển, không trong mối liên hệ tác động qua lại với các SVHT khác Nếu có chỉ là bề ngoài

- Nghiên cứu vấn đề cơ bản của triết học có ý nghĩa cực kỳ quan trọng với chúng ta; nó là cơ sở xác lập lập trường khách quan, chống lại lập trường sai trái, chủ quan; là cơ sở để chỉ đạo nhận thức và cải tạo thực tiễn

- Phải xây dựng lập trường duy vật trong nhận thức xem xét các SVHT của thế giới Đấu tranh phê phán quan điểm duy tâm (cả duy tâm khách quan và duy tâm chủ quan) trong nhận thức thế giới xung quanh

- Phải tôn trọng thực tế khách quan, đồng thời phải phát huy nỗ lực chủ quan của con người Có tôn trọng thực tế khách quan mới phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế giới khách quan Có phát huy nỗ lực chủ quan mới nắm được bản chất bên trong của thế giới khách quan để cải tạo thế giới khách quan

Câu 2: Bản chất cách mạng và khoa học của phương pháp tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội của C Mác Phê phán những quan điểm sai trái về vấn đề này hiện nay?

Trả lời

Các nhà triết học trước Mác thường bàn về xã hội một cách chung chung, trừu tượng Họ chưa có một lý luận thực sự khoa học để nhận thức bản chất xã hội, nhận thức các quy luật khách quan chi phối sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người Lý luận hình thái KTXH là nội dung cơ bản của CNDV l.sử Việc phát hiện

ra Lý luận này đánh dấu bước nhảy có tính CM trong nhận thức của con người đối với tiến trình của l.sử Trên thực tế Lý luận HT KTXH đã đang và sẽ tiếp tục được các ĐCS và công nhân quốc tế vận dụng vào việc XD các mô hình tổng thể, hoạch định những con đường XD CNXH hiện thực ở các nước

* Phương pháp tiếp cận của triết học Mác – Lênin và bản chất khoa học, cách mạng của nó

C.Mác đã tiếp cận lịch sử xã hội loài người bằng phương pháp biện chứng duy vật

- Điểm xuất phát để nghiên cứu lịch sử xã hội là từ nền tảng vật chất của xã hội, đó là phương thức sản xuất vật chất

Trang 3

- Trong hệ thống các quan hệ xã hội đa dạng, phong phú và phức tạp giữa người với người trong đời sống xã hội, ông làm nổi bật lên các mối quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất Đó chính là quan hệ kinh tế - vật chất của xã hội và chỉ rõ đây là mối quan hệ cơ bản, đầu tiên, quyết định tất cả các mối quan hệ xã hội khác

- Trong quá trình nghiên cứu, C.Mác đã đi sâu giải phẫu xã hội tư bản chủ nghĩa, phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu, ổn định trong mọi xã hội, từ đó tìm ra quy luật vận động, phát triển của lịch sử xã hội Mỗi xã hội có một kiểu quan hệ sản xuất riêng biệt đặc trưng cho xã hội đó C.Mác cho rằng, tổng hợp lại những quan hệ sản xuất cấu thành cái mà người ta gọi là những quan hệ xã hội, cái gọi là xã hội mà lại là một xã hội ở một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, một xã hội có tính chất độc đáo, riêng biệt Xã hội cổ đại, xã hội phong kiến, xã hội tư bản đều là những thể tổng hợp các quan hệ sản xuất theo loại đó, mà mỗi thể tổng hợp ấy đồng thời lại tiêu biểu cho một giai đoạn phát triển đặc thù trong lịch sử nhân loại

- C.Mác không nghiên cứu quan hệ sản xuất xuất một cách riêng biệt, mà coi quan hệ sản xuất tồn tại tương ứng trên một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất Hai mặt này hợp thành phương thức sản xuất của xã hội, là nền tảng vật chất của mọi hình thái kinh tế - xã hội Toàn bộ những quan hệ sản xuất vật chất hiện thực là

cơ sở hạ tầng của xã hội, tức là “cơ sở thực tại” trên ấy xây dựng một kiến trúc thượng tầng tương ứng Đó là những quan điểm về chính trị, đạo đức, pháp luật, triết học v.v cùng các thể chế tương ứng

V.I.Lênin đã kế thừa những tư tưởng cơ bản của C.Mác, phát triển và làm phong phú thêm lý luận hình thái kinh

tế - xã hội V.I.Lênin nhấn mạnh, C.Mác đã làm nổi bật lĩnh vực kinh tế trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, tách riêng quan hệ vật chất trong hệ thống quan hệ xã hội, coi đó là bộ xương của cơ thể xã hội V.I.Lênin đã phân biệt hai loại quan hệ xã hội là quan hệ vật chất và quan hệ tư tưởng của xã hội Trên lập trường duy vật lịch

sử, các nhà kinh điển mácxít khẳng định, những quan hệ vật chất của xã hội là quan hệ cơ bản quyết định các quan hệ xã hội khác và chỉ ra cấu trúc hiện thực của một xã hội cụ thể thông qua phạm trù hình thái kinh tế - xã hội

* Nội dung cơ bản gồm những vấn đề sau:

Bất cứ XH nào trong 1 giai đoạn l.sử nhất định, bao giờ cũng là 1 chỉnh thể với 1 cơ cấu chung thống nhất gồm 3 yếu tố

cơ bản có vai trò vị trí không giống nhau đó là LLSX, QHSX và KTTT

LLSX phản ánh mối QH giữa con người với tự nhiên đánh dấu trình độ chinh phục tự nhiên của con người là yếu tố vai trò quyêt định suy đến cùng của sự vận động biến đổi của 1 hình thái KTXH từ thấp đến cao

QHXH là mối q.hệ giữa người với người trong mọi quá trình SX, nó là tiêu chuẩn KQ, quan trọng nhất để phân biệt sự khác nhau về chất giữa các hình thái KTXH; là nhân tố cơ bản quyết định tất cả các mối q.hệ khác của XH; là “cái sườn”

để giải thích cơ cấu và sự p.triển của 1 HTKT-XH nhất định

KTTT được phát sinh, hình thành từ QHSX (cơ sở hạ tầng) có vai trò là công cụ trực tiếp bảo vệ QHSX đặc trưng, thống trị của HTKT-XH mới và cải tạo cơ sở hạ tầng của hình thái k.tế - XH cũ

=> Các yếu tố cấu thành HTKT-XH có mối q.hệ biện chứng khách quan trong 1 chỉnh thể thống nhất không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Trong đó, QHSX là nhân tố cơ bản nhất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau của các HTKT-XH và chi phối các yếu tố khác của HTKT-XH

* Sự p.triển của các HTKT-XH là 1 quá trình l.sử tự nhiên :

+ Q.luật vận động, p.triển của HTKT-XH là khách quan giống như q.luật của giới tự nhiên, không phụ thuộc vào ý

chí, mà còn quyết định cả ý chí của con người Nhưng q.luật vận động, p.triển của XH chỉ được thực hiện thông qua hoạt động có mục đích của con người

+ Sự vận động, p.triển của HTKT-XH là sự vận động tổng hợp của các q.luật: q.luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ p.triển của lực lượng sản xuất, q.luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và các q.luật XH khác Chính sự tác động của các q.luật khách quan đó mà các hình thái k.tế XH vận động p.triển từ thấp đến cao

+ Nguồn gốc sâu xa sự vận động p.triển của XH là sự p.triển của lực lượng sản xuất, dẫn đến sự thay đổi QHSX, đến lượt mình QHSX làm thay đổi kiến trúc thượng tầng, và do đó HTKT-XH cũ được thay đổi bằng HTKT-XH mới cao hơn, tiến bộ hơn

+ Tính l.sử - tự nhiên của HTKT-XH không chỉ diễn ra tuần tự từ HTKT-XH này sang HTKT-XH khác cao hơn mà còn bao hàm sự p.triển rút ngắn, bỏ qua 1 hình thái k.tế nào đó p.triển lên 1 hình thái cao hơn trong những điều kiện nhất định

(Mỗi dân tộc không chỉ bị chi phối bởi q.luật chung mà còn bị tác động bởi các điều kiện về tự nhiên, về c.trị, về truyền thống văn hóa, về điều kiện quốc tế,v.v cho nên Lých sử p.triển của nhân loại hết sức đa dạng)

Thực tiễn l.sử cho thấy: sự vân động p.triển của l.sử diễn ra theo hai con đường Dòng chính của l.sử theo q.điểm của Mác Nó tuần tự trải qua các HTKTXH từ thấp đến cao: CSNT- CHNL- PK- TBCN- CSCN Ngoai dòng chính 1

Trang 4

dân tộc nào đó có thể bỏ qua những giai đoạn nhất định để tiến lên 1 HTKTXH cao hơn Mác gọi đây là con đường rút ngắn của l.sử.

* Giá trị của học thuyết :

- Ra đời hơn 150 năm, trước những biến đổi to lớn sâu sắc của thời đại, ngày nay học thuyết HTKT-XH vẫn còn nguyên giá trị khoa học và thời đại của nó

- Bằng PP l.sử - logic, Mác đã phân tích thực tiễn những nước tư bản p.triển cao, điển hình và từ đó phân tích thực tiễn toàn nhân loại để rút ra q.luật chung nhất, cơ bản nhất của XH loài người

- Học thuyết về HTKT-XH ra đời là 1 cuộc CM trong toàn bộ quan niệm về LS XH

- Học thuyết về HTKT-XH là biểu hiện tập trung của quan niệm DV về LS, là cụ thể hóa quan niệm DVBC trong xem xét đời sống XH Chỉ ra động lực của LS nằm ngay trong hoạt động thực tiễn vật chất của con người Chỉ ra q.luật khách quan về sự vận động p.triển của XH loài người

- Học thuyết Mác về HTKT-XH đã khắc phục được q.điểm q.điểm duy tâm, trừu tượng, vô căn cứ về XH Nó bác

bỏ cách miêu tả XH 1 cách chung chung phi LS Đồng thời nó là cơ sở PPL của các KH, là hòn đá tảng cho mọi nghiên cứu về XH Do đó nó là 1 trong những cơ sở lý luận của CNXHKH

Quan điểm sai trái:

- Theo “thuyết kỹ trị” đã tuyệt đối hóa yếu tố kinh tế - kỹ thuật, coi yếu tố kinh tế - kỹ thuật quyết định sự phát triển xã hội, từ đó xoá nhoà sự khác nhau về bản chất của các chế độ xã hội “Thuyết hội tụ” cho rằng, do sự tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật, chế độ tư bản chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ gặp nhau ở “xã hội hậu công nghiệp”

- Alvin Tôphlơ, nhà tương lai học người Mỹ đã nghiên cứu xã hội hiện đại và chia lịch sử ra thành “ba làn sóng" tức “ba nền văn minh” lần lượt kế tiếp nhau, là văn minh nông nghiệp; văn minh công nghiệp và văn minh tin học (còn gọi là văn minh trí tuệ) Lý luận này đã tuyệt đối hoá yếu tố lực lượng sản xuất trong sự phát triển xã hội, xem nhẹ yếu tố quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng Cách tiếp cận các nền văn minh có giá trị nhất định nhưng phiến diện và không chỉ ra được nguồn gốc, động lực của sự phát triển lịch sử xã hội

Câu 3:Những vấn đề có tính quy luật của sự hình thành, phát triển tư tưởng triết học trong lịch sử Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề trong nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam?.

Trả lời:

a Những vấn đề có tính quy luật của sự hình thành và phát triển tư tưởng triết học trong lịch sử

Sự hình thành và phát triển của các tư tưởng triết học phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và nhu cầu phát triển của thực tiễn; Sự hình thành và phát triển của các tư tưởng triết học phụ thuộc vào sự phát triển của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội; Sự hình thành và phát triển của các tư tưởng TH phụ thuộc vào cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hư-ớng triết học cơ bản DV và DT; Sự hình thành và phát triển của các tư tưởng TH phụ thuộc vào cuộc đấu tranh giữa hai phương pháp nhận thức biện chứng và siêu hình; Sự hình thành và PT của các tư tưởng TH liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các trường phái và sự kế thừa các tư tưởng trong lịch sử ; Sự hình thành, PT của các tư tưởng TH có sự liên hệ tác động lẫn nhau với các tư tưởng chính trị, đạo đức, pháp quyền, tôn giáo, nghệ thuật…

b Sự ra đời và phát triển của triết học phương Đông

- Khái niệm triết học phương Đông: là triết học ở các nước phương Đông: gồm triết học ở ấn Độ, Trung Quốc, và các nước khác ở phương Đông tồn tại phương thức sản xuất châu á

- Đặc điểm của triết học phương Đông:

Triết học phơng Đông là thế giới quan, phương pháp luận của xã hội phong đông cổ trung đại

Triết học phơng Đông thường gắn với chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, thần quyền

Triết học phơng Đông thường hướng tới giải quyết các vấn đề chính trị, đạo đức và nhân sinh quan

Triết học phơng Đông không gắn trực tiếp với các khoa học tự nhiên như triết học phương Tây

Triết học phơng Đông quan niệm con người là tiểu vũ trụ Nhận thức, hiểu con người là cơ sở nhận thức TG

- Khái lược sự ra đời, phát triển và thành tựu chủ yếu của triết học phương Đông:

Trang 5

Triết học phương Đông ra đời sớm, phát triển mạnh, là cơ sở thế giới quan phương pháp luận cho xã hội cổ, trung đại trên nền tảng kinh tế “phương thức sản xuất châu á”

Triết học phương Đông phát triển mạnh và đạt được nhiều thành tựu ở các nước ấn Độ, Trung Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc…

Triết học ấn Độ có 9 trường phái, đặc biệt là triết học Phật giáo: Tư tưởng DV thô sơ và BC tự phát, những quan điểm về nhân văn, nhân đạo vị tha, duy tâm thần bí thoả hiệp …

Triết học Trung Quốc với Âm- Dương, Ngũ hành, Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia đã đạt được nhiều thành tựu về thế giới quan duy vật, phép biện chứng, quan điểm chính trị xã hội, nhân sinh quan phong phú, đa dạng, sâu sắc

c Sự ra đời, phát triển của triết học phương Tây trước Mác

- Khái lược sự ra đời và phát triển của triết học phương Tây trước Mác:

Triết học ra đời sớm, phát triển mạnh ở các nước phương Tây, là cơ sở lý thế giới quan phương pháp luận cho

xã hội cổ, trung, cận đại ở phương Tây

Triết học phương Tây phát triển mạnh và đạt được nhiều thành tựu ở Hy Lạp Lamã cổ đại, Anh, Pháp, Đức thời kỳ phục hưng, cận đại

Triết học Hylạp La mã 9 trường phái, DV, DT, BC, SH, Vô thần hữu thần, khả tri và bất khả tri luận, nhị nguyên v……

Triết học phương Tây đạt được nhiều thành tựu về các vấn đề chủ yếu của triết học như bản thể luận, nhận thức luận, thế giới quan duy vật, phép biện chứng, quan điểm chính trị, đạo đức, tôn giáo v…

- Những đặc điểm chủ yếu của triết học phương Tây trước Mác:

Triết học ra đời sớm, phát triển mạnh phong phú là cơ sở lý thế giới quan phương pháp luận cho xã hội nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa ở phương Tây

Triết học phương Tây trước Mác đi sâu giải quyết các vấn đề bản thể luận, nhận thức luận gắn với các quan điểm chính trị xã hội, tôn giáo, đạo đức và nhân sinh

Triết học phương Tây trước Mác thường gắn trực tiếp với khoa học tự nhiên Triết học đi từ nhận thức giới tự nhiên đến nhận thức xã hội và con người

Triết học phương Tây giải quyết vấn đề cơ bản của triết học khác nhau, có sự phân chia và đấu tranh giữa các trường phái phản ánh những biến đổi của tồn tại xã hội phương Tây

- Những thành tựu cơ bản của triết học phương Tây trước Mác:

Triết học HyLạp Lamã cổ đại, Hê raclít, Đêmôc rít, Platon, Arixtốt với các thành tựu, chủ nghĩa duy vật và tư tưởng biện chứng, nhận thức luận, lôgíchọc…

Triết học cận đại Phranxibêcơn, Brunô, Jônlốccơ, Béccơli, Hyum, Điđrô, Hôbách…….Với những tư tưởng duy vật

vô thần, đề cao khoa học và hướng tới giải phóng con người

Triết học cổ điển Đức là đỉnh cao của triết học cận đại, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trước Mác, tiền đề lý luận trực tiếp cho xuất hiện triết học Mác

Triết học phương Tây đạt được nhiều thành tựu song có nhiều hạn chế về chủ nghĩa duy vật, phép biện chứng, về quan điểm chính trị, về vấn đề con ngời và tôn giáo

d Khái lược về sự ra đời và phát triển tư tưởng triết học Việt Nam thời phong kiến

- Điều kiện lịch sử của sự ra đời và phát triển tư tưởng triết học Việt Nam thời phong kiến:

Việt Nam là một nước nông nghiệp, tồn tại lâu dài phương thức sản xuất châu Á, tư tưởng tôn giáo thần quyền thống trị xã hội, cư dân sống phân tán

Khoa học, văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc không phát triển Quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Việt Nam chịu ảnh hưởng của triết học Trung Quốc và Ấn Độ

Hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Việt Nam gắn với quá trình đấu tranh chống xâm lược, giành chủ quyền dân tộc và xây dựng đất nước

Tư tưởng triết học Việt Nam thường là tư tưởng của các nhà lãnh đạo đất nước trong các thời kỳ lịch sử và những quan niệm sống được tuyền miệng trong nhân dân

Đặc điểm về mặt thế giới quan.

- Chủ nghĩa duy tâm kết hợp với tôn giáo là thế giới quan chung, bao trùm chủ nghĩa duy vật và quan điểm

vô thần chỉ xuất hiện trên từng vấn đề cụ thể

Trang 6

- Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử tư tưởng Việt Nam trong thời kỳ phong kiến diễn ra theo một hình thái đặc biệt cuộc đấu tranh này không có sự phân định rạch ròi trận tuyến, giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.

- Lập trường duy vật hoặc duy tâm trong lịch sử tư tưởng Việt Nam thường thể hiện trong việc giải quyết các mối quan hệ giữa tâm và vật, lý và khí, linh hồn và thể xác, thiên mệnh và nhân định, giữa hưng thịnh và suy vong, giữa trị và loạn, hoạ và phúc…

Đặc điểm về mặt phương pháp luận.

- Trong tư tưởng của các nhà tư tưởng Việt Nam thời kỳ này đã chứa đựng nhiều yếu tố biện chứng, nhưng chỉ là biện chứng tự phát, thiếu tính hệ thống

- Những yếu tố biện chứng và siêu hình thường được thể hiện trong các quan niệm về "đạo", về mối quan hệ giữa thời-thế-lực, giữa lợi ích quốc gia-lợi ích triều đại, lợi ích nhân dân…

- Trên một mức độ nhất định, thuyết "trung dung của đạo nho; thuyết "nhân quả", "luân hồi", "vô thường"… của đạo phật đã có ảnh hưởng tích cực tới sự hình thành các yếu tố biện chứng trong cách xem xét các sự vật, hiện tượng Ngược lại, chính những hạn chế trong phương pháp xem xét của nho-phật-lão đã làm cho phương pháp tư duy của phần lớn các nhà tư tưởng phong kiến Việt Nam trở nên siêu hình

- Những giá trị của tư tưởng triết học Việt Nam thời phong kiến:

Triết học Việt Nam có cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, vấn đề kiếp nghiệp, luận hồi quả báo, vấn đề linh hồn và thể xác khi con người chết và số mệnh con người

Tư tưởng triết học là lý luận về quốc gia độc lập có chủ quyền, lý luận về sức mạnh cộng đồng để giữ nước chống kẻ thù xâm lược, về kế sách dựng nước và giữ nước, an dân

Giá trị đặc sắc của tư tưởng triết học Việt Nam là vấn đề về đạo làm người, đạo làm tướng, làm cha, làm chồng , làm con

Sự kế thừa phát triển và vận dụng sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực tiễn cách mạng Việt nam

- Hồ Chí Minh đã vận dụng TGQ DVBC và PBC duy vật để lý giải một cách đúng đắn, khoa học những vấn đề đặt

ra của lịch sử Việt Nam, tư tưởng HCM là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta

Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phong Miền Nam thống nhất TQĐường lối dương cao ngọn cờ, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đường lối kháng chiến kiến quốc

- Sự vận dụng của Đảng ta trong đổi mới toàn diện đất nước, mở cửa hội nhập quôc tế, phát triển kinh tế thị trờng định hướng xã hội chủ nghĩa với sự quản lý của nhà nước Thể hiện sự vận dụng và phát triển những nguyên lý của triết học Mác - Lê nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam

Câu 4:Tư tưởng C.Mác: “tôi coi sự phát triển của các hình thái KTXH là quá trình lịch sử - tự nhiên” với vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

- Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội: là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng

giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng đựơc xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy.

- Về mặt cấu trúc: Tiếp cận xã hội với tính cách một HTKH-XH, C.Mác cho rằng: xã hội không phải là sự kết hợp

ngẫu nhiên giữa các cá nhân, mà là một hệ thống có cấu trúc phức tạp gồm nhiều lĩnh vực: lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực

chính trị; lĩnh vực ý thức, tư tưởng; lĩnh vực các quan hệ xã hội về gia đình, giai cấp, dân tộc có quan hệ biện chứng

với nhau Trong hệ thống các lĩnh vực, các quan hệ xã hội phức tạp đó Mác đã trừu tượng hóa để thấy rõ 3 yếu tố cơ bản QHSX, LLSX và KTTT

- Tính quy luật khách quan trong quá trình vận động phát triển của xã hội:

- sự ra đời tồn tại, phát triển của các HTKTXH, sự thay thế lẫn nhau giữa các HTKTXH theo quy luật khách quan không lệ thuộc vào ý muốn chủ quan Vì:

+ xã hội là một bộ phận của tự nhiên thì trước hết phải tuân theo QL tự nhiên.Các HTKTXH vận động, phát triển

do chính các yếu tố trong lòng vốn có của HTKTXH tác động lẫn nhau Sự vận động, phát triển của các HTKTXH vừa bị chi phối bởi các quy luật phố biến, vừa bị chi phối bởi các quy luật riêng, đặc thù Nguồn gốc sâu xa của sự vận động phát triển của các HTKTXH là ở sự phát triển của lực lượng sản xuất Sự tác động cua các quy luật khách quan làm cho các HTKTXH phát triển thay thế nhau từ thấp đến cao, đó là con đường phát triển chung của nhân loại

Trang 7

- Biểu hiện: + tuân theo cả một hệ thống các QL trong đó có 2 QL cơ bản là: QHSX-LLSX; CSHT-KTTT + quá trình

đó suy đến cùng do LLSX quyết định trong khi sự phát triển của LLSX mang tính khách quan và tuần tự, kế thừa quyết định sự thay thế các QHSX các KTTT với tính chất trình độ từ thấp đến cao tức là tính lịch sử tự nhiên của các HTKTXH

- Vai trò của nhân tố chủ quan đối với tiến trình vận động, phát triển của XH: nếu chỉ thấy quy luật khách

quan thì sự phát triển đó như là quá trinh sinh vật nếu chỉ thấy mặt hủ quan thì duy tâm chủ quan với Mác sự phát triển đó có sự thống nhất giữa quy luật khách quan với năng động chủ quan của con người Vì:

+ con người là chủ thể của lịch sử làm nên lịch sử bằng bàn tay khối óc của mình thông qua hoạt động của con người

mà quy luật xã hội vận động tuy nhiên con người lại không tùy tiện mà lại phải tuân thủ quy luật khách quan

+ con người vói năng động chủ quan của mình có thể nhận thức vận dụng được quy luật khách quan làm cho hoạt động của mình phù hợp với quy luật thúc đẩy lịch sử phát triển vì vậy mọi quá trình xã hội nói chung sự phát triển của HTKTXH nói riêng luôn có sự thống nhất giữa quy luật khách quan với vai trò năng động chủ quan của con người

- Biểu hiện: + hoạt động của con người vừa là cơ sở cho các quy luật lịch sử vận động vừa phải tuân theo quy luật

đó nhờ hoạt động của con người mà quy luật lịch sử vận động đồng thời hoạt động đó lại phải phù hợp với quy luật.+ quá trình lich sử tự nhiên biểu hiện ở tính tuần tự hợp logic từ thấp đến cao của các HTKTXH thực tế lịch

sử đã diễn ra như vậy + quá trình lịch sử tự nhiên biểu hiện sự ra đời phát triển diệt vong của một HTKTXH là tất yếu như nhau ngoài ý muốn của con người nhưng lại chính do hoạt động của con người quyết định + toàn bộ lịch

sử xã hội loài người phát triển tuần tự từ thấp đến cao qua tất cả các HTKTXH đã có xét đến cùng là do sự phát triển của LLSX tuy nhiên do đặc điểm của lịch sử về không gian thời gian với các điều khách quan và chủ quan nhất định có quốc gia phát triển tuần tự có quốc gia phát triển bỏ qua một hay vài HTKTXH để tiến lên HTKTXH cao hơn đó cũng là quá trình lịch sử tự nhiên

Như vậy quá trình lịch sử- tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những diễn ra theo con đường phát triển tuần

tự mà còn bao hàm cả sự bỏ qua, trong những điều kiện nhất định, một hoặc một số hình thái kinh tế xã hội nhất định

Ví dụ: Nga, Ba Lan, Đức…đã phát triển từ chế độ CSNT lên chế độ PK không qua chế độ CHNL; Mỹ, Canađa…

phát triển từ chế độ CHNL lên chế độ TBCN không qua chế độ phong kiến; Trung Quốc đang phát triển từ chế độ

PK lên chế độ XHCN không qua chế đ ộ TBCN; Việt Nam từ xã hội CSNT phát triển lên chế độ PK không qua phát triển chế độ CHNL

Bản chất của vấn đề phát triển bỏ qua một hay vài hình thái kinh tế - xã hội trong tiến trình lịch sử là sự phát triển rút ngắn các giai đoạn, các bước đi của nền văn minh loài người, mà cốt lõi là sự tăng trưởng nhảy vọt của lực lượng sản xuất

Vấn đề quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN: Từ HTKTXH này chuyển sang HTKTXH khác có một giai đoạn lịch sử đặc biệt với độ dài ngắn khác nhau, kết cấu và hình thức biểu hiện khác nhau, đó là thời kỳ quá độ

- Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ chính trị TBCN là khái niệm chỉ sự chuyển biến từ một xã hội tiền tư bản hoặc chủ nghĩa tư bản chỉ mới ra đời lên chủ nghĩa xã hội, trong đó chế độ chính trị là chế độ xã hội chủ nghĩa, còn sự phát triển kinh tế được thực hiện đa thành phần, đan xen hỗn hợp một cách chủ động như khâu trung gian, không trở thành cơ sở kinh tế của chế độ chhính trị TBCN

Xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp

rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức

tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ

- Theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, một dân tộc muốn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa phải có đủ những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan: Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa đã ra đời và tỏ rõ sự ưu việt trong thực tế, HTKT – XH định bỏ qua đã lỗi thời Chủ nghĩa tư bản đã bộc lộ sự hạn chế, lỗi thời, phản động; Phải có sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần của các nước xã hội chủ nghĩa đi trước Cùng

với điều kiện khách quan, các quốc gia, dân tộc phải có đủ nhân tố chủ quan như vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản; đất nước đã sẵn sàng những yếu tố nội lực để thực hiện sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Trang 8

Đặc điểm thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta

- Là quá độ gián tiếp từ một nước thuộc địa nửa phong kiến tiến thẳng lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, trong điều kiện vừa có những thuận lợi vừa có những khó khăn phức tạp

- Đặc trưng quá độ đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta:+ Bỏ qua việc xác lập QHSX thống trị và KT 3

TBCN.+ Kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh LLSX, xây dựng nền kinh tế hiện đại.+ Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN,

với nhiều thành phần kinh tế cùng phát triển, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo

Văn kiện Đại hội Đảng IX viết: “Kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc” (tr 84 – 85) Văn kiện đại hội Đảng XI: “Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối” (tr 73) (Cương lĩnh

1991 mới xác định: phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN)

Tính tất yếu quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta

- Phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử và xu thế thời đại Xét trên bình diện lịch sử toàn nhân loại là sự phát triển tuần tự từ thấp đến cao, nhưng mỗi quốc gia dân tộc cụ thể có thể bỏ qua một hay một vài HTKT – XH

để đi lên HTKT – XH cao hơn Thời đại ngày nay là thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH

- Phù hợp với nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, bảo đảm tốt nhất cho độc lập dân tộc và phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam hiện nay -> Vấn đề này đã được Đảng ta xác định trong Chính cương và sách lược vắn tắt năm 1930 (Cách mạng VN là cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng tiến tới xã hội cộng sản chủ nghĩa)

- Thực tiễn 20 năm đổi mới đất nước đã khẳng định việc lựa chọn con đường đi lên CMXH bỏ qua chế độ TBCN

là hoàn toàn đúng đắn

- Thuận lợi:+ Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng trong sạch, cách mạng và chân chính, được tôi luyện trong

chiến tranh và thử thách trong xây dựng đất nước Với đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo trong quá trình xây

dựng CNXH+ Vai trò quản lý của nhà nước được giữ vững và tăng cường+ Nhân dân ta có truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo và đoàn kết, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng + Môi trường chính trị xã hội ổn định và ngày càng

được củng cố vững chắc

+ Nước ta có nguồn tài nguyên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, lại nằm trong khu vực phát triển năng động của

thế giới

Việt Nam nằm trong một khu vực phát triển năng động nhất của thế giới, thông qua giao lưu hợp tác quốc tế có

thể tận dụng lợi thế để phát triển Trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, giao lưu, hợp tác quốc tế, Việt Nam

có thể tận dụng lợi thế so sánh như về vị trí địa lý, dân số, lao động, tài nguyên, sự ổn định chính trị để đi tắt, đón đầu và phát triển

+ Sự nghiệp đổi mới đất nước đã thu được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực phát triển đất nước

+ Mô hình, định hướng xã hội chủ nghĩa đã khẳng định tính ưu việt

+ Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hoá đã tạo ra khả năng khách quan cho các dân tộc

đang phát triển và Việt Nam có thể “phát triển rút ngắn”, quá độ lên chủ nghĩa xã hội

- Khó khăn:+ Điểm xuất phát thấp, là nước nghèo nàn, lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá + Đang đứng trước

những khó khăn và thách thức lơn, mà tập trung là 4 nguy cơ (Chệch hướng XHCN, tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và quốc tế, tham nhũng và “diễn biến hoà bình”) vẫn còn tồn tại đan xen và diễn biến hết sức phức tạp

Tóm lại, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, ở nước ta là tất yếu khách quan và nước ta có đầy đủ điều kiện, khả năng bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công CNXH Để thực

hiện quá độ phải phát huy và kết hợp tốt điều kiện bên lối đổi mới đúng đắn, nắm vững thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.trong với điều kiện bên ngoài; kết hợp nội lực với

ngoại lực, trong đó nội lực là quyết định và ngoại lực là quan trọng không thể thiếu được

-> Trong các yếu tố của nội lực thì sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định đến thắng lợi

của sự nghiệp đổi mới Vì vậy, Đảng phải tiếp tục đường

Câu 5: Phạm trù vật chất Giá trị của nó với sự phát triển của khoa học hiện đại.

* Đặt vấn đề: Vật chất là một phạm trù nền tảng của chủ nghĩa duy vật triết học Trong lịch sử tư tưởng nhân

loại, xung quanh vấn đề này luôn diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ

Trang 9

nghĩa duy tâm Bản thân quan niệm của chủ nghĩa duy vật về phạm trù vật chất cũng trải qua lịch sử phát triển lâu dài gắn liền với những tiến bộ của khoa học và thực tiễn.

1 Quan niệm của CNDT và CNDV trước Mác về phạm trù v/chất

* CNDT : Tuy thừa nhận sự tồn tại của các SVHT của TG nhưng lại phủ nhận đặc tính tồn tại khách

quan của VC; cho rằng mọi SVHT tồn tại lệ thuộc vào chủ quan, tức là một hình thức tồn tại của ý thức

Pla Tôn: V/chất bắt nguồn từ ý niệm, mọi SVcảm tính đều là cái bóng của ý niệm Hê ghen: Vật chất là do ý niệm tuyệt đối sinh ra Béccơly: Tồn tại tức là được tri giác.

Như vậy, về thực chất, các nhà triết học duy tâm đã phủ nhận đặc tính tồn tại khách quan của vật chất Qua đó, họ chống lại chủ nghĩa duy vật bằng cách phủ nhận phạm trù vật chất nền tảng của chủ nghĩa duy vật Thế giới quan duy tâm rất gần với thế giới quan tôn giáo và tất yếu dẫn họ đến với thần học

* CN Duy vật trước Mác: Thừa nhân sự tồn tại khách quan của TG VC; coi vật chất là tính thứ nhất YT là tính

thứ hai Đứng vững trên lập trường duy vật, cố gắng giải thích tự nhiên bằng chính tự nhiên, không dựa vào l/lượng siêu nhiên nào khác; chống được q/điểm duy tâm, tôn giáo

Tuy nhiên do h/chế bởi nh/thức, thói quen tư duy, do đó rơi vào ph/pháp s/ hình:

+ Khuynh hướng chung là đi tìm bản nguyên ban đầu của thế giới, nguồn gốc của Vật chất từ một vật thể ban đầu có tính chất cảm tính, trực tiếp, coi đó là cái tạo ra SVHT, đó là đi tìm cái có hạn, cái bất biến trong cái vô hạn thường biến đổi.+ Do không tìm được nguồn gốc vật chất, dẫn đến coi vật chất là vật thể cụ thể cố định; đồng nhất sự tồn tại vật chất với sự tồn tại của vật thể; lẫn lộn vật chất với tư cách là một phạm trù nhận thức luận với dạng biểu hiện của

nó là đối tượng của KH cụ thể

2 Tư tưởng Mác, Ăng ghen về vật chất :

- Theo Ph.Ăngghen, để có một quan niệm đúng đắn về vật chất, cần phải có sự phân biệt rõ ràng giữa vật chất với tính cách là một phạm trù của triết học, một sáng tạo của tư duy con người trong quá trình phản ánh hiện thực, tức vật chất với tính cách là vật chất, với bản thân các sự vật, hiện tượng cụ thể của thế giới vật chất

- Bản thân phạm trù vật chất cũng không phải là sự sáng tạo tuỳ tiện của tư duy con người, mà trái lại, là kết quả của “con đường trừu tượng hoá” của tư duy con người về các sự vật, hiện tượng “có thể cảm biết được bằng các giác quan”

- Xét về thực chất, nội hàm của các phạm trù triết học nói chung, của phạm trù vật chất nói riêng chẳng qua chỉ là

“sự tóm tắt trong chúng ta tập hợp theo những thuộc tính chung” của tính phong phú, muôn vẻ nhưng có thể cảm biết được bằng các giác quan của các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất

- Các sự vật, hiện tượng của thế giới, dù rất phong phú, muôn vẻ nhưng chúng vẫn có một đặc tính chung, thống

nhất đó là tính vật chất - tính tồn tại, độc lập không lệ thuộc vào ý thức.

3 Định nghĩa vật chất của Lênin :

* Định nghĩa : “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong

cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

* Phân tích định nghĩa vật chất của Lê Nin :

+ Khi nói vật chất là một phạm trù triết học là muốn nói phạm trù này là sản phẩm của sự trừu tượng hoá, không

có sự tồn tại cảm tính Tính trừu tượng của phạm trù vật chất bắt nguồn từ cơ sở hiện thực, do đó, không tách rời tính hiện thực cụ thể của nó Nói đến vật chất là nói đến tất cả những gì đã và đang hiện hữu thực sự bên ngoài ý thức của con người Vật chất là hiện thực chứ không phải là hư vô và hiện thực này mang tính khách quan chứ không phải hiện thực chủ quan Đây cũng chính là cái “phạm vi hết sức hạn chế” mà ở đó, theo V.I.Lênin sự đối lập giữa vật chất và ý thức là tuyệt đối Tuyệt đối hoá tính trừu tượng của phạm trù này sẽ không thấy vật chất đâu cả, sẽ rơi vào quan điểm duy tâm Ngược lại, nếu tuyệt đối hoá tính hiện thực cụ thể của phạm trù này sẽ đồng nhất vật chất với vật thể, và đó là thực chất quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vấn đề này

Như vậy : Mọi SVHT từ vi mô đến vĩ mô, từ những cái đã biết đến những cái chưa biết, từ những sự vật

“giản đơn nhất” đến những hiện tượng vô cùng “kỳ lạ”, dù tồn tại trong tự nhiên hay trong xã hội cũng đều là

Trang 10

những đối tượng tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người, nghĩa là đều thuộc phạm trù vật chất, đều là các dạng cụ thể của vật chất

Khẳng định trên đây có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phê phán thế giới quan duy tâm vật lý học, giải phóng khoa học tự nhiên khỏi cuộc khủng hoảng thế giới quan, khuyến khích các nhà khoa học đi sâu tìm hiểu thế giới vật chất, khám phá ra những thuộc tính mới, kết cấu mới của vật chất, không ngừng làm phong phú tri thức của con người về thế giới

- Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì đem lại cho con người cảm giác

+ Vật chất luôn biểu hiện đặc tính hiện thực khách quan của mình thông qua sự tồn tại không lệ thuộc vào ý thức của

các sự vật, hiện tượng cụ thể, tức là luôn biểu hiện sự tồn tại hiện thực của mình dưới dạng các thực thể

+ Các thực thể này do những đặc tính bản thể luận vốn có của nó, nên khi trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào các giác quan sẽ đem lại cho con người những cảm giác

+ Chủ nghĩa duy vật triết học không bàn đến vật chất một cách chung chung, mà bàn đến nó trong mối quan hệ với ý thức của con người

+ Xét trên phương diện nhận thức luận thì vật chất là cái có trước, là tính thứ nhất, là cội nguồn của cảm giác (ý thức); còn cảm giác (ý thức) là cái có sau, là tính thứ hai, là cái phụ thuộc vào vật chất Đó cũng là câu trả lời theo lập trường nhất nguyên duy vật của V.I.Lênin đối với mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học

- Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó

+ Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất

+ Trong thế giới ấy, theo quy luật vốn có của nó mà đến một thời điểm nhất định sẽ cùng một lúc tồn tại hai hiện tượng - hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần

+ Các hiện tượng vật chất luôn tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào các hiện tượng tinh thần

+ Các hiện tượng tinh thần (cảm giác, tư duy, ý thức ), lại luôn luôn có nguồn gốc từ các hiện tượng vật chất và những gì có được trong các hiện tượng tinh thần ấy (nội dung của chúng) chẳng qua cũng chỉ là chép lại, chụp lại, là bản sao của các sự vật, hiện tượng đang tồn tại với tính cách là hiện thực khách quan

Như vậy: Cảm giác là cơ sở duy nhất của mọi sự hiểu biết, song bản thân nó lại không ngừng chép lại, chụp lại,

phản ánh hiện thực khách quan, nên về nguyên tắc, con người có thể nhận thức được thế giới vật chất

+ Trong thế giới vật chất không có cái gì là không thể biết, chỉ có những cái đã biết và những cái chưa biết, do hạn chế của con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

+ Khẳng định trên đây có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bác bỏ thuyết “bất khả tri”, đồng thời có tác dụng khuyến khích các nhà khoa học đi sâu tìm hiểu thế giới vật chất, góp phần làm giàu kho tàng tri thức nhân loại

c Ý nghĩa phương pháp luận :

- Quan niệm của triết học Mác - Lênin về vật chất nói chung và định nghĩa vật chất của Lênin nói riêng, đã giải quyết hai mặt vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, qua đó vừa chống được những quan điểm duy tâm, thuyết bất khả tri, vừa khắc phục được những hạn chế của CNDV trước Mác về phạm trù VC - Cung cấp những nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận khoa học để đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết không thể biết, chủ nghĩa duy vật siêu hình và mọi biểu hiện của chúng trong triết học tư sản hiện đại về phạm trù này - Tạo cơ sở cho sự liên kết giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử thành một hệ thống lý luận thống nhất, góp phần tạo ra nền tảng lý luận khoa học cho việc phân tích một cách duy vật biện chứng các vấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử - Là cơ sở khoa học vững chắc cổ vũ các nhà khoa học đi tìm những vật chất mới, những thuộc tính mới của vật chất trong tất cả các lĩnh vực của TN, XH, TD

d Vận dụng: Phải xuất phát từ điều kiện vật chất khách quan đó và đang có làm cơ sở cho mọi hành động của

mình; không được lấy ý muốn chủ quan làm điểm xuất phát Khi đề ra mục tiêu, nhiệm vụ và các biện pháp thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ cho địa phương mình, đơn vị mình, ngành mình, phải nắm chắc tình hình thực tế khách quan thì mới nêu ra mục đích, chủ trương đúng và sẽ đi đến thắng lợi trong hoạt động thực tiễn Chống thái độ chủ quan, duy ý chí, nóng vội, bất chấp quy luật khách quan, không đếm xỉa đến điều kiện vật chất khách quan, tuỳ tiện, phiến diện, lấy ý muốn, nguyện vọng, cảm tính làm xuất phát điểm cho chủ trương chính sách; hậu quả

là đường lối không hiện thực, không tưởng và tất yếu sẽ đi đến thất bại trong hoạt động thực tiễn

Câu 6: Ý nghĩa cách mạng và giá trị bền vững của học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội Phê phán những quan điểm sai trái về vấn đề này hiện nay?

Trả lời

Giá trị khoa học của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội

Trang 11

Trước Mác, chủ nghĩa duy tâm giữ vai trò thống trị trong khoa học xã hội Sự ra đời học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã đưa lại cho khoa học xã hội một phương pháp nghiên cứu thực sự khoa học Đó là:

Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định các mặt của đời sống xã hội Cho nên, không thể xuất phát từ ý thức, tư tưởng, từ ý chí chủ quan của con người để giải thích các hiện tượng trong đời sống xã hội mà phải xuất phát từ phương thức sản xuất

Xã hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên, máy móc giữa các cá nhân, mà là một cơ thể sống sinh động, các mặt thống nhất chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, quan hệ sản xuất là quan hệ

cơ bản, quyết định các quan hệ xã hội khác, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội Điều đó cho thấy, muốn nhận thức đúng đời sống xã hội, phải phân tích một cách sâu sắc các mặt của đời sống xã hội và mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng Đặc biệt phải đi sâu phân tích về quan hệ sản xuất thì mới có thể hiểu một cách đúng đắn về đời sống xã hội Chính quan hệ sản xuất cũng là tiêu chuẩn khách quan để phân kỳ lịch sử một cách đúng đắn, khoa học

Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên, tức diễn ra theo các quy luật khách quan chứ không phải theo ý muốn chủ quan Cho nên, muốn nhận thức đúng đời sống xã hội phải đi sâu nghiên cứu các quy luật vận động phát triển của xã hội V.I Lênin viết: "Xã hội là một cơ thể sống đang phát triển không ngừng (chứ không phải là một cái gì được kết thành một cách máy móc và do đó cho phép có thể tùy

ý phối hợp các yếu tố xã hội như thế nào cũng được), một cơ thể mà muốn nghiên cứu nó thì cần phải phân tích một cách khách quan những quan hệ sản xuất cấu thành một hình thái xã hội nhất định và cần phải nghiên cứu những quy luật vận hành và phát triển của hình thái xã hội đó"

Kể từ khi học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác ra đời cho đến nay, loài người đã có những bước phát triển hết sức to lớn về mọi mặt, nhưng học thuyết đó vẫn nguyên giá trị Nó vẫn là phương pháp thực sự khoa học để nhận thức một cách đúng đắn về đời sống xã hội Đương nhiên, học thuyết đó "không bao giờ có tham vọng giải thích tất cả, mà chỉ có ý muốn vạch ra một phương pháp duy nhất khoa học để giải thích lịch sử"Gần đây, trước những thành tựu kỳ diệu của khoa học và công nghệ, có những quan điểm đi đến phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và đòi phải thay thế bằng cách tiếp cận văn minh Cách tiếp cận này phân chia lịch sử phát triển nhân loại thành văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh hậu công nghiệp (hay văn minh tin học, văn minh trí tuệ) Thực chất đây là phân chia dựa vào các trình độ phát triển kinh tế, dựa vào trình độ khoa học và công nghệ Rõ ràng, cách tiếp cận này không thể thay thế được học thuyết hình thái kinh tế -

xã hội, nó không vạch ra mối quan hệ giữa các mặt trong đời sống xã hội và các quy luật vận động, phát triển của

xã hội từ thấp đến cao

- Những giá trị khoa học và vai trò PPL của lý luận hình thái kinh tế - xã hội

Sự ra đời lý luận hình thái kinh tế - xã hội là một bước chuyển biến cách mạng trong nhận thức về đời sống xã hội

+ Thứ nhất, lý luận hình thái kinh tế - xã hội chỉ ra: sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức

sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung

Điều đó cho thấy, không thể xuất phát từ ý thức tư tưởng, từ ý chí của con người để giải thích về đời sống

xã hội mà ngược lại, phải tìm cơ sở sâu xa của các hiện tượng xã hội từ trong sản xuất, từ phương thức sản xuất

+ Thứ hai, lý luận hình thải kinh tế - xã hội chỉ ra, xã hội không phải lả sự kết hợp một cách ngẫu nhiên, máy

móc giữa các cá nhân, mà là một cơ thể sống sinh động, các mật thống nhất chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau

+ Thứ ba, lý luận hình thái kinh tế - xã hội chỉ ra rằng, sự phát triển của các hình thái kinh tế - hội là một quá

trình lịch sử - tự nhiên, tức diễn ra theo các quy luật khách quan, chứ không phải theo ý muốn chủ quan Điều đó

cho thấy, để nhận thức và cải tạo xã hội, phải tuân thủ các quy luật khách quan và phát huy tính năng động chủ quan

+ Thứ tư, lý luận hình thái kinh tế - xã hội vừa chỉ ra quy luật phát triển chung của nhân loại, vừa chỉ ra mỗi

dân tộc do điều kiện lịch sử - cụ thể mà có con đường phát triển riêng, đặc thù.

- Khẳng định lý luận HTKT-XH chủ nghĩa Mác đến nay vẫn còn nguyên giá trị, sự sụp đổ của hệ thống XHCN hiện thực nó không bác bỏ học thuyết này, mà nó chứng minh rằng tất cả các mô hình XHCN hiện thực không tuân thủ qlkq của sự vận động HTKT-XH thì sụp đổ là tất yếu

- Thực tiễn đã chứng minh Trước Mác, chủ nghĩa duy tâm thống trị trong khoa học Các nhà triết học thực chất không hiểu được qui luật của sự phát triển xã hội, không thể giải quyết một cách khoa học vấn đề phân loại các chế độ xã hội và phân kỳ lịch sử Học thuyết hình thái kinh tế- xã hội của Mác đã

Trang 12

khắc phục được những quan điểm duy tâm, trừu tượng, vô căn cứ về xã hội, bác bỏ miêu tả xã hội một cách chung chung, phi lịch sử.

- Học thuyết Mác về hình thái kinh tế xã hội, lần đầu tiên cung cấp những tiêu chuẩn thực sự duy vật, khoa học cho việc phân kỳ lịch sử, giúp con người hiểu được lôgíc khách quan của quá trình tiến hoá

xã hội Học thuyết này vạch ra sự thống nhất của lịch sử trong cái muôn vẽ của các sự kiện ở các nước khác nhau trong các thời kỳ khác nhau

- Ngày nay, thực tiễn lịch sử và kiến thức về lịch sử của nhân loại đã có nhiều bổ sung và phát triển mới, song những cơ sở khoa học mà quan niệm duy vật lịch sử đã đem đến cho khoa học xã hội thì vẫn giữ nguyên giá trị

Phê phán các quan điểm sai trái:

- Có quan điểm cho rằng tiếp thu lý luận HT KT-XH của Mác, sau này Lênin đã gắn khái niệm HT KT-XH chỉ với những QHSX Quan điểm trên là sai khi nhìn nhận chưa toàn diện vì:

Khi nghiên cứu QHSX thì bao giờ QHSX cũng tồn tại trên một trình độ nhất định của LLSX Hai yếu tố này hợp thành PTSX và hợp thành nền tảng vật chất của mọi HT KT-XH Sự thay đổi của PTSX sẽ làm thay đổi tất cả những quan hệ xã hội

- Theo “thuyết kỹ trị” đã tuyệt đối hóa yếu tố kinh tế - kỹ thuật, coi yếu tố kinh tế - kỹ thuật quyết định sự phát triển xã hội, từ đó xoá nhoà sự khác nhau về bản chất của các chế độ xã hội “Thuyết hội tụ” cho rằng, do sự tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật, chế độ tư bản chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ gặp nhau ở “xã hội hậu công nghiệp”

- Alvin Tôphlơ, nhà tương lai học người Mỹ đã nghiên cứu xã hội hiện đại và chia lịch sử ra thành “ba làn sóng" tức “ba nền văn minh” lần lượt kế tiếp nhau, là văn minh nông nghiệp; văn minh công nghiệp và văn minh tin học (còn gọi là văn minh trí tuệ) Lý luận này đã tuyệt đối hoá yếu tố lực lượng sản xuất trong sự phát triển xã hội, xem nhẹ yếu tố quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng Cách tiếp cận các nền văn minh có giá trị nhất định nhưng phiến diện và không chỉ ra được nguồn gốc, động lực của sự phát triển lịch sử xã hội

Câu 7 Phân tích luận điểm: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề đối với (người cán bộ quân đội hiện nay).

Vì sao phải đặt ra nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:

Thực tiễn và lý luận là 2 mặt đối lập, có xu hướng vận động tách rời nhau Thực tiễn luôn vận động biến đổi không ngừng, trong khi lý luận kết quả quá trình nhận thức, phản ánh thực tiễn của con người, về mặt hình thức

là chủ quan, có tính độc lập tương đối so với thực tiễn Phải đặt ra nguyên tắc để cho lý luận theo kịp thực tiễn,

phản ánh đúng thực tiễn, đồng thời dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn đúng hướng và có hiệu quả

* Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

“Thống nhất” ở đây không phải là “đồng nhất”, mà là sự thống nhất biện chứng, bao hàm mâu thuẫn Thực tiễn và lý luận cần đến nhau, tác động lẫn nhau, nương tựa vào nhau, bổ sung cho nhau Không có thực tiễn thì không thể có lý luận, ngược lại, không có lý luận khoa học thì cũng không thể có thực tiễn chân chính

Cơ sở chung nhất của nguyên tắc xuất phát từ vai trò của học thuyết Mác - Lênin

- Phát hiện ra vai trò của thực tiễn và nguyên tắc thống nhất giữa lý luận - thực tiễn là một trong các nội dung cơ bản của bước ngoặt cách mạng trong triết học do Mác - Ăngghen thực hiện

- Học thuyết Mác - Lênin là sự biểu hiện sinh động, có sức thuyết phục nhất về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn (vấn đề không chỉ là nhận thức thế giới mà là cải tạo thế giới)

- Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đã thể hiện trong toàn bộ quá trình hình thành, phát triển của lý luận mácxít; cũng như trong thực tiễn cách mạng của của giai cấp công nhân

Cơ sở trực tiếp đi từ vai trò của thực tiễn đối với lý luận và vai trò của lý luận đối với thực tiễn

- Vai trò của thực tiễn đối với lý luận

+ Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, của lý luận: Mọi tri thức của con người đều bắt nguồn từ thực tiễn

Bằng và thông qua hoạt động thực tiễn, con người mới có hiểu biết (tri thức) về sự vật và có cơ sở để khái quát những hiểu biết (tri thức) này thành lý luận Thực tiễn còn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi các nhà lý luận phải giải quyết, trên cơ sở đó, thúc đẩy lý luận phát triển và quy định khuynh hướng phát triển của lý luận Thực tiễn luôn thúc đẩy sự

ra đời của các ngành khoa học mới, của các lý luận mới Bởi thực tiễn luôn vận động, biến đổi, phát triển, luôn đòi hỏi phải được khái quát, tổng kết để làm giàu kinh nghiệm, phát triển lý luận, định hướng cho hoạt động thực tiễn tiếp

Trang 13

theo Thông qua hoạt động thực tiễn, con người cũng cải biến chính bản thân mình, từ việc hoàn thiện các giác quan đến phát triển năng lực, trí tuệ của mình, để nhận thức hiệu quả hơn, khái quát lý luận đúng đắn hơn Ph.Ăng ghen đã

viết: “…chính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là

cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người

ta đã học cải biến tự nhiên” Trong thực tiễn, chính nhu cầu chế tạo, cải tiến công cụ sản xuất cũng như công cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận thức đã thúc đẩy nhận thức, tư duy, lý luận phát triển

+ Thực tiễn là mục đích của lý luận: Để sống, sản xuất vật chất, cải tạo tự nhiên, xã hội buộc con người phải tìm hiểu,

khám phá, nhận thức thế giới xung quanh Vì thế, nhận thức của con người ngay từ đầu đã bị quy định bởi nhu cầu thực tiễn Nếu nhận thức, lý luận không vì thực tiễn, không nhằm phục vụ, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn thì nhất định sẽ mất phương hướng, phải trả giá

+ Thực tiễn là tiêu chuẩn đánh giá sự đúng, sai của lý luận: Con người có được những hiểu biết về thế giới

thông qua hoạt động thực tiễn, đồng thời, chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, con người mới “vật chất hóa” được tri thức, “hiện thực hóa được tư tưởng”, khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm

Với tư cách là tiêu chuẩn chân lý, thực tiễn vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối của thực tiễn

thể hiện ở chỗ, ở mỗi giai đoạn lịch sử - cụ thể thực tiễn luôn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để khẳng định chân

lý, bác bỏ sai lầm Tính tương đối của thực tiễn thể hiện ở chỗ, thực tiễn luôn vận động, biến đổi, phát triển, do đó,

“không bao giờ có thể xác nhận hoặc bác bỏ một cách hoàn toàn một biểu tượng nào đó của con người, dù biểu

tượng ấy là thế nào chăng nữa”

Ý nghĩa phương pháp luận rút ra ở đây là phải có quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động Theo

V.I.Lênin: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức”

- Vai trò của lý luận khoa học đối với thực tiễn

+ Lý luận đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Lý luận khoa học vạch ra phương hướng, phương

pháp cho hoạt động thực tiễn nhằm biến đổi hiện thực khách quan theo hướng tiến bộ vì lợi ích của con người Nếu thực tiễn không được soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo bởi lý luận khoa học thì dễ rơi vào mò mầm, mù quáng, mất phương hướng

+ Lý luận góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn

rộng lớn của đông đảo quần chúng Bởi lẽ, khi lý luận thâm nhập vào đông đảo quần chúng sẽ chuyển hoá thành lực

lượng vật chất vĩ đại cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người + Lý luận khoa học cung cấp cho con người những tri thức khoa học về tự nhiên, xã hội và bản thân con người Trên cơ sở những tri thức khoa học đó, con người có thể làm biến đổi tự nhiên, xã hội và bản thân phục vụ cho mục đích của mình + Lý luận có tính độc lập tương đối so với thực tiễn, do vậy nó có thể tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn Mức

độ, hiệu quả tác động của lý luận đối với thực tiễn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trước hết phụ thuộc vào tính đúng đắn, khoa học của lý luận; mức độ thâm nhập của lý luận vào quảng đại quần chúng nhân dân; vào sự vận dụng sáng tạo, đúng đắn lý luận hay không bởi chủ thể hoạt động thực tiễn

Ý nghĩa phương pháp luận phải thấy được vai trò to lớn của lý luận khoa học, đồng thời không được tuyệt đối hóa lý luận

Thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ Minh: “Lý luận rất cần thiết nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không

có kết quả Do đó, trong học tập lý luận chúng ta cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tế”.

* Nội dung của nguyên tắc

- Lý luận và thực tiễn là hai mặt cơ bản của quá trình hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con người, là một thể thống nhất không thể tách rời Trong mối quan hệ đó, thực tiễn luôn luôn là tính thứ nhất, giữ vai trò quyết định

lý luận, còn lý luận là tính thứ hai, tác động tích cực trở lại thực tiễn - Lý luận chỉ trở thành khoa học khi xuất phát từ thực tiễn, được thực tiễn kiểm nghiệm.- Hoạt động thực tiễn chỉ đạt được mục đích khi được lý luận soi đường.

Không có lý luận khoa học soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, định hướng thì cũng không thể có thực tiễn đúng đắn, đúng hướng, đạt hiệu quả Thực tiễn đúng đắn, đạt hiệu quả là thực tiễn cải tạo được trên thực tế tự nhiên và xã hội, phục vụ cho mục đích tốt đẹp của con người Rõ ràng, sản xuất vật chất chỉ đạt hiệu quả cao; chính trị - xã hội chỉ được cải tạo theo hướng nhân văn vì con người; thực nghiệm khoa học chỉ gắn với phát triển sản xuất và cải tạo xã hội vì con người, khi được chỉ đạo bởi một lý luận thực sự khoa học, đúng đắn

Như vậy, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin, phải được hiểu:

Một mặt, thực tiễn đúng đắn luôn phải được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi một lý luận khoa học Nếu không,

thực tiễn đó sẽ là thực tiễn mù quáng, mò mẫm, mất phương hướng, không có tính hướng đích

Trang 14

Mặt khác, lý luận khoa học phải được hình thành trên cơ sở thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, bằng con đường tổng kết,

khái quát kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh thực tiễn đó và phục vụ thực tiễn Nếu không, lý luận đó sẽ là lý luận suông,

lý luận thuần túy sách vở, xa rời cuộc sống, dễ trở thành lý luận ảo tưởng, không có căn cứ, giáo điều, kinh viện

* Yêu cầu nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

- Nắm vững bản chất khoa học và cách mạng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cơ sở nền tảng

tư tưởng và kim nam cho mọi hoạt động

- Mỗi chủ thể nhận thức và hoạt động thực tiễn phải nắm chắc lý luận của các môn khoa học cụ thể cùng các môn khoa học chuyên ngành, từ đó vận dụng sáng tạo trong điều kiện, tình hình cụ thể.

- Phải có quan điểm thực tiễn đúng đắn, tích cực hoạt động trong thực tiễn; rèn luyện khả năng, trình độ nắm bắt các yêu cầu thực tiễn và nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, từ lý luận trở về thực tiễn phải có

ý chí, tình cảm, có khả năng tổ chức và khả năng vận dụng.

- Phải biết kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn Lý luận cần bám sát thực tiễn, vận dụng và cụ thể hoá sáng tạo Đồng thời, trên cơ sở thực tiễn phải thường xuyên sơ kết, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, khái quát và bổ sung phát triển lý luận; luôn có sự kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng và công tác tổ chức.

- Khắc phục chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm trong nhận thức và thực tiễn

+ Bệnh kinh nghiệm về bản chất là tuyệt đối hóa kinh nghiệm, đề cao thực tiễn để hạ thấp lý luận, coi KN là yếu

tố duy nhất quyết định thành công trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, áp dụng những kinh nghiệm cá biệt,

cụ thể cho mọi trường hợp, mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh; xem thường, hạ thấp lý luận khoa học, không chịu học tập lý luận, không đánh giá đúng vai trò của đội ngũ tri thức…

Nguyên nhân của bệnh kinh nghiệm có nhiều, chẳng hạn như ảnh hưởng tiêu cực của nền sản xuất nhỏ, lúa

nước, theo mùa, theo chu kỳ, ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng gia trưởng, phong kiến, ảnh hưởng của kinh nghiệm chiến tranh quá lâu dài,v.v… Nhưng nguyên nhân cơ bản, trực tiếp là do hạn chế cả về trình độ lý luận

và trình độ tổ chức thực tiễn, trình độ chuyên môn; vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Để khắc phục bệnh kinh nghiệm có hiệu quả, phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó căn bản nhất là

phải thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của nền sản xuất nhỏ; khắc phục tư tưởng gia trưởng, phong kiến, như tư tưởng coi thường tri thức… Đặc biệt, phải nâng cao trình độ lý luận và trình độ tổ chức thực tiễn, quán triệt sâu sắc và vận dụng đúng đắn, sáng tạo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

+ Bệnh giáo điều, về bản chất là tuyệt đối hóa lý luận, xa rời thực tiễn, không đánh giá đúng vai trò của thực tiễn

trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động lý luận, hoặc áp dụng lý luận và kinh nghiệm không tính tới điều kiện lịch sử - cụ thể

Nước ta có hai loại bệnh giáo điều: Một là, giáo điều lý luận, thể hiện ở chỗ vận dụng lý luận không căn cứ vào

những điều kiện lịch sử – cụ thể, học tập lý luận tách rời thực tiễn, xa rời cuộc sống, rơi vào bệnh sách vở, “tầm

chương, trích cú”; bệnh câu chữ… Hai là, giáo điều kinh nghiệm, thể hiện ở chỗ vận dụng kinh nghiệm của

ngành khác, người khác, địa phương khác, nước khác vào mình nhưng không tính tới những điều kiện thực tiễn lịch sử - cụ thể của mình

Nguyên nhân của bệnh giáo điều: ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp quá lâu; ảnh hưởng

của tư tưởng tiểu tư sản, như bệnh thành tích, bệnh hình thức…đặc biệt là hạn chế về trình độ tổ chức thực tiễn, không bám sát thực tiễn, không nhận thức đúng vai trò của thực tiễn đối với lý luận, vi phạm nguyên tắc thống

nhất giữa lý luận với thực tiễn Để ngăn ngừa, khắc phục có hiệu quả bệnh giáo điều, cần thực hiện nhiều giải

pháp, như hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tư tưởng tiểu tư sản, như chủ nghĩa thành tích chủ nghĩa hình thức, v.v nhất là phải quán triệt và vận dụng đúng đắn nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn trong nhận thức và hoạt động thực tiễn./

nước Vấn đề XD nhà nước pháp quyền XHCN ở VN(theo tinh thần nghị quyết ĐH XI).

Trang 15

* Quan điểm triết học Mác - Lênin khẳng định: Nhà nước là công cụ cưỡng bức của giai cấp thống trị nhằm bảo vệ trật tự hiện hành và đàn áp sự phản kháng của giai cấp khác Nhà nước mang bản chất giai cấp sâu sắc - giai cấp tổ chức và sử dụng nó

-> Ph.ăngghen viết: “Nhà nước chẳng qua chỉ là bộ máy trấn áp của một giai cấp này đối với một giai cấp khác, điều đó, trong chế độ cộng hoà dân chủ cũng hoàn toàn giống như trong chế độ quân chủ vậy”

từ lợi ích của giai cấp thống trị

+ Nhà nước bao giờ cũng là của một giai cấp và mang bản chất giai cấp tổ chức, sử dụng nó –> Nhà nước phải phục tùng, tuyệt đối trung thành với giai cấp thống trị, lợi ích của giai cấp là lợi ích của nhà nước đó

+ Bản chất NN còn biểu hiện ở đặc trưng và chức năng của nó:

đặc trưng: quản lý dân cư trên một lãnh thổ nhất định là chủ thể đại diện duy nhất cho chủ quyền quốc gia; nhà nước có bộ máy quyền lực chuyên nghiệp mang tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội; nhà nước hình thành hệ thống thuế khóa để duy trì và tăng cường bộ máy cai trị

Chức năng cơ bản của Nhà nước:

Chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội:

* Chức năng thống trị chính trị của giai cấp: Nhà nước là bộ máy cai trị của 1 giai cấp, nó sẵn sàng sử dụng bạo lực để bảo vệ lợi ích và sự thống trị của giai cấp đó Vd như Nhà nước Mỹ và các Nhà nước phương Tâ

y tuyên bố là nhà nước dân chủ nhất, tuy nhiên đấy không pải là Nhà nước của nhân dân mà chỉ là bộ máy c

ai trị của giai cấp tư sản mà thôi

* Chức năng xã hội: Nhà nước thực hiện một số nghĩa vụ vỡ nhu cầu và lợi ích chung của

cộng đồng dân cư trong sự quản lý của Nhà nước Chức năng thống trị giai cấp là

chức năng chính quy quy định nội dung, phương hướng, mức độ thực hiện chức năng XH của Nhà

nước Chức năng XH nhằm phục vụ chức năng thống trị của giai cấp Thực vậy, Nhà nước muốn

thống trị XH phải thực hiện một số lợi ích chung của cộng đồng để cộng đồng dân cư thừa nhận đó là Nhà nước của họ, hạn chế nổi dậy, chống đối, bạo loạn

Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại:

* Chức năng đối nội: Thực hiện những nhiệm vụ trong phạm vị lónh thổ quốc gia nhằm bảo

vệ sự thống trị của giai cấp thống trị, quản lý XH

* Chức năng đối ngoại: Thực hiện những nhiệm vụ trong quan hệ với các Nhà nước khác

nhằm bảo vệ độc lập quốc gia hoặc mở rộng sự thống trị đến các dân tộc khác

Chức năng đối nội giữ vai trũ quyết định chức năng đối ngoại Chức năng đối ngoại nhằm

mục đích phục vụ chức năng đối nội

-> Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, nhà nước trong mọi xã hội có giai cấp đối kháng bao giờ cũng là công cụ bảo của một giai cấp, bảo vệ địa vị, lợi ích của giai cấp tổ chức và sử dụng nó

* ý nghĩa phương pháp luận

- Là cơ sở khoa học để nhận thức bản chất của nhà nước và quán triệt quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước ta hiện nay

- Là cơ sở để đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái về vấn đề này

Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam:

* Phương hướng theo tinh thần Đại hội XI(tr.246-254)

- Nâng cao nhận thức về NNPQXHCN

+ Mục tiêu: xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dan do Đảng lãnh đạo

+ Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của nhà nước

+ Hoàn thiện hệ thống pháp luật, bổ sung sửa đổi hiến pháp 1992

+Là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân (đại bộ phận là nhân dân lao

động nên Nhà nước vẫn mang tính giai cấp)

+Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà

nước trong việc thực hiện các quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp

Trang 16

+ Nhà nước quản lý XH bằng pháp luật.

- Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước

+ Đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội

+ Xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch nước

+ Đổi mới tổ chức hoạt động của chính phủ

+ Đẩy mạnh cải cách hành chính

+ Đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương

- Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong sạch có năng lực đáp ứng yêu càu trong tình hình mới

- Tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng lãng phí

Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam:

+ Mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản

lý Nhà nước

+ Nâng cao chất lượng hoạt động và kiện toàn tổ chức Quốc hội

+ Tiếp tục cải cách nền hành hành chính Nhà nước (xây dựng Chính phủ điện tử: egovernment)+ Cải cách tư pháp (cải cách toà án)

+ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước (Đảng chỉ tham mưu, không làm

thay cho Nhà nước)

Câu 9: Quan điểm của triết học Mác - Lênin về bản chất con người Ý nghĩa phương pháp luận của vấn

đề đối với phát huy nhân tố con người ở nước ta hiện nay?

Vấn đề con người luôn là vấn đề phức tạp trong lịch sử tư tưởng nhân loại Nhận thức và giải quyết vấn đề con người là nội dung cơ bản trong mọi học thuyết chính trị xã hội, trong đó có triết học Tuy nhiên chỉ đến khi triết học Mác ra đời vấn đề con người mới được giải thích một cách khoa học, lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng về giải phóng con người thực sự mang tính khoa học, cách mạng Khác với tất cả các quan điểm ngoài mác xít, Mác

đã tiếp cận con người hiện thực, đang sống và hoạt động với bàn tay, khối óc của chính họ, gắn với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định

Với tinh thần đó, Mác đã tạo ra bước ngoặt cách mạng, khoa học trong phương pháp tiếp cận con người Đây là cơ sở khoa học để giải thích đúng đắn mọi vấn đề về con người

Bản chất con người

* Con người là một thực thể sinh học - xã hội.

- Con người hiện thực tồn tại và phát triển trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội Đây là một chỉnh thể phức tạp, năng động, luôn luôn vận động, phát triển

Về mặt sinh vật, là mặt tự nhiên, vật chất, nhục thể, sinh vật, tộc loại…con người tồn tại ở cấp độ cơ thể, biểu hiện

trong các hiện tượng sinh lý, di truyền, thần kinh, điện - hoá và các quá trình khác của cơ thể Về mặt này, con người phục tùng các quy luật của tự nhiên, sinh học

Về mặt xã hội, con người tồn tại ở cấp độ nhân cách, biểu hiện trong những quá trình ý thức, tính cách, tính khí; là

tinh thần, ngôn ngữ, ý thức, tư duy, lao động, giao tiếp, đạo đứ…là chủ thể quan hệ xã hội, lao động, giao tiếp, tinh thần…Về mặt này, con người phục tùng các quy luật xã hội

Hai mặt sinh vật và xã hội trong con người thống nhất chặt chẽ với nhau Sự hình thành, phát triển con người

thông qua một quá trình thống nhất giữa cơ chế di truyền và hoạt động xã hội Trong con người, không có cái sinh vật thuần túy, mà đã được xã hội hóa, đồng thời cái xã hội không tách rời cái sinh vật C.Mác cho rằng,

“trong con người, ý thức thay thế bản năng, hoặc bản năng con người là bản năng đã được ý thức”

Cơ chế di truyền quyết định quá trình tiến hoá sinh học của con người, tạo nên cơ sở sinh học cho sự tiến hoá xã hội Quá trình gia nhập hoạt động xã hội, gia nhập vào bối cảnh văn hoá lịch sử của quần thể xã hội đã quyết định

sự hình thành phát triển những phẩm chất xã hội của con người

Cơ chế di truyền không chỉ quyết định về mặt sinh học là chủ yếu mà còn gắn liền với sự hình thành phát triển

bản năng xã hội của con người Ngược lại, quá trình tập nhiễm trong cuộc sống xã hội không chỉ quyết định mặt

xã hội của con người mà còn cải biến mặt sinh học, làm cho cái sinh học thích nghi với hoạt động xã hội Vì vậy,

Ph Ăngghen viết “Giới tự nhiên đạt đến trình độ tự nhận thức được mình: đó là con người”

* Con người vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là chủ thể của lịch sử

- Con người là sản phẩm quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên và lịch sử xã hội Trong quá trình đó, lao động sản xuất là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành, phát triển của con người

- Con người là chủ thể của lịch sử xã hội

Trang 17

* Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội

Con người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội

và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động

trong chừng mực liên quan đến con người

Nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về

Phoiơbắc: "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội".

Từ luận đề trên cho thấy:

- Thứ nhất: không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn

luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định

- Thứ hai: bản chất con người được bộc lộ ra trong cuộc sống, trong các quan hệ xã hội hiện thực và trong toàn

bộ các hoạt động cụ thể của con người: khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội, phát triển y thức, thống nhất cái sinh học - cái xã hội, cái tôi với cái không tôi, cái phố biến và cái đặc thù, đơn nhất…

- Thứ ba: Hệ thống các quan hệ tham gia quy định bản chất con người:+ Quan hệ kinh tế, chính trị, pháp luật

đạo đức, thẩm mỹ tôn giáo khoa học…+ Quan hệ cá nhân, nhóm, giai cấp, cộng đồng + Quan hệ gia đình, giao tiếp, sinh hoạt, dân tộc+ Quan hệ đơn nhất (cá nhân, từng người), quan hệ đặc thù (hệ thống xã hộih, giai cấp) + Quan hệ giữa hiện tại và quá khứ, theo chiều dọc và chiều ngang của lịch sử…

(Con người là một thực thể cá nhân - xã hội; con người giai cấp và con người nhân loại; Con người là sự thống nhất biện chứng giữa tất yếu và tự do; sự tha hoá của con người)

Trong hệ thống các quan hệ trên, quan hệ nào cũng tham gia vào bản chất người, Mác làm nổi bật quan hệ

về mặt kinh tế, có vai trò quyết định

- Thứ tư: Bản chất con người được quy định bằng tổng hoà các quan hệ xã hội, bản chất ấy chỉ hình thành và thể

hiện trong các quan hệ xã hội, những quan hệ ấy chi phối quyết định hành vi của con người trong đời sống hiện thực; quyết định phẩm chất và cuộc sống của từng cá nhân riêng lẻ và làm cho phương thức thoả mãn các nhu cầu con người là phương thức xã hội (cả nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội)

Nếu tách khỏi đời sống xã hội, khỏi môi trường văn hoá xã hội con người không thể hình thành và phát triển bản chất của mình được Con người chỉ tồn tại thực sự, với tư cách người nếu đặt trong các mối quan hệ xã hội

Chú ý: Tổng hoà các quan hệ xã hội không phái là phép cộng giản đơn, thông thường mà là sự khái quát bản chất

cao nhất, là sự thu hút, đúc kết những tinh tuý từ những quan hệ xã hội của con người

- Thứ năm: Bản chất con người không phái cái có sẵn, bất biến mà biến đổi theo sự biến đôỉ các quan hệ xã hội

Bởi vì các quan hệ xã hội hiện thực tạo nên bản chất con người không phải hình thành một lần là xong, không có sẵn, bất biến mà có quá trình hình thành biến đổi, phụ thuộc quá trình hình thành, biến đổi các quan hệ kinh tế ở mỗi quốc gia, dân tộc, trong mỗi giai đoạn lịch sử

Do đó, muốn thay đổi bản chất con người, cải tạo con người phải thay đổi, cải tạo, nâng cao tính người trong

những mối quan hệ xã hội

* Chú ý:

- Bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội hoàn toàn không phủ nhận cá nhân với đầy đủ tính

phong phú da dạng của nó Bản chất là cái sâu sắc chi phối nhưng không phải là cái duy nhất chiếm toàn bộ nội dung hiện thực của con người

- Khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người Bởi vì, ở con người, mặt tự nhiên tồn tại trong sự thống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện những nhu cầu sinh vật ở con người cũng đã mang tính xã hội

Tóm lại, quan điểm của Mác về con người, thể hiện một cách nhìn mới, cách nhìn biện chứng duy vật, tạo nên

bước ngoặt cách mạng trong quan niệm về con người Quan niệm này đã xoá tan lớp mù sương mờ ảo, thần bí vây quanh con người, đồng thời đã đặt cơ sở cho xác định sức mạnh đích thực đầy sức thuyết phục về con người

Nó đặt cơ sở khoa học cho các ngành khoa học về con người phát triển Trong đó, quan niệm của Mác coi tiền đề vật chất cho sự nghiệp giải phóng con người là phát triển LLSX, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất

Sứ mệnh lịch sử đó thuộc về GCCN để đưa con người phát triển toàn diện, từ vương quốc tất yếu sang vương quốc tự do

* Ý nghĩa phương pháp luận

Trang 18

- Đây là cơ sở khoa học cho quan điểm xem xét con người phải xuất phát từ tính hiện thực và toàn diện; khắc phục tính trừu tượng, chung chung xa rời hiện thực và duy tâm siêu hình.- Con người luôn là điểm xuất phát, mục tiêu, động lực của sự nghiệp phát triển xã hội; trung tâm của mọi quyết sách xã hội.- Từng bước hoàn thiện QHSX XHCN Phải nâng cao vị thế của người lao động trong quá trình sản xuất Phát huy sáng kiến của người lao động, chăm lo đời sống vật chất tinh thần của họ, thực hiện phân phối công bằng, công khai, dân chủ - Tăng cường GD đạo đức, khơi dậy lương tâm ngnghiệp, nêu cao trách nhiệm của mỗi người trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ Giáo dục TTYN, nâng cao ý thức tự cường dân tộc, trách nhiệm công dân, bản lĩnh chính trị của mỗi người dân Phê phán mạnh mẽ thói lười biếng, làm bừa, làm ẩu; ngăn chặn làm ăn phi pháp, phi đạo lý.- Thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội, huy động đông đảo quần chúng nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng.- Quan tâm đến GD-ĐT; tăng cường hơn nữa sự phối hợp của gia đình, nhà trường, xã hội trong đào tạo thế hệ trẻ Đổi mới nội dung và phương pháp GD Nội dung giáo dục phải phản ánh được những tri thức quan trọng nhất của thời đại, những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ, phải góp phần giáo dục lòng yêu nước, ý thức tự cường dân tộc, hình thành nhân cách mới của người lao động

Câu 10: Quan điểm triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức

xã hội Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay?

a Khái niệm tồn tại xã hội

Là toàn bộ điều kiện sinh hoạt vật chất và quan hệ vật chất của con người trong những giai đoạn lịch sử nhất định

- Điều kiện vật chất gồm: + Con người lao động, vật chất con người làm ra + Toàn bộ đời sống vật chất của con người: ăn mặc, đi lại, mua bán, trao đổi…

- Tồn tại xã hội gồm 3 yếu tố:

+ Phương thức sản xuất của xã hội (là cách thức mà con người dùng để làm ra của cải vật chất, là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng

+ Điều kiện địa lý: Chính là môi trường sống, điều kiện tự nhiên mà con người sinh sống và hoạt động sản xuất, điều kiện địa lý thuận lợi hoặc khó khăn tác động đến tâm lý tình cảm khác nhau

+ Điều kiện dân số: là mật độ dân số (đông – thưa) đều có sự tác động nhất định như thành thị và miền núi thì ý thức xã hội cũng khác nhau

=>Trong 3 yếu tố thì phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định đối với tồn tại xã hội vì xuất phát chính từ vai trò quyết định của phương thức sản xuất đối với TTXH

- Tồn tại xã hội mang tính lịch sử: ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì tồn tại xã hội cũng khác nhau

b Khái niệm ý thức xã hội

Là mặt tinh thần của đời sống xã hội bao gồm những quan điểm tư tưởng, cùng những tình cảm tâm trạng truyền thống của xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử.

- Nghiên cứu ý thức xã hội ta thấy được nó phản ánh vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa ý thức xã hội với cái nó phản ánh là tồn tại xã hội.- Ý thức xã hội thể hiện tính lịch sử cụ thể, tức là xem xét nó phải gắn với lịch

sử cụ thể, vì mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau có những quan điểm, tư tưởng khác nhau Vì vậy xem xét ý thức xã hội phải gắn với điều kiện lịch sử cụ thể.- Nó vạch ra cơ cấu và trình độ của ý thức xã hội nó bao gồm hệ thống quan điểm tư tưởng…phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử,

Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội

- Cơ sở của quyết định

Một là xuất phát từ vai trò quyết định của vật chất đói với ý thức và vận dụng vào mối quan hệ giữa TTXH và YTXH thì TTXH quyết dịnh YTXH

- Nội dung quyết định:

Một là, TTXH quyết định sự ra đời của YTXH TTXH là nền tảng vật chất cho YTXH sinh ra và tòn tại, phát

triển TTXH là PTSX, hoàn cảnh địa lý, dân số YTXH không sinh ra từ một lực lượng siêu tự nhiên, thần linh hay thượng đế…Trong Hệ tư tưởng Đức, Mác nói: không phải ý thức của họ quyết định tồn tại của họ trái lại tồn tại của họ quyết định ý thức của họ Câu này được nhắc lại trong lời từa phe phán khoa kinh tế chính trị Phoi ơ Bắc; Người ở túp lều tranh có suy nghĩ khác với người ở tòa lâu đài Vấn đề này trái ngược hẳn với Hê ghen, tôn giáo, duy tâm

Hai là, tồn tại xã hội quyết định nội dung ý thức xã hội

Trang 19

Những nội dung này của ý thức xã hội như thế nào thì ý thức xã hội phản ánh như thế Có thể dựa vào YTXH mà phát hiện ra đặc điểm TTXH TTXH có những đặc điểm gì, chất lượng đời sống vật chất như thế nào, điều kiện sống như thế nào, mâu thuẫn…đều được phả ánh vào đời sống tính thần và YTXH

Ba là, TTXH quyết định tính chất của YTXH

Vấn đề này bàn về tính chất thuần nhất hay đối kháng trong đời sống tinh thần, ý thức xã hội Nếu đời sống vật chất chứa đựng đối lập nhau giữa các lực lượng( Kẻ ăn không hết, người lầm không ra, ngồi mát ăn bát vàng) thì trong tư tưởng cũng đối lập nhau ( Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa; bao giờ dân nổi can qu, con vua thất thế lại ra quét chùa) Khi đới sống vật chất công bằng bình đẳng thì đơi sóng tính thần, ý thức xã hội cũng phản ánh và biểu hiện ở tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau

Bốn là, TTXH quyết định sự biến đổi YTXH

Khi TTXH thay đổi, trực tiếp nhất là PTSX thay đổi thì YTXH thay đổi theo Khi xã hội cộng sản nguyên thủy với chế độ công hữu về TLSX thì YTXH hòa vào nhau Khi chế độ tư hữu đầu tiên là CHNL ra đời thìYTXH có cái mới là cá nhân, đối lập với xã hội Rut Xô nói: Toàn bộ bất hạnh của con người bắt đầu từ khi người ta cắm xuống đất cái biển chỗ này là của tôi

Tương tự như vậy thì sự ra đời xã hội phong kiến thì ý thức xã hội phong kiến cũng xuất hiện thay thé ý thức xã hội CHNL, khi chế độ tư bản thay thế phong kiến thì ý thức con người cũng thay đổi và cho ý thức xã họi tư bản

Luận điểm trên cho thấy, tồn tại xã họ là tính thứ nhất và ý thức xã hội là tính thứ hai trong thế giới quan và phương pháp luận Khi xác định ý thức xã họi là tính thứ hai, tòn tại xã họi là tính thứ nhất không phải là tuy tiện,

mà có cơ sở khoa học từ tiếp cận, luận giải mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Vận dụng tinh thần thế giới quan, phương pháp luận từ giải quyết mối quan hệ này vào đời sống xã hội trên hai mặt cơ bản là tồn tại xã hội và ý thức xã hội thì, tồn tại xã hội là tính thứ nhất và ý thức xã hội là tính thứ hai

Khẳng định nội dung trên cũng cho thấy, ý thức xã hội có nguồn gốc từ tồn tại xã hội Nguồn gốc đó không chỉ ở phương diện ý thức xã hội với tính cách là tổng thể, mặt đối lập với tồn tại xã hội, mà ở từng yếu tố cấu thành ý thức xã hội như tâm lý, tình cảm, quan điểm, lý luận, chính trị, pháp quyền, triết học, tôn giáo, khoa học…đều có nguồn gốc từ tồn tại xã hội, do tồn tại xã hội quyết định

Tồn tại xã họi có những đặc điểm gì về quan hệ vật chất thì ý thức xã hội cũng thể hiện những đặc điểm đó Có thể tìm hiểu tồn tại xã hội từ nhiều kênh khác nhau Một là nghiên cứu trực tiếp các quan hệ có tính vật chất của tồn tại xã hội, nhưng còn kênh thứ hai là tiếp cận, luận giải các hiện tượng tinh thần mà hiểu biết được tồn tại xã hội

Các chế độ xã hội đã diễn ra trong lịch sử, người ta không thể hiểu được nó nếu như không dựa vào hiện tượng tinh thần xã hội của thời đại đó được ghi lại trong các học thuyết, lý luận lưu lại cho đời sau

Toàn bộ nội dung trên cho thấy muốn biết ý thức xã hội với đặc điểm, nọi dung gì, thì tìm hiểu đặc điểm từ TTXH và muốn có YTXH XHCN thì xây dựng chế độ kinh tế XHCN

Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Từ khi bắt đầu s/nghiệp đ/mới cho đến nay, Đảng ta luôn nh/thức và v/dụng đúng đắn, sang tạo mối quan hệ trên; khi sự nghiệp đ/mới ph/triển toàn diện cả về bề rộng và chiều sâu, thì nh/thức và v/dụng MQH này của Đảng ta ngày càng sâu sắc hơn, toàn diện hơn

Từ thực tế q/trình xây dựng CNXH và các bài học rút ra trong th/tiễn; Đảng đã v/dụng sáng tạo q/luật ngay trong thời kỳ đầu s/ nghiệp đ/mới, c/lĩnh x/dựng đất nước đã chỉ ra các phương hướng lớn trong nh/thức và v/dụng q/luật

đó là: “P/triển LLSX, CNH đ/nước theo hướng h/đại… là nh/vụ trung tâm nhằm từng bước x/dựng CSVC-KT cho CNXH, không ngừng nâng cao năng xuất lao động và cải thiện đời sống nhân dân ; phù hợp với sự p/triển của LLSX, thiết lập từng bước QHSX XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về h/thức sở hữu, p/triển nền k/tế H nhiều th/phần theo đ/hướng XHCN, vận hành theo c/chế th/trường, có sự quản lý của n/ nước

* ĐH VIII: “ Nếu CNH,HĐH tạo nên LLSX cần thiết cho chế độ XH mới, thì việc phát triển nền kinh tế nhiều thành

phần chính là để xây dựng hệ thống QHSX phù hợp.”; như vậy chúng ta đã nhận thức đúng đắn phù hợp với TTXH để nhằm phát triển LLSX; phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là để tạo ra sự phù hợp giữa QHSX với LLSX

Trang 20

* ĐH IX:“ ưu tiên phát triển LLSX, đồng thời xây dựng QHSX phù hợp theo định hướng XHCN.” “ Phát triển

LLSX hiện đại gắn với xây dựng QHSX mới phù hợp trên cả 3 mặt sở hữu, quản lý và phân phối”

Về hình thức sở hữu: 03 hỡnh thức cơ bản: Toàn dân, tập thể và tư nhân.Về thành phần kinh tế: 06 thành phần: Nhà nước; tập thể; cá thể, tiểu chủ; tư bản tư nhân; tư bản nhà nước; có vốn đầu tư nước ngoài Để phù hợp với trình độ phát triển của LLSX và phá huy tốt nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển xã hội

Mục đích kinh tế thị trường định hướng XHCN là phát triển LLSX, phát triển kinh tế để xây dựng CSVC-KT của CNXH, nâng cao dời sống mọi mặt của nhân dân cả KT, CT, VH-XH; ĐH khắng định: “Chủ trương xây dựng

và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng về sự phù hợp của quan

hệ sản xuất với tính chất và trình độ của LLSX, đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ

đi lên CNXH.”

* ĐH X:Xác định mô hình XH XHCN mà chúng ta đang xây dựng, có một đặc trưng quan trọng đó là: “Có nền

kinh tế phát triển cao, dựa trên LLSX hiện đại và QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX ”

Thực tế thành tựu của cách mạng Việt Nam trong gần 25 năm đổi mới đã chứng minh sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo MQH TTXH với YTXH trong quá trình đổi mới

Câu 11: Đặc điểm về nội dung và hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật Ý nghĩa của vấn đề đối với người cán bộ hiện nay?

Trả lời

Một số nguyên tắc phương pháp luận cơ bản được rút ra từ nội dung của phép biện chứng duy vật giữ vai trò định hướng cho hoạt động nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng

1 Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

- Vị trí: là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng của phép biện chứng duy vật

- Nội dung nguyên tắc: muốn nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng chúng ta phải xem xét sự tồn tại của nó trong các mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, thuộc tính khác nhau trong chỉnh thể sự vật, hiện tượng ấy và trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác

+ Nguyên tắc toàn diện đối lập với cách nhìn phiến diện một chiều; đối lập với chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện (chủ nghĩa chiết chung chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật, hiện tượng nhưng không rút ra được mặt bản chất, mối liên hệ cơ bản, mà xem xét bình quân, kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau; thuật ngụy biện đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất)

+ Từ quan điểm toàn diện trong nhận thức, chúng ta rút ra cái nhìn đồng bộ trong hoạt động thực tiễn Trong hoạt động thực tiễn phải áp dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để cải tạo sự vật, hiện tượng Trong mỗi giai đoạn phải xác định khâu trọng tâm, then chốt để tập trung lực lượng giải quyết vấn đề.+ Trong hoạt động thực tiễn (các ngành KHTN và KHXH) phải quán triệt quan điểm toàn diện Chúng ta không thể hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng nếu tách nó ra khỏi những mối liên hệ, những tác động qua lại giữa chúng Đây là cơ sở phương pháp luận trong xem xét công cuộc đổi mới của cách mạng Việt Nam hiện nay (nếu không phân tích toàn diện những mối liên hệ, quan hệ sẽ không đánh giá đúng tình hình, thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh)

Ngày đăng: 04/08/2016, 21:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w