Chương 3: giới thiệu hệ thống cung cấp thông tin bất động sản trên nền web cùng cách cài đặt và các thao tác quản trị, các tính năng cơ bản của hệ thống.. Vai trò của dịch vụ cung cấp t
Trang 1MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined.
MỞ ĐẦU 3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC HÌNH VẼ 5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8
1.1 Đặc điểm thị trường và nhu cầu thông tin bất động sản 8
1.2 Hướng phát triển sản phẩm dựa trên nền tảng hệ thống Google Maps 12
1.3 Tổng quan về nguồn mở Joomla 13
3.1.1 Chức năng 18
3.1.2 Chức năng bản đồ 21
1.4 Đặc tả các chức năng cơ bản của hệ thống 24
CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG 26
2.1 Xác định các khái niệm 29
2.1.1 Nhà cung cấp 29
2.1.2 Người dùng 29
2.2 Các chức năng chính của hệ thống 30
2.2.1 Chức năng quản trị và phân quyền người dùng 30
2.2.2 Chức năng quản trị nội dung và hiển thị 30
2.2.2.1 Chức năng quản lý bố cục website 30
2.2.2.2 Chức năng quản lý các chức năng của hệ thống 31
2.2.3 Chức năng quản lý thông tin 31
2.3 Các thuộc tính của hệ thống 31
2.4 Xác định các tác nhân, các ca sử dụng và mô tả các ca sử dụng 32
2.4.1 Xác định các tác nhân và ca sử dụng 32
3.4.2 Biểu đồ ca sử dụng theo gói 34
2.4.3 Mô tả các ca sử dụng 37
2.5 Thiết kế hệ thống 41
2.5.1 Biểu đồ tuần tự đối tượng 41
2.5.2 Biểu đồ cộng tác 44
2.5.3 Biểu đồ lớp 47
2.5.4 Biểu đồ thành phần 48
2.5.5 Biểu đồ triển khai 49
Trang 2CHƯƠNG 3 : CÀI ĐẶT HỆ THỐNG CUNG CẤP THÔNG TIN BẤT
ĐỘNG SẢN 50
3.1 Giới thiệu về hệ thống cung cấp thông tin bất động sản 50
3.2 Cài đặt chương trình 50
3.3 Giới thiệu các tính năng cơ bản của hệ thống thông tin bất động sản 56
3.3.1 Quản trị tài khoản người sử dụng và quyền hạn sử dụng cho từng nhóm 56
3.3.2 Giao diện hiển thị tích hợp bản đồ với công nghệ Google Maps 59
3.3.3 Hỗ trợ sắp xếp lịch hẹn và tải thông tin 60
3.3.4 Hỗ trợ đa ngôn ngữ 61
3.3.5 Hỗ trợ tìm kiếm thông tin 62
3.3.6 Quản lý giao diện hiển thị 64
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC: DANH MỤC MỘT SỐ ĐỊA CHỈ WEBSITE LIÊN QUAN 69
Trang 3MỞ ĐẦU
Với khả năng mở rộng và kết nối không hạn chế của Internet và Web, xu thế của thế giới ngày nay là mọi hệ thống thông tin đều hướng đến môi trường mạng, Internet và Web Website đang ngày càng trở nên là một yếu tố đặc biệt quan trọng có thể ảnh hưởng đến nhận thức của mọi người về hình ảnh, giá trị và năng lực của tổ chức, doanh nghiệp hay cá nhân Cho đến nay số người sử dụng Internet đã lên đến hàng trăm triệu người Và bất cứ một doanh nghiệp hay cá nhân nào dường như cũng cần phải có một website riêng cho mình
Đồ án trình bày về quy trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin bất động sản Trên cơ sở đó tiến hành phân tích, thiết kế hệ thống làm công cụ để trợ giúp việc cung cấp và quản lý thông tin một cách hiệu quả trên nền web
Trước khi phân tích, thiết kế hệ thống tôi trình bày tổng quan về thị trường bất động sản, về nền tảng Google Maps và tổng quan về ngôn ngữ mô hình hóa thống nhất - UML Đây là kiến thức cơ sở để xây dựng hệ thống Phần cuối của
đồ án là kết quả thu được khi cài đặt hệ thống, những đánh giá về kết quả đạt được và phương hướng phát triển hệ thống sau này
Chương 2: giới thiệu tổng quan về ngôn ngữ UML, phân tích thiết kế hệ
thống Xác định chức năng hệ thống, các tác nhân, các ca sử dụng để hiểu rõ yêu cầu hệ thống Mô hình mối quan hệ giữa các lớp và các thành phần
Chương 3: giới thiệu hệ thống cung cấp thông tin bất động sản trên nền
web cùng cách cài đặt và các thao tác quản trị, các tính năng cơ bản của hệ thống
Em rất mong nhận được những nhận xét quý báu của các thầy, cô giáo trong khoa để đồ án của em được hoàn thiện hơn
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
UML Unifield Modeling Language Ngôn ngữ mô hình hóa thống nhất
EI Extra Information Thông tin mở rộng
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Hệ thống bản đồ Google Maps 13
Hình 1.2 Giao diện trang quản trị Section 19
Hình 1.3 Giao diện trang quản trị Category 19
Hình 1.4 Giao diện trang quản trị menu 20
Hình 1.5 Giao diện trang quản trị dữ liệu đa phương tiện 21
Hình 1.6 Giao diện trang tạo Google Maps API Key 23
Hình 1.7 Bản đồ được hình thành 23
Hình 1.8 Bản đồ Google Map đã được tích hợp vào trang web cá nhân 24
Hình 2.1 Các View trong UML 28
Hình 2.2 Biểu đồ ca sử dụng của gói quản lý nhà cung cấp dịch vụ 34
Hình 2.3 Biểu đồ ca sử dụng quản trị, phân quyền người dùng 35
Hình 2.4 Biểu đồ ca sử dụng quản lý thông tin BĐS và lịch hẹn 36
Hình 2.5 Biểu đồ ca sử dụng của gói quản lý chức năng và giao diện hiển thị 37
Hình 2.6 Biểu đồ tuần tự thêm mới thông tin BĐS 41
Hình 2.7 Biểu đồ tuần tự cập nhật thông tin nhà cung cấp 42
Hình 2.8 Biểu đồ tuần tự tìm kiếm thông tin BĐS 43
Hình 2.9 Biểu đồ tuần tự xóa gói giao diện hiển thị 44
Hình 2.10 Biểu đồ cộng tác thêm mới thông tin BĐS 45
Hình 2.11 Biểu đồ cộng tác cập nhật thông tin nhà cung cấp 45
Hình 2.12 Biểu đồ cộng tác tìm kiếm thông tin BĐS 46
Hình 2.13 Biểu đồ cộng tác xóa gói giao diện hiển thị 46
Hình 2.14 Biểu đồ lớp cho gói quản trị người dùng, thông tin BDS và nhà cung cấp 47
Hình 2.15 Biểu đồ lớp cho gói quản trị giao diện hiển thị 48
Hình 2.16 Biểu đồ thành phần của hệ thống 48
Hình 2.17 Biểu đồ triển khai của hệ thống 49
Hình 3.1 Giao diện chọn ngôn ngữ cho hệ thống 51
Hình 3.2 Giao diện kiểm tra cấu hình hệ thống 52
Trang 6Hình 3.3 Giao diện thiết lập các thông số cài đặt hệ thống 53
Hình 3.4 Giao diện thiết lập cấu hình hệ thống 54
Hình 3.5 Giao diện trang quản trị template 55
Hình 3.6 Giao diện trang chủ hệ thống 56
Hình 3.7 Vùng quản trị người sử dụng của hệ thống 57
Hình 3.8 Giao diện đăng ký người dùng mới 58
Hình 3.10 Giao diện hiển thị thông tin tích hợp bản đồ 60
Hình 3.11 Form đăng ký thông tin hẹn gặp 61
Hình 3.12 Giao diện vùng hỗ trợ dịch và chuyển đổi nội dung 62
Hình 3.13 Giao diện tìm kiếm của hệ thống 63
Hình 3.14 Giao diện phần hiển thị thông tin phân loại theo vùng 64
Hình 3.15 Giao diện đặt thông số cho template 65
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Các chức năng của nhóm chức năng quản trị và phân quyền người
dùng 30
Bảng 2 Các chức năng của nhóm chức năng quản lý bố cục website 30
Bảng 3 Các chức năng của nhóm chức năng quản lý thông tin 31
Bảng 4 Các tác nhân của hệ thống 32
Bảng 5 Các ca sử dụng của hệ thống 32
Bảng 6 Mô tả ca sử dụng thêm mới thông tin PR 37
Bảng 7 Mô tả ca sử dụng cập nhật thông tin US 38
Bảng 8 Mô tả ca sử dụng tìm kiếm thông tin BĐS 39
Bảng 9 Mô tả ca sử dụng xóa giao diện hiển thị 40
Trang 8CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Đặc điểm thị trường và nhu cầu thông tin bất động sản
Xã hội ngày càng phát triển đồng nghĩa với nhu cầu về bất động sản ngày càng tăng cao Với những người có thu nhập cao thì đó là nhu cầu về 1 căn hộ cao cấp hoặc biệt thự sang trọng Với sinh viên thì đó là nhu cầu thuê nhà trọ để học tập, nghiên cứu, với các công ty, tổ chức thì đó là nhu cầu thuê văn phòng, trụ sở làm việc, …
Hầu hết ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường, thị trường BĐS đều hình thành và phát triển qua 4 cấp độ: sơ khởi, tập trung hoá, tiền tệ hoá và tài chính hoá
- Thứ nhất, cấp độ sơ khởi: Đó là giai đoạn của tất cả mọi người đều có
thể tạo lập được nhà của mình Giai đoạn này chỉ cần có một mảnh đất là có thể hình thành nên một cái nhà và được coi là BĐS Trong cấp độ này, các chính sách về đất đai, các chủ đất và các cơ quan quản lý đất đai đóng vai trò quyết định
- Thứ hai, cấp độ tập trung hoá: Đó là giai đoạn của các doanh nghiệp xây
dựng Trong giai đoạn này, do hạn chế về đất đai, do hạn chế về năng lực xây dựng, không phải ai cũng có thể hình thành và phát triển một toà nhà, một BĐS lớn, một dự án BĐS Trong cấp độ này, các chính sách về xây dựng và các doanh nghiệp, cơ quan quản lý xây dựng đóng vai trò quyết định
- Thứ ba, cấp độ tiền tệ hoá: Đó là giai đoạn của các doanh nghiệp xây
dựng Lúc này, sự bùng nổ của các doanh nghiệp phát triển BĐS, do hạn chế về các điều kiện bán BĐS, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ tiền để phát triển BĐS cho tới khi bán ra được trên thị trường Trong cấp độ này, các ngân hàng đóng vai trò quyết định trong việc tham gia vào dự án này hoặc dự án khác Các chính sách ngân hàng, các ngân hàng và các cơ quan quản lý về ngân hàng đóng vai trò quyết định
Trang 9và thị trường phát triển mạnh, do những hạn chế về nguồn vốn dài hạn tài trợ cho thị trường BĐS, các ngân hàng hoặc không thể tiếp tục cho vay đối với BĐS hoặc sẽ đối mặt với các rủi ro Lúc này, các ngân hàng phải tài chính hoá các khoản cho vay, các khoản thế chấp cũng như các khoản tài trợ cho thị trường nhằm huy động đa dạng hoá các nguồn vốn Trong cấp độ này, các thể chế tài chính, các chính sách tài chính, các tổ chức tài chính và các cơ quan quản lý tài chính là những chủ thể có vai trò quyết định
Có thể thấy rằng, không nhất thiết mỗi một nền kinh tế, mỗi một thị trường BĐS đều tuần tự trải qua từng nấc, từng cung bậc như trên Cũng không nhất thiết các cấp độ phát triển thị trường phải có giai đoạn như nhau về thời gian Cũng không nhất thiết, các cấp độ phát triển của thị trường phải là kết thúc giai đoạn này rồi mới chuyển sang giai đoạn khác Các nền kinh tế, nhất là các nền kinh tế đã phát triển qua cả 4 cấp độ từ rất lâu chẳng hạn như Úc và New Zealand, các tài sản BĐS đã được chứng khoán hoá với tỷ lệ rất cao Các nước có nền kinh tế chuyển đổi đều áp dụng chủ yếu là liệu pháp “sốc”, tức là áp dụng đồng loạt tất cả các cơ chế, chính sách theo chuẩn của các nền kinh tế thị trường nên hiện nay, thị trường BĐS cũng đã ở cấp độ tài chính hoá
Trong mỗi cấp độ phát triển của thị trường BĐS, quá trình vận động của thị trường đều có chu kỳ dao động tương tự như nhiều thị trường khác
Chu kỳ dao động của thị trường BĐS gồm có 4 giai đoạn: phồn vinh (sôi động), suy thoái (có dấu hiệu chững lại), tiêu điều (đóng băng) và phục hồi (nóng dần lên và có thể gây “sốt”) Chẳng hạn như thị trường BĐS nước Mỹ trong khoảng 1 thế kỷ (1870-1973) trải qua 6 chu kỳ dao động, bình quân mỗi chu kỳ khoảng 18 năm; thị trường BĐS nước Nhật từ năm 1956 đến nay trải qua 4 chu
kỳ, mỗi chu kỳ khoảng 10 năm; thị trường BĐS Hồng Kông từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay đã có 8 chu kỳ dao động, chu kỳ ngắn hạn là từ 6-7 năm, dài là 9-10 năm, trung bình là 8-9 năm Thị trường BĐS Trung Quốc tuy hình thành chưa lâu nhưng từ năm 1978 đến nay cũng đã có 4 chu kỳ dao động, trong
đó đáng chú ý có chu kỳ cực ngắn (1992-1994), tăng trưởng “phi mã” trong 2 năm 1992- 1993 rồi suy sụp rất nhanh trong năm 1994
Trang 10Thị trường BĐS mang tính vùng, tính khu vực sâu sắc và không tập trung, trải rộng trên khắp các vùng miền của đất nước
BĐS là một loại hàng hoá cố định và không thể di dời về mặt vị trí và nó chịu ảnh hưởng của các yếu tố tập quán, tâm lý, thị hiếu Trong khi đó, tâm lý, tập quán, thị hiếu của mỗi vùng, mỗi địa phương lại khác nhau Chính vì vậy, hoạt động của thị trường BĐS mang tính địa phương sâu sắc
Mặt khác, thị trường BĐS mang tính không tập trung và trải rộng ở mọi vùng miền của đất nước Sản phẩm hàng hoá BĐS có “dư thừa” ở vùng này cũng không thể đem bán ở vùng khác được Bên cạnh đó, mỗi thị trường mang tính chất địa phương với quy mô và trình độ khác nhau do có sự phát triển không đều giữa các vùng, các miền, do điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế-văn hoá-xã hội khác nhau dẫn đến quy mô và trình độ phát triển của thị trường BĐS khác nhau Thị trường BĐS ở các đô thị có quy mô và trình độ phát triển kinh tế cao thì hoạt động sôi động hơn thị trường BĐS ở nông thôn, miền núi v.v
Vai trò của dịch vụ cung cấp thông tin bất động sản
- Cung cấp thông tin cho các chủ thể tham gia vào hoạt động giao dịch
hàng hoá bất động sản
Do tính đặc thù của hàng hoá bất động sản và thị trường bất động sản, nó
là một thị trường không hoàn hảo, thông tin về thị trường, về hàng hoá không thật đầy đủ và không được phổ biến rộng rãi như các hàng hoá khác và tiêu chí tham gia đánh giá bất động sản cũng không chính xác như các hàng hoá khác Chính vì vậy hệ thống thông tin đóng một vai trò quan trọng đối với sự vận hành của thị trường trường bất động sản, đó là toàn bộ các thông tin liên quan đến bất động sản, bao gồm các thông tin về: luật pháp, chính sách đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, vị trí của bất động sản, môi trường, nhu cầu, mức cung tâm
lý, tập quán… Bất động sản là một hàng hoá đặc biệt, khan hiếm, chịu sự tác động của rất nhiêu yếu tố và là bộ phận tài sản quan trọng của các doanh nghiệp,
tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội và của các hộ gia đình và cá nhân Khi trên thị trường thông tin về các giao dịch đầy đủ, đồng bộ sẽ đưa thị trường bất
Trang 11những thông tin đó, họ sẽ dễ dàng quyết định lựa chọn thị trường tham gia giao dịch Đồng thời ta biết rằng thị trường bất động sản nước ta mới sơ khai hình thành các giao dịch công khai nên thị trường ít, chủ yếu là giao dịch ngầm, và số lượng người tham gia giao dịch trên thị trường là số lượng nhỏ không đủ để trở thành cạnh tranh hoàn hảo Từ đó dẫn tới giá cả cạnh tranh cũng là không hoàn hảo và người bán có nhiều lợi thế hơn trong việc quyết định Như thế rõ ràng giá
cả ở đây không phản ánh đúng mối quan hệ cung cầu Hệ thống thông tin không hoàn hảo, thiếu chính xác sẽ dẫn đến biến động mạnh, thị trường lên cơn sốt giá hoặc là sụp đổ, người tham gia giao dịch nhiều khi phải chấp nhận những giá quá cao, có nhu cầu mua nhưng lại không có khả năng thanh toán Các tổ chức môi giới là một trong các chủ thể cung cấp thông tin quan trọng trên thị trường bất động sản Hệ thống các tổ chức này càng phát triển, hoạt động càng chuyên nghiệp thì mức độ hoàn hảo của thông tin bất động sản ngày càng cao, hạn chế được rất nhiều rủi ro cho các đối tượng tham gia trên thị trường bất động sản
- Thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển
Do thị trường bất động sản chưa phát triển, người mua và người bán không có cơ hội và đầy đủ lượng thông tin cần thiết để lựa chọn thị trường phù hợp với mình Thị trường bên cạnh sự hoạt động chính thức dưới sự quản lí của nhà nước là thị trường hoạt động không chính thức ngoài sự kiểm soát của nhà nước Thị trường phát triển một cách tự phát, tình trạng đầu cơ vào đất thì nhiều,
từ đó dẫn tới giá quá cao khiến tất cả mọi người không thể biết được giá đó là
“thực” hay là giá “ảo” Vì thế khi mà thị trường “lạnh” số lượng các giao dịch bất động sản ít sẽ dẫn đến nhiều nhà đầu cơ đứng trước bờ phá sản Đồng thời do không nắm bắt được thông tin nên việc định giá cũng thiếu chính xác xảy ra tình trạng đầu cơ tràn lan nhưng không phải ai cũng có lợi nhuận Điều này kìm hãm
sự phát triển của thị trường Rõ ràng thị trường cần phải có tư vấn ở trình độ cao, một trong các loại tư vấn đó là dịch vụ môi giới, cung cấp thông tin bất động sản Thông qua các tổ chức môi giới, các hệ thống cung cấp thông tin – những người
đã qua đào tạo có kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn nắm được thông tin thị truờng, am hiểu pháp luật về bất động sản, giúp các đối tượng có nhu cầu giao
Trang 12dịch bất động sản thoả mãn điều kiện của mình, giúp cho họ tính toán kĩ lưỡng trong việc mua bán để quyết định phù hợp nhất Đồng thời thông qua tổ chức môi giới, việc cung cấp thông tin sẽ được hoàn hảo hơn, việc đầu cơ hay đầu tư bất động sản của các cá nhân tổ chức sẽ có căn cứ xác thực hơn, giá cả bất động sản trên thị trường sẽ phản ánh đúng mối quan hệ cung cầu, đưa các giao dịch vào hoạt động công khai minh bạch, hạn chế tình trạng đầu cơ đất tràn lan, ép giá Vì vậy, hoạt động của tổ chức môi giới, cung cấp thông tin bất động sản có vai trò khá quan trọng, góp phần thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển
1.2 Hướng phát triển sản phẩm dựa trên nền tảng hệ thống Google Maps
Ai cũng biết Google Maps từ lâu đã nổi tiếng là phương tiện tìm đường và xác định hướng đi dễ dàng và hiệu quả nhất Google Map cho phép ta tìm kiếm đường đi hay một địa điểm nào đó trực tiếp trên trình duyệt web Nó hiển thị đường đi, giao thông và cả hình ảnh trên vệ tinh
Có rất nhiều loại bản đồ có sẵn trong Google Maps API Theo mặc định, bản đồ trong Google Maps API hiển thị bằng cách sử dụng chuẩn "sơn" bản đồ theo đường gạch Tuy nhiên, Google Maps API cũng hỗ trợ các loại bản đồ khác như :
- G_NORMAL_MAP: hiển thị chế độ bản đồ đường mặc định
- G_SATELLITE_MAP: hiển thị các hình ảnh vệ tinh Google Earth
- G_HYBRID_MAP: là sự kết hợp giữa chế độ thông thường và biểu đồ
vệ tinh
- G_DEFAULT_MAP_TYPES: chứa một mảng bao gồm cả 3 loại kể trên
- G_PHYSICAL_MAP: hiển thị bản đồ vật lý dựa trên các thông tin về địa hình
Trang 13Hình 1.1: Hệ thống bản đồ Google Maps
Bản đồ Việt Nam trên Google Maps trước chỉ có một số tên tỉnh thành, trục đường, địa danh nổi bật nhất nhưng giờ đây tất cả các thành phố lớn và nhỏ của Việt Nam đều có dữ liệu, từng phố nhỏ, ngõ nhỏ đều được nêu tên, đánh số Hiện tại Google đã cập nhật cho đa số các Thành phố lớn, tỉnh trọng điểm
Các bản đồ bao gồm Bản đồ vệ tinh, bản đồ vector (giống bản đồ giấy), bản đồ địa hình và bản đồ tích hợp (vừa vệ tinh, vừa đường phố) Ngoài ra các địa điểm quan trọng như bệnh viện, trường học, khách sạn, nhà hàng, nhà thờ, khu du lịch, cũng đã xuất hiện trên các bản đồ
1.3 Tổng quan về nguồn mở Joomla
Hệ quản trị nội dung, cũng được gọi là hệ thống quản lý nội dung hay
CMS (Content Management System) là phần mềm để tổ chức và tạo môi trường
cộng tác thuận lợi nhằm mục đích xây dựng một hệ thống tài liệu và các loại nội dung khác một cách thống nhất
Các đặc điểm cơ bản của CMS bao gồm:
- Phê chuẩn việc tạo hoặc thay đổi nội dung trực tuyến
Trang 14- Chế độ soạn thảo WYSIWYG
- Quản lý người dùng
- Tìm kiếm và lập chỉ mục
- Lưu trữ
- Tùy biến giao diện
- Quản lý ảnh và các liên kết (URL)
cả bản quyền sử dụng Một số CMS nổi tiếng như Drupal, WordPress, Movable Type, Joomla và Textpatter,…
Joomla là hệ thống quản trị nội dung mã nguồn mở số 1 thế giới hiện nay Linh hoạt, đơn giản, thanh nhã, tính tuỳ biến rất cao và cực kỳ mạnh mẽ, đó là những gì có thể nói về Joomla Được sử dụng ở trên toàn thế giới từ những trang web đơn giản cho đến những ứng dụng phức tạp Việc cài đặt Joomla rất dễ dàng, đơn giản trong việc quản lý và đáng tin cậy
Joomla là một hệ quản trị nội dung mã nguồn mở (Open Source Content
Management Systems), được viết bằng ngôn ngữ PHP và kết nối tới cơ sở dữ liệu MySQL, cho phép người sử dụng có thể dễ dàng xuất bản các nội dung của họ
Trang 15Joomla có các đặc tính cơ bản là: bộ đệm trang (page caching) để tăng tốc
độ hiển thị, lập chỉ mục, đọc tin RSS (RSS feeds), trang dùng để in, bản tin nhanh, blog, diễn đàn, bình chọn, lịch biểu, tìm kiếm trong site và hỗ trợ đa ngôn ngữ Joomla có mã nguồn mở do đó việc sử dụng Joomla là hoàn toàn miễn phí cho tất cả mọi người trên toàn thế giới
Đối với giao diện của Joomla, có thể tùy biến theo sự sắp đặt của người dùng Để thấy được tính mềm dẻo trong thiết kế giao diện, có thể vào 2 công ty hàng đầu trong lĩnh vực thiết kế template cho Joomla đó là: JoomlArt và Rockettheme
Các khái niệm cơ bản trong Joomla
- Front-end (Frontpage): Là các trang Web mà mọi người sẽ được thấy
khi truy cập vào Web Site Phần này ngoài việc hiển thị nội dung của trang Web còn là nơi mọi người có thể đăng ký thành viên và tham gia quản lý, viết bài đăng trên trang Web
- Back-end (Admin): Là phần quản lý Web Site dành cho các nhà quản trị,
chủ nhân của Web Site Phần này cho phép cấu hình các thông số về hoạt động, nội dung, hình thức và quản lý các thành phần, bộ phận được tích hợp thêm cho Joomla
- Template (Temp): Là giao diện, khuông dạng, kiểu mẫu, hình thức được
thiết kế để trình bày nội dung của trang Web và có các vị trí định sẵn để tích hợp các bộ phận, thành phần của trang Web Joomla cho phép cài đặt và thay đổi Temp cho Website hay cho từng trang khác nhau một cách dễ dàng
Ứng dụng của Joomla
Joomla được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới từ những website đơn giản như là những website cá nhân, cho tới những hệ thống website doanh nghiệp có tính phức tạp cao Dưới đây là một số loại hình website mà đại đa số mọi người
đã sử dụng Joomla để phát triển:
- Các website Doanh Nghiệp hay các Cổng Thông Tin Điện Tử
- Các website Thương Mại Điện Tử trực tuyến
Trang 16- Các website của các Tổ Chức Phi Lợi Nhuận
- Các website của các Cơ Quan Chính Phủ
- Các Cổng Thông Tin Doanh Nghiệp Intranet và Extranet
- Các website của Nhà Thờ và Trường Học
- Các website của Cá Nhân hay của Gia Đình
- Các Cổng Thông Tin Cộng Đồng
- Báo và Tạp chí
- …
Joomla có thể được sử dụng quản trị dễ dàng tất cả nội dung trên website,
từ thêm nội dung và các hình ảnh cho tới cập nhật danh mục sản phẩm hay đặt hàng trước trực tuyến
Ưu thế vượt bậc của Joomla
Joomla hoàn toàn có thể đáp ứng tối đa các nhu cầu về xây dựng, mở rộng website theo ý muốn của người dùng, khả năng thực của Joomla còn nằm ở việc giúp cho hàng nghìn lập trình viên có thể tạo ra những ứng dụng bổ sung,
mở rộng hữu hiệu Dưới đây chỉ là một số ví dụ về hàng trăm những ứng dụng
mở rộng có sẵn :
- Tạo form nhập liệu linh hoạt, nhanh chóng
- Tạo các thư mục của các doanh nghiệp hay các tổ chức
- Hệ thống quản lý tài liệu
- Thư viện hình ảnh và âm thanh
- Thương mại điện tử và đặt mua hàng trực tuyến
- Các diễn đàn thảo luận và phần mềm chat
- Lịch làm việc
- Tạo Blog
- Quản lý thư mục
- Quản lý danh sách Email đăng ký nhận tin tức định kỳ
- Tổng hợp dữ liệu và các công cụ tạo báo cáo
- Các hệ thống quản lý Banner, ảnh quảng cáo…
Trang 17- Và còn nhiều ứng dụng khác
Các thành phần mở rộng (Extension) :
- Module (Mod): Là bộ phận mở rộng thêm chức năng cho Website, các
Mod này có các chức năng khác nhau, được hiển thị trên trang Web tại các vị trí qui định và có thể thay đổi được Một trang Web có thể hiển thị nhiều Mod giống
và khác nhau, Mod có thể được cài đặt thêm vào Website
Các module thông dụng:
+ Lastest News (mod_latestnews): Module hiển thị các tin mới nhất + Popular News (mod_mostreads): Module hiển thị các bài được quan tâm nhiều nhất
+ Related Items (mod_related_items): Module hiển thị các bài viết liên quan
+ Random Image (mod_random_image): Module hiển thị các ảnh ngẫu nhiên
+ Search Module (mod_search): Module công cụ tìm kiếm
+ Login Module (mod_login): Module hiển thị form đăng nhập hệ thống + Stats Module (mod_stats): Module hiển thị các thông tin thống kê về hệ thống
+ Menu Module (mod_mainmenu): Module hiển thị các menu của website
+ Banners Module (mod_banners): Moudule hiển thị các banner quảng cáo
- Component (Com): Là thành phần chính của trang Web, nó quyết định
đến chức năng, hình thức, nội dung chính của mỗi trang Web Com có thể có thêm Mod để hỗ trợ cho việc hiển thị các chức năng và nội dung của Com và có thể được cài đặt thêm vào Web Site
Thông thường sau khi cài đặt Joomla có sẵn các Component: Banners (quản lý các bảng quảng cáo), Contacts (quản lý việc liên hệ giữa người dùng với Ban quản trị Website), Search (quản lý việc tìm kiếm), News Feeds (quản lý các tin tức), Polls (quản lý việc bình chọn, ý kiến của người dùng), Web Links (quản
Trang 18lý các liên kết ngoài Website) và các Com quản lý nội dung của trang Web
- Mambot (Plug-in): Là các chức năng được bổ sung thêm cho Com, các
Mambot này sẽ can thiệp, bổ sung vào nội dung của trang Web trước hoặc sau khi nó được hiển thị Mambot có thể được cài đặt thêm vào Website
Tất cả các thành phần mở rộng đều được cài đặt thêm hoặc gỡ bỏ thông qua các Menu lệnh trong Joomla
3.1.1 Chức năng
- Quản lý nội dung: trong Joomla, có 3 cấp quản lý nội dung:
1 Section: Là cấp quản lý nội dung lớn nhất, chứa các Category Có thể tạo nhiều Section và mỗi Section có thể chứa nhiều Category
Trang 19Hình 1.2 Giao diện trang quản trị Section
2 Category: Là cấp quản lý nội dung nhỏ hơn Section, chứa Content Item
Có thể tạo nhiều Category và mỗi Category có thể chứa nhiều Content Item
Hình 1.3 Giao diện trang quản trị Category
3 Content Item (Article): Là phần nội dung, chứa các văn bản và hình ảnh được hiển thị trên trang Web
Các cấp quản lý nội dung đều được quản lý theo mã số ID nên có thể thay
Trang 20đổi tên mà không ảnh hưởng đến nội dung, địa chỉ liên kết của chúng
- Quản lý Menu : Joomla có rất nhiều kiểu Menu, mỗi Menu sẽ là một
trang hiển thị có nội dung và cách trình bày theo nhiều kiểu khác nhau
Hình 1.4 Giao diện trang quản trị menu
Các Menu này được quản lý theo mã số ID nên có thể thay đổi tên và vị
trí mà ảnh hưởng đến nội dung, địa chỉ liên kết của chúng Joomla cho phép lựa chọn và quyết định Menu nào làm Trang chủ (Home) là trang sẽ xuất hiện đầu tiên khi truy cập vào địa chỉ của trang Web
Tất cả các thành phần, nội dung, trong Joomla đều có thể cho phép hiển thị hay không hiển thị (sử dụng hay không sử dụng) thông qua chức năng
Published hay Unpublish
- Quản lý Media: Trong Joomla, các thành phần media được chia ra thành
nhiều mục tương ứng với từng phần trên site
Trang 21Hình 1.5 Giao diện trang quản trị dữ liệu đa phương tiện
Thư mục Stories là thư mục mặc định để lưu trữ Media cho các nội dung
của trang Web
- Tạo trang đa ngôn ngữ: Joomla có các component mở rộng cho phép
người dùng xây dựng các trang web đa ngôn ngữ Phổ biến nhất hiện nay là component JoomFish, component này cho phép biên dịch các phần cố định của trang web để tạo website đa ngôn ngữ thông qua phần quản trị site
- Tối ưu hoá URL cho các công cụ tìm kiếm (SEF advance OpenSef):
chức năng là dùng để tối ưu hóa đường link của joomla, làm cho website thân thiện hơn với các máy tìm kiếm
Trang 22chuyên gia phát triển phát huy tối đa tính sáng tạo khi xây dựng phần mềm bản
đồ
- Với Google Maps phiên bản mới, người dùng Web có thể duyệt toàn bộ một thành phố; "đi bộ ảo" trên từng con phố; kiểm tra thông tin về nhà hàng, khách sạn hoặc các danh lam thắng cảnh và thậm chí có thể phóng to các biển báo xe buýt hoặc biển chỉ đường
Ngoài ra người dùng còn có thể tra cứu được các dạng bản đồ thực tiễn, các địa điểm nhà hàng, khách sạn, ngân hàng, trên bản đồ Google Maps được
sử dụng không phải trong một hay vài lĩnh vực mà được sử dụng một cách rất rộng rãi trong nhiều ứng dụng từ đơn giản đến phức tạp
Yếu tố cần thiết để đưa Google Map lên website là khai thác giao diện lập trình ứng dụng API (Application Programming Interface) của Google Maps được Google cung cấp miễn phí cho người dùng nhưng với những giới hạn nhất định Bản đồ sẽ có thể xem được nhưng nó nằm ở phía sau một tường lửa (firewall) hay với việc đăng ký tài khoản đăng nhập có phí Dịch vụ Enterprise cũng cung cấp thêm những tính năng mở rộng như quan hệ khách hàng và hỗ trợ
về marketing
Cửa sổ thông tin của bản đồ có các thành phần như cập nhật, điểm đánh dấu, đường kẻ định tuyến để chỉ dẫn Để tích hợp Google Maps lên Website cần thực hiện các bước sau :
Bước 1: đăng ký sử dụng khóa API (API key) tại trang web
http://code.google.com/apis/maps Tuy nhiên, trước khi đăng ký và nhận khóa
API, cần đăng nhập vào tài khoản Google Sau khi đăng nhập, nhấn vào "Sign up
for a Google Maps API key", điền tên miền website vào và nhấn "Generate API key" Hệ thống sẽ tạo một khóa với đoạn mã khá dài để copy và dán vào trong mã
HTML trên trang web
Khóa API này có hiệu lực với một thư mục đơn trên máy chủ Ta có thể sử dụng nó để nhúng một bản đồ Google Map vào bất kỳ trang nào thuộc tên miền
đã đăng ký mà không có giới hạn về số lượng xem trang mỗi ngày
Trang 23Hình 1.6 Giao diện trang Web tạo Google Maps API Key
Bước 2: copy đoạn mã ví dụ vào trong một file văn bản Hầu hết những
thông tin quan trọng nằm trong thẻ <HEAD></HEAD> và một đoạn mã chứa bản đồ trong phần thẻ <BODY> của trang Toàn bộ đoạn mã HTML là một trang bản đồ có thể click và kéo trên giao diện
Trang 24Hình 1.8 Bản đồ Google Maps đã được tích hợp vào trang web cá nhân
Cuối cùng, cho đoạn mã trên vào một chương trình thiết kế website và bổ sung script vào thẻ <HEAD> để tải bản đồ trong phần thẻ <BODY>
1.4 Đặc tả các chức năng cơ bản của hệ thống
Hệ thống được xây dựng cho phép các nhà cung cấp bất động sản có thể đăng tin về việc cho thuê, bán bất động sản mà họ sở hữu Hệ thống cho phép các thông tin được cập nhật một cách tự động, chính xác và nhanh chóng và được lưu vào cơ sở dữ liệu Các thông tin sau ghi được lưu trữ cũng có thể được sửa đổi một cách dễ dàng với những thao tác đơn giản trên giao diện dành riêng cho vùng quản trị
Bên cạnh việc quản lý thông tin, hệ thống còn quản lý cả các nhà cung cấp Với những thông tin của mỗi nhà cung cấp, hệ thống sẽ hỗ trợ người quản trị có thể đưa ra được lịch hẹn phù hợp
Người dùng có thể nhanh chóng tìm được các thông tin bất động sản một cách chính xác mà không phải trả bất cứ khoản phí nào Chỉ cần đăng ký để có một tài khoản trong hệ thống, sau khi đăng nhập người dùng được phép xem các
Trang 25kiếm và chọn lựa Hệ thống còn hỗ trợ việc tìm kiếm và gửi thông tin tự động khi người dùng vì lý do nào đó không thể thực hiện việc tìm kiếm trực tiếp trên site Mọi thông tin của người dùng cũng được quản lý và lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của hệ thống và có cơ chế phân quyền cho người sử dụng, nhóm người sử dụng
Dựa trên công nghệ bản đồ Google Maps được tích hợp trên hệ thống, người dùng được hỗ trợ một cách hiệu quả và trực quan nhất về các thông tin bất động sản từ đó có thể đưa ra được sự lựa chọn đúng đắn và nhanh chóng
Bên cạnh việc quản lý thông tin và người sử dụng, hệ thống còn có chức năng quản lý và thay đổi linh hoạt giao diện hiển thị cũng như cách thức đưa tin trên site, giúp người quản trị dễ dàng thay đổi bài viết, hình ảnh, vị trí hiển thị, và
hỗ trợ hai ngôn ngữ là Tiếng Anh và Tiếng Việt
Trang 26CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG
Ngôn ngữ mô hình hóa thống nhất (Unifield Modeling Language – UML)
là một ngôn ngữ để biểu diễn mô hình theo hướng đối tượng được xây dựng với chủ đích là:
- Mô hình hoá các hệ thống sử dụng các khái niệm hướng đối tượng
- Thiết lập một kết nối từ nhận thức của con người đến các sự kiện cần mô hình hoá
- Giải quyết vấn đề về mức độ thừa kế trong các hệ thống phức tạp, có nhiều ràng buộc khác nhau
- Tạo một ngôn ngữ mô hình hoá có thể sử dụng được bởi người và máy UML là một ngôn ngữ mô hình hoá thống nhất có phần chính bao gồm những ký hiệu hình học, được các phương pháp hướng đối tượng sử dụng để thể hiện và miêu tả các thiết kế của một hệ thống Nó là một ngôn ngữ để đặc tả, trực quan hoá, xây dựng và làm sưu liệu cho nhiều khía cạnh khác nhau của một hệ thống có nồng độ phần mềm cao UML có thể được sử dụng làm công cụ giao tiếp giữa người dùng, nhà phân tích, nhà thiết kế và nhà phát triển phần mềm
Mô hình hóa một hệ thống phức tạp là một việc làm khó khăn Lý tưởng nhất là toàn bộ hệ thống được miêu tả chỉ trong một bản vẽ, một bản vẽ định nghĩa một cách rõ ràng và mạch lạc toàn bộ hệ thống, một bản vẽ ngoài ra lại còn
dễ giao tiếp và dễ hiểu Mặc dù vậy, thường thì đây là chuyện bất khả thi Một bản vẽ không thể nắm bắt tất cả các thông tin cần thiết để miêu tả một hệ thống Một hệ thống cần phải được miêu tả với một loạt các khía cạnh khác nhau: Về mặt chức năng (cấu trúc tĩnh của nó cũng như các tương tác động), về mặt phi chức năng (yêu cầu về thời gian, về độ đáng tin cậy, về quá trình thực thi, v.v và v.v.) cũng như về khía cạnh tổ chức (tổ chức làm việc, ánh xạ nó vào các code module, ) Vì vậy một hệ thống thường được miêu tả trong một loạt các hướng nhìn khác nhau, mỗi hướng nhìn sẽ thể hiện một bức ảnh ánh xạ của toàn bộ hệ thống và chỉ ra một khía cạnh riêng của hệ thống
Trang 27Mỗi một hướng nhìn được miêu tả trong một loạt các biểu đồ, chứa đựng các thông tin nêu bật khía cạnh đặc biệt đó của hệ thống Trong thực tế khi phân tích và thiết kế rất dễ xảy ra sự trùng lặp thông tin, cho nên một biểu đồ trên thật
tế có thể là thành phần của nhiều hướng nhìn khác nhau Khi nhìn hệ thống từ nhiều hướng nhìn khác nhau, tại một thời điểm có thể người ta chỉ tập trung vào một khía cạnh của hệ thống Một biểu đồ trong một hướng nhìn cụ thể nào đó cần phải đủ độ đơn giản để tạo điều kiện giao tiếp dễ dàng, để dính liền với các biểu
đồ khác cũng như các hướng nhìn khác, làm sao cho bức tranh toàn cảnh của hệ thống được miêu tả bằng sự kết hợp tất cả các thông tin từ tất cả các hướng nhìn Một biểu đồ chứa các kí hiệu hình học mô tả các phần tử mô hình của hệ thống UML có tất cả các hướng nhìn sau:
- Hướng nhìn Use case (use case view) : đây là hướng nhìn chỉ ra khía cạnh chức năng của một hệ thống, nhìn từ hướng tác nhân bên ngoài
- Hướng nhìn logic (logical view): chỉ ra chức năng sẽ được thiết kế bên trong hệ thống như thế nào, qua các khái niệm về cấu trúc tĩnh cũng như ứng xử động của hệ thống
- Hướng nhìn thành phần (component view): chỉ ra khía cạnh tổ chức của các thành phần code
- Hướng nhìn song song (concurrency view): chỉ ra sự tồn tại song song/ trùng hợp trong hệ thống, hướng đến vấn đề giao tiếp và đồng bộ hóa trong hệ thống
- Hướng nhìn triển khai (deployment view): chỉ ra khía cạnh triển khai hệ thống vào các kiến trúc vật lý (các máy tính hay trang thiết bị được coi là trạm công tác)
Trang 28Hình 2.1 Các View trong UML
Ngôn ngữ UML bao gồm một loạt các phần tử đồ họa (graphic element)
có thể được kếp hợp với nhau để tạo ra các biểu đồ Bởi đây là một ngôn ngữ, nên UML cũng có các nguyên tắc để kết hợp các phần tử đó
Một số những thành phần chủ yếu của ngôn ngữ UML:
– Hướng nhìn (view): Hướng nhìn chỉ ra những khía cạnh khác nhau của hệ
thống cần phải được mô hình hóa Một hướng nhìn không phải là một bản
vẽ, mà là một sự trừu tượng hóa bao gồm một loạt các biểu đồ khác nhau Chỉ qua việc định nghĩa của một loạt các hướng nhìn khác nhau, mỗi hướng nhìn chỉ ra một khía cạnh riêng biệt của hệ thống, người ta mới có thể tạo dựng nên một bức tranh hoàn thiện về hệ thống Cũng chính các hướng nhìn này nối kết ngôn ngữ mô hình hóa với quy trình được chọn cho giai đoạn phát triển
– Biểu đồ (diagram): Biểu đồ là các hình vẽ miêu tả nội dung trong một
hướng nhìn UML có tất cả 9 loại biểu đồ khác nhau được sử dụng trong những sự kết hợp khác nhau để cung cấp tất cả các hướng nhìn của một hệ thống
– Phần tử mô hình hóa (model element): Các khái niệm được sử dụng
trong các biểu đồ được gọi là các phần tử mô hình, thể hiện các khái niệm hướng đối tượng quen thuộc Ví dụ như lớp, đối tượng, thông điệp cũng
Trang 29đồ khác nhau, nhưng nó luôn luôn có chỉ một ý nghĩa và một kí hiệu
– Cơ chế chung: Cơ chế chung cung cấp thêm những lời nhận xét bổ sung,
các thông tin cũng như các quy tắc ngữ pháp chung về một phần tử mô hình; chúng còn cung cấp thêm các cơ chế để có thể mở rộng ngôn ngữ UML cho phù hợp với một phương pháp xác định (một quy trình, một tổ chức hoặc một người dùng)
2.1 Xác định các khái niệm
2.1.1 Nhà cung cấp
Nhà cung cấp là đối tượng có quan hệ kinh doanh với hệ thống và còn được coi như khách hàng của hệ thống Nhà cung cấp có thể được phân loại theo nhiều nhóm khác nhau như: khách hàng tiềm năng, khách hàng chính thức, khách hàng chưa có hợp đồng, khách hàng đang có các hợp đồng, …vv…
Nhà cung cấp có thể là cá cơ quan, tổ chức, công ty hay cá nhân có nhu cầu đăng tin bán, cho thuê bất động sản
Có sự phân cấp cấu trúc tổ chức và mối quan hệ với nhau giữa các nhà cung cấp Trong trường hợp nhà cung cấp là các tập đoàn lớn, đa quốc gia, có các công ty mẹ và công ty con, nhà cung cấp có nhiều bộ phận, phân khu làm việc tách biệt thì đối với hệ thống, khách hàng đó có nhiều khách hàng con khác hoặc khách hàng của công ty chỉ là một phân khu, một công ty con trong hệ thống phân cấp này
Các thông tin liên quan đến nhà cung cấp:
+ Thông tin chung về công ty
+ Thông tin phân loại và phân cấp khách hàng
2.1.2 Người dùng
Là đối tượng phục vụ của hệ thống cần được phát triển Người dùng là những người có nhu cầu xem, tìm kiếm thông tin, loại thông tin mà hệ thống cung cấp
Trang 302.2 Các chức năng chính của hệ thống
2.2.1 Chức năng quản trị và phân quyền người dùng
Bảng 1 Các chức năng của nhóm chức năng quản trị và phân quyền người dùng
Xóa tài khoản người dùng
người dùng
5
Phân quyền cho người dùng
Xóa bỏ quyền của người dùng
2.2.2 Chức năng quản trị nội dung và hiển thị
2.2.2.1 Chức năng quản lý bố cục website
Bảng 1 Các chức năng của nhóm chức năng quản lý bố cục website
(nếu có)
1 Thêm mới vị trí (vùng) hiển thị
2 Sửa các tham số của vị trí (vùng) hiển thị
3 Xóa vị trí (vùng) hiển thị
- Thêm vị trí hiển thị trên site: chức năng này cho phép người quản trị có thể dễ dàng thêm vào phần hiển thị của website một vị trí hiển thị mới cho một module mới
Trang 31định trên site, người quản trị có thể chuyển đổi giữa các vị trí khác nhau trên site hay thay đổi kích thước, thứ tự hiển thị cho các vùng, các vị trí hiển thị module
- Xóa vị trí hiển thị : cho phép người quản trị xóa các vị trí hiển thị hay thay thế chúng bằng các vị trí hiển thị khác
2.2.2.2 Chức năng quản lý các chức năng của hệ thống
- Thêm chức năng vào hệ thống: cho phép người quản trị có thể cài đặt thêm chức năng mới cho hệ thống mà không làm ảnh hưởng tới các chức năng đã
có
- Sửa chức năng đã có: chức năng này cho phép người quản trị có thể sửa đổi các chức năng đã có của hệ thống, thêm bớt các chức năng con cho từng chức năng cụ thể của hệ thống
- Xóa một chức năng trong hệ thống : người quản trị có thể xóa một chức năng đã có trong hệ thống mà không làm ảnh hưởng tới các chức năng khác
2.2.3 Chức năng quản lý thông tin
Bảng 3 Các chức năng của nhóm chức năng quản lý thông tin
(nếu có)
1 Thêm mới thông tin
2 Xem thông tin
3 Sửa thông tin
4 Xoá thông tin
5 Tìm kiếm thông tin
Trang 32tối ưu, tốc độ tải/nạp trang web nhanh
- Có khả năng liên tác với các hệ thống khác, khả năng nâng cấp bảo trì dễ dàng
- Linh hoạt, dễ dàng thay đổi cấu trúc của toàn bộ website
- Tối ưu thông tin cho các máy tìm kiếm (Google, Yahoo, MSN)
2.4 Xác định các tác nhân, các ca sử dụng và mô tả các ca sử dụng
Một biểu đồ Use case chỉ ra một số lượng các tác nhân ngoại cảnh và mối liên kết của chúng đối với Use case mà hệ thống cung cấp (xem hình 2.2) Một Use case là một lời miêu tả của một chức năng mà hệ thống cung cấp Lời miêu
tả Use case thường là một văn bản tài liệu, nhưng kèm theo đó cũng có thể là một biểu đồ hoạt động Các Use case được miêu tả duy nhất theo hướng nhìn từ ngoài vào của các tác nhân (hành vi của hệ thống theo như sự mong đợi của người sử dụng), không miêu tả chức năng được cung cấp sẽ hoạt động nội bộ bên trong hệ thống ra sao Các Use case định nghĩa các yêu cầu về mặt chức năng đối với hệ thống
Trang 331 uc1.1 Thêm mới thông tin PR PR, AD
6 uc1.6 Thêm mới thông tin thanh toán PR, AD
b Gói Quản trị người dùng và phân quyền
9 uc2.1.1 Tạo mới tài khoản người dùng AD,US
10 uc2.1.2 Cập nhật thông tin người dùng AD,US
12 uc2.2 Phân quyền, thiết lập các vai trò cho
người dùng
AD
13 uc2.2.1 Gắn thêm quyền cho người dùng AD
c Gói quản lý thông tin BĐS và lịch hẹn
15 uc3.1 Thêm mới bản ghi thông tin BĐS PR, AD
d Gói quản lý chức năng và giao diện hiển thị
Trang 3426 uc4.1.3 Xóa chức năng AD
3.4.2 Biểu đồ ca sử dụng theo gói
a Gói quản lý nhà cung cấp dịch vụ
Hình 2.2 Biểu đồ ca sử dụng của gói quản lý nhà cung cấp dịch vụ
b Gói quản trị người dùng và phân quyền
Trang 35Hình 2.3 Biểu đồ ca sử dụng quản trị, phân quyền người dùng
c Gói quản lý thông tin BĐS và lịch hẹn