Trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng luôn là người có ít thông tin về dự án, về mục đích sử dụng khoản tiền vay hơn khách hàng và người đi vay là người có nhiều thông tin hơn người ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Tiểu luận:
SỰ TỒN TẠI CỦA THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG, TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN CÁC BÊN THAM GIA, GIẢI PHÁP KHÁC PHỤC TRONG MÔI
TRƯỜNG TÍN DỤNG VIỆT NAM
GVHD : TS Hay Sinh
NHÓM : 5 THÀNH VIÊN :
1 Trần Thị Huyền Trang
2 Bùi Thị Thanh Thảo
3 Nguyễn Thị Kim Thanh
4 Lâm Văn Sang
5 Nguyễn Đình Trung
6 Nguyễn Duy Thực
7 Mai Thị Thanh Trà
8 Nguyễn Đức Sơn
9 Phạm Ngọc Tài
10 Lê Anh Ngọc
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
I Thông tin bất cân xứng 3
II Thực trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng ở Việt Nam 3
1 Trước khi ký hợp đồng tín dụng: Thông tin bị che đậy 4
2 Sau khi ký hợp đồng tín dụng: Hành vi che đậy 5
III Tác động của thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng ở Việt Nam 6
A Sự lựa chọn bất lợi 6
1 Đánh giá khách hàng 6
1.1 Đánh giá uy tín của khách hàng 6
1.2 Đánh giá năng lực của khách hàng 7
a Năng lực quản trị 7
b Đánh giá năng lực tài chính 7
2 Đánh giá dự án vay 8
3 Đánh giá tài sản bảo đảm 9
B Tâm lý ỷ lại 10
1 Hành vi sử dụng vốn vay không đúng mục đích - vi phạm hợp đồng tín dụng 10
2 Người vay không nổ lực tối đa để sử dụng vốn vay hiệu quả 11
C Một số tác động điển hình trong thực tế 13
1 Rủi ro tín dụng 13
2 Rủi ro đạo đức 13
IV Các giải pháp khắc phục thông tin bất cân xứng trong thị trường tín dụng Việt Nam 14
A.Giải pháp chung 14
B.Giải pháp cụ thể 14
1 Giải pháp tư nhân 14
2 Giải pháp Chính phủ 15
3 Giải pháp cho vấn đề người thân chủ và người thừa hành 17
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
MỞ ĐẦU
Thông tin bất cân xứng là việc tham gia hoặc vô tình hoặc cố ý che đậy thông tin, cung cấp thông tin có khi không kịp thời, có khi không đủ độ tin cậy Sự bất cân xứng thông tin trong xã hội không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều có; nhưng mỗi quốc gia có một cách khống chế việc này khác nhau Nhất
là ở những quốc gia đang phát triển, có nhiều dự án kinh tế sắp thực hiên trong tương lai, và sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho những người nào biết trước được những dự án nầy sắp được chính phủ ban hành
Nền kinh tế lành mạnh và có tiềm năng đòi hỏi một hệ thống tài chính có khả năng dịch chuyển vốn từ người tiết kiệm đến những người có cơ hội đầu tư Vấn đề đặt
ra ở đây là hệ thống tài chính làm thế nào để đồng tiền dành dụm của công chúng được dẫn chính xác đến nhà đầu tư hiệu quả chứ không phải đến những người gian đối hay
liều lĩnh Giải pháp với thông tin bất cân xứng sẽ giải quyết một phần lớn của vấn đề
này
Để hiểu thêm về vấn đề nhóm viết xin trình bày đề tài “Sự tồn tại của thông tin bất cân xứng, tác động của nó đến các bên tham gia, giải pháp khắc phục trong môi trường tín dụng Việt Nam”.
Trang 4I Thông tin bất cân xứng
“Một bên đối tác không có đủ hiểu biết về đối tác khác tham gia vào giao dịch
để có các quyết định phù hợp” Đây là vấn đề cốt lõi trong thị trường tài chính
Ví dụ: các quản trị gia của các công ty tất nhiên biết rõ hơn ai hết chính họ có trung thực hay không, hay họ biết rõ về tình hình hoạt động của công ty hơn các cổ đông
Thông tin bất cân xứng dẫn đến lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức:
Lựa chọn nghịch: Đây là vấn đề chênh lệch thông tin diễn ra trước khi giao
dịch diễn ra Những người có rủi ro tín dụng xấu lại là những người tích cực
tìm kiếm các khoản vay Do đó những đối tác có khả năng tạo ra hậu quả không mong muốn là những người muốn thao gia vào các giao dịch nhất Bởi
vì lựa chọn nghịch làm tăng khả năng khoản vay cho đến những người có rủi
ro tín dụng xấu nên người cho vay có thể quyết định không cho ai vay nữa mặc dù có những cơ hội tốt và ít rủi ro
Rủi ro đạo đức: xảy ra sau khi thực hiện giao dịch Người cho vay sẽ có rủi
ro rằng người đi vay sẽ tham gia vào những hoạt động không nên làm theo quan điểm của người cho vay bởi vì chúng làm cho khoản vay ít có khả năng được hoàn lại Ví dụ: Khi người đi vay đã nhận được tiền vay rồi, họ có thể tham gia vào các hoạt động rủi ro lớn (mang lại suất sinh lời cao nhưng cũng
có khả năng phá sản cao), vì họ đang liều lĩnh chấp nhận rủi ro bằng tiền của người khác Bởi vì rủi ro đạo đức làm giảm khả năng khoản cho vay sẻ được hoàn trả lại, người cho vay có thể sẽ quyết định không cho ai vay nữa
II Thực trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng ở Việt Nam
Vấn đề thông tin bất cân xứng ảnh hưởng đến cả 2 phía – bên cho vay và bên vay – trong hoạt động tín dụng Đối với bên vay vốn, việc giải ngân vốn vay không
Trang 5đúng thời hạn, việc thay đổi lãi suất vay… có thể gây ra những thiệt hại lớn cho phía bên vay Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này chúng tôi muốn tiếp cận vấn đề thông tin bất cân xứng từ các bên tham gia trong quan hệ tín dụng
Trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng luôn là người có ít thông tin về dự án,
về mục đích sử dụng khoản tiền vay hơn khách hàng và người đi vay là người có nhiều thông tin hơn người cho vay, họ luôn muốn tìm cách che đậy những thông tin xấu để được vay và được vay với lãi suất tốt Và thực tế là trong một nền kinh tế, hầu như không một ngân hàng nào có đủ khả năng tự mình xử lý được vấn đề thông tin bất cân xứng
Chúng tôi phân loại hiện tượng này theo trình tự thời gian: trước khi ký hợp đồng và sau khi ký hợp đồng tín dụng:
1 Trước khi ký hợp đồng tín dụng: Thông tin bị che đậy
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận và cấp tín dụng là một trong những nghiệp vụ kinh doanh chính của các ngân hàng Tuy nhiên, trước khi đưa ra quyết định về lượng tiền và lãi suất cho vay đối với một khách hàng, ngân hàng phải đánh giá sự rủi ro của khách hàng này Vì vậy, ngân hàng có nhu cầu tường tận mọi thông tin về khách hàng như: tình hình tài chính, vị trí trên thị trường, chiến
Trang 6lược phát triển, năng lực tài chính, tính khả thi của dự án, khả năng sinh lời… để làm sao ngân hàng có lợi nhuận mà vẫn không làm tăng tỉ lệ nợ xấu
Nhưng thực tế, hiện tượng thông tin bất cân xứng lại xảy ra, thể hiện ở việc người đi vay che đậy những thông tin xấu để được cho vay - mặc dù ngân hàng đã có rất nhiều nỗ lực trong công tác thẩm định Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn duy trì nhiều hệ thống sổ sách để phục vụ cho các đối tượng khác nhau: cho cơ quan thuế, cho ngân hàng, và cho nội bộ doanh nghiệp Vì vậy, Thông tin bị che đậy khiến ngân hàng không thể thực sự đánh giá được mức độ rủi ro của mỗi khách hàng
2 Sau khi ký hợp đồng tín dụng: Hành vi che đậy
Trong hoạt động tín dụng ở giai đoạn sau khi ký hợp đồng người đi vay vẫn là người có nhiều thông tin hơn người cho vay Họ có xu hướng che đậy cách sử dụng tiền ngân hàng cho vay vào những mục đích không giống như ban đầu cam kết
Về phía ngân hàng, khi quyết định một khoản vay, ngân hàng luôn quan tâm hàng đầu đến việc người vay tiền sẽ làm gì với số tiền vay Về cơ bản, ngân hàng luôn muốn biết chắc rằng người đi vay sẽ sử dụng tiền vay để hoạt động kinh doanh một
dự án nào đó mà họ cho là hiệu quả và kiếm ra đủ tiền để trả cả vốn và lãi cho ngân hàng Tuy nhiên, khi đã ký kết hợp đồng cho vay và giao tiền cho người đi vay thì ngân hàng khó có thể biết người vay tiền có sử dụng số tiền đó đúng như họ đã cam kết không
Về phía người đi vay, không có gì chắc chắn được rằng họ sẽ sử dụng đúng số tiền vay được như ý định ban đầu Bỏ qua vấn đề về những người đi vay có dụng ý xấu, thì cũng có rất nhiều tình huống xảy ra khiến người đi vay làm khác đi với dự kiến ban đầu: họ tìm được một phương án kinh doanh khác mà hứa hẹn sẽ có được lợi nhuận cao hơn, họ lựa chọn các phương án mạo hiểm hơn với hy vọng sẽ kiếm được nhiều tiền hơn, nhanh hơn (ví dụ đem tiền vay ngân hàng đi đánh bạc), hay thậm chí
họ tiêu dùng số tiền vay cho một vấn đề cấp bách nào đó: trả một khoản nợ khác đã tới hạn, Và khi đó, họ khó lòng có thể thanh toán lãi vay và tiền gốc cho ngân hàng
III Tác động của thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng ở Việt Nam
Trang 7A Sự lựa chọn bất lợi
Khi nhận được hồ sơ vay vốn của khách hàng, trước khi ra quyết định, ngân hàng phải thực hiện việc thẩm định các thông tin liên quan đến khách hàng, dự án vay vốn và tài sản bảo đảm tiền vay Trong cả ba khâu thẩm định này, vấn đề lựa chọn bất lợi đều có thể gây ra rủi ro cho quyết định đầu tư của ngân hàng
1 Đánh giá khách hàng
1.1 Đánh giá uy tín của khách hàng
Đánh giá uy tín của khách hŕng lŕ vấn đề khó khăn của ngân hàng Hiện nay, Ngân hàng chủ yếu dựa vào quan hệ trong quá khứ: khách hàng vay trả đúng hạn được xem là khách hàng có uy tín, còn đối với khách hàng mới quan hệ thì chủ yếu dựa vào ý kiến chủ quan của cán bộ nghiệp vụ khi tiếp xúc với khách hàng, hoặc qua một số thông tin thu thập được từ các khách hàng có quan hệ với khách hàng mới này Trong khi đó đối tượng khách hàng được xem là chiến lược phục vụ của ngân hàng là khu vực kinh tế tư nhân thì còn quá non trẻ, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, chưa có danh tiếng trên thị trường, ý thức của doanh nghiệp trong việc xây dựng uy tín và thương hiệu chưa cao, các hiệp hội ngành thì chưa phát huy vai trò của mình, chưa hỗ trợ nhiều cho các công ty thành viên phát triển, nhất là việc giới thiệu các thành viên cho thị trường Điều này dẫn đến việc thu thập thông tin để đánh giá đối với khu vực kinh tế trên là rất khó khăn
Ngoài những khó khăn trong việc tiếp cận thông tin về khách hàng khi nguồn thông tin và khả năng phát tín hiệu của khách hàng còn hạn chế, thì việc thực thi luật phá sản của Việt Nam chưa triệt để đã làm cho những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ vẫn còn tồn tại trên thị trường Hiện tượng này gây ra hiện tượng nhiễu thông tin, vì những đối tượng luôn tìm mọi cách để che đậy thông tin hoặc tạo ra thông tin ngược
để được vay vốn ngân hàng và tiến hành đầu tư vào những lĩnh vực mạo hiểm để hy vọng thoát khỏi tình trạng phá sản
Nhìn chung, việc đánh giá uy tín của khách hàng hiện nay của các ngân hàng dựa nhiều vào cảm tính và ý chủ quan của cán bộ nghiệp vụ, chưa có một căn cứ khoa
Trang 8học Ngoài ra, chúng ta còn thiếu các thể chế hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức trong việc cung cấp thông tin về quá trình hoạt động, định hướng phát triển của các công ty và trong việc đánh giá xếp loại công ty
1.2 Đánh giá năng lực của khách hàng
a Năng lực quản trị
Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của công ty và cũng có nghĩa là quyết định hiệu quả đồng vốn của ngân hàng Tuy nhiên, việc đánh giá nguồn nhân lực, nhất là bộ phận lãnh đạo của khách hàng hoàn toàn chưa có cơ sở Trong quy định xếp loại khách hàng vay vốn của ngân hàng nhà nước, cũng như trong bản cung cấp thông tin cho Trung tâm cung cấp thông tin phòng ngừa rủi ro của Ngân hàng nhà nước (CIC) đều quy định các tổ chức tín dụng phải đánh giá năng lực điều hành của giám đốc công ty nhưng lại không nêu ra tiêu chí đánh giá cụ thể cho nên mỗi ngân hàng làm một kiểu, chủ yếu là liệt kê bằng cấp Kết quả là việc đánh giá năng lực của khách hàng mang tính hình thức, không đánh giá đúng thực chất về năng lực của khách hàng
b Đánh giá năng lực tài chính
Đánh giá năng lực tài chính của khách hàng chủ yếu dựa vào việc phân tích số liệu trên báo cáo tài chính của khách hàng Trong thực tế, các báo cáo tài chính của các công ty ở Việt Nam thì chưa đủ độ tin cậy cao, nhất là các công ty tư nhân Tình trạng phổ biến trong việc lập báo cáo quyết toán của các công ty tư nhân hiện nay là làm từ dưới lên, tức là đi từ lợi nhuận đi lên Đối với cơ quan thuế thì sẽ báo cáo lợi nhuận thấp hoặc lỗ để tránh thuế; đối với ngân hàng thì báo cáo lãi nhiều để được ngân hàng đánh giá năng lực tài chính tốt và kinh doanh hiệu quả nhằm vay vốn dễ dàng; còn thực chất như thế nào thì chỉ có bản thân công ty biết Sở dĩ thực trạng này xảy ra là do hiện nay ở Việt Nam chưa có quy định về minh bạch thông tin Phía ngân hàng dù biết kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp vay vốn là tốt nhưng cũng không dám đề nghị khách hàng thực hiện, nếu khách hàng đang có uy thế trên thị trường vì sợ mất khách hàng
Trang 9Từ những số liệu chưa thực sự tin cậy nên việc phân tích báo cáo tài chính của khách hàng sẽ không phản ánh đúng thực chất năng lực tài chính của khách hàng
Chưa có cơ sở khoa học nên việc đánh giá năng lực của khách hàng phụ thuộc nhiều vào năng lực và đạo đức của cán bộ ngân hàng Do đó, việc lựa chọn bất lợi là vấn đề không thể tránh khỏi
2 Đánh giá dự án vay
Đánh giá hiệu quả dự án vay vốn là khâu quan trọng, ảnh hưởng lớn nhất đến khả năng thu hồi vốn của ngân hàng Khi nhận được một dự án vay vốn cán bộ thẩm định sẽ phải tiến hành thẩm định các khía cạnh như yếu tố thị trường, kỹ thuật, công nghệ và cả các yếu tố kinh tế, xã hội của dự án
Việc thẩm định dự án trong một môi trường thông tin vừa thiếu, vừa yếu của Việt Nam là một thách thức lớn đối với các cán bộ thẩm định Hơn nữa, trình độ xây dựng dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn yếu kém
Trên thị trường hiện nay, có rất ít công ty hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường Do đó, khi đánh giá thị trường đối với sản phẩm của dự án cán bộ thẩm định chủ yếu phải dựa vào các nguồn thông tin không chính thức, thu thập qua internet,… Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách thường xuyên thay đổi, không có tính minh bạch và không có tính dự báo của Việt Nam cũng có thể gây
ra nhiều rủi ro cho dự án, nh ư các chiến lược phát triển vùng, ngành; các quy định liên quan đến xuất nhập khẩu; các tiêu chuẩn về môi trường, …
Ngoài ra, thẩm định kỹ thuật đối với dự án hầu như chỉ được thực hiện mang tính hình thức vì hầu hết các khoản vay đều do một cán bộ thẩm định tiến hành Kết quả là việc đánh giá về kỹ thuật không mang tính khả thi, nhất là trong điều kiện trình
độ cán bộ thẩm định của Việt Nam còn chưa được chuyên sâu
Xác định mục tiêu chính xác của dự án vay vốn cũng là một việc làm rất khó khăn, nhất là khi các doanh nghiệp cố tình che dấu mục đích vay vốn thực của mình
Trang 10Hiện nay, quyết định cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại lệ thuộc nhiều vào ý chủ quan của những người liên quan đến công tác tín dụng Vấn đề không đơn thuần về đạo đức mà do sự hạn chế về các công cụ đánh giá, chủ yếu là nguồn thông tin nên việc đánh giá khách hàng và khoản vay không chính xác
3 Đánh giá tài sản bảo đảm
Ngân hàng áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay như cầm cố, thế chấp tài sản và bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba chính là một giải pháp để ngân hàng hạn chế rủi ro xảy ra do việc lựa chọn ngược Khi có rủi ro xảy ra ngân hàng có thể phát mãi tài sản thu hồi nợ Việc đánh đồng các loại khách hàng khi cho vay dựa vào tài sản đã làm cho khách hàng tốt mất cơ hội nhận được vốn vay vì không đủ tài sản bảo đảm
Khi dùng tài sản để thế chấp, cầm cố cho ngân hàng để vay vốn thì chỉ có khách hàng là biết rõ về hiện trạng của tài sản như sự hỏng hóc trong các dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị, hoặc là ngôi nhà rất khó bán do một số đặc điểm gì đó, trong khi trình độ cán bộ ngân hàng không có đầy đủ chuyên môn trong nhiều lĩnh vực nên
họ không thể đánh giá được chính xác hiện trạng của các máy móc thiết bị cũng như nắm được những thông tin không tốt về ngôi nhà; điều này ảnh hưởng rất lớn đến giá trị mua bán của nó và họ thường đánh giá dựa trên vị trí và hiện trạng của ngôi nhà; vì vậy khi xảy ra rủi ro thì việc phát mãi tài sản để thu hồi nợ thì gặp khó khăn và có thể không thu hồi được nợ
Ngoài ra, tâm lý dựa chủ yếu vào tài sản bảo đảm đã làm cho chất lượng thẩm định khoản vay nên không đánh giá chính xác hiệu quả và an toàn của khoản vay, dễ dẫn đến việc cho vay những dự án rủi ro, khách hàng không uy tín, làm giảm chất lượng tín dụng Đây là thực trạng đáng lo ngại trong quan điểm cấp tín dụng hiện nay của các ngân hàng, nhất là các khách hàng là hộ tư nhân dùng đất nhà để thế chấp
Một nguyên nhân khác được xem là quan trọng đã gây ra nợ xấu trong các ngân hàng quốc doanh Việt Nam hiện nay là sự can thiệp không chính thức của các cơ