1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

quan ly va thu tuc ra quyet dinh da tieu chi

23 319 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ các mục tiêu đó có thể diễn đạt thănh các tiêu chí với các' “độ đo mức độ đại được của tiêu chí”, được gọi là các “chỉ số ' hiệu quđ” có đơn vị đo khác nhau.. Giải quyết một vấn để có

Trang 1

Phần 2:

LIEN QUAN VA HO TRO

Trang 2

QUẢN LÝ VÀ THỦ TỤC 245

Quản lý và thủ tục

ra-quyết-định đa tiêu chí”

[Tập san #Khoa học xã hội TP.HCM ”, 1991]

Trong “Ra quyết định đa tiêu chí” , một lời giải thỏa đáng, noi chung, có thể được 3 xác lập chỉ khi biết chấp nhận “đảnh đổi” bới mục tiêu này để có thêm mục tiêu khác và có xét đến “thiên hướng

ta thích” của người-rd- -quyét-dinh Bài viết này áp dụng các thủ tục

đó để pha: "tích một vài vấn dé Eton qua ly kinh t tế - xã hội hiện

ot w toy i vote HH nay.’

VAN DE DA TIEU CHI;

Trong cuộc sống ‘hang ngày của "mỗi igười, trong: ‘san xuất kinh doanh, trong ‘quan ly nói chung ching ta luén phẩi giải quyết nhiều vấn để theo kiểu sao cho chỉ phi it ma ‘chat lượng sản phẩm lái cao, lợi ` tức được nhiều mã rủi ro lại ít v v Các điểu ' ‘mong muốn” như vậy được gọi nôm na là các “mục tiêu” Từ các mục tiêu đó có thể diễn đạt thănh các tiêu chí với các' “độ đo mức độ đại được của tiêu chí”, được gọi là các “chỉ số ' hiệu quđ” có đơn vị

đo khác nhau Thông thường, chỉ số hiệu quả đạt càng lớn (hoặc càng bé) thì cang tốt Ñgoài TA, trong lựa chọn còn có °* 'các rằng buộc” Do đó, chúng ta chỉ: có một số giải ' pháp hay” “phương dn chấp nhận được” Giải quyết một vấn để có: bao gồm từ hai muc tiêu hay tiêu chỉ kiểu như vậy trở lên; ngày nay ,Dgười \ tả gọi Ì là

*Ra quyết định đa tiêu chí”

Ví dụ: Một người nông dân có bả phương án (PA) cấy trồng: 1

(đậu), II (lúa), II (rau) Giả sử tình hình khí hậu của mùa đến có

thể là A tốt và B xấu với xác suất xảy ra bằng nhau, đều là 50%

Khả năng thu nhập ròng (tính theo đơn vị triệu đồng chẳng hạn)

của các PA cho ở bảng sau:

Trang 3

Theo “mức thu lợi kỳ vọng E”, PA cây trồng I (50% x 100 + 50%

x 0) = 50 lợi hơn PẠ cây trồng H (50% X 70 + 50%: x20) = 45 va

còn lớn hơn nữa so với PA cây trồng III (50% x 35 + 50% x35)=

35 Nhưng PA cây trồng I lai có kết quả biến thiên so với mức thu

lợi kỳ vọng E lớn nhất, PA cây trồng ]I biến thiên ít hơn và PA cây

trồng III không có biến thiên Trong quản lý, người ta nói PA I là

PA có rủi ro cao nhất, PA II có rủi ro nhỏ hon va PA III lA PA

không có rủi ro Nghĩa là, trong 3 PA này, PA não có mục tiêu (1)

là cực đại lợi nhuận càng tốt thì mục tiêu (2) là cực tiểu rủi ro càng

xấu Vậy người nông dan nén chon PA cay trồng nào? Với người

nông dân giàu, họ có thể chọn PA I vì có E lớn nhất vì lỡ có mất

mùa họ vẫn còn dự trữ để sinh sống Nhung với người nông dân

nghèo, khi xảy ra tình hình khí hậu xấu B, lợi tức bằng không, họ

không còn có đủ dự trữ để sinh sống và chi phí cho làm mùa sau

Vì vậy họ có thể phải chọn PA cây trồng II hoặc thậm chí PA cây

trồng III vì nếu khả năng xấu xảy ra họ vẫn còn 20 đơn vị lợi tức

để duy trì cuộc sống tối thiểu hoặc 35 đơn vị lợi tức để đảm bảo

cuộc sống bình thường Rõ ràng, Ở đây không có 'khái niệm PA tốt

nhất theo nghĩa thông thường và hoàn cảnh khác nhau thường phải

lựa chọn lời giải khác nhau Đó là chưa nói đến thái độ đối với rủi

ro của từng người

VẬY GIẢI PHÁP TỐT Ở ĐÂU?

s_ “Các PA không tầm thường” Đáng tiếc là rất hiếm khi ta có

một giải pháp tốt nhất theo nghĩa các tiêu chí đó đồng thời đạt

“nhất” Nếu khi chuyển từ một phương án (PA) này sang một PA

khác mà các tiêu chí đồng thời còn được cải thiện tốt hơn (hoặc bị

Trang 4

QUAN LÝ VÀ THỦ TỤC 247

xấu đi) thì đó là những “giải pháp” hay “PA tâm thường” PA tốt

là PA nằm trong “nhóm các PA không tầm thường”' (NPAKTT) Trong NPAKTT, khi chuyển từ một PA này sang một PA khác,

nếu có mục tiêu Z f? nào đó trở thành tốt hơn thì có ít nhất một

mục tiêu Z # khác lại bị xấu đi hoặc ngược lại Ở đây, nói một cách dân dã là “được cái này thì mất cái khác” Tỷ 86 giữa phần

được thêm ở mục tiêu Z '? và phần mất bớt đi ở mục tiêu Z.”) được

gọi là “độ đánh đổi ° ¡, j (trade - off) ở cặp PA đó

Ví dụ: Trước một vấn để với hai mục tiêu là Max Z ?? và Min Z

và một loạt các phương án chấp nhận được (như lựa chọn quy mô sản xuất chẳng hạn): Xị, X¿, Xạ (Hình 1) Với cặp PA: Xị và

X2, khi chuyén tử Xị sang X¿ ta cải thiện được 2¡ (tăng thêm Az,

¿ f? như mong muốn) đồng thời cũng cải thiện được zø (giảm

được AZ 2 #) nhự mong muốn) Như vậy; ở đây các mục tiêu

“không mâu thuẫn nhau” và giải pháp X¿ là có lợi hơn giải pháp

Xe giải pháp Xã lä có lợi hon giải pháp X¿ (nghĩa là tăng qủy mô

sé có lợi Lập luận tương tự, ta cũng thấy X; lợi hơn Xx, X¿ lợi

hơn X; (nghĩa là giảm quy mô sẽ có lợi) Chính vì vậy, tập các PA

(Xi, Xz, Xi, Xự } được gọi là tập các PA rẩm thường

Trang 5

248.BÀI 4i

Nhưng, ví dụ với cặp PA: Hình 2

X4 va Xs, khi chuyển từ

Xã; sang Xa, với mục tiêu

Z? ta giảm được AZ4; "9

(mong muốn) nhưng mục

tiếu Z) lại bị giảm một

đại lượng ÁZ4.; ”” (không

mong muốn) Như vậy, ở

đây các mục tiêu “mâu

s_ Đường cong tiềm năng Lại giả sử chúng ta có “vấn để” với

hai mục tiêu là MaxZt và MaxZ”?, Khi đó có thể biểu thị mối quan hệ Zf, Z' trong phạm vi NPAKTT như trên Hình 2 Chúng

ta tạm gọi đó là “đường tiểm năng” Với những tiểm lực khác nhau, chúng ta có các đường tiểm năng khác nhau

Ví dụ: Một gia đình chỉ tiêu cho nhu cầu thịt và rau: 1.500.000

đông/ tháng Thịt giá 50.000 đồng/kg và rau giá 5.000 đồng/kg

Vậy gia đình đó có NPAKTT (theo giá chợ) là, ví dụ: 20 kg thịt —

100 kg rau hoặc 10 kg thịt và 200 kg rau Gia đình đó muốn tăng

rau thì phải bớt thịt Gia đình đó không thể mua nhiễu thịt — rau

hơn vì bị ràng buộc bởi “tiểm năng” 1.500.000 đồng và nếu chỉ mua được ít hơn thì đã bị mua đắt - “Tâm thường” Nghĩa là gia

đình này cnỉ có NPAKTT là A,B,C, D như trên hình 5 Đương

nhiên, nếu khả năng chỉ phí cho thịt và rau có thể tăng lên 1,8 hay 2,0 triệu đồng / tháng chẳng hạn thì đường tiểm năng thịt - rau sẽ dịch về phía bên phải tương tự như trên Hình 2

»

Trang 6

QUẢN LÝ VÀ THỦ TỤC 249

———— TỔ ¿22

°«_ Đường đẳng sự thoả mãn Việc lựa chọn PA nào trong số NPAKTT nói trên lại tùy thuộc vào thái độ, hoàn cảnh và thiên

hướng ưa thích (preference) của từng người, tạm gọi là “thiên

hướng riêng” Thiên hướng riêng, để dễ hình dung, có thể biểu thị

qua nhóm các “đường cong không khác nhau” (Hình 3) ~ còn gọi

là đường “đẳng sự thỏa mãn” (ĐBTM)

su)”

Hình 4

Nhóm đường đẳn; : sự thoả mãn

Do thiên hướng khác nhau, ở mức giải pháp Xo, để bù cho việc

giảm bớt mục tiêu Z”” là AZx¿.t, người A có thể đánh đổi tương

đương với việc tăng lên tương ứng là AZ¿ ?) trong khi người B lại

chỉ có thể đánh đổi tương đương lớn hơn với việc tăng lên tương

ứng là Az, ° ) của mục tiêu Z®, ĐĐTM thường ¢ tó dạng Hypérbol

vì với gia số "1kg thịt, “giá trị” rau cần đánh đổi tương đương ở

mức 1-2 kg thịt / thắng là khác với g gid tri ở mức 10 -]2 kg thịt /

tháng đối với một gia đình Các ĐĐTM cũng lập thành từng nhém

biéu thi những “ 'mức thỏa mãn” khác nhau (H 4) Nhóm đường (A)

là của người (A) và nhóm đường (B) là của người (B) "

ø Chọn lời giải nào? Phối hợp hai nhóm đường Ở H 2 và H.4 ta sẽ

có “lời giải thỏa ding” cần tìm, nhứ ¡ trên H.5.Ở đó, độ dốc hãy

“độ đánh đổi ” trên 'đường tiểm năng ‘bing độ dốc hay “độ đánh

dai” trén ĐĐTM - ‘thy thuộc thiên hướng ưa thích của từng người

Rõ ràng các giải pháp đó phụ thuộc vào “tiém năng” và cả “thiên

Trang 7

250.BÀI 41

hướng riêng” Xg' là giải pháp thỏa đáng của người A, còn Xc* lại

là giải pháp thoả đáng của người B Người A chọn 20 kg thịt và

100 kg rau nhưng người B lại chọn 10 kg thịt và 200 kg rau do

“thiên hướng riêng” khác nhau cho dù có cùng mức tiểm năng là

(Analytic Hierachy Process), “quy hoach thỏa hiệp ”, “hàm vị lợi” (Utility, function), V.V CỐ cả một hiệp hội quốc tế về Ta quyết định đa tiêu chí (MCDM) và cũng đã có nhiéu ấp dụng trong thực tiễn, từ việc chọn mua nhà cửa, hình thành một dự án đầu tư, một

PA quản lý, sản xuất / kinh doanh cho đến việc vận hành một hệ thống điện, quy hoạch phát triển một vùng kinh, tế, Ta quyết định cho Nhà lãnh đạo V, Vv

Để giải quyết một vấn ¡ để đa tiêu chí, cin có nhóm chuyên gia, được: gọi là là “người phân tích” (NPT) làm nhiệm vụ góp phần nhận

ra các mục tiêu, tiêu chí, tim NPAKTT, Xác định các độ đánh đổi

và gip cno “người chủ của vấn để" trong việc định lượng thiên hưởng riêng cũng như ra quyết định Người chủ của vấn để được

^

Trang 8

QUAN LY VA THU TUC 251

gọi là “Người ra quyết định” (NRQĐ), có trách nhiệm nêu lên các mục tiêu, thể hiện hoặc “định mức” thiên hướng riêng 'của mình cũng ì như ra quyết định lựa chọn PA cuối cùng trong số NPAKTT

do NPT cung cấp Nếu NRQD là giám đốc một công ty, là người đứng đầu một đơn vị hành chánh thì thiến hướng riêng đó phải là

sự thể hiện cụ thể đường lối - sách lược của Đẳng, của' chính quyền, cửa hội đồng quản trị v.v mà họ là người đại dién

ì

DA TIÊU CHi TRONG QUAN LY KINH TẾ - XÃ HỘI

Có thể nói, đa số vấn để phải ra quyết định | trong quan lý kinh tế: -

xã hội là các bài toán đa tiêu chí Nhưng thật đáng tiếc, trong thực tiễn, rất nhiều vấn để vẫn đang còn tổn tại Xin thử nêu lên một

Vài ví dụ

e Khi phát triển một số dự á án quốc gia, một số người vẫn quan niệm là, như luôn có sự “kết hợp hài hoà” giữa quyền lợi của trung ương và quyền lợi của địa phương, quyền lợi của Nhà nước và quyền lợi của người hưởng lợi trực tiếp, hoặc hẹp hơn là sự “kết hợp hài hoà” giữa các mục tiêu có độ đo khác nhau của chính dự

án Khi nói về “Một hệ thống nộng nghiệp vùng trọng điểm lưỡng thực đồng bằng sông Hỗng”, một vị giáo sử - viện sĩ đã viết:

“Mục tiều phát triển là tăng nhanh sản lượng nông nghiệp, có hiệu quả kinh tế cao, tạo việc làm và tăng thu nhập của nông dân “Các mục tiêu này ì nhiều lúc mâu thuẫn nhau, do đấy ‹ cần phát triển thế nào để tránh các mâu thuẫn ấy” Có thể tạm thời đồng ý với tác giả về các mục tiêu nêu ra ‘Nhung vé nguyện tắc, nếu thoả mẫn được yêu cầu “để tránh các mâu thuẫn ay’ "theo nghĩa nói trên thì, nói chung, ta chỉ có được những PA tâm thường, PA tốt thường

không tránh được các “mâu thuẫn ấy” Con đường là ‘chap nhận

“sự đánh đổi” giữa các mục tiêu và đi tìm “lời giải thỏa hiệp ” chứ không phải là đi:ìm “sự hài hoà ° nà

se Một ví ‘du khác là về trường hợp các đại biểu của các 'cơ quan

dân cử Các đại biểu này nói chung không phải là những chuyên gia trong cdc lĩnh vực chuyên môn cụ thể như kinh tế, thuế khoá, giao thông, điện lực, giáo dục v.v trừ một số trường hợp trùng

han noẫn nhiên Nhưng hà lài lÀ những người nhi dita en nda

Trang 9

252.BÀI 4l

quyết định về những vấn để như vậy của quốc gia hoặc của địa phương Họ là những NRQĐ Vi vay cần phải có những NPT giúp

họ xây dựng các tiêu chí, đừa ra vài ba PA thuộc NPAKTT và các

“độ đánh đổi” “được/ mất” giữa các tiêu chí của các PA đó Từ đó,

họ cân nhắc về các mặt chính sách, ‘SO sinh các “được/ mất” nói

trên, để bd phiéu ra quyết, định lựa chọn PA Sự cân nhắc này phụ

thuộc rat nhiều vào quan: điểm và thái độ (ưa thích riêng) có thể

rất khác nhau của từng đại biểu và đương nhiên, đó phải là quan điểm và thái độ của các cử tri mà họ là người đại diện Thực tiễn cho thấy, hoạt động của các cơ quan dân cử ở nước ta hình như chưa được tổ chức theo cách như, vậy và đôi khi đã lẫn lộn chức năng giữa NRQD va NPT :

e Vi du thứ ba là về trường hợp giám đốc của các doanh nghiệp Nhà nước hoặc các công ty cổ phan Ở các tổ chức này thường có

sự tách rời rõ rang giữa quyền sỡ hữu và quyền sử dụng Quyền SỞ hữu là “cửa Nha nước hoặc của các cổ đông, nhưng quyển sử dụng lại đà của giám đốc, mà thực chất i à “người làm thuê ” Mặt khác, trong kinh doanh, nói chung, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn Vậy, vấn dé đặt rả là, người giám đốc chấp nhận kinh doanh ổ mức độ rủi rò nào? Nếu chấp nhận ở mức rủi ro thấp, các cổ đông

sẽ có lợi nhuận thấp, nhưng vị trí của họ Sẽ ah toàn hơn Nếu chấp nhận ở mức ủi ro cao, ‘tinh hình sé xây ra theo chiều ngược lại

Và, liệu mite độ rủi ro mà người giám đốc lựa chọn có phải đã là phù hợp với “thiên hướng ring! "cla những cổ đông hay của Nhà nước ? Đáng tiếc, những vấn để nhự vậy như còn chưa được xem xét trong ¢ tổ chức' quản lý các hoạt động kinh tế ở nước ta

Ngoài ra, qua cách chọn lời g giải của bài toán, chúng ta còn có thể thấy: (1) Nói chung, không có lời giải đồng thời ' “nhiều nhất, tốt

nhất, rẻ nhất”: như một số đã từng cổ vũ; (2) Lời giải tốt là lời giải

nằm ở biên, bước quá là nằm ngoài vùng khả thi hay phạm luật,

lùi vào là “tầm thường”; (3) Sự khác nhau không là mâu thuẫn nhau mà ag là “thiên _hướng riêng” ' của “NRQĐ”, v.V m

tổ h

Trang 10

VỀ VIỆC ĐÀO TẠO “THẠC SĨ 253

Về việc đào tạo

& thạc sĩ quản trị kinh doanh ”

[Tham hận, Hội thảo GDPH các nước Châu Á- Thái Bình

Dương, Tạp chí “Đại học và Trung học chuyên nghiệp ”, 1992]

TẤM HỘ CHIẾU CHO SỰ THÀNH ĐẠT

Tiêu để phụ này không do tác giả tự đặt ra mà đã được trích dẫn lại từ bài báo về “Khảo sất tình hình đào tạo cán bộ quản ly” dang trên báo “Nhà kinh tế” (The Economist) tháng 3 năm 1991.-

Thật vậy, thực tiễn hơn 100 năm qua, kể từ khi thành lập những trường ‘kinh doanh dau tiên ở Mỹ, tấm bằng thạc sĩ Quản trị kinh doanh (MBA - 'Master of Business Administration) đã ngày càng

chứng tỏ thực sự là một “tấm hộ chiếu " cho sự thành đạt của tuổi

trẻ Hiện nay, một phần ba số giám đốc điều hành trong : 500 công

ty lớn nhất của Mỹ là những người đã lấy bằng MBA từ 20 trường

có đào tạo MBA tốt nhất của họ Tình hình ở Châu Âu cũng tương

tự như vậy Ngoài ra, bằng MBA cũng là tấm hộ chiếu để nhận được những công việc hấp ‹ dẫn ở ngần hằng đầu tư và công ty tư vấn, những nơi đã từng thu nhận đến gần 20% sinh viên có bằng MBA Có lẽ Harvard là trường có chương trình MBA nổi tiếng nhất Người ta ước tính, 800 sinh viên lấy bằng MBA ở Harvard

năm 199] sẽ có mức lương trung bình khởi điểm là 80.000 USD/ năm,

Nói chung, sau 21 tháng học tập theo kiểu chạy, marathon

60 Bid, / tuần, những SV có bằng MBA ở Mỹ có thể tặng gấp đôi mức Tương của họ so với mức lương trước khi vào học, đạt trung

bình 60.000 USD / năm

Chính vì vậy, chỉ riêng năm 1990, khoảng 700 trường Quản trị

kinh doanh ở Mỹ đã cấp trên 75.000 bằng MBA, chiếm một phần

tư tổng số các loại bằng thạc sĩ đã cấp trong năm.

Trang 11

254.BÀI 42

Ở Thái Lan, theo số liệu của bộ “Các trường đại học”, năm 1988

có đến I1 trường trong tổng số ló trường lớn thuộc Nhà nước có

- đào tạo các lĩnh vực có liên quan đến Quản trị kinh doanh Năm

1985, trong tổng số 3.089 sinh viên lấy bằng thạc si ở tất cả các lĩnh vực chuyên môn khác nhau ở các trường này, cỏ đến 472 bằng MBA, chiếm tỷ lệ hơn 15%; frong khi đó chỉ có 161 bằng thạc sĩ

về các lĩnh vực kỹ thuật, khiếm tỷ lệ khoảng 5;4%: Đặc biệt, ở khu

vực 26 trường fư của họ, phần lớn chương trình đào tạo bậc đại hộc

và thạc sĩ đều có liên quan đến:lĩnh vực Quản trị kinh doanh Như

vậy, nhu cầu về đào tạo Quần trị kinh doanh nói chung và MBA

nói riêng là rất lớn trong những điều kiện của nền kinh tế thị

trường |

Chi phi vé ` đào tạo cũng.hết sức đất Ở những trường tốt nhất của

Mỹ, riêng học phí.cho khoảng.21 tháng học chương trình MBA

thường _ là tiên, 30.000 USD Ngay ở ở Thái Lan, chi phí cho học MBA ở viện GIBÀ (Graduate Institue of Business Administration) thuộc Đại học Chulalongkorn cũng đã đến 17.000 USD Trong năm 1991, 6 Tokyo Nhật Bản, có tổ chức một lớp đào tạo ngắn

hạn 2 tuần về quần lý kỹ thuật với lệ phí cho những người tham dự

là 8 000 USD / người cs

VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO MBA

Thae si: hay nhữ tên thường 'gọi ở Việt Nam: “cao học”, là một

cấp‹ đào tao sau cif nhân, 'phổ biến ở nhiều nước có hệ thống giáo dục tương” tự như hệ thống giáo dục 3 Mỹ Thời gian học thường kéo dải từ một hăm 'rưỡi đến hai năm Cấp dao tao nay thường hướng V 10 việc đào” tạo những nhà chuyên môn có kỹ năng nghề nghiệp cao, cập ‘hat’ hóa được những kiến thức mới nhất có liên quan và có khả năng “Ap dung vào thực: tế để giải quyết những vấn

dé trong cuộc' sống hiện tại cũng: như có kha năng thích ứng với những nhu cầu trong tương lai còn chưa xác định được đầy đủ chương trình cao học thường được thiết kế một cách mềm dẻo,

uyển chuyển, có thể có trên 50% số môn tự chọn, sao cho thích hợp được với nhu cầu của từng cá nhân, thích hợp với nhu cầu của người muốn đi sâu hơn vào một số chuyên môn đã học ở đại học

»

Ngày đăng: 01/08/2016, 10:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w