1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SUY THOÁI KINH TẾ: LÝ THUYẾT, BÀI HỌC KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG, BIỆN PHÁP Ở VIỆT NAM

91 402 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Suy thoái kinh tế: lý thuyết, bài học kinh nghiệm các nước và thực trạng, biện pháp ở Việt Nam
Tác giả Đoàn Thị Hồng Đào, Ngô Thị Huệ, Lê Thị Lý, Trần Thị Nguyệt Nga, Phạm Trường Quân, Nguyễn Thị Quyên, Nguyễn Thị Tố Quyên, Trương Thị Kim Thủy, Nguyễn Phi Trinh, Huỳnh Thị Thanh Tuyền
Người hướng dẫn TS. Diệp Gia Luật
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề tài thuyết trình
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ SUY THOÁI KINH TẾ11.1.Khái niệm chung về của suy thoái kinh tế11.1.1.Chu kỳ kinh tế11.1.2.Suy thoái kinh tế31.2.Nguyên nhân của suy thoái kinh tế71.2.1.Các nguyên nhân chung71.2.1.1.Trường phái kinh tế Keynes71.2.1.2.Trường phái trọng tiền111.2.1.3.Trường phái kinh tế học Áo121.2.2.Một số nguyên nhân cụ thể:131.2.2.1.Khủng hoảng tài chính131.2.2.2.Các cú sốc về giá:131.2.2.3.Sự sai lầm trong việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô.141.2.2.4.Các nguyên nhân khác: chiến tranh, thiên tai, kỳ vọng của người dân và sự khủng hoảng niềm tin, v.v...141.3.Tác động của suy thoái kinh tế141.3.1.Tác động đối với nền kinh tế141.3.1.1.Tăng trưởng kinh tế giảm141.3.1.2.Thất nghiệp gia tăng151.3.1.3.Tiêu dùng và đầu tư151.3.1.4.Thuế và chi tiêu của chính phủ151.3.1.5.Với cán cân thanh toán161.3.1.6.Thâm hụt ngân sách161.3.1.7.Giảm phát161.3.1.8.Với thị trường tài chính161.3.1.9.Vấn đề an sinh xã hội171.3.2.Tác động đối với doanh nghiệp171.3.2.1.Doanh thu sụt giảm171.3.2.2.Cạnh tranh khốc liệt hơn181.3.2.3.Gia tăng chi phí181.3.2.4.Việc kinh doanh sẽ trở nên khó lường hơn181.3.2.5.Lãi suất hạ.181.3.2.6.Cơ hội đầu tư ra bên ngoài191.3.2.7.Nhân viên của bạn có thể yêu cầu mức lương cao hơn.191.3.3.Tác động đối với hộ gia đình:191.3.3.1.Việc làm191.3.3.2.Cuộc sống gia đình191.3.3.3.Thay đổi lối sống201.3.3.4.Đầu tư201.3.3.5.Cơ hội kinh doanh201.3.3.6.Giá trị bất động sản201.3.3.7.Giáo dục211.3.3.8.Tín dụng và nợ211.4.Giải pháp211.4.1.Chính sách tài khóa211.4.2.Chính sách tiền tệ231.4.3.Phối hợp các chính sách26CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2008282.1.Nguyên nhân dẫn đến cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới282.2.Diễn biến, tác động, hậu quả cuộc suy thoái kinh tế thế giới.332.2.1.Suy thoái kinh tế Mỹ (12/2007 – 6/2009)342.2.2.Liên minh EU392.2.3.Nhật Bản442.2.4.Trung Quốc, Ấn Độ - Các nước BRIC50CHƯƠNG 3: SUY THOÁI KINH TẾ TẠI VIỆT NAM TỪ 2008 ĐẾN NAY563.1.Giai đoạn cuối năm 2008 - 2011563.1.1.Thực trạng suy thoái kinh tế tại Việt Nam563.1.1.1.Tốc độ tăng trưởng kinh tế563.1.1.2.Lạm phát573.1.1.3.Tình hình đầu tư583.1.1.4.Hệ thống ngân hàng593.1.1.5.Tình hình thất nghiệp613.1.2.Nguyên nhân633.1.2.1.Nguyên nhân khách quan633.1.2.2.Nguyên nhân chủ quan633.1.3.Những giải pháp, thành tựu và bài học kinh nghiệm từ các chính sách Nhà nước đã thực hiện để chống suy thoái kinh tế 2008-2011653.1.3.1.Giai đoạn kích cầu năm 2009653.1.3.2.Giai đoạn thực hiện chính sách vĩ mô thận trọng nhằm ổn định và duy trì mục tiêu tăng trưởng năm 2010673.1.3.3.Giai đoạn ưu tiên ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát (2011)703.2.Giai đoạn cuối năm 2011 đến nay733.2.1.Thực trạng nền kinh tế tại Việt Nam733.2.1.1.Diễn biến733.2.1.2.Nguyên nhân793.2.2.Những giải pháp Nhà nước và Chính phủ đã thực hiện để chống suy thoái kinh tế cuối năm 2011 - 2013 và bài học kinh nghiệm rút ra813.2.2.1.Giai đoạn thúc đẩy phục hồi kinh tế cuối 2011- 2012813.2.2.2.Giai đoạn năm 201384  CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ SUY THOÁI KINH TẾ1.1.Khái niệm chung về của suy thoái kinh tếChúng ta thường nghe trên phương tiện thông tin đại chúng những tin tức xấu về kinh tế các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản hay khu vực đồng tiền chung Châu Âu: tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, lợi nhuận các công ty sụt giảm, các thị trường tài chính suy giảm, thị trường nhà đất sụp đổ... Vậy có một khái niệm nào đơn giản nhất để mô tả những hiện tượng trên hay không? Câu trả lời là “có”, và đó là “suy thoái kinh tế”.Để tìm hiểu về suy thoái kinh tế, ta cần nắm những khái niệm sau đây:1.1.1.Chu kỳ kinh tếMô hình mà trong đó tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product – GDP) thực dao động xung quanh xu hướng phát triển GDP (Trend) được gọi là chu kỳ kinh tế. Chúng ta biết rằng, theo thời gian, sản lượng sản xuất ra ngày một tăng lên nhờ vào sự phát triển của công nghệ, của các nguồn lực sản xuất như lao động, vốn... tạo ra một xu thế phát triển GDP có dạng dốc lên về bên phải.

Trang 1



ĐỀ TÀI THUYẾT TRÌNH

SUY THOÁI KINH TẾ: LÝ THUYẾT, BÀI HỌC KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG, BIỆN PHÁP Ở VIỆT NAM

GVHD: TS Diệp Gia Luật

Khóa: Cao học 23 Lớp: Đêm 6

Nhóm: 2

TP.HCM, Ngày 29 tháng 10 năm 2013

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

Trang 2

8 Trương Thị Kim Thủy

9 Nguyễn Phi Trinh

10 Huỳnh Thị Thanh Tuyền

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ SUY THOÁI KINH TẾ 1

1.1 Khái niệm chung về của suy thoái kinh tế _11.1.1 Chu kỳ kinh tế 11.1.2 Suy thoái kinh tế _31.2 Nguyên nhân của suy thoái kinh tế _71.2.1 Các nguyên nhân chung _71.2.1.1 Trường phái kinh tế Keynes 71.2.1.2 Trường phái trọng tiền _111.2.1.3 Trường phái kinh tế học Áo _121.2.2 Một số nguyên nhân cụ thể: _131.2.2.1 Khủng hoảng tài chính _131.2.2.2 Các cú sốc về giá: _131.2.2.3 Sự sai lầm trong việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô. _141.2.2.4 Các nguyên nhân khác: chiến tranh, thiên tai, kỳ vọng của người dân và sự khủng hoảng niềm tin, v.v _141.3 Tác động của suy thoái kinh tế _141.3.1 Tác động đối với nền kinh tế 141.3.1.1 Tăng trưởng kinh tế giảm _141.3.1.2 Thất nghiệp gia tăng _151.3.1.3 Tiêu dùng và đầu tư _151.3.1.4 Thuế và chi tiêu của chính phủ 151.3.1.5 Với cán cân thanh toán _161.3.1.6 Thâm hụt ngân sách _161.3.1.7 Giảm phát _161.3.1.8 Với thị trường tài chính 161.3.1.9 Vấn đề an sinh xã hội 171.3.2 Tác động đối với doanh nghiệp 171.3.2.1 Doanh thu sụt giảm _171.3.2.2 Cạnh tranh khốc liệt hơn _181.3.2.3 Gia tăng chi phí 181.3.2.4 Việc kinh doanh sẽ trở nên khó lường hơn _181.3.2.5 Lãi suất hạ. 181.3.2.6 Cơ hội đầu tư ra bên ngoài 191.3.2.7 Nhân viên của bạn có thể yêu cầu mức lương cao hơn. 191.3.3 Tác động đối với hộ gia đình: 191.3.3.1 Việc làm 191.3.3.2 Cuộc sống gia đình 191.3.3.3 Thay đổi lối sống _201.3.3.4 Đầu tư 201.3.3.5 Cơ hội kinh doanh 20

Trang 4

1.3.3.6 Giá trị bất động sản _201.3.3.7 Giáo dục 211.3.3.8 Tín dụng và nợ _211.4 Giải pháp 211.4.1 Chính sách tài khóa _211.4.2 Chính sách tiền tệ _231.4.3 Phối hợp các chính sách 26

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2008 _28

2.1 Nguyên nhân dẫn đến cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới _282.2 Diễn biến, tác động, hậu quả cuộc suy thoái kinh tế thế giới. 332.2.1 Suy thoái kinh tế Mỹ (12/2007 – 6/2009) 342.2.2 Liên minh EU 392.2.3 Nhật Bản 442.2.4 Trung Quốc, Ấn Độ - Các nước BRIC _50

CHƯƠNG 3: SUY THOÁI KINH TẾ TẠI VIỆT NAM TỪ 2008 ĐẾN NAY 56

3.1 Giai đoạn cuối năm 2008 - 2011 563.1.1 Thực trạng suy thoái kinh tế tại Việt Nam 563.1.1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế 563.1.1.2 Lạm phát 573.1.1.3 Tình hình đầu tư 583.1.1.4 Hệ thống ngân hàng _593.1.1.5 Tình hình thất nghiệp 613.1.2 Nguyên nhân _633.1.2.1 Nguyên nhân khách quan _633.1.2.2 Nguyên nhân chủ quan _633.1.3 Những giải pháp, thành tựu và bài học kinh nghiệm từ các chính sách Nhà nước đã thực hiện để chống suy thoái kinh tế 2008-2011 _653.1.3.1 Giai đoạn kích cầu năm 2009 653.1.3.2 Giai đoạn thực hiện chính sách vĩ mô thận trọng nhằm ổn định và duy trì mục tiêu tăng trưởng năm 2010 _673.1.3.3 Giai đoạn ưu tiên ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát (2011) 703.2 Giai đoạn cuối năm 2011 đến nay _733.2.1 Thực trạng nền kinh tế tại Việt Nam 733.2.1.1 Diễn biến 733.2.1.2 Nguyên nhân _793.2.2 Những giải pháp Nhà nước và Chính phủ đã thực hiện để chống suy thoáikinh tế cuối năm 2011 - 2013 và bài học kinh nghiệm rút ra 813.2.2.1 Giai đoạn thúc đẩy phục hồi kinh tế cuối 2011- 2012 _813.2.2.2 Giai đoạn năm 2013 _84

Trang 5

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ SUY THOÁI KINH TẾ

1.1 Khái niệm chung về của suy thoái kinh tế

Chúng ta thường nghe trên phương tiện thông tin đại chúng những tin tức xấu vềkinh tế các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản hay khu vực đồng tiền chung ChâuÂu: tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, lợi nhuận các công ty sụt giảm, các thị trường tài chínhsuy giảm, thị trường nhà đất sụp đổ Vậy có một khái niệm nào đơn giản nhất để mô

tả những hiện tượng trên hay không? Câu trả lời là “có”, và đó là “suy thoái kinh tế”.Để tìm hiểu về suy thoái kinh tế, ta cần nắm những khái niệm sau đây:

1.1.1 Chu kỳ kinh tế

Mô hình mà trong đó tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product – GDP)thực dao động xung quanh xu hướng phát triển GDP (Trend) được gọi là chu kỳ kinhtế Chúng ta biết rằng, theo thời gian, sản lượng sản xuất ra ngày một tăng lên nhờ vào

sự phát triển của công nghệ, của các nguồn lực sản xuất như lao động, vốn tạo ra một

xu thế phát triển GDP có dạng dốc lên về bên phải

Hình 1.1: tăng trưởng GDP thực của Mỹ từ 1960 – 2010 (nguồn: William B., Michael M (2011),

“Macroeconomic basics”, Macroeconomics, South-Western Cengage Learning, pp 167)

Trang 6

Tuy nhiên, khi xét một giai đoạn cụ thể, ta có thể thấy GDP giai đoạn đó sẽ caohơn hay thấp hơn xu thế phát triển này Dựa vào mối quan hệ giữa GDP thực và xuhướng phát triển, ta có thể hình dung được chu kỳ kinh tế qua hình 1.2 dưới đây:

Suy thoái (Contraction)

Thể hiện rõ nhất là sự suy giảm trong GDP, thất nghiệp tăng, thu nhập giảm sút sẽkhiến chi tiêu co hẹp Nền kinh tế vì vậy sẽ tiếp tục trượt dốc

Trong cuộc đại suy thoái của nền kinh tế Mỹ những năm 1930, đáy của chu kỳ kéodài hàng năm trời

Phục hồi và hưng thịnh (Recovery and Expansion)

Lúc này, GDP bắt đầu tăng trưởng trở lại, và nền kinh tế hồi phục khỏi suy thoái.Hoạt động kinh doanh bắt đầu tiến triển một chút và doanh nghiệp tuyển lao động trởlại, tăng lượng đặt hàng từ nhà cung cấp Những nhà cung cấp này sẽ khởi động lạiviệc mở rộng sản xuất và tuyển nhân viên

Hình 1.2: Các giai đoạn của chu kỳ kinh tế

Trang 7

Nhiều công ăn việc làm hơn sẽ giúp người lao động cải thiện thu nhập và sau đótăng chi tiêu, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng.

Bùng nổ (Peak)

Lúc này, GDP thực của nền kinh tế ngừng tăng trưởng thêm và bắt đầu có dấu hiệu

đi xuống Tại đỉnh của chu kỳ, hoạt động kinh doanh sẽ ngừng mở rộng thêm, việclàm, tiêu dùng và sản xuất của nền kinh tế đạt đến mức cao nhất

Giống như điểm đáy của suy thoái, thời kỳ đạt đỉnh này có thể dài hoặc ngắn Khithời kỳ đạt đỉnh kéo dài thì chúng ta sẽ được hưởng lợi từ một giai đoạn thịnh vượngcủa nền kinh tế

1.1.2 Suy thoái kinh tế

Chúng ta thường muốn biết khái niệm về suy thoái kinh tế chính xác là như thếnào Tuy nhiên, sự thật là không có một định nghĩa chính xác cho suy thoái kinh tế Ởnhiều nước, các nhà kinh tế chấp nhận nguyên tắc suy thoái kinh tế là sự sụt giảm tổngsản lượng (GDP thực) trong 2 quý liền kề nhau Yêu cầu “2 quý liền kề nhau” để tránhtrường hợp phân loại một số trục trặc ngắn của nền kinh tế không quan trọng thành suythoái kinh tế

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cách định nghĩa này dường như hơi máy móc

Ví dụ, một nền kinh tế trong 3 tháng đầu năm có sự sụt giảm mạnh về tổng sản lượng,

3 tháng kế tiếp tăng trưởng dương không đáng kể, rồi 3 tháng tiếp theo tiếp tục sụtgiảm nhanh chóng Như vậy thật ra nền kinh tế này đang bước vào giai đoạn suy thoái

Ở nước Mỹ, người ta cố gắng tránh những trường hợp phân loại nhầm bằng cáchgiao nhiệm vụ xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc của suy thoái kinh tế cho một hộiđồng độc lập gồm các chuyên gia ở Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NationalBureau of Economic Research - NBER) Hội đồng này theo dõi một lượng lớn các dấuhiệu kinh tế, trong đó tập trung chính ở các dấu hiệu là sản lượng và việc làm, nhằmđưa ra quyết định về sự xuất hiện của suy thoái kinh tế

Theo NBER, suy thoái kinh tế là: “một sự sụt giảm quan trọng trong hoạt động

kinh tế lan rộng ra cả nền kinh tế, kéo dài chứ không chỉ xảy ra ở vài tháng, thông thường hiện hữu trong tổng sản phẩm quốc nội thực, thu nhập thực, việc làm, sản xuất công nghiệp và doanh thu trong lĩnh vực bán buôn và bán lẻ Một

Trang 8

cuộc suy thoái bắt đầu khi nền kinh tế đạt đến điểm bùng nổ trong chu kỳ kinh tế

và kết thúc khi nền kinh tế trở xuống điểm đình trệ”1

Phù hợp với định nghĩa này, Ủy ban tập trung vào một tập hợp toàn bộ các biệnpháp đo lường, bao gồm không chỉ GDP, mà còn cả ở việc làm, thu nhập, bán hàng, vàsản xuất công nghiệp để phân tích các xu hướng trong hoạt động kinh tế

Mặc dù nền kinh tế có thể có dấu hiệu suy yếu nhiều tháng trước khi suy thoái bắtđầu, quá trình xác định xem đó có phải một cuộc suy thoái thực sự (hay không) thườngmất thời gian Ví dụ, NBER đã tốn một năm để có thể thông báo rằng suy thoái kinh tếcủa Mỹ đã bắt đầu vào tháng Mười Hai năm 2007 (thông báo được phát hành vào năm2009) Điều này dễ hiểu, bởi vì quá trình ra quyết định đòi hỏi phải xác minh một sựsuy giảm lớn trong hoạt động kinh tế trong một khoảng thời gian dài sau khi tập hợp

và chọn lọc thông qua nhiều biến số, mà thường cần phải xem xét lại sau khi công bốlần đầu Ngoài ra, các biện pháp đo lường hoạt động khác nhau thể hiện hành vi mâuthuẫn, khiến cho việc xác định liệu một quốc gia thực sự bị suy giảm trên diện rộngtrong hoạt động kinh tế gặp rất nhiều khó khăn

1.1.3 Phân loại suy thoái kinh tế

Bởi vì chưa có một khái niệm chính xác về suy thoái kinh tế, cho nên hiện nay vẫnchưa có một lý thuyết hàn lâm cụ thể hay một hệ thống phân loại suy thoái kinh tế.Thông thường, các nhà kinh tế thường dựa vào hình dạng biểu đồ tăng trưởng GDPthực để phân biệt các loại suy thoái kinh tế một cách không chính thức Với cách này,

ta có thể thấy được một số dạng suy thoái điển hình sau:

a Suy thoái hình chữ V (V-shape recession)

Là một dạng suy thoái khả quan nhất Nó đề cập đến trường hợp nền kinh tế sẽ bậttrở lại một cách nhanh chóng với độ dốc giống như khi nó rơi vào suy thoái Loại suythoái này có đặc điểm là kiểu suy thoái mà pha suy thoái ngắn, tốc độ suy thoái lớn;đồng thời, pha phục phồi cũng ngắn và tốc độ phục hồi nhanh; điểm đổi chiều giữa haipha này rõ ràng

than a few months, normally visible in real GDP, real income, employment, industrial production, and wholesale-retail sales A recession begins when the economy reaches a peak of activity and ends when the economy reaches its trough.

Trang 9

Suy thoái kinh tế vào giữa năm 1950 là một ví dụ: Sản lượng giảm trong ba quýliên tiếp, nhưng sau đó không quá lâu sau đó tăng vọt trở lại lên mức 8,3 phần trăm vàsau đó 12 phần trăm Ta có thể theo dõi dưới hình 1.3:

b Suy thoái hình chữ L (L-shape recession)

Suy thoái hình chữ L còn được biết đến dưới cái tên: suy thoái dạng gậy hockey,đây có lẽ là dạng suy thoái đáng lo ngại nhất trong tất cả các dạng suy thoái Là kiểusuy thoái mà nền kinh tế rơi vào suy thoái nghiêm trọng rồi suốt một thời gian dàikhông thoát khỏi suy thoái Một số nhà kinh tế gọi tình trạng suy thoái không lối thoátnày là khủng hoảng kinh tế Một ví dụ điển hình của loại suy thoái này là nền kinh tếNhật Bản trong thập niên 90 (còn được biết với tên gọi thập kỷ mất mát), sau sự đổ vỡcủa bong bóng bất động sản

c Suy thoái hình chữ U (U-shape recession)

Là một dạng suy thoái lai giữa suy thoái hình chữ V và suy thoái hình chữ L Đây

là kiểu suy thoái kéo dài, mệt mỏi không rõ nguyên nhân Một số nhà kinh tế cho rằngtình trạng này xảy ra khi nền kinh tế bị đình trệ Nền kinh tế sau một thời kỳ suy thoái

Hình 1.3: Suy thoái hình chữ V, như trường hợp suy thoái kinh tế Hoa Kỳ năm 1953

Hình 1.4: Suy thoái hình chữ L, như trường hợp Thập kỷ mất mát (Nhật Bản).

Trang 10

mạnh tiến sang thời kỳ vất vả để thoát khỏi suy thoái Trong thời kỳ thoát khỏi suythoái, có thể có các quý tăng trưởng dương và tăng trưởng âm xen kẽ nhau SimonJohnson, chuyên gia kinh tế chính tại quỹ tiền tệ thế giới (IMF) có lần đã liên tưởngsuy thoái kinh tế hình chữ U với hình ảnh bồn tắm: “Bạn bước vào Bạn thả mình vào.Các cạnh đều rất trơn trượt Bạn biết đấy, có thể dưới đáy bồn có vài chỗ gồ ghề,nhưng bạn vẫn không bước ra khỏi bồn trong một thời gian dài”2

d Suy thoái kình chữ W (W-shape recession)

Loại suy thoái này có nhiều tên gọi khá cường điệu: suy thoái “chìm 2 lần”(double-dip recession), “đặt chân thứ 2 xuống” (second leg down) hay suy thoái vòngquay (roller-coaster recession)

Suy thoái kép là thời kỳ là thời kì kéo dài tối thiểu gồm năm quý, trong đó baogồm: một giai đoạn suy thoái, kế tiếp là giai đoạn phục hồi ngắn, rồi tiếp tục bằng mộtgiai đoạn suy thoái khác Như vậy, đường mô tả tốc độ tăng trưởng GDP trong thời kìsuy thoái kép có dạng như hình chữ W

Điển hình như tình trạng suy thoái của Mỹ trong những năm đầu thập niên 80 Từtháng 1 đến tháng 7/1980, Mỹ rơi vào một cuộc suy thoái kinh tế nhẹ, tỷ lệ thất nghiệp

ở Mỹ lên mức cao Mặc dù sau đó nền kinh tế nước này đã có sự phục hồi đáng kể,nhưng tỷ lệ thất nghiệp vẫn giữ ở mức cao lịch sử khoảng 7.5% vào cuối năm 1981 vàtiếp tục tăng cao lên đến 10% vào năm 1982 Các ngành công nghiệp trọng điểm nhưnhà ở, sản xuất thép, sản xuất ô tô… trải qua suy thoái trong năm 1980 nhưng khôngthể phục hồi lại cho đến cuối cuộc suy thoái tiếp theo

bottom, but you don’t come out of the bathtub for a long time.

Hình 1.5: Suy thoái hình chữ U, như trường hợp suy thoái kinh tế Hoa Kỳ 1973 – 1975

Trang 11

Mô hình suy thoái kép cũng xảy ra với quy mô lớn hơn và dài hơn trong cuộc Đại Suy thoái Khi đó, một cuộc suy thoái lớn đã tác động tới nước Mỹ từ năm

1929 tới 1933, sau đó là hồi phục từ 1933 tới 1937 và một sự suy sụp trong giai đoạn từ 1937 tới 1939

1.2 Nguyên nhân của suy thoái kinh tế

Nguyên nhân của suy thoái kinh tế là đề tài thảo luận sôi nổi của các chuyên giakinh tế học, từ các nhà nghiên cứu lý thuyết đến những người làm chính sách mặc dù

đa số thống nhất rằng các kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bêntrong (nội sinh) theo chu kỳ và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh)

1.2.1 Các nguyên nhân chung

Về việc giải thích các nguyên nhân gây ra suy thoái kinh tế, có các trường phái nhưsau:

1.2.1.1 Trường phái kinh tế Keynes

John Maynard Keynes (1883 – 1946), là nhà kinh tế học người Anh, người mànhững tư tưởng kinh tế của ông đã thay đổi nền tảng lý thuyết và thực hành đối vớikinh tế vĩ mô hiện đại, cung cấp cho các chính phủ những chính sách điều hành nềnkinh tế hiệu quả

Trang 12

Lý thuyết Keynes là một trường phái tư tưởng kinh tế liên quan đến những thay đổitrong tổng cầu (tổng cộng chi tiêu trong nền kinh tế) là động lực của tăng trưởng kinhtế Keynes lập luận rằng những thay đổi trong tổng cầu tác động mạnh mẽ trong ngắnhạn đối với sản lượng thực tế và việc làm Điều này là do giá là cứng nhắc, hoặc chậmphản ứng với những thay đổi trong cung và cầu Bởi vì giá không điều chỉnh ngay lậptức, cả hai chính sách tiền tệ (thay đổi trong cung tiền và lãi suất) và chính sách tàikhóa (thay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế) có thể gây ra sản lượng và việc biếnđộng trong ngắn hạn.

Theo Keynes, nguồn gốc của suy thoái kinh tế là sự sụt giảm trong tổng cầu Khitổng nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ suy giảm, các doanh nghiệp trong nền kinh tếnhìn thấy doanh số bán hàng của họ giảm xuống Doanh số bán hàng thấp hơn buộccác công ty phải cắt giảm sản xuất và sa thải công nhân Thất nghiệp gia tăng và lợinhuận tiếp tục giảm làm giảm nhu cầu chi tiêu, làm doanh số bán hàng của công ty lạisụt giảm, tạo ra một vòng lẩn quẩn với kết thúc không tốt đẹp Tình thế chỉ đảo ngượckhi có những sự kiện hoặc chính sách làm tăng tổng cầu Vấn đề là làm sao để xácđịnh đâu là nguyên nhân tác động đến tổng cầu

Trong các mô hình kinh tế cơ bản, tổng cầu được định nghĩa là được bao gồm bốnthành phần riêng biệt của chi tiêu: tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu chính phủ, và xuất khẩuròng (tổng kim ngạch xuất khẩu trừ đi tổng nhập khẩu)

AD = C + I + G + X – MTrong đó:

Trang 13

đình gia tăng tiết kiệm Lý thuyết Keynes cho thấy một "nghịch lý tiết kiệm" (paradox

of thrift) Nếu tất cả các hộ gia đình cố gắng tiết kiệm hơn, thì chi tiêu của họ giảm đi,kết quả ngắn hạn có thể là tổng cầu thấp hơn do đó thu nhập quốc dân thấp hơn Thunhập giảm tác động ngược lại các hộ gia đình, có thể ngăn chặn các hộ gia đình đạtđược mục tiêu tiết kiệm mới của họ

b Đầu tư (Investment)

Thông thường, khi tiêu dùng sụt giảm, ta có thể bù đắp lại sự gia tăng đầu tư, trongđó bao gồm chi tiêu của các doanh nghiệp cho máy móc thiết bị và các hộ gia đình chonhững căn nhà mới Nhưng có một số yếu tố ngăn cản chi đầu tư, đặc biệt là kỳ vọng.Không có kỳ vọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế trong tương lai gần, người ta cốgắng kiếm những kênh đầu tư thiên về cất giữ giá trị hơn là sinh lợi như vàng Cácdoanh nghiệp trở nên khó khăn hơn khi huy động vốn, cùng với việc sụt giảm lợinhuận, sẽ khiến họ trì hoãn đầu tư vào các dây chuyền máy móc thiết bị mới

Một ví dụ rõ ràng nhất là tình trạng thị trường nhà đất của Mỹ trong giai đoạn suythoái 2008 - 2009 Trước đó, từ năm 2006 - 2008, đầu tư vào thị trường nhà ở của Mỹ

đã giảm 42% Với tình trạng giá nhà đất tiếp tục suy giảm, việc tăng cường xây dựngnhà mới không có khả năng cải thiện nhu cầu nhà ở trong vài năm tới do tâm lý ngườidân lo sợ kinh tế tiếp tục xấu đi, không có khả năng trả nợ, đồng thời hy vọng trongtương lai giá nhà đất sẽ còn giảm tiếp

Ngoài ra, trong giai đoạn 2008 -2009 đầu tư kinh doanh đã mạnh mẽ hơn so vớiđầu tư vào nhà đất, nhưng nó không có khả năng thay đổi tình hình trong tương laigần Với thị trường chứng khoán đang đi xuống, lãi suất trái phiếu doanh nghiệp và hệthống ngân hàng đang bấp bênh, việc tìm nguồn tài trợ các dự án kinh doanh mới sẽkhông dễ dàng Người dân không có kỳ vọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế trongtương lai gần, nên họ tìm kiếm những kênh đầu tư an toàn hơn dù khả năng sinh lợithấp hơn như là vàng

c Xuất khẩu ròng (Net Exports)

Xuất khẩu ròng, hay còn gọi là tổng chi tiêu của khu vực nước ngoài, được tínhbằng cách lấy tổng giá trị xuất khẩu trừ đi tổng giá trị nhập khẩu Khi xuất khẩu ròngdương, tổng cầu sẽ tăng lên, và khi xuất khẩu ròng âm, tổng cầu giảm xuống Tronggiai đoạn suy thoái, nhu cầu hàng hóa từ nước ngoài sụt giảm, làm xuất khẩu ròng

Trang 14

giảm, dẫn đến giảm trong tổng cầu Ngoài ra, nếu đồng tiền nước đó là một đồng tiềnmạnh, ví dụ USD, thì nhu cầu tích trữ đồng tiền làm phương tiện cất giữ giá trị tănglên, làm giá trị đồng tiền tăng lên, khiến nhập khẩu tăng và xuất khẩu giảm.

Ví dụ: cách đây không lâu, có vẻ như phần còn lại của thế giới có khả năng giảicứu nước Mỹ thoát khỏi một cuộc suy thoái sâu Từ tháng ba năm 2004 đến tháng Banăm 2008, USD đã giảm 19 phần trăm so với mức trung bình của các đồng tiền lớnkhác Bằng cách tăng giá hàng hóa nước ngoài tại Hoa Kỳ và làm giảm giá hàng hóacủa Mỹ ở nước ngoài, không khuyến khích nhập khẩu và ủng hộ xuất khẩu Trong banăm qua, xuất khẩu ròng đã tăng khoảng 250 tỷ USD

Tuy nhiên, tình hình trong những tháng tiếp theo đã đảo chiều Khủng hoảng tàichính của Mỹ đã lan sang phần còn lại của thế giới, luồng vốn quốc tế với đặc tínhchuyển đổi nhanh đã được tìm kiếm một nơi trú ẩn an toàn Trớ trêu thay, thiên đườngđó là Hoa Kỳ Kể từ tháng Ba, đồng USD đã tăng giá 19 phần trăm, một động thái làmnhập khẩu tăng và xuất khẩu giảm, làm giảm xuất khẩu ròng, dẫn đến giảm tổng cầu

d Chi tiêu chính phủ (Government Spending)

Một trong những biện pháp chi tiêu của chính phủ là gia tăng đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng, điều này phù hợp với với lý thuyết Keynes Về nguyên tắc, mỗi đô la chitiêu của chính phủ có thể giúp thu nhập quốc dân tăng hơn một đô la Biện pháp nàygiúp nền kinh tế trở nên sôi động hơn và kích thích chi tiêu của người tiêu dùng và cáccông ty

Tuy nhiên có một vấn đề nhỏ, nhưng cũng có thể không nhỏ, là hình ảnh tài chínhdài hạn Chi tiêu chính phủ tăng có thể là một điều chỉnh tốt trong ngắn hạn, nhưng nósẽ làm tăng thâm hụt ngân sách Cùng với sự bùng nổ dân số, một lực lượng lao độngbắt đầu nghỉ hưu và đòi quyền lợi an ninh và y tế xã hội Việc tăng nợ quốc gia sẽ làmcho việc thanh toán công trái huy động sẽ gặp khó khăn hơn trong những năm tới.Các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes thường bỏ qua những mối quan tâmdài hạn khi nền kinh tế có vấn đề ngắn hạn "Về lâu dài chúng tôi đều đã chết." câuchâm biếm nổi tiếng của Keynes

Tuy nhiên, các vấn đề dài hạn bây giờ chúng ta phải đối mặt, có thể nghiêm trọnghơn bất kỳ vấn đề nào mà Keynes từng hình dung Để lại một món nợ quốc gia lớn

Trang 15

hơn cho thí́ hệ sau có thí̉ trông hấp dẫn đối với những người không có con (bản thđnKeynes không có con), nhưng phần còn lại của chúng ta không thí̉ cảm thấy thoải máihơn khi bií́t rằng, về lđu dăi, khi chúng ta chí́t, con cháu chúng ta sẽ phải gánh chịukhoản nợ từ chính sách tăi khóa của chúng ta.

Như vậy, theo trường phái Keynes, suy thoái kinh tí́ bắt nguồn từ việc sụt giảm tổng cầu, mă nguyín nhđn từ các nhđn tố cấu thănh nín tổng cầu Qua đó, trường phái năy cho rằng, chính sách tăi khóa vă chính sách tiền tệ sẽ tác đí́n suy thoái kinh tí́, vì vậy, chính phủ nín sử dụng cả hai chính sách năy (trong đo nhấn mạnh chính sách tăi khóa, đặc biệt lă chi tiíu chính phủ) để giải quyí́t suy thoái kinh tí́.

1.2.1.2 Trường phái trọng tiền

Trường phái trọng tiền hay còn gọi lă trường phái tự do Chicago, với đại bií̉u lẵng Milton Friedman Trường phái năy nhấn mạnh vai trò của các ngđn hăng trungương trong việc kií̉m soát lượng tiền trong lưu thông Trường phái trọng tiền cho rằng:trong kinh tí́ tiền tệ, khi có sự thay đổi trong cung tiền sẽ ảnh hưởng lớn đí́n sản lượngquốc gia trong ngắn hạn vă mức giá trong dăi hạn vă các mục tiíu của chính sách tiền

tệ được đáp ứng tốt nhất bằng cách đặt ra mục tiíu tốc độ tăng trưởng cung tiền.

Theo M.Friedman vă những người theo phái trọng tiền hiện đại, các bií́n số vĩ mônhư: giá cả, sản lượng, công ăn việc lăm phụ thuộc văo mức cung tiền tệ chứ khôngphải văo chính sách tăi khóa (thuí́ vă chi tiíu ngđn sách) của trường phái Keynes.Nhđn tố quyí́t định sự tăng trưởng của sản lượng quốc gia lă mức cung tiền tệ Mứccung tiền tệ thường không ổn định vă phụ thuộc văo quyí́t định chủ quan của chínhsách tiền tệ của ngđn hăng trung ương Ní́u ngđn hăng trung ương phát hănh không đủtiền thì dễ dẫn đí́n khủng hoảng kinh tí́, còn ní́u phát hănh thừa tiền thị lại bị lạmphát Mức cầu tiền tệ có tính ổn định cao, nó được quyí́t định bởi thu nhập

Friedman cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tí́ 1929-1933 diễn ra ở Mỹ lă do Hệthống dự trữ liín bang (FED) đê phát hănh một số tiền ít hơn mức cung tiền tệ Từ đó,ông đề nghị thực hiện chu kỳ tiền tệ vă thu nhập quốc dđn nhằm chủ động điều tií́tmức cung tiền tệ trong từng thời kỳ phát trií̉n Trong thời kỳ khủng hoăng thì tăngmức cung tiền tệ đí̉ đưa nền kinh tí́ thoát khỏi khủng hoảng, còn trong thời kỳ phồn

Trang 16

vinh thì giảm mức cung tiền để kìm hãm bớt mức phồn vinh Theo ông, để giữ sự ổnđịnh trong nền kinh tế cần tăng khối lượng tiền hàng năm ổn định mức từ 3-4%.

Khối lượng tiền tệ càng nhiều thì giá cả hàng hóa càng tăng cao Do đó, các nhàtrọng tiền hiện đại quan tâm đến việc ổn định tiền tệ và chống lạm phát Theo họ, vấn

đề cần quan tâm trong nền kinh tế là lạm phát, là căn bệnh nan giải của xã hội cần phảigiải quyết M.Friedman đã đưa ra khái niệm thất nghiệp tự nhiên, từ đó trở thành kháiniệm cơ bản trong phân tích thị trường lao động theo lý thuyết tự do "Ở bất cứ thờiđiểm nào cũng luôn luôn có một mức thất nghiệp mang đặc tính là tương hợp với thếcân đối trong cơ cấu tỷ lệ lương thực tế Tỷ lệ thất nghiệp nếu thấp hơn mức ấy tức làcầu quá lớn về lao động do đó sẽ gấp sức ép vào sự giảm tiền lương thực tế" (Vai tròcủa chính sách tiền tệ, American Economic Review, tháng 3-1968)

Như vậy, theo trường phái trọng tiền, suy thoái kinh tế bắt nguồn từ những sai lầm trong việc điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương Trường phái này cho rằng, sử dụng tốt chính sách tiền tệ sẽ kiềm chế được lạm phát, thoát khỏi suy thoái kinh tế.

1.1.1.1 Trường phái kinh tế học Áo

Trường phái kinh tế học Áo là một trường phái tư tưởng nghiên cứu các hiện tượngkinh tế học dựa trên giải thích và phân tích những hành động có mục đích của các cánhân Trường phái này có tên gọi như vậy do nó có nguồn gốc từ cuối thế kỷ 19 và đầuthế kỷ 20 ở Vienna với các nghiên cứu của Carl Menger, Eugen von Böhm-Bawerk,Friedrich von Wieser và những người khác Hiện giờ, những người thừa kế trườngphái Áo có thể đến từ bất cứ nơi nào trên thế giới, nhưng họ vẫn thường được gọi là

“các nhà kinh tế học trường phái Áo”, hay đơn giản là “người Áo” và tác phẩm của họ

là “kinh tế học Áo”

Các nhà kinh tế Áo tin rằng các chu kỳ kinh doanh như hưng thịnh và suy thoái làkết quả của sự can thiệp có hệ thống vào sự vận hành thị trường của chính phủ Cụ thể,

họ cho rằng các chu kỳ kinh doanh là hệ quả tất yếu xuất phát từ các chính sách khônghiệu quả của ngân hàng trung ương, như duy trì lãi vay quá thấp trong khoảng thờigian quá dài.Lãi suất thấp kích thích nhu cầu vay vốn từ hệ thống ngân hàng Kết quảcủa việc mở rộng tín dụng dẫn đến việc mở rộng cung tiền và sự tăng trưởng không

Trang 17

bền vững, thúc đẩy nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội đầu tư mạo hiểm hứa hẹn mức lợinhuận cao.

Trong thời gian này, nguồn vốn được phân bổ sai vào các khu vực không hiệu quả

và nguy hiểm đó sẽ không thu hút đầu tư nếu nguồn cung tiền đã tương đối ổn định.Giai đoạn hưng thịnh kết thúc việc khi tạo ra tín dụng có thể không còn được duy trì

và cung tiền thắt chặt lại Cuối cùng những thị trường được phân bổ lại theo hướng sửdụng hiệu quả hơn Trong bối cảnh này, cuộc suy thoái được xem là lực lượng tích cựcđóng vai trò như cơ chế tự nhiên của thị trường về xóa bỏ sự phân bổ sai nguồn lực.Tuy nhiên, các nhà kinh tế Áo chỉ trích các hành động của chính phủ là nguyên nhânđầy tiên gây ra sự gia tăng cung tiền và lạm phát, mà kết quả trong giai điều chỉnh hậusuy thoái là thời kỳ lạm phát gia tăng

Như vậy, trường phái kinh tế Áo cho rằng suy thoái kinh tế bắt nguồn từ những can thiệp của chính phủ vào thị trường Trường phái này cho rằng, chính phủ càng ít can thiệp vào thị trường, suy thoái sẽ càng mau qua đi.

1.2.2 Một số nguyên nhân cụ thể:

Xuất phát từng những quan điểm về nguyên nhân suy thoái như trên, ta có thể thấymột số nguyên nhân cụ thể rất rõ ràng như sau:

1.2.2.1 Khủng hoảng tài chính

Đây là một yếu tố quan trọng và là nguyên nhân chủ yếu của các cuộc suy thoáikinh tế Khủng hoảng tài chính diễn ra đối với một quốc gia sẽ nhanh chóng lây lanqua các quốc gia khác do tính toàn cầu hóa của hệ thống tài chính

Nó còn là nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm tổng cầu trên quy mô toàn thế giới

VD: Khủng hoảng tài chính tại Mỹ 2008 đã nhanh chóng lay lan sang các nước

khác Mặt khác Mỹ là quốc gia có tỷ trọng tiêu dùng lớn trên thế giới, như vậy khingười dân Mỹ giảm chi tiêu làm ảnh hưởng đến tổng cầu của các quốc gia khác

1.2.2.2 Các cú sốc về giá:

Giá nguyên liệu đầu vào gia tăng làm giá đầu ra gia tăng theo, trong khi mức độ giatăng của thu nhập không theo kịp mức độ gia tăng của giá cũng dẫn đến tổng cầu giảm.Tổng cầu giảm một lần nữa sẽ tác động ngược trở lại tổng cung

Trang 18

VD: Cuộc suy thoái giá dầu tại Trung Đông giai đoạn 1973 – 1975.

1.2.2.3 Sự sai lầm trong việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô.

Cũng như trường phái Áo và trường phái trọng tiền, Krugman cũng chỉ trích cácchính phủ Ông cho rằng chính phủ các nước trên thế giới đã sai lầm trong các chínhsách nhằm khôi phục và kích thích nền kinh tế của mình

VD: Cuộc khủng khoảng nợ công đang diễn ra tại châu Âu

1.2.2.4 Các nguyên nhân khác: chiến tranh, thiên tai, kỳ vọng của người dân và sự khủng hoảng niềm tin, v.v

Kỳ vọng của người dân và sự khủng hoảng niềm tin

Khi một trong các nguyên nhân trên diễn ra, kỳ vọng về thu nhập của người dân sẽgiảm, họ sẽ gia tăng tiết kiệm Với mức độ suy giảm ngày càng nghiêm trọng của kỳvọng sẽ dẫn đến sự khủng hoảng niềm tin

1.3 Tác động của suy thoái kinh tế

Suy thoái kinh tế tác động đến mọi thành phần của xã hội Ta xét tác động của nóđối với nền kinh tế, doanh nghiệp và đối với hộ gia đình

1.3.1 Tác động đối với nền kinh tế

1.3.1.1 Tăng trưởng kinh tế giảm

Khi suy thoái kinh tế xuất hiện, việc một loạt các hoạt động kinh doanh buộc phảigiải thể là điều không thể tránh khỏi, đồng thời sự sụt giảm trong tiêu dùng, đầu tư,thâm hụt cán cân thương mại dẫn đến GDP của nền kinh tế sụt giảm hơn nữa, hậu quảtất yếu là tăng trưởng kinh tế chậm lại

Một cuộc suy thoái dẫn đến đầu tư thấp hơn, và do đó có thể làm yếu đi năng lựcsản xuất dài hạn của nền kinh tế Nếu cuộc suy thoái ngắn, sản lượng bị mất này có thể

Trang 19

là khá hạn chế - nền kinh tế có thể phục hồi trở lại Nhưng, trong một cuộc suy thoáikéo dài, sản lượng bị mất này trở nên lớn hơn.

1.3.1.2 Thất nghiệp gia tăng

Khi suy thoái kinh tế xảy ra, một hiện tượng không thể tránh khỏi là thất nghiệp cơcấu Không phải ai cũng bị ảnh hưởng như nhau bởi một cuộc suy thoái Sự sụt giảmGDP sẽ làm tăng tỷ lệ thất nghiệp Điều này là do:

 Một số công ty sẽ phá sản, đồng nghĩa là tất cả các công nhân bị mất việc làm

 Trong một nỗ lực để giảm chi phí, các công ty sẽ cắt giảm tuyển dụng nhân viênmới Do đó, những người trẻ tuổi thường chịu ảnh hưởng nhiều hơn

 Suy thoái kinh tế dẫn đến sự thu hẹp sản xuất của các doanh nghiệp do tổng cầugiảm, do đó cầu về lao động giảm, các doanh nghiệp thực hiện cắt giảm nhân công

và làm cho tỷ lệ thất nghiệp tăng cao

1.3.1.3 Tiêu dùng và đầu tư

Khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, tiêu dùng và đầu tư trong nước đều bị sụt giảm

do thu nhập khả dụng giảm và rủi ro đầu tư tăng cao đồng thời dòng vốn đầu tư nướcngoài cả trực tiếp và gián tiếp suy giảm vì những lo ngại về bất ổn kinh tế, các nhà đầu

tư có xu hướng rút vốn về do lo ngại rủi ro đầu tư

1.3.1.4 Thuế và chi tiêu của chính phủ

Chính phủ sẽ thấy sự sụt giảm trong số thuế thu được, đây là kết quả của một cuộcsuy thoái:

 Các công ty tạo ra lợi nhuận ít hơn, do đó chính phủ thu thuế thu nhập doanhnghiệp thấp hơn

 Công nhân nhận thu nhập thấp hơn, do đó chính phủ nhận được thuế thu nhập cánhân thấp hơn

 Giá nhà thấp hơn, và giao dịch nhà ở ít – số thuế nhà đất và thuế thu nhập cá nhân

từ chuyển nhượng bất động sản thấp hơn

 Giảm chi tiêu, dẫn đến giảm các khoản thu thuế GTGT Ví dụ: ở Hy Lạp trongnăm 2011, khoản thu từ thuế GTGT giảm 18% đơn giản chỉ vì 60.000 doanhnghiệp bị phá sản kể từ mùa hè

Trang 20

Tăng chi tiêu chính phủ vào tiền trợ cấp, chẳng hạn như trợ cấp thất nghiệp, chi hỗtrợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giãn thuế, giảm thuế.

1.3.1.5 Với cán cân thanh toán

Trong giai đoạn suy thoái, tài khoản vãng lai có thể thấy sự cải thiện (giảm thâmhụt) Điều này là do :

 Trong chi tiêu tiêu dùng suy thoái kinh tế giảm, do đó chi tiêu cho nhập khẩugiảm

 Trong một cuộc suy thoái, lãi suất được cắt giảm, do đó tỷ giá hối đoái mất giá làmcho xuất khẩu rẻ hơn và hàng nhập khẩu đắt tiền hơn Việc giảm tỷ giá hối đoái cảithiện tài khoản vãng lai

Thâm hụt tài khoản vãng lai thường mang tính chu kỳ - tăng khi nhu cầu tiêu dùngcao, giảm khi chi tiêu tiêu dùng giảm Điều này dễ nhận thấy ở một quốc gia nhưVương quốc Anh, một quốc gia có khuynh hướng nhập khẩu cao

Tuy nhiên, không phải lúc nào suy thoái kinh tế cũng có thể cải thiện thâm hụt tàikhoản vãng lai, đặc biệt là đối với các nước xuất khẩu lớn Điển hình như Đức vàTrung Quốc Trong một cuộc suy thoái toàn cầu một sự sụt giảm mạnh nhu cầu đối vớihàng xuất khẩu của họ, làm suy giảm tài khoản vãng lai

1.3.1.6 Thâm hụt ngân sách

Vì giảm các khoản thu từ thuế và tăng tiền trợ cấp (các nhân tố ổn định tự động),đồng thời tăng chi tiêu chính phủ nhằm tăng tổng cầu, suy thoái kinh tế có xu hướnglàm tăng thâm hụt ngân sách, và tổng số nợ của chính phủ

1.3.1.7 Giảm phát

Việc cắt giảm chi tiêu khi suy thoái kinh tế xảy ra làm cho suy thoái càng nặng nềhơn dẫn đến giảm phát Giảm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảmxuống liên tục Nguyên nhân chính của giảm phát là do tổng cầu giảm, một hiện tượngtất yếu khi suy thoái kinh tế xảy ra Đến lượt nó, giảm phát làm cho việc sản xuất kinhdoanh ngày càng bị thu hẹp hơn, thu nhập giảm, thất nghiệp tăng lên và làm cho nềnkinh tế rơi vào vòng luẩn quẩn suy thoái kéo dài

1.3.1.8 Với thị trường tài chính

Trang 21

Suy thoái kinh tế có ảnh hưởng xấu lên thị trường chứng khoán, làm cho giá cổphiếu giảm mạnh, nhà đầu tư hoảng sợ, thị trường chứng khoán đi xuống và chứngkhoán bị bán ra ồ ạt Việc IPO của các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn và trởngại, thậm chí tạm hoãn IPO do trong thời gian này cung quá nhiều trong khi cầu vềchứng khoán giảm mạnh, việc IPO sẽ bất lợi cho doanh nghiệp Ngoài ra khả năng rútvốn ồ ạt của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán cũng gây ảnh hưởngxấu lên thị trường chứng khoán cũng như dự trữ ngoại hối.

Bên cạnh việc có những tác động tiêu cực lên thị trường chứng khoán, suy thoáikinh tế cũng làm cho các ngân hàng gặp nhiều khó khăn, một số ngân hàng mất khảnăng thanh khoản, có thể gây ra sự sụp đổ của các ngân hàng do nợ xấu tăng lên,người vay vốn không còn khả năng trả nợ và người gửi tiền hoảng loạn đua nhau rúttiền gởi

1.3.1.9 Vấn đề an sinh xã hội

Suy thoái kinh tế tác động tiêu cực lên nền kinh tế dẫn đến xu hướng bất bình đẳng

về thu nhập và phân hóa giàu nghèo trong xã hội có khả năng gia tăng Đồng thời gây

ra những bất ổn trong xã hội do tội phạm tăng

Các công ty cũng sẽ cố gắng giảm chi phí bằng cách giữ mức lương thấp Một sốngười lao động (đặc biệt là lao động thời vụ không có hợp đồng) có thể thấy sự giảmlương

Một nguyên nhân khác của mức lương thấp hơn là thiếu việc làm Một số côngnhân có thể tiếp tục công việc của họ, nhưng giờ công bị cắt giảm Từ những ngườilàm toàn thời gian, họ trở thành những người làm bán thời gian (ví dụ như 20 giờ mộttuần) Điều này có nghĩa rằng tỷ lệ thất nghiệp có thể không tăng cao, nhưng thu nhậpcủa công nhân sụt giảm đáng kể

1.3.2 Tác động đối với doanh nghiệp

1.3.2.1 Doanh thu sụt giảm

Doanh thu của các doanh nghiệp sụt giảm do người tiêu dùng thắt chặt hầu bao củamình và dành tiền của họ để chi tiêu vào các mặt hàng thiết yếu Sự sụt giảm này xảy

ra đặc biệt nghiêm trọng nếu lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp là các mặt hàngkhông thiết yếu

Trang 22

Ngay cả khi doanh nghiệp có thể duy trì doanh số bán hàng, lợi nhuận của các đơn

vị này vẫn có thể đi xuống Doanh nghiệp phải đưa ra các phương pháp mới và sángtạo để thu hút khách hàng

1.3.2.2 Cạnh tranh khốc liệt hơn

Khi chu kỳ kinh tế bước vào giai đoạn suy thoái kinh tế, sự cạnh tranh sẽ gay gắthơn bởi vì sẽ có nhiều đối thủ cạnh tranh cùng chiếu đấu để dành những thị phần nhỏhơn

Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp, bởi vì các đối thủ cạnh tranhyếu hơn họ phải đóng cửa

1.3.2.3 Gia tăng chi phí

Cùng với áp lực về doanh số bán hàng, chi phí của doanh nghiệp cũng sẽ tăng lênkhi lạm phát bắt đầu ảnh hưởng đến ngân sách của họ

Điều này khiến các doanh nghiệp phải “thắt lưng buộc bụng” Họ sẽ phải đảm bảo

ưu tiên cho những chi phí trực tiếp ảnh hưởng đến kinh doanh của doanh nghiệp và cắtgiảm bớt những chi phí ít liên quan

1.3.2.4 Việc kinh doanh sẽ trở nên khó lường hơn

Việc kinh doanh sẽ trở nên khó khăn hơn và không thể dự đoán trước Lượngkhách hàng tăng giảm thất thường, có thể sụt giảm mạnh trong giai đoạn mà trước đây,doanh nghiệp dự đoán sẽ có sự tăng trưởng mạnh về doanh thu Đòi hỏi các doanhnghiệp phải có một cái đầu lạnh và bình tĩnh trong thời kỳ biến động như vậy

1.3.2.5 Lãi suất hạ.

Trong giai đoạn suy thoái, lãi suất có thể hạ, và trong trường hợp doanh nghiệp cầnvay tiền cho một dự án, một khoản đầu tư nào đó, họ không phải đối mặt với lãi suấtcao

Vấn đề duy nhất là, trong giai đoạn suy thoái kinh tế, thường đi kèm với khủnghoảng thanh khoản trong thị trường tiền tệ, các doanh nghiệp khó khăn hơn để đáp ứngđược các yêu cầu của các tổ chức tín dụng cho một khoản vay Trong giai đoạn này,những tiêu chuẩn cho vay thường cao hơn vì các ngân hàng sợ doanh nghiệp trong giaiđoạn khó khăn không đủ khả năng chi trả

Trang 23

1.3.2.6 Cơ hội đầu tư ra bên ngoài

Giai đoạn suy thoái làm các thị trường chứng khoán và thị trường bất động sảngiảm mạnh

Điều này có thể tạo cho các doanh nghiệp một cơ hội để đầu tư vào cổ phiếu hoặctài sản do giá thấp hơn Và một khi nền kinh tế chuyển động trở lại vào chu kỳ hưngthịnh, khoản đầu tư của doanh nghiệp sẽ mang lại lợi nhuận cao

1.3.2.7 Nhân viên của bạn có thể yêu cầu mức lương cao hơn.

Khi lạm phát làm giảm thu nhập thực của nhân viên, họ có thể yêu cầu mức lươngcao hơn để có thể để duy trì cuộc sống Sau đó các doanh nghiệp có thể sa thải nhữnglao động không hiệu quả để duy trì chi phí lương ổn định

Trong giai đoạn suy thoái kinh tế, quy mô hoạt động của các doanh nghiệp bị thu hẹp, gặp nhiều khó khăn và có thể dẫn đến phá sản Doanh nghiệp nào tồn tại được là những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả nhất Để làm được đều đó, các doanh nghiệp sẽ cần phải thích ứng, tiết kiệm chi phí và cố gắng đạt được doanh thu tốt để có thể thoát khỏi suy thoái kinh tế mà không bị tổn thương Nếu làm được như vậy, doanh nghiệp đó sẽ trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

1.3.3 Tác động đối với hộ gia đình:

1.3.3.1 Việc làm

Mất việc làm ảnh hưởng đến sự ổn định của gia đình và cá nhân Tình trạng củangười thất nghiệp, giá trị bản thân, sức khỏe và hạnh phúc của họ có thể bị ảnh hưởngmạnh do mất việc Trong khi nhiều người bị mất việc làm sử dụng thời gian của họ đểphát triển kỹ năng của bản thân và tìm kiếm việc làm mới, nhiều người khác bị trầmcảm, nghiện rượu

Với tỷ lệ thất nghiệp tăng cao trong thời kỳ suy thoái, các cá nhân và gia đình phảivật lộn để tìm việc làm để thanh toán các hóa đơn hàng tháng Không có khả năng tìmđược việc làm có thể khiến người ta bực bội, đáng sợ, thất vọng, và thậm chí có thểdẫn đến nhiều vấn đề hơn Khi cha mẹ đang thất nghiệp, không khí trong gia đình trởnên ảm đạm hơn

1.3.3.2 Cuộc sống gia đình

Trang 24

Sự căng thẳng của việc không tìm được việc làm và mất nguồn thu nhập, có thểgây tổn hại đến mối quan hệ giữa các gia đình mà có thể mất nhiều năm để hàn gắn.Đôi khi họ phải vay tiền từ người thân hoặc bạn bè, tạo nên những tình huống khó xử.Một số hộ gia đình phải thay đổi kế hoạch của họ, bán nhà, chuyển trường học chocon, và hủy bỏ các kỳ nghỉ Thậm chí, trong một số hộ gia đình còn có sự gia tăng bạohành trẻ em.

1.3.3.3 Thay đổi lối sống

Giảm thu nhập dẫn đến giảm vui chơi giải trí, ăn uống, và các chi phí hoạt độngngoại khóa Người ta phải cắt giảm những hoạt động không cần thiết trong giai đoạnsuy thoái kinh tế Rất nhiều gia đình phải thay đổi mạnh mẽ lối sống trong giai đoạnkhó khăn này

1.3.3.4 Đầu tư

Ngân sách của các hộ gia đình có thể không cho phép họ đầu tư vào các lĩnh vựckinh doanh trong thời gian suy thoái Một số hộ gia đình có thể trì hoãn việc đầu tư, họgiữ tiền mặt để đầu tư sau giai đoạn khó khăn này Một số hộ gia đình khác có thể bịcám dỗ đầu tư tiền vào các lĩnh vực như nhà đất hoặc thị trường chứng khoán vì nhữnggiá cả những mặt hàng này thường giảm nhiều trong giai đoạn suy thoái Nhưng nếukhông có bất kỳ khoản thu nhập ổn định nào bù đắp vào, các khoản đầu tư này có thểkhông khả thi

1.3.3.5 Cơ hội kinh doanh

Trong giai đoạn suy thoái, các doanh nhân thiếu nguồn vay vốn hoặc bắt đầu cáccông ty mới trong giai đoạn này Đổi mới thường xuất phát từ phân khúc doanh nghiệpnhỏ, nhưng thiếu kinh phí, cùng với sự suy giảm trong chi tiêu, có thể làm cho các chủdoanh nghiệp nhỏ lo lắng và không muốn chấp nhận rủi ro cao

Đối với các chủ doanh nghiệp bị phá sản, hoặc đang tìm kiếm một cơ hội kinhdoanh mới, thiếu nguồn vốn huy động sẽ cản trở cơ hội thành công của họ

1.3.3.6 Giá trị bất động sản

Nhiều gia đình xem giá trị căn nhà của họ như một phần của kế hoạch hưu trí của

họ Tuy nhiên, trong thời gian suy thoái kinh tế, giá trị bất động sản giảm mạnh và nhà

Trang 25

bị tịch thu tăng, buộc nhiều gia đình ra khỏi nhà của họ Bất động sản không còn đượcxem là một sự đầu tư an toàn trong thời gian suy thoái kinh tế.

1.3.3.7 Giáo dục

Nhiều gia đình không có khả năng cho con đi học đại học trong thời gian suy thoái.Hơn nữa, các trường đại học đối phó với suy thoái kinh tế bằng các tăng cường sĩ sốsinh viên ở các lớp, cắt giảm các lớp học, sa thải bớt nhân viên trong khi tăng học phí

1.3.3.8 Tín dụng và nợ

Trong giai đoạn suy thoái kinh tế, các gia đình vẫn phải thanh toán các hóa đơn củagia đình, và cố gắng để thoát khỏi nợ nần Phá sản và tất cả các khoản thanh toán trễcó thể làm hại điểm tín dụng của các hộ gia đình

Lịch sử tín dụng của các hộ gia đình ảnh hưởng đến thẻ tín dụng và lãi suất chovay, tỷ lệ bảo hiểm, và thậm chí cả cơ hội việc làm,

Gia đình phải hiểu sự khác biệt giữa nhu cầu và mong muốn trong thời gian suy thoái Gia đình cần mua sắm các mặt hàng thiết yếu, hạn chế các mặt hàng không thiết yếu Các hộ gia đình có thể tập trung vào những nhu cầu, và tìm hiểu thêm về các kỹ năng của họ Cố gắng duy trì công việc đang làm để qua giai đoạn suy thoái kinh tế nhằm đảm bảo nguồn thu nhập.

1.4 Giải pháp

Theo Keynes, chính sự sút giảm của tổng cầu là nguyên nhân gây ra suy thoái kinhtế, doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất và tình trạng thất nghiệp xảy ra Do đó cần thiếtphải có sự can thiệp của nhà nước nhằm nâng cao tổng cầu trong nền kinh tế, như hiệnnay chúng ta thường gọi là kích cầu tiêu dùng và cầu đầu tư Trong thực tế, ở các nướccó nền kinh tế thị trường đều có sự vận dụng học thuyết Keynes ở những mức độ khácnhau, qua đó để điều tiết và kích thích kinh tế Trong học thuyết Keynes, ông đã nhấnmạnh tới các các công cụ và chính sách kinh tế mà nhà nước có thể sử dụng để tácđộng tới nền kinh tế nhằm nâng cao tổng cầu, bao gồm các chính sách kinh tế như:chính sách tài chính (chính sách tài khóa), chính sách tiền tệ của chính phủ, chính sáchkhuyến khích đầu tư

1.4.1 Chính sách tài khóa

Trang 26

Đối với chính sách tài khóa, thực tiễn chống khủng hoảng ở các nước cho thấy, khichính sách tiền tệ trở nên “hụt hơi” trong vai trò tác động vào việc mở rộng cung tiền

và kích thích kinh tế thì Chính phủ nhiều nước chuyển sang sử dụng chính sách tàikhóa Đặc biệt, để đối phó với những cú sốc kinh tế thì chính sách tài khoá vẫn pháthuy được vai trò sức mạnh vượt trội của nó, như trong cuộc khủng hoảng ở Nhật vàonhững năm 1990, gần nhất là việc đối phó của các nước với khủng hoảng tài chính thếgiới 2008 - 2009

Ở giai đoạn đầu, khi đưa ra những giải pháp về chính sách tài khóa nhằm mục tiêukhôi phục nền kinh tế suy thoái, người ta đều dự kiến rằng tình trạng suy thoái sẽ kéodài, do đó, chính sách tài khóa sẽ có đủ thời gian phát huy tác dụng

Chính sách tài khóa được thực hiện theo hai hướng: Thắt chặt và nới lỏng Thắt

chặt hay nới lỏng chính sách tài khóa được thực hiện qua các công cụ như: chi tiêungân sách, thuế

Chính sách kích cầu thông qua chi tiêu ngân sách:

Việc sử dụng chính sách kích cầu dựa trên hai giả thuyết của Keynes:

• Thứ nhất: Cuộc suy thoái bắt nguồn từ nền kinh tế có năng lực sản suất bị dư

thừa, các yếu tố sản xuất đầu vào không sử dụng hết công suất, và hàng hóa ế thừa.Hiện tượng này khiến giá cả hàng hóa có khuynh hướng giảm trên tất cả các thịtrường, nền kinh tế mắc vào cái bẫy suy thoái không tự thoát ra được

• Thứ hai: Chính phủ có khả năng chủ động chi tiêu, thậm chí còn nhiều hơn thu

nhập của mình Trong khi đó, khu vực tư (hộ gia đình và khu vực kinh tế tư nhân) thìchi tiêu ít hơn tổng thu nhập vì họ muốn để dành (khuynh hướng tiêu dùng cận biênlớn hơn không và nhỏ hơn một) Trong điều kiện bình thường, khoản tiết kiệm đượcchuyển sang khu vực doanh nghiệp để đầu tư, nhưng trong thời kỳ suy thoái doanhnghiệp không muốn đầu tư nữa vì không có lợi Trong giả thuyết thứ nhất, Keynes chorằng nền kinh tế suy thoái vì tạm thời không đủ cầu cho cung đang dư thừa Do đó, bàitoán sẽ được giải quyết nếu xuất hiện một lượng cầu đủ lớn

Chính sách kích cầu thông qua cắt giảm thuế:

Trong thời kỳ suy thoái, chính phủ sẽ thường xuyên giãn và giảm thuế như một góikích thích kinh tế Mặc dù khi chính phủ cắt giảm thuế, họ vẫn sẽ phải bù đắp sự thiếu

Trang 27

hụt ngân sách bằng cách tăng nợ chính phủ thông qua việc phát hành công trái Tuynhiên, hầu hết các nhà kinh tế đều đồng ý rằng cắt giảm thuế thực sự mang lại tácdụng Lý do thực sự có thể là do tính linh hoạt: thu nhập thực của các hộ gia đình tănglên, họ có thể mua nhiều hàng hóa lên, làm tăng cầu về hàng hóa Cầu hàng hóa nàytác động tới các doanh nghiệp, làm tình hình kinh doanh của họ khả qua hơn Ngoài racác doanh nghiệp giảm bớt chi phí thuế, tăng lợi nhuận, có thêm nguồn để thanh toáncác khoản nợ vay, tăng khả năng thanh khoản Đây là kịch bản hoàn hảo trong giaiđoạn suy thoái, giúp giải phóng lượng hàng tồn kho cồng kềnh và tạo đà để thoát khỏisuy thoái.

Tác động của chính sách tài khóa mở rộng

Việc theo đuổi chính sách tài khóa mở rộng bằng các khoản chi lớn thực hiện cácchương trình tài trợ là gia tăng các dịch vụ hàng hóa công cộng như cơ sở hạ tầng vàgiáo dục… tác động của những khoản chi này có thể đẩy nhanh tăng trưởng kinh tếthông qua việc làm tăng sức mua của người dân như lý thuyết của trường phái Keynes.Tuy nhiên, khi Chính phủ mở rộng chi tiêu quá lớn cũng sẽ có tác động ngượcchiều làm giảm tăng trưởng kinh tế, bởi vì nó sẽ dịch chuyển nguồn lực từ khu vực sảnsuất hiệu quả trong nền kinh tế sang khu vực Chính phủ kém hiệu quả Việc mở rộngchi tiêu công sẽ làm phức tạp thêm những nỗ lực thực hiện các chính sách thúc đẩytăng trưởng như chính sách thuế và an sinh xã hội, được Chính phủ tài trợ bằng nguồnngân sách sẽ làm mức bội chi ngân sách tăng lên quá lớn

Và thực tế cho thấy, thời gian cần thiết để đưa ra và thực thi các chính sách lại khádài Mặt khác, chính sách tài khóa chỉ phát huy được trong điều kiện áp lực về nợ củacác Chính phủ không lớn

1.4.2 Chính sách tiền tệ

Từ những năm 1980 trở lại đây, chính sách tiền tệ trở nên giữ vai trò rõ rệt hơn bởivì:

Thứ nhất, có quan điểm cho rằng chính sách tài khoá dựa trên cơ sở học thuyết lợi

thế tương đối của D Ricardo là không hiệu quả

Thứ hai, chính sách tiền tệ có thể duy trì khoảng cách ổn định và nhỏ nhất giữa

mức sản lượng thực tế với mức sản lượng tiềm năng

Trang 28

Thứ ba, ở các nước phát triển, hình thành xu thế tiến tới ổn định và giảm dần khối

lượng cho vay của chính phủ, còn ở các nước đang phát triển thì sự hạn chế các khoảnvay nợ nước ngoài đã làm giảm khả năng thực thi chính sách tài khoá chống khủnghoảng

Thứ tư, độ trễ thời gian trong thực tiễn xây dựng và thực thi chính sách tài khoá,

và hiện nay các chu kỳ suy thoái kinh tế ngày càng trở nên ngắn hơn, đã làm chonhững giải pháp của chính sách tài khoá không thể kịp thời phát huy được tác dụng

Cuối cùng là chính sách tài khoá ngày càng bị chi phối bởi lợi ích của các thế lực

chính trị nhiều hơn so với chính sách tiền tệ Hơn nữa, trong những thời kỳ kinh tếtăng trưởng, người ta vẫn hướng tới chính sách tài khoá thận trọng, ngay cả trongtrung hạn, các nền kinh tế đang phát triển vẫn ưu tiên sử dụng hệ thống các công cụ tựđiều chỉnh mà không chấp nhận những giải pháp bất thường

Chính sách tiền tệ được thể hiện tập trung thông qua việc ngân hàng trung ươngthay đổi mức cung tiền và lãi suất, nhờ đó đã tác động vào lượng tiền mặt và lãi suấttrên thị trường, đồng thời tác động đến tổng cung và tổng cầu trong nền kinh tế, nângcao “cầu có hiệu quả” nhằm chống suy thoái kinh tế, cụ thể với các công cụ như sau:

- Mua bán các loại giấy tờ có giá (nghiệp vụ thị trường mở thị trường mở)

- Điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc

- Thay đổi lãi suất chiết khấu

Có hai hướng để điều hành chính sách tiền tệ: thắt chặt và mở rộng.

Chính sách tiền tệ thắt chặt

Các công cụ của chính sách tiền tệ được tiến hành theo hướng thắt chặt và sử dụngtrần lãi suất để kiềm chế lạm phát như:

 Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc

 Điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản

 Tăng lãi suất chiết khấu và lãi suất tái chiết khấu

 Phát hành trái phiếu

Chính sách tiền tệ mở rộng

Trang 29

Còn chính sách tiền tệ mở rộng được sử dụng cho các thời kỳ chặn đà suy thoáikinh tế để duy trì mục tiêu tăng trưởng hỗ trợ lãi suất, giảm lãi suất như:

 Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc

 Điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản

 Giảm lãi suất chiết khấu và lãi suất tái chiết khấu

 Mua trái phiếu

Cơ sở để ngân hàng trung ương (NHTW) xác định được các tỷ lệ lãi suất trongngắn hạn khi các điều kiện kinh tế thay đổi nhằm đạt được hai mục tiêu là ổn định kinhtế trong ngắn hạn và kiểm soát lạm phát trong dài hạn, là quy tắc Taylor Theo qui tắcnày, việc xác định mức lãi suất thực ngắn hạn dựa trên 3 yếu tố: lạm phát thực tế sovới lạm phát mục tiêu; chênh lệch giữa sản lượng thực tế so với sản lượng tiềm năng;mức lãi suất ngắn hạn, tại đó nền kinh tế đạt mức toàn diện nhân công

Trong trường hợp nền kinh tế suy thoái, quy tắc Taylor khuyến nghị xác định mứclãi suất tương đối thấp để thúc đẩy tăng trưởng Thực tiễn của cuộc khủng hoảng chothấy tỷ lệ lạm phát thấp mà tất cả các NHTW theo đuổi đã không cho phép các NHTWđưa ra những giải pháp chống khủng hoảng hiệu quả

Tác động của chính sách tiền tệ mở rộng

Khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng sẽ làm tăng tổng phương tiệnthanh toán Một mặt, làm cho khả năng cung ứng tín dụng của hệ thống các NHTMtăng lên, các doanh nghiệp có thể tiếp cận được nguồn vốn tín dụng dễ dàng tài trợ chocác dự án đầu tư Sự thay đổi tỷ giá khi đồng tiền trong nước bị đánh giá thấp hơnngoại tệ cũng góp phần hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa

Tuy nhiên, chính sách tiền tệ mở rộng cũng có những tác động tiêu cực đối với sựphát triển của nền kinh tế như: việc tăng trưởng tín dụng nhanh, có sự dễ dàng khi xétduyệt tín dụng, cũng như các doanh nghiệp có tư tưởng ỷ lại vì được sự hỗ trợ lãi suấtnên thường chấp nhận những dự án đầu tư mạo hiểm hoặc hiệu quả thấp, sẽ làm tăngrủi ro cho hệ thống ngân hàng Với áp lực tăng cầu quá mức, do tác động của các góikích thích kinh tế của Chính phủ với độ trễ nhất định kết hợp với chính sách tiền tệ mởrộng có thể đẩy chỉ số giá lên cao quá tầm kiểm soát của Chính phủ gây thương hạicho nền kinh tế

Trang 30

1.4.3 Phối hợp các chính sách

Để ổn định kinh tế cần kết hợp cả hai chính sách tài khóa và tiền tệ một cáchhợp lý Việc lý giải về kết quả sử dụng các công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô trongcác cuộc khủng hoảng vừa qua còn rất nhiều điều phải bàn, nhưng có điều đã rõ làcần phải điều chỉnh chính các cơ chế thực thi chính sách kinh tế vĩ mô

Thứ nhất: NHTW đặc biệt ở các nước đang phát triển cần thực thi chính sách tiền

tệ minh bạch, cam kết theo các nguyên tắc khoa học như Quy tắc Taylor, cơ chếOperation Twist để ổn định giá, ổn định tỷ lệ lạm phát, góp phần khắc phục nguyênnhân cơ bản của tình trạng mất ổn định kinh tế vĩ mô là mất cân đối giữa tiết kiệm vàđầu tư, từ đó làm giảm tình trạng dễ bị tổn thương trong điều kiện kinh tế thế giới cóbiến động

Thứ hai: Cần phối hợp sử dụng công cụ lãi suất chiết khấu với các công cụ điều hành

khác, bởi vì lãi suất chiết khấu không phải là công cụ có thể giải quyết vấn đề đòn bẩy quámức và rủi ro, cũng như sự chênh lệch quá mức của giá một số tài sản so với các chỉ tiêu cơbản Do đó, cần tăng giá trị các hệ số bảo đảm vốn nếu đòn bẩy của các ngân hàng quá lớn,cần qui định mức thanh khoản tối thiểu nếu thanh khoản thấp, định giá thấp hơn giá trị củabất động sản khi cấp tín dụng thế chấp trong điều kiện cần giảm giá bất động sản Để hạnchế chạy đua lãi suất, đưa mặt bằng lãi suất về mức hợp lý nên áp dụng mức lãi suất trầncho vay thay cho trần lãi suất huy động, nên áp dụng giới hạn tăng trưởng tín dụng nếucung tiền tăng nóng… Các công cụ này sẽ tỏ ra hiệu quả hơn lãi suất chiết khấu để xử lýnhững mất cân đối nhất định trong hệ thống tài chính và ngăn cản các nhà đầu tư lao vàocác dự án rủi ro không lường trước được

Thứ ba: Kết hợp giữa kiểm soát lạm phát với thực thi chính sách tỷ giá hợp lý Các

nước đang phát triển với nền kinh tế mở cửa ở mức độ thấp, cần coi trọng duy trì sự ổnđịnh của tỷ giá hối đoái tương tự như kiểm soát lạm phát

Thứ tư: Giảm gánh nặng nợ nần của Chính phủ bằng cách thực hiện các khoản chi tiêu

của Chính phủ trên cơ sở các chương trình dài hạn có tính đến tính chu kỳ của nền kinh tế,đảm bảo tất cả các khoản chi ngoài ngân sách phải được tính hết khi xây dựng dự án ngânsách

Thứ năm: Đối với vấn đề bảo đảm khả năng thanh khoản bổ sung trong khủng hoảng

thông qua việc các NHTW cung cấp các khoản tín dụng, mua lại và nhận một số loại tàisản dưới dạng tài sản thế chấp cũng đồng nghĩa với việc Chính phủ đưa vào bảng cân đối

Trang 31

của mình những tài sản rủi ro cao, còn các ngân hàng sẽ biến tướng các khoản tiết kiệmngắn hạn thành các khoản cho vay dài hạn, để rồi họ lại mất khả năng thanh khoản Vì vậy,cần sử dụng cơ chế bảo hiểm và cấp các khoản tín dụng với số tiền nhỏ hơn so với giá trịbảo đảm Ở thời kỳ hậu khủng hoảng, cần hạn chế các khoản mua lại trực tiếp của Chínhphủ để không làm tăng tỷ trọng sở hữu của Chính phủ trong nền kinh tế, trên cơ sở hoànthiện hệ thống điều tiết, xây dựng danh mục những tài sản được sử dụng làm tài sản thếchấp, cấp thanh khoản bổ sung cho các tổ chức tài chính với những qui định nghiêm ngặthơn.

Thứ sáu: Hoàn thiện hệ thống điều tiết tự động theo hướng xây dựng thang đánh thuế

lũy tiến chặt chẽ hơn và thang trợ cấp xã hội rộng rãi hơn, trên cơ sở hài hòa phát triển xãhội và đưa ra các qui tắc cho phép thay đổi mức thuế và trợ cấp khi nền kinh tế chuyển sanggiai đoạn mới của chu kỳ kinh tế Nghĩa là các khoản thuế và trợ cấp sẽ được tăng lên khimột chỉ tiêu kinh tế vĩ mô nào đó giảm xuống dưới mức qui định

Thứ bảy: Trong điều kiện kinh tế vĩ mô biến động, cần sử dụng chính sách tài khóa ở

mức độ cao hơn, và bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ vàchính sách tài khóa, tăng cường trao đổi thông tin giữa các cơ quan chủ trì thực thi chínhsách tài khóa và chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát cung tiền, bảo đảm mục tiêu về lạmphát, thực hiện dự toán ngân sách nhà nước, xác định qui mô thâm hụt dự kiến, hỗ trợ tàichính, nhu cầu vay nước ngoài, phát hành trái phiếu Chính phủ

Trang 32

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI

NĂM 2008

2.1 Nguyên nhân dẫn đến cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới

Như chúng ta đã biết, cuộc suy thoái kinh tế thế giới năm 2008 là cuộc suythoái kinh tế và suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế diễn ra đồng thời ở nhiều nước;mức độ và quy mô của đợt suy thoái này lớn đến mức nhiều người gọi nó Đại Suythoái Cuộc suy thoái kinh tế này bắt nguồn trực tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chínhtrên thị trường cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn khi xảy một loạt các vụ tịch thu tài sảntrên thị trường này, gia tăng mạnh mẽ bắt đầu ở Mỹ vào năm 2006 và lan ra thànhcuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào tháng 7/2007 Do đó, khi nói đến nguyênnhân hình thành suy thoái kinh tế thế giới, cần nói đến nguyên nhân hình thành cuộckhủng hoảng tài chính năm 2007 – 2008

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 - 2008 diễn ra do chịu tác động từ 3nguyên nhân chính sau:

Thứ nhất, sự sụp đổ của thị trường nhà đất Mỹ do vỡ bong bóng bất động sản.

Bong bóng bất động sản bắt đầu hình thành vào năm 2001 khi Cục Dự trữ liênbang Mỹ (Fed) liên tục hạ thấp lãi suất (năm 2000, thì lãi suất cơ bản của Fed là trên6% nhưng sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉcòn 1%) dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản Ở

Mỹ, gần như hầu hết người dân khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng và trả lại lãilẫn vốn trong một thời gian dài sau đó Do đó, có một sự liên hệ rất chặt chẽ giữa tình

hình lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản (Khi lãi suất thấp và dễ vay

mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao; khi lãi suất cao thì thị trường giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp) Thêm

vào đó, chính sách chung của chính phủ lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiệncho dân nghèo và các nhóm dân da màu được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà Bongbóng nhà đất kéo dài suốt giai đoạn 2001 – 2005, lãi suất thấp đã khuyến khích ngườidân mua nhà từ nguồn vay cầm cố, đầy giá nhà liên tục leo thang, tăng 10% năm 2002

Trang 33

và tăng bình quân trên 25%/năm giai đoạn 2003 – 2005 Sự bùng nổ giá nhà giai đoạnnày là một yếu tố quan trọng đóng góp vào sự phục kinh tế của Mỹ do lãi suất giảmlàm giảm giá trị các khoản thanh toán cầm cố hàng tháng của người dân trong khi giánhà tăng giúp họ có được những khoản vay mới lớn hơn để chi tiêu tiêu dùng, thựchiện khẩu hiệu “đi mua sắm theo yêu cầu của Tổng thống và vì lòng yêu nước”, từ đókích thích tăng trưởng.

Tuy nhiên, trước sự hồi phục kinh tế Mỹ cùng với nguy cơ lạm phát gia tăngbởi cả những yếu tố từ cung, cầu FED tăng lãi suất trở lại, đến tháng 8/2005 lãi suấtliên ngân hàng định hướng của Mỹ(Fed Fun rate) đạt mức 3,75% và dự kiến còn tiếptục tăng nên không còn là mức lãi suất hấp dẫn đối với người mua nhà Bong bóng nhàđất bắt đầu xì hơi Năm 2006 thị trường sụt giảm mạnh, tháng 8/2006, chỉ số xây dựngnhà của Mỹ giảm hơn 40% so với cùng kỳ năm trước, nhen nhóm lên nguy cơ khủnghoảng tín dụng trên thị trường cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn Các chủ nhà đất lâmvào khó khăn tài chính do cùng với việc lãi suất tăng (tính đến giữa năm 2006, lãi suất

cơ bản tăng đến 5,25%) làm tăng giá trị hóa đơn thanh toán cho khoản vay cầm cốhàng tháng thì giá nhà giảm làm giá trị tài sản cầm cố giảm xuống thấp hơn mức tiềnvay gốc để mua căn nhà Tỷ lệ vỡ nợ của người vay tăng lên, đặc biệt là những ngườivay dưới tiêu chuẩn vốn thường xuyên ở trong tình trạng khó khăn tài chính, cùng vớinó là sự gia tăng nhanh chóng của hoạt động xiết nợ từ các công ty cho vay Năm

2007, giá nhà tiếp tục giảm, doanh số bán nhà chưa bao giờ “trượt dốc” như vậy kể từnăm 1989 Ngành công nghiệp cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn sụp đổ, việc xiết nợ tàisản tăng gấp 2 lần so với năm 2006 song vẫn không thể bù đắp thua lỗ của những công

ty tài chính hoạt động trong lĩnh vực này do giá nhà đã giảm quá mạnh và rất khó khănđể bán nhà thu hồi vốn Một số công ty tài chính lớn hoạt động trong lĩnh vực này đãphải đệ đơn xin phá sản, trong đó có Công ty tài chính New Century là công ty chovay cầm cố dưới tiêu chuẩn lớn thứ 2 của Mỹ Lãi suất tiếp tục tăng càng khiến giá nhàsuy giảm hơn nữa, ảnh hưởng tiêu cực cả đến lĩnh vực cho vay đủ tiêu chuẩn, khiếncông ty tài chính cho vay bất động sản lớn nhất của Mỹ Countrywide Financial phảicảnh báo rằng sự phục hồi trong lĩnh vực nhà đất dự báo sẽ không thể diễn ra cho đếnnăm 2009 do giá nhà đang giảm “mạnh chưa từng có ngoại trừ trong giai đoạn Đại suythoái”

Trang 34

Biểu đồ: Tỷ lệ sụt giảm giá nhà ở tại Mỹ Thứ hai, Sự buông lỏng quản lý hệ thống tài chính của Mỹ dẫn đến khủng hoảng tài chính trên thị trường cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn.

Theo tài liệu công bố ngày 6/3/2009, quỹ tiền tệ thế giới (IMF) lập luận: "thủphạm" chính gây ra khủng hoảng tài chính dẫn đến cuộc suy thoái kinh tế tồi tệ năm

2008 chính là tình trạng buông lỏng quản lý hệ thống tài chính, cùng với việc không

tuân thủ kỷ luật thị trường của chính phủ Mỹ trong thời gian qua Biểu hiện của việc

buông lỏng quản lý hệ thống tài chính này là tình trạng cho vay dưới chuẩn, việc thiếu kiểm soát chứng khoán hóa bất động sản thế chấp trong đó có những bất động sản thế chấp của những khoản vay dưới tiêu chuẩn.

Cho vay dưới tiêu chuẩn là hình thức cho vay rất phổ biến tại Mỹ Thuật ngữdưới tiêu chuẩn ám chỉ vị thế tín dụng của người đi vay Những người đi vay dưới tiêuchuẩn có quá khứ tín dụng yếu kém như thường có những khoản thanh toán quá hạn vàcó thể có những vấn đề nghiêm trọng như phải ra tòa, phá sản; khả năng thanh toánthấp Việc cho vay dưới chuẩn không xét khả năng chi trả và điểm tín dụng theo quyđịnh nhưng đổi lại người vay phải trả lãi suất cao hơn từ 1% đến 2% Ngoài ra, việccho vay dưới chuẩn còn thể hiện ở mức cho vay cao tới 85% giá trị BĐS thế chấp,người mua chỉ cần đóng góp 15% Nghĩa là người dân chỉ cần có 150.000 USD là cóthể được vay 850.000 USD để mua căn nhà một triệu USD…

Trong giai đoạn 2004 - 2006, hoạt động cho vay dưới tiêu chuẩn phát triểnmạnh mẽ, tỷ lệ cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn chiếm khoảng 21% tổng khoản chovay cầm cố, tăng 9% so với giai đoạn 1996 – 2004, tính riêng năm 2006 tổng giá trị

Trang 35

các khoản cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn lên đến 600 tỷ USD, chiếm 1/5 thị trườngcho vay mua nhà của Mỹ Việc điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản của FED buộc các ngânhàng thương mại (NHTM) phải đẩy lãi suất cho vay tiền mua nhà lên cao hơn cũngnhư điều chỉnh lãi suất vay mua nhà của nhóm vay tiền dưới chuẩn khiến cho nhiềungười bắt đầu mất khả năng trả nợ khi lãi suất của họ bị điều chỉnh trở lại theo lãi suấtmới Trong khi đó, Người Mỹ muốn bán nhà để trả nợ cũng không được vì giá nhàthấp hơn khoản nợ do thị trường bất động sản tụt dốc như đã trình bày ở trên.

Biểu đồ: Tỷ lệ cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn và tỷ lệ sở hữu nhà tại Mỹ

Song song với việc nới lỏng quản lý hoạt động cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn

là việc ra đời công cụ tài chính phái sinh các chứng khoán được đảm phải bằng khoản

nợ thế chấp MBS (mortgage-backed securities - MBS ) Đây là sản phẩm của hai công

ty tài chính bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac Hai công ty này đãmua lại các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các khoản vaythế chấp “dưới chuẩn” của các ngân hàng, biến chúng thành các loại chứng từ đượcbảo đảm bằng các khoản vay thế chấp rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở Phố Wall, đặcbiệt là các ngân hàng đầu tư khổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch Điều này đãlàm cho hoạt động tín dụng trên thị trường nhà ở thứ cấp bùng nổ, bong bóng bất độngsản ngày càng phình to vì các ngân hàng thương mại ngày càng mạo hiểm hơn trongviệc cho vay, bất chấp khả năng trả nợ của người vay vì có thể bán lại phần lớn các

Trang 36

khoản vay để các công ty khác biến chúng thành MBS Tuy nhiên vấn đề đáng nói ởđây là , việc hình thành, mua bán, và bảo hiểm MBS vô cùng phức tạp cho nên nó diễn

ra gần như là ngoài tầm kiểm soát thông thường của chính phủ Và, việc ngày càngnhiều người không có khả năng trả nợ ngân hàng mỗi tháng khi lãi suất tăng lên dẫnđến việc trị giá của các chứng khoán được đảm bảo bằng nợ thế chấp (MBS) bị tụtdốc Rất nhiều nhà đầu tư ở Phố Wall đã mua MBS, do đó, khi MBS mất giá thì đồngnghĩa với việc tài sản của họ cũng bị mất theo

Thêm vào đó, tổ chức IMF còn chỉ ra việc quản lý thị trường tài chính Mỹ bộclộ nhiều khiếm khuyết như: những mạng lưới các quỹ đầu tư, quỹ phòng hộ rủi ro(hedge fund), người vay thế chấp và những định chế tương tự… hoạt động gần giốngnhư ngân hàng nhưng được kiểm soát lỏng lẻo và kết nối với nhau rất chặt chẽ - lạikhông phải tuân thủ những quy định thận trọng áp dụng cho ngành ngân hàng Những

tổ chức tín dụng, mạng lưới quỹ đầu tư này ra đời sau khi Chính phủ Mỹ ban hànhLuật Giao dịch Thế chấp Tương đương, nới rộng những quy tắc cho vay và khuyếnkhích những kênh tài trợ khác phi ngân hàng vào năm 1980 Theo IMF, vì các địnhchế tài chính này được coi là không quan trọng về mặt hệ thống như ngân hàng bìnhthường Thế rồi nhờ ít bị kiểm soát, chúng trở nên hấp dẫn các ngân hàng, trở thànhnơi các ngân hàng né tránh các yêu cầu về vốn và san sẻ rủi ro Theo thời gian, mạnglưới các tổ chức tài chính phi ngân hàng trở nên lớn rộng tới mức tạo ra một hệ thốnghết sức quan trọng, nói theo ngôn ngữ quen thuộc lúc này là chúng “quá lớn, liên kếtquá chặt chẽ” đến mức không thể để cho chúng sụp đổ Vào thời điểm nổ ra khủnghoảng tài chính Mỹ cuối năm 2007, dự đoán tổng tài sản của những “hình bóng ngânhàng” ở Mỹ vào khoảng 10.000 tỉ đô la, tương đương tổng tài sản của ngành ngânhàng được kiểm soát chặt chẽ của Mỹ và đã vượt khỏi tầm kiểm soát của hệ thống cácquy định thận trọng hiện hành

Thứ ba, Sự mất cân đối trên thị trường toàn cầu

Một số chuyên gia kinh tế như ông Paul Krugman - bình luận gia của báo NewYork Times, giải Nobel Kinh tế 2008, hay ông Henry Paulson, nguyên Bộ trưởng Tàichính Mỹ thời Tổng thống George Bush cho rằng sự mất cân bằng toàn cầu - thặng dưkhổng lồ của một số nước xuất khẩu như Trung Quốc đối lại sự thâm hụt khổng lồ củamột số nước nhập khẩu như Mỹ - là cội rễ của khủng hoảng Còn theo kinh tế giatrưởng Olivier Blanchard của IMF cho rằng nguyên nhân này chỉ “gián tiếp” tiếp tay

Trang 37

cho khủng hoảng khi một lượng tiền dư thừa từ những quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm cao,như Trung Quốc và các nước xuất khẩu dầu lửa, đã chảy vào nước Mỹ Những dòngtiền này khiến lãi suất tại Mỹ được duy trì ở mức thấp và tạo ra sự bùng nổ trong lĩnhvực cho vay tín dụng, tiếp đó là sự tăng vọt của giá các loại tài sản như nhà đất vàchứng khoán Rốt cục, khi những bong bóng này vỡ, khủng hoảng tài chính nổ ra theo.

Tóm lại, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến suy thoái kinh tế thế giới giai đoạn

2008 – 201 là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt đầu bằng việc cắt giảm lãi suất xuống mức thấp kỷ lục nhằm vực dậy nền kinh tế Mỹ đang trì trệ

và kéo theo nó là bong bóng nhà đất và sự bùng nổ trên thị trường cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn Do đó, khi lãi suất gia tăng trở lại và bong bóng nhà đất qua đi đã đẩy hàng trăm nghìn người vay đến nguy cơ vỡ nợ, buộc một số công ty, tổ chức tài chính cho vay dưới tiêu chuẩn lớn phải đệ đơn xin phá sản, kéo theo đó là sự sụp

đổ của hệ thống tài chính ngân hàng và các tập đoàn sản xuất đa quốc gia khiến cho Mỹ chính thức rơi vào suy thoái vào tháng 12/2007 Suy thoái kinh tế Mỹ nhanh chóng lan rộng ra các nước khu vực trên thế giới, gây nên cuộc suy thoái kinh tế trầm trọng nhất trong lịch sử kế từ đại suy thoái kinh tế thế giới năm 1929 –

1933

2.2 Diễn biến, tác động, hậu quả cuộc suy thoái kinh tế thế giới.

Khủng hoảng tài chính thế giới năm 2007 – 2008 đã tác động đến nền kinh tếthế giới qua các kênh thương mại, đầu tư nước ngoài gây ra nhiều thiệt hại nặng nề

Thứ nhất là, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm:

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Hợp tác vàPhát triển kinh tế (OECD) và các cơ quan nghiên cứu kinh tế trên toàn thế giới đềuthống nhất nhận định, năm 2008 kinh tế thế giới suy giảm mạnh mẽ, tốc độ tăngtrưởng kinh tế thế giới thấp nhất trong 4 năm qua kể từ sau cuộc chiến của MỹởIrắc Theo IMF, tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thế giới chỉ đạt 3,7%(con số của WB là 2,5%), thấp hơn 1,3% so với mức tăng 5,0% năm 2007 và thấp hơn1,4% so với mức tăng 5,1% năm 2006 Tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế lớntrên thế giới đều giảm mạnh do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và ảnhhưởng lan tỏa của nó IMF cho rằng: Tăng trưởng kinh tế chậm lại đáng kể ở hầu hếtcác nền kinh tế và những đầu tầu không chỉ là Mỹ, Nhật Bản và khu vực đồng tiền

Trang 38

chung Châu Âu nữa mà còn là Trung Quốc, Ấn Độ và các nền kinh tế đang nổi lênkhác.

Thứ hai là, nạn thất nghiệp trên thế giới có nguy cơ đạt mức kỷ lục:

Tác động của khủng hoảng lan rộng và ảnh hưởng đến hầu hết các nền kinh tếtrên thế giới Khủng hoảng buộc nhiều ngành nghề sa thải nhân công Thiếu đơn đặthàng, mức tiêu thụ giảm, các tập đoàn sản xuất Âu - Mỹ cho hàng loạt nhân viên thôiviệc Còn trong ngành tài chính, hàng ngàn người đã bị sa thải sau khi nhiều ngânhàng, công ty bảo hiểm bị phá sản Năm 2009 sẽ có thêm 20 triệu người thất nghiệp,nâng số người thất nghiệp trên thế giới có thể đạt mức kỷ lục, từ 190 triệu ngườinăm 2007 lên 210 triệu người vào cuối 2009 Trong bối cảnh đó, nạn nhân chính làtầng lớp người nghèo ILO dự báo, thế giới sẽcó 40 triệu người có mức sống dưới1USD mỗi ngày Số người làm việc có thu nhập dưới 2 USD mỗi ngày lên đến 100triệu Cuộc khủng hoảng lần này còn giáng cả vào các tầng lớp trung lưu trên toàn thếgiới Các ngành sử dụng nhiều loại lao động này như xây dựng, kinh doanh bất độngsản, tài chính, dịch vụ, du lịch v.v đã bị đình đốn và phải giảm nhân viên

Thứ ba là, nguy cơ giảm phát:

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã đẩy nền kinh tế thếgiới đang đứng trước nguy cơ giảm phát Đây là tình trạng giá cả giảm trong thời giandài và đều đặn giống như Nhật Bản đã phải trải qua trong thập kỷ1990 sau khi bongbóng bất động sản và chứng khoán của nước này bắt đầu xì hơi Giảm phát, nếu xảy ra,sẽ làm trầm trọng thêm hậu quả của cuộc khủng hoảng Nếu giảm phát sâu, giá cảgiảm sẽ kéo theo đầu tư và sản xuất giảm, các doanh nghiệp phải cắt giảm các hoạtđộng sản xuất Tiêu dùng cũng sẽ giảm theo, các hộ gia đình có xu hướng chờ đợicho giá cả tiếp tục giảm rồi mua sắm Tiền lương cũng bị cắt bớt do thất nghiệp tăng.Giảm phát có thể ảnh hưởng mạnh tới các tác nhân kinh tế đang nợ nần kể cả khuvực nhà nước và tư nhân

Trong nội dung này, chúng ta sẽ nói đến suy thoái kinh tế giai đoạn 2008 - 2012

ở một số nước lớn gia như Mỹ, liên minh EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ Tuynhững nước này không phải là những nước thiệt hại nặng nề nhất nhưng đây là nhữngnước có tầm ảnh hưởng rộng đến phần còn lại của thế giới

2.1.1 Suy thoái kinh tế Mỹ (12/2007 – 6/2009)

Trang 39

Mỹ là nước khởi nguồn và là trung tâm của cuộc suy thoái toàn cầu năm 2008 –

2012 Tuy nhiên, đây không phải là nước suy thoái nghiêm trọng nhất Theo tuyên bốcủa Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER) vào ngày 1/12/2008 "Nước Mỹ lâmvào suy thoái từ tháng 12/2007" Tuyên bố trên đã được chính phủ Mỹ thừa nhận mặc

dù trước đó, Tổng thống Mỹ George W Bush khẳng định nền kinh tế Mỹ không suythoái Và cũng theo tuyên bố của tổ chức này, nền kinh tế Mỹ thoái khỏi suy thoái vàotháng 6/2009 và đây là đợt suy thoái nghiêm trọng nhất của nền kinh tế Mỹ kể từ sauchiến tranh thế giới thứ 2

Bắt đầu từ sự kiện vỡ bong bóng bất động sản Mỹ vào khoảng giữa năm 2006,lãi suất cơ bản được điều chỉnh tăng kéo sự sụt giảm nghiêm trọng của thị trường nhà

ở Mỹ dẫn đến khủng hoảng tài chính trên thị trường cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩntại Mỹ Năm 2007, giá nhà tiếp tục giảm, doanh số bán nhà chưa bao giờ tụt dốc nhưvậy kể từ năm 1989; ngành công nghiệp cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn sụp đổ, hàngloạt công ty, tổ chức tín dụng, ngân hàng tham gia vào hoạt động tín dụng trên thịtrường nhà ở thứ cấp của Mỹ bị thua lỗ, mất tính thanh khoản phải đệ đơn xin phá sảnnhư Bear Stern (3/2008), Indy Mac, Fannie Mae và Freddie Mac (7/9/2008), LehmanBrothers (9/2008), Meryll Lynch (9/2008), Washington Mutual, Vachovia, MorganStanley, Goldman Sachs(9/2008) New Century Financial (8/2007)

Việc hàng loạt tổ chức tài chính trong đó có những tổ chức tài chính khổng lồ

và lâu đời bị phá sản đã đẩy kinh tế Hoa Kỳ vào tình trạng đói tín dụng, ảnh hưởngđến khu vực sản xuất khiến doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, sa thải lao động , cắtgiảm các hợp đồng nhập khẩu đầu vào từ các nước khác trên thế giới, đặc biệt là thịtrường xuất khẩu châu Á Thất nghiệp gia tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập vàqua đó tới tiêu dùng của các hộ gia đình lại làm cho các doanh nghiệp khó bánđược hàng hóa Nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc có nguy cơ bị phá sản Điển hình

là vụ đệ đơn xin phá sản của 3 nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Hoa Kỳ là GeneralMotors, Ford Motor và Chrysler LLC Các nhà lãnh đạo 3 hãng ô tô này đã nỗ lực vậnđộng Quốc hội Hoa Kỳ cứu trợ, nhưng không thành công Tháng 12/ 2008, GM đãphải tuyên bố tạm thời đóng cửa 20 nhà máy của hãng ở khu vực Bắc Mỹ Tiêu dùnggiảm, hàng hóa ế thừa đã dẫn tới mức giá chung của nền kinh tế giảm liên tục, đẩykinh tế Hoa Kỳ tới nguy cơ có thể bị giảm phát

Trang 40

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế đã tác động nặng nề đến nền kinh tế Mỹ.

Chỉ tiêu tăng trưởng GDP

Tăng trưởng kinh tế của Mỹ năm 2008 ở mức thấp nhất 7 năm qua, kể từ sau sự kiện11/9/2001 Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2008 chỉ đạt 1,4%, thấp hơn 0,6% so vớimức tăng 2% năm 2007 và thấp hơn 1,4% so với mức tăng 2,8% năm 2006

Tình trạng thất nghiệp:

Sự sụt giảm của thị trường chứng khoán

Ngày đăng: 02/12/2013, 10:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: tăng trưởng GDP thực của Mỹ từ 1960 – 2010 (nguồn: William B., Michael M. (2011), - SUY THOÁI KINH TẾ: LÝ THUYẾT, BÀI HỌC KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG, BIỆN PHÁP Ở VIỆT NAM
Hình 1.1 tăng trưởng GDP thực của Mỹ từ 1960 – 2010 (nguồn: William B., Michael M. (2011), (Trang 5)
Bảng : Thay đổi trong Xuất Nhập khẩu của Nhật Bản ( US$) - SUY THOÁI KINH TẾ: LÝ THUYẾT, BÀI HỌC KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG, BIỆN PHÁP Ở VIỆT NAM
ng Thay đổi trong Xuất Nhập khẩu của Nhật Bản ( US$) (Trang 57)
Bảng Thống Kê Tổng Sản phẩm quốc nội và tốc độ tăng trưởng  của Việt Nam từ 2008- 2008-2011 ( năm gốc 1994) - SUY THOÁI KINH TẾ: LÝ THUYẾT, BÀI HỌC KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG, BIỆN PHÁP Ở VIỆT NAM
ng Thống Kê Tổng Sản phẩm quốc nội và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam từ 2008- 2008-2011 ( năm gốc 1994) (Trang 67)
Bảng Thống Kê Tổng Sản phẩm quốc nội và tốc độ tăng trưởng  của Việt Nam từ 2011 đến 2013 (9 tháng đầu năm) - SUY THOÁI KINH TẾ: LÝ THUYẾT, BÀI HỌC KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG, BIỆN PHÁP Ở VIỆT NAM
ng Thống Kê Tổng Sản phẩm quốc nội và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam từ 2011 đến 2013 (9 tháng đầu năm) (Trang 83)
Bảng tổng hợp chỉ số giá tiêu dùng từ năm 2011 đến 10 tháng đầu năm 2013 - SUY THOÁI KINH TẾ: LÝ THUYẾT, BÀI HỌC KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG, BIỆN PHÁP Ở VIỆT NAM
Bảng t ổng hợp chỉ số giá tiêu dùng từ năm 2011 đến 10 tháng đầu năm 2013 (Trang 84)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w