Giữa Âu Việt và Lạc Việt có quan hệ giao lưu mật thiết với nhau về kinh tế văn hóa do có mối quan hệ tương đồng về nhân chủng và văn hóa đều thuộc BáchViệt nhưng đồng thời cũng có mối qu
Trang 1Trần Thị Nhung Sử k37 Nana
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ VIỆT NAM CỔ - TRUNG ĐẠI I
1 Trình bày khái quát các giai đoạn phát triển của thời kì nguyên thủy trên đất Việt Nam?
a Thời đại Đá cũ dấu vết Người Vượn ở Việt Nam và sự xuất hiện người tinh khôn
Trong thời Đã cũ (cách đây 20 – 30 vạn năm) đã có những dấu vết ngườivượn trên đất Việt Nam, đang trong quá trình chuyển biến từ vượn người thànhngười, những dấu vết đó là:
Răng người vượn:
+Phát hiện ở 2 hang Thẩm Khuyên và Thẩm Hai (Bình Gia, Lạng Sơn): cóđặc điểm răng người ít hơn răng vượn, niên đại cách ngày nay 25 – 30 vạn năm
+Ở hang Thẩm Ồm (N.An) và hang Hùm cách ngày nay 6–12,5 vạn, có đặcđiểm răng người ngang ngửa và nhiều hơn răng vượn
Công cụ đá của người vượn: ở Núi Đọ, núi Quan Yên (T.Hóa), Xuân Lộc(Đ.Nai), Lộc Ninh (Bình Phước)… Đó là hàng vạn mảnh tước, hạch đá, nhữngcông cụ cắt, chặt,…thô sơ
Đặc biệt xuất hiện văn hóa Sơn Vi vào hậu kì đá cũ mà chủ nhân của nó
đã cư trú trên một địa bàn rộng lớn từ Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, qua vùng đồi củacác tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ ở miền Bắc, tới vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,Quảng Trị ở miền Trung và vào tận Lâm Đồng ở miền Nam; có niên đại cách ngàynay khoảng từ trên 20.000 năm đến 11.000 năm Văn hóa Sơn Vi là văn hóa đầu
Trang 2tiên của nước ta Hai di chỉ nổi bật nhất là hang Ông Quyền (H.Bình) và ConMoong (T.Hóa).
Như vậy, Việt Nam cũng là một cái nôi của loài người Và đến cuối thời đại Đá cũ thì người Khôn ngoan đã xuất hiện.
b Thời đại Đá mới
Từ khoảng 1 vạn năm cách ngày nay, cư dân nguyên thủy bắt đầu tiến vàothời đại văn hóa đá mới ở những địa vực khác nhau
Văn hóa H.Bình: Khảo cổ học đã phát hiện được dấu tích của văn hóa Hòa
Bình ở các tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, T.Hóa, Ninh Bình, N.An,Q.Bình, Q.Trị, và cả một số nơi ở ĐNÁ Trong số 119 di tích thuộc văn hóaH.Bình ở VN, phần lớn di tích thuộc 2 tỉnh H.Bình và T.Hóa Cư dân văn hóaH.Bình là chủ nhân của nền văn hóa sơ kì thời đại đá mới, sống chủ yếu trong hangđộng và thức ăn ưa thích nhất là ốc núi, ốc suối
Văn hóa H.Bình có một số đặc trưng sau:
+Họ đã biết dùng lửa, như thế con người đã tiến bộ, đây là một cách mạnglớn
+Họ cũng đã biết kĩ thuật ghè đẽo một mặt, làm cho công cụ sắc bén hơn
+Biết đến kinh tế sản xuất: nông nghiệp sơ khai đã nảy sinh trong lòng văn hóa H.Bình; biết thuần dưỡng, trồng các rau củ, quả, nuôi một số loại vật nuôi
và đặc biệt là họ đã biết trồng lúa
+Họ còn biết chôn người chết ở nơi cư trú: đây là tín ngưỡng thờ cúng, đã cónhững ý niệm sơ khai về người chết, có tình cảm với người chết
+Vật tổ của con người đã xuất hiện:
Biết dùng màu sắc, họ dùng màu sắc để đánh dấu
Trang 3Biết dùng đồ trang sức, biết làm đẹp.
Biết vẽ, ghi lại kí ức để lại người đời sau, trên hang động văn hóaH.Bình có những hình vẽ
Văn hóa Bắc Sơn:
Các bộ lạc chủ nhân văn hóa H.Bình trong quá trình tiến hóa đã tạo nên vănhóa Bắc Sơn khi họ chiếm lĩnh vùng núi đá vôi vùng đông bắc nước ta Cho đếnnay, người ta đã phát hiện được 43 địa điểm văn hóa Bắc Sơn
Văn hóa B.Sơn có những điểm tương tự văn hóa H.Bình nhưng có 2 điểmmới tiến bộ vượt bậc
Điểm tương đồng rõ nhất ở 2 nền văn hóa H.Bình và B.Sơn là cư trú trongcác hang động đá vôi, lấy đá cuội ở sông suối để chế tác công cụ và phương thứckiếm sống
Còn 2 điểm mới tiến bộ vượt bậc hơn Bước tiến thứ nhất là người B.Sơn đãbiết đến kĩ thuật mài đá, xuất hiện bàn mài, kĩ thuật mài ra đời Bước tiến thứ hai là
đã biết chế tạo đồ gốm (đồ đất nung), đồ gốm phần lớn là đồ đựng và đồ đun nấu
có đáy tròn miệng loe, gốm còn thô, độ nung chưa cao và chưa đều Đây được xem
là phát minh đầu tiên của loài người
Về đời sống tinh thần, họ đã biết chế tạo đồ trang sức phong phú với nhiềuloại hình hơn như phiến đá có lỗ đeo, các chuỗi hạt bằng đất nung ở giữa có xuyênlỗ… Thổ hoàng được mài để bôi lên công cụ, lên người, vẽ lên mặt, vừa biểu hiệntính thẩm mỹ vừa là một biểu hiện của phong tục hóa trang của người nguyên thủy
Cấu trúc xã hội của người B.Sơn vẫn là công xã thị tộc mẫu hệ
Trang 4Các văn hóa vùng biển tiêu biểu như văn hóa Quỳnh Văn (N.An), cách
ngày nay 6.000 – 5.000 năm, phân bố ở vùng ven biển N.An, H.Tĩnh; văn hóa ĐaBút (T.Hóa), nổi bật có di tích Cồn Cổ Ngựa và Trung Sơn; di chỉ Bàu Dũ(Q.Ngãi)
Các di tích văn hóa thuộc hậu kì đá mới phân bố rất rộng trên hầu khắp mọimiền đất nước: văn hóa Hà Giang, văn hóa Mai Pha, văn hóa Cái Bèo, văn hóa HạLong, văn hóa Bàu Tró, di chỉ Cầu Sắt, văn hóa Biển Hồ
Vào cuối thời đại đá mới, trên khắp đất nước ta đã tụ cư nhiều nhóm bộ lạc
có kĩ thuật làm đá, làm gốm đạt trình độ khá cao và đã biết đến nghề dệt vải Từđây, nông nghiệp trồng lúa đã chiếm vị trí quan trọng nhất, săn bắn và hái lượm bịđẩy xuống hàng dưới Đây là sự thay đổi có tính cách mạng và có ý nghĩa lớn lao,bởi lẽ quá trình này đi liền với sự nông nghiệp hóa đời sống cư dân các bộ lạc, là
sự bùng nổ dân số và sự đẩy mạnh các hiện tượng trao đổi sơ khai, biểu hiện rõràng của một cuộc “cách mạng đá mới”
c Sơ kì thời đại đồ đồng
Cư dân cuối thời đại đá mới trên khắp đất nước ta, trong khi đưa kĩ thuật chếtác đá phát triển đến đỉnh cao, đã tìm được một loại vật liệu mới là đồng Đồ đồngxuất hiện đã làm thay đổi sức sản xuất, tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ trongnhiều lĩnh vực của xã hội nguyên thủy
Văn hóa Phùng Nguyên: 1 trong các bộ lạc có hoạt động chế tác kim loại
đồng đầu tiên là chủ nhân của văn hóa Phùng Nguyên, phân bố trong lưu vực sôngHồng, tồn tại trong nữa đầu thiên niên kỉ 2 TCN
Ở lưu vực sông Mã: các bộ lạc của văn hóa Hoa Lộc không chỉ biết đánh
cá, săn bắn mà còn có nền nông nghiệp dùng cuốc phát triển
Trang 5Ở lưu vực sông Lam: đã phát hiện được một số di tích thuộc sơ kì thời đại
đồng thau như nhóm di tích Đền Đồi
Văn hóa Tiền Sa Huỳnh – Sa Huỳnh: ở vùng Nam Trung Bộ cách ngày
nay khoảng 4.000 – 3.000 năm, chủ nhân của văn hóa Tiền Sa Huỳnh đã tiến đếnthời đại sơ kì kim khí, biết đến kĩ thuật luyện kim Văn hóa Sa Huỳnh tồn tại kháphổ biến trong thiên niên kỉ I TCN ở ven biển miền Trung Có các đặc trưng sau:hỏa tán người chết, biết làm những hạt trang sức rất đẹp (mã não), có khuyên taihai đầu thú
Văn hóa Đồng Nai: phát hiện nhiều di tích trên vùng đất đỏ bazan sông Bé,
vùng hạ lưu sông Đồng Nai, vùng đất ven sông Vàm Cỏ Đông và cả vùng ngậpnước, sình lầy ven biển, có niên đại 5.000 – 4.000 năm Bên cạnh công cụ bằng đá
đã xuất hiện công cụ bằng đồng và bằng sắt
Tóm lại, trong suốt thời gian lịch sử lâu dài cách ngày nay từ 25 vạn đến
trên 30 vạn năm, cư dân nguyên thủy quần tụ trên đất VN đã trải qua một cuộc đấutranh gian khổ để tồn tại và phát triển cuộc sống, đã đạt được nhiều thành tựu quantrọng và có cả những kì tích Đó là cơ sở cho sự hình thành nhà nước đầu tiêntrong lịch sử nước ta
Câu 2 Sự ra đời của nhà nước Âu Lạc và so sánh nó với nhà nước Văn Lang?
a Sự ra đời của nhà nước Âu Lạc:
Vào khoảng gần cuối thời Hùng Vương, xuất hiện một liên minh bộ lạc đó làTây Âu hay còn gọi là Âu Việt mà thủ lĩnh tối cao đó chính là Thục Phán, nằm ởphía bắc nước Văn Lang
Trang 6Giữa Âu Việt và Lạc Việt có quan hệ giao lưu mật thiết với nhau về kinh tế văn hóa do có mối quan hệ tương đồng về nhân chủng và văn hóa (đều thuộc BáchViệt) nhưng đồng thời cũng có mối quan hệ mâu thuẫn xung đột lâu dài.
-Trong bối cảnh ấy, tình hình chính trị Trung Quốc đã có những tác động tolớn và trực tiếp, đó là sự ra đời của một nhà nước vững mạnh hơn, bao gồm ÂuViệt và Lạc Việt, đó là Âu Lạc Có thể nói, sự ra đời của nhà nước Âu Lạc gắn liềnvới cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần
Cuối thời các vua Hùng, nhân dân ta phải thường xuyên đối đầu với các thếlực xâm lược từ bên ngoài Đặc biệt, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất TrungQuốc, lập nên đế chế Tần hùng mạnh Nhà Tần mở rộng chiến tranh xâm lược ra 2phía bắc nam Tần Thủy Hoàng cho 30 vạn quân đánh lên phía bắc, 50 vạn dotướng Uý Đồ Thư chỉ huy chia làm 5 đạo vượt Trường Giang tiến đánh Bách Việt
Từ đây quân Tần tràn vào nước ta
Lúc này 2 liên minh bộ lạc Âu Việt và Lạc Việt vốn gần gũi nhau về dòngmáu, về địa vực cư trú, về kinh tế và văn hóa lại có điều kiện liên kết với nhautrong cuộc chiến chống kẻ thù chung Nhân dân ban ngày thì trốn trong rừng, banđêm mới ra đánh phá quân Tần và giết được tướng Đồ Thư Đó là hình thức phôithai của lối đánh du kích, làm cho quân Tần dần yếu đi và lực lượng kháng chiếncủa ta thêm mạnh Sau khi chủ tướng bị giết, Tần Thủy Hoàng đã phải ra lệnh bãibinh ở đất Việt năm 208 TCN
Trong cuộc kháng chiến chống quân Tần kéo dài 6 năm này, vai trò và uy tíncủa Thục Phán ngày càng nâng cao, không chỉ trong liên minh bộ lạc Tây Âu mà
cả trong liên minh bộ lạc Lạc Việt Trong bối cảnh đó, Thục Phán được suy tôn lênlàm vua thay Hùng Vương, tự xưng là An Dương Vương, lập nên nhà nước ÂuLạc Như vậy, nước Âu Lạc đã ra đời, và nó tồn tại trong khoảng 30 năm (208 –
179 TCN)
Trang 7b So sánh nhà nước Âu Lạc và Văn Lang:
Nói chung, về bản chất, hai nhà nước Văn Lang và Âu Lạc đều là những nhànước cổ đại trong thời kì dựng nước và giữ nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta,nhưng có thể nói nước Âu Lạc là sự kế thừa và phát triển nước Văn Lang lên mộttrình độ cao hơn
Về lãnh thổ: Âu Lạc rộng hơn, gồm cả địa bàn Văn Lang và thêm phần đấtphía Bắc kéo dài sang tận một phần Q.Đông, Q.Tây
Về quốc hiệu: Quốc hiệu Âu Lạc gồm 2 thành tố Âu Việt và Lạc Việt phảnánh sự liên kết và hợp nhất giữa hai nhóm cư dân và đất đai
Về kinh đô: An Dương Vương đóng đô ở Cổ Loa, một vùng trung tâm củađất nước, nằm giữa đồng bằng trù phú, thuận tiện về giao thương với mọi miền.Kinh đô thể hiện vị thế của một quốc gia, ta đóng đô ở đồng bằng chứng tỏ rằng ta
đã lớn mạnh, không giống như thời Văn Lang đóng đô ở Phong Châu (Phú Thọ),dựa vào núi, cố thủ Nó cũng nói lên rằng An Dương Vương đã tỏ rõ niềm tự tinmãnh liệt, thể hiện một yêu cầu phát triển mới của đất nước
Về thời gian tồn tại thì nước Âu Lạc tồn tại trong một khoảng thời gianngắn, trong khoảng 30 năm (208 – 179 TCN) Mặc dù vậy, nước Âu Lạc đã cónhững đóng góp to lớn vào tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc
Kinh tế, chính trị, văn hóa Âu Lạc khá phát triển trên cơ sở những thành tựucủa nước Văn Lang trước đó Nền chính trị Âu Lạc vững vàng hơn thời trước.Quyền lực của nhà vua tập trung hơn, hệ thống quan lại rõ ràng hơn, đặc biệt sửcòn ghi lại những viên tướng giỏi như Cao Lỗ, Nồi Hầu, Đinh Toán… Văn hóaĐông Sơn vẫn là cơ sở văn hóa chung của nước Văn Lang và Âu Lạc
Về quân sự có những bước tiến quan trọng: quân đội lúc này khá đông, có tổchức và kỉ luật khá chặt chẽ, đồng thời do yêu cầu của cuộc kháng chiến chống
Trang 8ngoại xâm, kĩ thuật quân sự có sự tiến bộ vượt bậc; tiêu biểu là nỏ Liên Châu, bắnmột lần được nhiều mũi tên, một loại vũ khí lợi hại nhất lúc bấy giờ.
Đặc biệt, có kinh thành Cổ Loa, là công trình kết tinh công sức và tài năng
đa dạng nhất của người Âu Lạc
Câu 3 Các chính sách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc ở Âu Lạc và những hậu quả của nó?
a Các chính sách đô hộ
Các triều đại phong kiến phương Bắc xâm lược và đô hộ nước ta:
Từ sau thất bại của An Dương Vương trong cuộc kháng chiến chống NamViệt, nước ta liên tục bị thế lực phong kiến phương Bắc đô hộ trong suốt 1117năm Những triều đại đã từng đô hộ nước ta, lần lượt là:
Nam Việt: xâm lược và đô hộ nước ta 68 năm (179 – 111 TCN), trãi qua 5đời
Tiền Hán: đô hộ nước ta 119 năm (111 TCN – 08)
Nhà Tân (08 - 25), do loạn Vương Mãng lập nên làm gián đoạn nhà Hán,thay thế nhà Tiền Hán cai trị nước ta
Hậu Hán: đô hộ nước ta trong 195 năm (25 - 220)
Đông Ngô: tồn tại trong 60 năm và đã liên tục cai trị nước ta
Nhà Tấn: đô hộ nước ta kéo dài 140 năm (280 - 420)
Nam Triều: thay thế nhà Tấn đô hộ nước ta trong 122 năm (420 – 542)
Nhà Tùy: tồn tại trong 37 năm và đô hộ nước ta trong 16 năm (602 - 618)Nhà Đường: đô hộ nước ta 287 năm (618 - 905)
Trang 9Trong hơn một ngàn năm đô hộ, không phải lúc nào phong kiến phương Bắccũng có thể quản lý được nước ta một cách chặt chẽ; nhưng rõ ràng, nước ta bị mấtđộc lập tự chủ hoàn toàn Và xét ở góc độ này, có thể nói thời này là thời kì Bắcthuộc.
Chính sách cai trị của các triều đại phong kiến phương Bắc
Không một thế lực phong kiến Trung Quốc nào lại không tìm đủ mọi cách
để thủ tiêu nền độc lập tự chủ của nước ta, đồng hóa nhân dân ta
Trước hết, đó là xóa bỏ hẳn nước Âu Lạc, mưu toan biến nước ta vĩnhviễn trở thành một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc: các thế lực phong kiến TrungQuốc chia nước ta thành các quận và sát nhập vào Trung Quốc, đồng thời đặt bộmáy cai trị lên đất nước ta
Nam Việt chia nước ta thành 2 quận là Giao Chỉ và Cửu Chân Nhà Hánchia Nam Việt làm 9 quận
Đến thời Nam Triều chuyển sang dùng châu, đổi các quận thành châu và đặtcác châu mới Sang nhà Tùy, bỏ đơn vị hành chính cấp châu, lập lại cấp quận, gồmGiao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam
Nhà Đường lại bãi bỏ các quận, khôi phục các châu như thời Nam Triều, vàdưới châu là cấp huyện, đến hương, xã
Bằng các thủ đoạn thâm độc về cơ bản nước ta đã bị chia thành các quận,châu, huyện, biến thành một bộ phận lãnh thổ của T.Quốc, song các làng xã ngườiViệt thì phương Bắc không tài nào thiết lập được nề đô hộ
Chính sách vơ vét, bóc lột của các triều đại phong kiến phương Bắc
Trang 10Dựa vào chính quyền đô hộ, các thế lực phong kiến T.Q đã thực hiện nhiềuchính sách bóc lột khai thác khác nhau Trong đó có những chính sách xuyên suốtthời gian dài Sau đây là một số chính sách nổi bật.
Trước hết, là chính sách tước đoạt ruộng đất của nhân dân ta lập nên các đồnđiền trại ấp
Thứ hai là chính sách thu cống phẩm Đây là nguồn thu chính của bọn đô hộ,càng về sau càng đa dạng hơn
Trước hết là ráo riết đẩy mạnh việc di dân Trung Quốc sang ở lẫn với ngườiViệt, nhằm hợp huyết, tiêu diệt nòi giống dân tộc ta, biến dân ta thành dân T.Quốc
Tìm mọi cách xóa bỏ những phong tục, tập quán của người Âu Lạc Từngbước truyền bá phong tục, tập quán và những quy phạm về đạo đức phong kiếnT.Quốc vào nước ta
Tìm cách truyền bá Nho, Phật, Đạo vào nước ta
Trang 11Tiếng Hán và chữ Hán cũng được chính quyền đô hộ phổ biến ở Giao Châunhằm làm công cụ thực hiện chính sách đồng hóa người Việt thành người Hán.
Trong suốt thời gian đô hộ nước ta, để duy trì chính sách bóc lột, phong kiếnphương Bắc đã áp dụng pháp luật hà khắc tàn bạo với người Việt Chính quyền đô
hộ từ nhà Hán về sau thẳng tay đàn áp nhân dân ta
để sau này ta giành thắng lợi trong cuộc kinh dinh của họ Khúc và đặc biệt là cuộckháng chiến chống quân Nam Hán với chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằngdưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền
Câu 4 Những chuyển biến về kinh tế, xã hội, văn hóa nước ta trong thời Bắc thuộc Nguyên nhân của những chuyển biến đó?
Trang 12a Nguyên nhân
Về nguyên nhân của sự biến đổi, có hai nguyên nhân, đó là:
Thứ nhất, do chính sách đô hộ của phong kiến phương Bắc Chúng ta khôngthể phủ nhận những tác động nhất định của các chính sách thống trị đô hộ về mọimặt của chính quyền đô hộ
Thứ hai, với nền kinh tế mang nặng tính tự cung tự cấp và khép kín cao độcủa nền kinh tế nước ta thời Bắc thuộc thì sự tự thân của nền kinh tế nước ta mới lànguyên nhân cơ bản của mọi sự biến đổi
b Những chuyển biến
Về kinh tế
-Nông nghiệp: có sự chuyển biến khá rõ rệt
Công cụ bằng sắt khá phổ biến, kĩ thuật dùng trâu bò làm sức kéo cũng ngàycàng phổ biến, tạo điều kiện để mở rộng diện tích canh tác và làm thủy lợi Cácbiện pháp kĩ thuật thâm canh tăng vụ, bón phân được áp dụng
Ngoài trồng lúa ra, dân ta còn trồng nhiều loại hoa màu, rau củ Nghề làmvườn cũng khá phổ biến Nghề chăn nuôi có chuồng trại nuôi trâu, bò, gà, vịt,ngựa…
-Thủ công nghiệp:
Kĩ thuật luyện và đúc đồng mai một dần, thay vào đó nghề rèn sắt ngày càngphát triển Nghề gốm cũng có sự phát triển, có thêm một số kĩ thuật của T.Quốc.Nghề dệt đạt được nhiều thành tựu quan trọng, kĩ thuật nhuộm màu khá cao Việckhai thác vàng bạc, châu báu,… được đẩy mạnh; đồ trang sức được gia công tinhtế
Trang 13Nhân dân ta cũng tiếp thu một số kĩ thuật mới từ bên ngoài làm nảy sinh một
số nghề mới như làm giấy, làm thủy tinh Các nghề thủ công khác như mộc, sơn,the, nấu rượu,… cũng khá phát triển trong nhân dân
Nghề mộc, đóng thuyền, xây dựng đền đài, lăng mộ cũng khá phát triển.-Thương nghiệp: buôn bán trong và ngoài nước có bước phát triển mới
Để dể bề cai quản, vận chuyển cống phẩm, thuế má, phong kiến phương Bắc
đã xay dựng và tu bổ một số đường, tạo điều kiện để thông thương
Hàng hóa bán ra là hương liệu, lâm sản quý, vải, gấm,… Hàng nhập chủ yếu
là hàng xa xỉ, sắt Gắn liền với nó là sự du nhập của tiền tệ T.Quốc, nhưng hìnhthức buôn bán chủ yếu vẫn là hàng đổi hàng Chợ búa đã bắt đầu xuất hiện
Như vậy, kinh tế đã có sự thay đổi theo hướng đi lên mặc dù nằm ngoàimong muốn của chính quyền đô hộ
Chuyển biến về xã hội: xã hội ta ngày càng biến đổi
Nhân dân ta từ địa vị làm chủ đất nước trở thành kẻ nô lệ cho ngoại bang,phải nộp tô thuế, cống phẩm, đi lao dịch cho chính quyền đô hộ Bấy giờ, mâuthuẫn dân tộc giữa toàn thể nhân dân ta với các thế lực ngoại bang là mâu thuẫnbao trùm nhất, chi phối mọi sự biến đổi trong xã hội
Về mặt thiết chế xã hội, cơ cấu bộ lạc không còn, những mối quan hệ xã hộimới ra đời và phát triển, cơ cấu xóm làng được bảo tồn và củng cố
Sự di dân từ phương Bắc vào đất nước ta ngày càng nhiều do đi theo cùngvới bộ máy quan lại cai trị và do tình hình chính trị bất ổn ở phương Bắc
Biểu hiện rõ nhất của sự biến đổi là sự phân hóa, tạo ra nhiều tầng lớp xã hộimới
Tầng lớp dân tự do trong các công xã bị thu hẹp đáng kể
Trang 14Ngoài ra, trong xã hội ta xuất hiện một số tầng lớp mới: địa chủ, quan lại,binh lính và trí thức.
Về văn hóa:
Nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc vẫn giữ được vị trí chủ thể và có tácdụng Việt hóa những yếu tố văn hóa ngoại nhập, làm phong phú thêm văn hóatruyền thống
Từ thời Hán trở đi, Nho giáo dần dần trở thành hệ tư tưởng chính thống củagiai cấp thống trị và cũng du nhập vào nước ta
Nho giáo, chữ Hán và những nét văn hóa Hán chỉ được truyền bá và pháttriển trong một bộ phận quan lại đô hộ và tầng lớp trên của xã hội Do đó, nhữngphong tục, tập quán cổ truyền của ta về cơ bản vẫn được giữ gìn
Đầu công nguyên, Phật giáo ở Ấn Độ đã du nhập vào nước ta Sau đó, cácThiền phái tiếp tục du nhập vào
Đạo giáo du nhập vào nước ta từ cuối thế kỉ II, nó có ảnh hưởng sâu rộnghơn Nho giáo và hòa quyện vào với những tín ngưỡng dân gian cổ truyền
Nhìn chung, Phật, Nho hay là Đạo giáo dù có bằng cách này hay cách khác
du nhập vào nước ta thì khuynh hướng thích nghi và hòa nhập vào tín ngưỡng dângian vẫn là khuynh hướng chủ đạo
Câu 5 Trình bày khái quát về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
của vương quốc Champa?
a Chính trị
Nhà nước Chămpa hình thành trên cơ sở nhà nước Lâm Ấp Còn nhà nướcLâm Ấp thì hình thành trên cơ sở cuộc đấu tramh chống lại đế quốc Hán của nhândân huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam
Trang 15Từ thế kỉ II đến thế kỉ V, nước Lâm Ấp trải qua hai chặng đường lớn gắnliền với 2 vị thủ lĩnh nổi tiếng là Khu Liên và Phạm Văn.
Bên cạnh đó, ở phía Nam, bộ lạc Cau cũng đã hình thành một tiểu quốc tồntại độc lập với Lâm Ấp, và bắt đầu mạnh lên ở thế kỉ VIII
Vương quốc Champa không phải là một quốc gia có thể chế chính trị trungương tập quyền mà là một dạng nhà nước liên bang gồm nhiều tiểu quốc
Trong các thế kỉ V – VIII, vương quốc Chămpa bước vào giai đoạn mới, hòabình hơn Tuy nhiên có 2 cuộc chiến tranh lớn vào các năm 446 – 447 và năm 605
Năm 433, vua Chămpa yêu cầu vua Tống cho ông cai quản toàn bộ Giaochâu Năm 446, vua Tống cho quân tiến đánh Chămpa Năm 605, nhà Tùy choquân đánh vào kinh đô của Chămpa Vua Chămpa đặt quan hệ hòa hảo với nhàTùy Đường đến năm 809
Sau đó là thời kì hưng thịnh trong thế kỉ IX – X Trong lúc này đã có mộtcuộc hôn nhân giữa bộ lạc Cau và Dừa Năm 1000 vương quốc Chămpa dời đô vềBình Định
Về tổ chức nhà nước, vương quốc do một quốc vương đứng đầu và các quancao cấp Có 3 cấp quan là tôn quan, thộc quan và ngoại quan Quan lại các cấp cóphẩm phục riêng Nhà vua tự cho mình là người được thần linh che chở Đẳng cấp
Bà La Môn phụ trách tôn giáo và hôn nhân
Về quân đội : vương quốc có quân đội bao gồm cấm quân, bộ bimh, tượngbinh, thủy binh Binh lính rất thiện chiến, họ dùng giáo mác, gươm, cung tên Nhàvua có khoảng 5.000 thị vệ Quân số lên đến hàng vạn Có các thành lũy nổi tiếngnhư Khu Trúc, Sinhapura
Trang 16Về đối ngoại, có quan hệ với nhiều nước trong vùng như Ấn Độ, T.Quốc,
Mã Lai, về sau có Đại Việt, Phù Nam, Chân Lạp, vừa có hòa bình vừa có chiếntranh Các mối quan hệ đã góp phần tác thành văn hóa nghệ thuật Chămpa
b Kinh tế
Về cơ bản là nông – ngư nghiệp
Chămpa nằm trong khu vực được thiên nhiên khá ưu đãi, có nhiều sản vật,khí hậu thuận lợi cho cây cối và các loại động vật sinh sôi Người dân ở
đây lấy nông nghiệp làm nghề chủ yếu Lúa Chiêm phổ biến ngày nay là thành quảnông nghiệp của người Chăm Họ sống quần tụ ven các dòng sông, và có xu hướngtiến ra biển, về núi, tấn công ra Bắc Trung Bộ (đồng bằng hẹp)
Trồng dâu nuôi tằm và trồng bông dệt vải, trồng dừa, trồng cau là nhữnghoạt động nông nghiệp quan trọng Chămpa cũng là vùng có nhiều lâm thổ sản vàkhoáng sản quý giá như trầm hương, quế, vàng bạc, đá quý
Ngư nghiệp cũng rất phát triển, họ thạo núi quen biển, đánh cá là nghề quantrọng thứ hai sau nông nghiệp Họ rất nổi tiếng với nghề này, đã vượt biển đến Ấn
Độ dương, T.Quốc, Trung Cận Đông
Các ngành nghề thủ công đặc biệt phát triển và khá đa dạng Có nghề chế tác
đá, đúc đồng, chế tác đồ sắt phổ biến hơn cả đồ đồng, làm thủy tinh, tạc tượng, kimhoàn và đặc biệt là dệt, đóng gạch, làm đồ trang sức
Với nền kinh tế nông nghiệp phát triển đa canh, giỏi nghề đi biển, vượt biển,các ngành nghề thủ công phong phú như thế, rõ ràng vương quốc Chămpa đã hình
Trang 17thành các đô thị Có khá nhiều những đô thị gần sông gần biển giao thương rộngrãi với bên ngoài.
c Văn hóa
Văn hóa Chăm có nguồn gốc từ văn hóa Sa Huỳnh nhưng trên đường pháttriển đã chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ Qúy tộc Chăm đã tiếp thu và sửdụng hệ thống thần quyền của Ấn Độ
Dấu ấn của văn hóa Ấn Độ và bắt đầu từ tấm bia Võ Cạnh với tục thờ dấuchân của đạo Ni Càn đến dấu chân thần ở núi Hương Ấn, một tục thờ của Ấn ĐộTCN, mà cả Bàlamôn và Phật giáo đều sử dụng Đứng đầu các thần là thần chủIndra Họ cũng sùng bái các vị thần Ấn Giáo và tiếp thu Phật giáo
Người Chămpa đã tạo nhiều tượng tròn hoặc phù điêu về các vị thần, cáccon vật cưỡi của thần để phục vụ việc thờ cúng Tượng Phật, tượng Bồ Tát cũngđược tìm thấy ở Đồng Dương Họ cũng xây dựng các đền núi để chứa đựng cácthần linh
Về chữ viết, chữ Phạn được tiếp thu cải biến và sử dụng sớm ở Chămpa từthế kỉ IV Chữ Chăm cổ có 16 nguyên âm và 31 phiên âm và 6 loại chữ viết Triềuđình Chămpa đã lấy các từ, các địa danh Ấn Độ để đặt tên cho tên nước, tên châu,huyện của mình Nội dung và hình thức văn bia chữ Phạn, các điển tích tôn giáo vàvăn học Ấn Độ cũng được vua, chua và các học giả lĩnh hội và sử dụng
Người Chămpa tiếp thu và sử dụng lịch Ấn Độ trong sản xuất và đời sống
Âm nhạc với các nhạc cụ trống, sáo, đàn và múa với các tượng vũ nữ còn lạitrong trong các kiến trúc đền thờ là những nét đặc sắc trong văn hóa Chăm
Bên cạnh đó còn một kho tàng văn học dân gian truyền miệng ca dao tụcngữ, truyện kể
Trang 18d Xã hội
Là xã hội của cư dân nông nghiệp nên quan hệ trong xã hội là những quan
hệ về ruộng đất, về sở hữu và sử dụng ruộng đất đó Chưa tìm thấy dấu hiệu chứng
tỏ nhà vua, quan lại quý tộc có lãnh địa riêng, cho thấy ruộng đất vẫn do ngườinông dân giữ và canh tác, dưới sự quản lý của công xã Công xã là nơi duy trì cácquan hệ cộng đồng và thân tộc trong đời sống của cư dân Chăm
Do có nhiều tiểu quốc nên tầng lớp quan lại, quý tộc chiếm tỷ lệ khá cao.Trong hôn nhân và gia đình, người Chăm theo chế độ mẫu hệ Phụ nữ cướichồng , khi vợ chết thì chồng phải lấy em vợ, thậm chí hai chị em cùng chung mộtchồng Trong hôn nhân và cả các quan hệ xã hội nói chung, không thấy rõ sự phânbiệt đẳng cấp
Xã hội có 2 tầng lớp đặc biệt là tăng lữ, tu sĩ và nô lệ Tu sĩ có vai trò lớntrong xã hội do chịu ảnh hưởng của Bàlamôn - Ấn Độ giáo Họ giữ vai trò duy trìcông việc tế tư thần linh và cố vấn cho các vua Chăm Các tu sĩ cũng có vị trí nhấtđịnh Nô lệ phục vụ trong các gia đình quyền quý và đền miếu, là tầng lớp khôngthể thiếu của xã hội Chăm cổ
Câu 6 Trình bày khái quát về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của vương quốc Phù Nam?
-Chính trị :
+Phù Nam là một quốc gia gồm nhiều cộng đồng ,xã hội khác nhau,theo thể chế quân chủ tập quyền.Vua tự xưng là Hoàng đế vũ trụ,vua Phù Nam không chỉ cai quản lãnh thổ của mình mà cai quản cả các vùng đã xâm chiếm được .Tuy nhiên ,đây không phải là một nhà nước có tổ chức ,thống nhất mà chỉ là tập hợp của các tiểu Quốc ,trong đó mỗi tiểu Quốc vẫn giữ nguyên tổ chức ,tên gọi và cả
Trang 19truyền thống của mình Các tiểu quốc chỉ là những nước chư hầu ,được cai trị bởi tiểu vương và phải nộp cống phẩm cho Vương Quốc Phù Nam.
Ở đây có sự kết hợp chặt chẽ giữa vương quyền và thần quyền Đạo baflamon được sử dụng làm công cụ hưũ hiệu hóa uy quyền của nhà vua Những tư tưởng công bằng và luật còn rất thô sơ.
Như vậy ,tuy pháp luật Phù Nam có chịu ảnh hưởng của luật pháp ấn độ nhưng chưa thành hệ thống pháp lí như ấn độ vào cùng thời điểm đó.
vụ lúa,người Phù Nam cũng trồng nhiều loại cây khác như chuối ,cam ,quýt ,mía ,đậu ,vừng…
+Bên cạnh nông nghiệp ,một bộ phận dân cư ở đây cũng sống bằng nghề săn bắn ,hái lượm và đánh cá Tuy nhiên ,bộ phận này rất ít,chủ yếu là bộ tộc Môn
Cổ ,còn đa số vẫn sống bằng nông nghiệp trồng lúa nước.
Thủ công nghiệp đã phát triển tới một trình độ cao
Thủ công nghiệp ở Phù Nam có 2 đặc điểm nổi bật :
+Thứ nhất :sự phong phú và đa dạng của các nghề thủ công Qua các hiện vật tìm được ở di chỉ văn hóa ÓC eo đã chứng minh cho sự đa dạnh của các ngành nghề ở đây : nghề mộc ,nghề đá,nghề tạc tượng ,nghề kim hoàn ,nghề luyện kim…
Trang 20+Thứ 2 :sự phát triển ở trình ddộ cao của một số nghề thủ công như : gốm ,luyện kim và kim hoàn .Sản phẩm gốm cuả Phù Nam phong phú ,đa dạng về loại hình ,đạt trình độ khá cao về kĩ thuật chế tác gốm .Gốm có nhiều loại như
vò ,hũ ,bình ,lọ Trên đồ gốm có nhiều kiểu loại hoa văn khác nhau như :hình đường kẻ song song ,đường hinhf rawngcuwa ,đường cong uốn lượn…
Thương nghiệp ở Vương quốc Phù Nam đặc biệt phát triển Thậm chí trong cư dân của Phù Nam còn có một bộ phận chuyên làm nghề buôn bán ÓC eo chính là một trung tâm thương mại phát triển bậc nhất và quan trọng nhất của Vương Quốc Phù Nam Tại đây họ tìm được rất nhiều tiền của Phù Nam ở óc eo ,Nam thái lan và hmawza.
Tóm lại có thể thấy ,nền kinh tế của Phù Nam là một nền kinh tế đan xen hài hòa giữa các ngành kinh tế Một mặt ,họ có thể ‘dùng vàng ,bạc ,châu ngọc,hương liệu làm đồ cúng và nạp thuế « của một nền kinh tế thương mại ,mặt khác họ vẫn theo nghề trồng trọt và thủ công nghiệp để đảm bảo lương thực và đồ dùng hằng ngày Nền kinh tế phù nam trong một chừng mực nhất định mang tính chất của một nền kinh tế hàng hóa.
Tren cơ sở một nền kinh tế đa dangj và phát triển ,xã hội Phù Nam có sự phân hóa giàu nghèo
Trong xã hôị có các tầng lớp khác nhau ,như quý tộc ,bình dân ,tầng lớp nô tì.
Cư dân ở đây có tập quán ở trần ,xăm mình ,xõa tóc ,đi chân đất ,mặt váy chui đầu Cũng có ngươì đi guốc bằng gỗ.
-Văn hóa :
+Không chỉ phát triển về kinh tế mậu dịch hàng hải ,trở thành một cường quốc quân sự ,chính trị ,Phù Nam còn có một nền kinh tế rất đặc sắc ảnh hưởng đến các quốc gia láng giềng ,để lại những dấu ấn độc đáo nhất định trong lịch sử.
Trang 21Chữ viết ;người Phù Nam sớm mượn chữ cổ ấn độ ,chữ brahmi,chữ sankrit.Đây là chữ viết của giưới quý tộc ,tăng lữ cung đình Tuy nhiên ,qua thời gian truyền
bá ,một số chữ đã trở thành đối tượng quen thuộc với người bình dân Điều này này khẳng định qua các bia tìm được Chính người Phù Nam đã dùng chữ Phạn để khắc lời chú trên đồ trang sức như nhẫn ,mătj dây chuyền ,bia Người ta còn tìm thấy 4 tấm bia chữ phạn dạng cổ thuộc thế kỉ thứ v.
-Tín ngưỡng ,phong tục ,tôn giáo ,tập quán :
Trước khi chịu anh hưởng của tôn giáo ấn độ người Phù Nam theo tín ngưỡng bái vật giáo với truyền thống thờ đá Bên cạnh đó ,tục thờ sinh thuực khí bằng đất nung ,bằng cuội tự nhiên và những hình tượng thảo mộc ,cầm thú cũng khá thịnh hành.
Người phù nam chịu ảnh hưởng của cả đạo bàlamôn và đạo phật của ấn độ Trong
đó đặc biệt là đạo phật
Cư dân Phù Nam cũng có những phong tucj riêng :chẳng hạn đối với người chết
họ được xử lí theo 4 cách : ném thi hài xuống sông ,thiêu cháy thành tro chôn cất trong hầm và phơi xác cho chim mổ Tập quán tắm rửa của người Phù Nam cũng khá lạ môtj số gia đình cùng sử dụng chung một thùng tăms ,tục này vẫn còn được thấy ở Campuchia.
Kiến trúc ,điêu khắc :ở phù nam không có những công trình kiến trúc lớn ,vĩ đại đạt được trình độ thẩm mĩ cao nhưng kiến trúc nhà ơr cũng như đền ,chùa ở Phù nam được thiết kế rất độc đáo ,theo hướng thích ứng với điều kiện tự nhiên.
Câu 7 :tình hình chinh trị đại việt thời lý
Trang 22Cuối triều Tiền Lê, xu hướng cát cứ lại từng lúc nổi dậy và triều đình áp dụng chínhsách quân sự để giữ vững sự thống trị Cuộc sống của nhân dân trở nên vô cùng khổ sở Vìvậy sau khi Lê Long Đĩnh mất, quan lại và sư tăng đã tôn Lý Công Uẩn lên làm vua và lậpnên triều Lý vào ngày 2 tháng 11 năm Kỷ Dậu (1009) Lý Công Uẩn lên ngôi vua, chọn niên hiệu là Thuận Thiên và lấy năm Canh Tuất (1010) làm năm mở đầu cho triều đại của mình.
Tháng 7 năm 1010, ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn quyết định dời đô vềThăng Long ở đồng bằng Bắc Bộ bên bờ sông Hồng thông qua Chiếu Dời Đô
=>> việc dời đô đã chứng tỏ một tầm nhìn chiến lược sâu rộng của ông trong việc xây dựng một sự nghiệp lâu dài ,phản ánh thế đi lên cuả vướng triều và đất nước ( Rồng Bay )
Xây dựng bộ máy chính quyền quân chủ tập trung :
- Các vua Lý đã tiến hành xây dựng bộ máy chính quyền tập trung theo mô hình nhà Tống bên Trung Quốc tuy nhiên đó chỉ là trên danh nghĩa ,còn trên thực tế chức năng của nó đơn giản hơn nhiều
- Trong triều các vua Lý tự xưng là Thiên Tử lập ra các ngôi Hoàng Hậu vàThái Tử ,phong tước cho các quý tộc ,định hội thể Đông Cổ hàng năm ở Kinh đô để đảm bảo long trung thành
- Triều đình đặt hệ thống quan chức theo 9 phẩm ,lúc đầu lựa chọn chủ yếu theo hình thức nhiệm tử ( con cháu được tập ấm ) và tuyển cử ( giới thiệu bảo lảnh ) đứng đầu có các chức vinh hàm Tam thái và Tam thiếu ( sư, phó, bảo ).Chúc Thái úy có vai trò như Tể Tướng ( Lý Thường Kiệt , Tô Hiến Thành đã giữ chức này ).Thiếu úy coi cấm binh Giúp việc cho tể tướng có chức hành khiển
- ở cấp địa phương nhà nước cho chia 24 lộ -phủ ,đặt các chức tri phủ ,tri châu dưới phủ là huyện và hương
- chính quyền nhà nước Lý là một chính quyền sung phật và thân
dân Nhiều nhà vua quý tộc đã theo phật giáo đề cao tư tưởng từ bi ,bác ái
Quân đội và luật pháp :
Trang 23- Nhà Lý có nhiều loại quân Ở Kinh thành có Cấm quân (Thiên tử
quân )bảo vệ triều đình Ở địa phương có lộ quân hay sương quân lấy từ các hoàng nam ,ở các lộ phủ Trong làng xã còn có dân binh, hương binh
- Quân đội nhà Lý có quân bộ và quân thủy ,Kỷ luật nghiêm minh huấn luyện chu đáo Từ thời Lý đã thi hành chính sách “Ngự binh ư nông “cho quân sỉ luôn phiên về cày ruộng theo tinh thần “ tĩnh vi nông ,động vi binh ”.Chính sách đó vừa bảo đảm sản xuất vừa bảo đảm động viên quân đội khi cần thiết
- Nhà Lý là vương triều VN đầu tiên ban hành luật thành văn năm 1042 saiquan san định luật lệ ,biên thành điều khoản soạn ra Hình thư gồm 3 quyển xuống chiếu ban hành trong dân gian : bảo vệ hoàng cung,trị mưu phản ,quý tộc được chuộc bằng tiền ,bảo đảm trật tự ,giải quyết tranh chấp,mua bán ruộng đất ……
- Ở làng xã hình thức luật tục (tập quán pháp ) vẩn duy trì và được mọi người tuân theo
Xác lập chủ quyền quốc gia và dân tộc
- Năm 1054 vua Lý Thánh Tông đặt quốc hiệu là Đại Việt quốc hiệu này sẻtồn tại mải cho đến đầu thế kỉ XIX năm 1175 nhà tống chính thức công nhận chủ quyền quốc gia của Đại Việt khi đổi danh hiệu sắc phong từ Giao Chỉ quận vương Thành An Nam quốc vương
- Ý thức dân tộc ơ mặt lảnh thổ vương triều đã được bộc lộ ra gtrong bài thơ Thần tương truyền của Lý Thường Kiệt Ý thức tìm về cội nguồn dân tộc củng được biểu hienj trong tác phẩm Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên
Vương triều Lý tồn tại gần 216 năm, trải qua 9 đời Vua:
1 Lý Thái Tổ (1009 - 1028) – Lý Công Uẩn
2 Lý Thái Tông (1028 - 1054) – Lý Phật Mã
3 Lý Thánh Tông (1054 - 1072) – Lý Nhật Tôn
4 Lý Nhân Tông (1072 - 1127) – Lý Càn Đức
5 Lý Thần Tông (1128 - 1138) – Lý Dương Hoán
6 Lý Anh Tông (1138 - 1175) – Lý Thiên Tộ
Trang 247 Lý Cao Tông (1175 - 1210) - Lý Long Cán
8 Lý Huệ Tông (1210 - 1224) – Thái tử Sảm
9 Lý Chiêu Hoàng (1224 - 1225) – Công chúa Chiêu Thánh
Câu 8.tinh hinh chinh trị dai viet thoi tran ,va so sanh vs thoi ly
Tình hình chính trị
Sự thành lập triều Trần :
- Nhà Lý suy vong
- Vương triều Trần tồn tại được 174 năm ,gồm 12 đời vua ( không kể
Dương Nhật Lễ ).Họ Trần quê ở hương Tức Mặc ( ngoại thành Nam Đinh) ,từ nhiều đời sang làm nghề chài lưới ở huyện Long Hưng (Thái Bình) trở thành những hào trưởng có thế lực về kinh tế ,quân sự và chính trị
- Quá trình chiếm ngôi của nhà Trần ( bức tử Lý Huệ Tông ở chùa chân giáo ) Trần Tự Khánh đem quân về chiếm được Thành Thăng Long vừa phò tá vừa hiếp đáp vua Lý ,an hem con cháu họ Trần lần lượt nắm giử các chức vụ quan trọng trong triều Trần Tự Khánh chết mọi quyền lực tập trung vào tay Trần Thủ Độ Trần Thủ Độ bố trí cho cháu mình là Trần Cảnh ( 8 tuổi ) vào cung vui chơi cùng Lý chiêu hoàng đầu năm
1226 Trần Thủ Độ đạo diễn một cuộc đảo chính cung đình ,tuyên bố Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh và nhường ngôi cho chồng Nhà Lý sụp đổ nhà Trần lập
Bộ máy chính quyền
- Đặc điểm chung : tiếp tục mô hình Tông nhưng có nét đặc sắc hơn là mô hình quân chủ quí tộc dong họ đậm đặc hơn thời lý
+ Tầng lớp quý tộc tông thất nắm độc quyền lãnh đạo quốc gia ,các chức
vụ chủ chốt trong triều đình đều do các người họ hang than cận với nhà vua nắm giữ ,
+ Để đề phòng nạn ngoại thích nhà Trần đã thực hiện chế độ hôn nhân đồng tộc ,nhiều nhà vua và vương hầu tôn thất nhà Trần đã lấy người trong họ hàng đôi khi khá gần gủi ( Trần thái Tông lấy chị giâu ,Trần Thủ
Độ lấy chị họ ,Trần Quốc Tuấn lấy em họ ) Mặt khác các vua Trần cũng hết lòng thương yêu đùm bộc các vương hầu tôn thất
Trang 25+ Để đảm bảo tính thận trọng và sự an toàn trong việc thừa kế ngôi vua cũng như để cho các nhà vua trẻ có thời gian tập dượt điều hành việc nước nhà Trần đã thực hiện chế độ Thái Thượng Hoàng
Tổ chức chính quyền phát triển hơn thời lý
- Trung ương : Thiên Tử ,Hoàng hậu ,Thái Tử , hội thề Đồng Cổ
(04/4) gồm 9 phẩm Tam Thái ,Tam Thiếu (sư,phó,bảo ) Tam tư
( đồ ,mã ,không ) Tướng quốc phần nhiều là hư hàm mô phổng nhà tống Các chức quan có trách nhiệm cụ thể trong triều là hành khiến ,giúp việc sau có các thượng thư ,thị lang ,.về ngạch võ có các chức Phiêu kỵ thượng tướng quân ( dành riêng cho hoàng tử ).Tiết chế tướng quân >Các chức vụ quan trọng trong triều lúc đầu phần lớn do quý tộc tông thất nắm giữ sau đó nhu cầu chuyển dần sang giới lieu quan
- Hành chính : 24 lô-phủ như thời Lý (dù sách viết 12 lô-phủ chỉ ở vùng đồng bằng ) dưới lộ đến phủ (An phủ ,chánh phó sử ) huyện (Tri
huyện ,chuyển vận ,tuần sát ,lạnh úy ,chủ bạ ) trong coi việc hộ và hình ở địa phương ; xã ( xã quan ,đại tiểu ,tư xã ,xả chính ,xã sử xã giám , tất cả gọi là xã quan ),
- Cơ quan chuyên môn : Bí Thư Sảnh ( phụ trách văn thư thực lục ).Quốc
tử giám ( giáo dục ) Các chức quan kinh tế như Chuyển vận sứ ,Hà đế
sứ ,Đồn điền sứ ,các chức quan văn hóa như Hàn lâm viện ,Quốc sử viện ,Thái y viện ,Thái chúc ty ( phụ trách việc cầu đảo ,lễ nhạc )
- Phương thức tuyển dụng : Nhiệm tử ( tập ấm ) ,tuyển cử ( giới thiệu và bảo lảnh ) ,khoa cử ( qua các kì thi ) Nhà Trần cũng đã định ra lể khảo duyệt (khảo khóa ) các quan theo định kì trọng thực tài không câu nệ khoa bảng
Tổ chức quân đội và luật pháp
Quân đội nhà Trần là một quân dội mạnh ,thiện chiến ,được huấn luyện tốt
và được thử thách qua các cuộc kháng chiến
- Có các loại quân : Cấm quân bảo vệ kinh thành ,quân địa phương các lộ
và quân của các quý tộc gọi là vương hầu gia dồng gia binh quân tứ