Nhân cách người lãnh đạo, quản lý Khái niệm: Nhân cách người lãnh đạo, quản lý là toàn bộ những phẩm chất tâm lý XH của những cá nhân đóng vai trò lãnh đạo trong tổ chức chính trị xã hội
Trang 1MÔN: TÂM LÝ HỌC , XÃ HỘI HỌC LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ
Câu hoi:
- Uy tín, phong cách,nhân cách người lãnh đạo, quản lý
- Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội, phân hoá giầu nghèo ở VN
Câu 1: Uy tín, phong cách, nhân cách người lãnh đạo, quản lý.
Cán bộ, nhất là lãnh đạo, quản lý các cấp các ngành ở nước ta từ lâu đã được Đảng ta coi là một nhân tố quan trọng, quyết định thành công hay thất bại của cách mạng Cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp hiện nay ở nước ta là những nhà lãnh đạo chính trị, nhà tổ chức, nhà chuyên môn và đồng thời là nhà giáo dục Làm thế nào để tranh thủ thời cơ, vượt qua nguy cơ đưa đất nước phát triển, đội ngũ các nhà lãnh đạo, quản lý phải là người có "tâm" và có "tầm", có trình độ, năng lực cần thiết để tiến hành có hiệu quả những nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của mình trước Đảng, Nhà nước
và nhân dân Do vậy, uy tín, phong cách, nhân cách người lãnh đạo có vai trò rất quan trọng và là đòi hỏi bức thiết đối với người lãnh đạo, quản lý hiện nay.
I Nhân cách người lãnh đạo, quản lý
Khái niệm: Nhân cách người lãnh đạo, quản lý là toàn bộ những phẩm chất tâm
lý XH của những cá nhân đóng vai trò lãnh đạo trong tổ chức chính trị xã hội khác nhau, là những tiêu chuẩn cần thiết về mặt đạo đức và năng lực được đánh giá và thừa nhận là cá nhân đứng đầu, đứng vai trò dẫn dắt và định hướng cho các tổ chức chính trị - XH nhất định
Trong nhân cách của người LĐ, QL phẩm chất về đạo đức là cực kỳ quan trọng,
là điều kiện cần thiết đảo bảo cho người lãnh đạo có thể đóng vai trò là người đứng đầu, là tiêu chuẩn hàng đầu, đặc biệt là trong tình hình hiện nay Chủ tịch HCM khẳng định " đạo đức CM là cái gốc, cái nền tảng, cái bản chất Giống như sông phải có nguồn nước, không có nguồn thì sông khô cạn Cây phải có gốc rễ, không có gốc thì cây khô héo Người CM phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không LĐ được nhân dân"
1- Phẩm chất về tư tưởng chính trị: (2 ý)
- Thế giới quan duy vật khoa học: Trang bị cho mình một thế giới quan đúng đắn,
định hướng cho mọi hoạt động Vì vậy, người LĐ, QL phải tích cực học tập, nghiên
cứu CN M-L, TT HCM
+ Kiên định, kiên trì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc; tin tưởng vững chắc vào CNXH, kiên định với CNCS, đó là một trong những yêu cầu hàng đầu đối với nhân cách người lãnh đạo của ĐCS và nhà nước XHCN VN
+ Phải trung thành tuyệt đối với lý tưởng cách mạng, với CN M-L, TT HCM + Có trình độ tư duy lý luận cao mà biểu hiện tập trung nhất và khái quát nhất là
trình độ tư duy chính trị - XH (đánh giá triển khai NQ của Đảng, CSPL của NN; giải quyết mọi sự việc dưới góc độ chính trị, phê phán vạch trần tư tưởng lệch lạc bè phái, chủ nghĩa cá nhân )
Trang 2- Nhân sinh quan: Động cơ vì dân vì nước, đặt lợi ích của sự nghiệp CM, của ND
lên trên lợi tích cá nhân Tuyệt đối trung thành với Đảng với nhân dân, suốt đời quyết tâm đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng
2- Phẩm chất đạo đức lối sống (4 ý): Thực hiện nghiêm túc, sâu sắc lời dạy của
Bác "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư"
- Tinh thần trách nhiệm cao (cần): Là người chịu trách nhiệm cao nhất trong tổ
chức, vì vậy trách nhiệm đói với việc thực hiện thành công đường lối, chủ trương dủa Đảng, CSPL của NN, trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ được giao, trách nhiệm lợi ích với nhân dân Dám làm, dám chịu trách nhiệm, làm đến nơi, đến chốn và có hiệu quả cao nhất có thể
- Không lãng phí (kiệm): là yêu cầu tất yếu trong phẩm chất đạo đức của người
lãnh đạo Không lãng phí của cải xã hội, tiền bạc của nhân dân trong tình hình hiện nay không lãng phí cơ hội phát triển đất nước
- Không tham nhũng, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng (liêm): là phẩm
chất có ý nghĩa cơ bản vừa có ý nghĩa hết sức cấp bách hiện nay đói với người lãnh đạo Người lãnh đạo cần phải có phẩm chất trong sạch, không tham nhũng, mạnh dạn chống lại hành vi tham nhũng của người khác
- Ngay thẳng, trung thực (chính): là phẩm chất không thể thiếu trong nhân cách
của người lãnh đạo Ngay thẳng, trung thực đối với chính mình đối với công việc, là giá trị chiếm ưu thế, là tấm gương tiêu biểu để mọi người noi theo; đồng thời là sức mạnh có khả năng chi phối toàn bộ tổ chức
Đạo đức cao nhất của người lãnh đạo vì nhân dân phục vụ, là "Tận trung với nước, tận hiếu với dân: như lời Bác Hồ đã dạy
3- Năng lực lãnh đạo (tài): Là toàn bộ những phẩm chất tâm lý giúp cho một cá
nhân hoạt động được trong lĩnh vực lãnh đạo và làm cho hoạt động lãnh đạo có hiệu quả Để đánh giá năng lực cá nhân người ta thường xem xét 3 loại năng lực sau đây:
- Năng lực phổ biến ở người lãnh đạo: (3 ý)
+ Nhạy cảm về chính trị và về tổ chức: Là khả năng nắm bắt một cách nhanh
nhạy những tình huống biến đổi của tình huống ngay khi tình huống còn đang diễn ra một cách bình thường, nó chưa bộc lộ ra dấu hiệu rõ rệt
Nhạy cảm về tổ chức là nhạy cảm về con người là người có khả năng phát hiện được suy nghĩ, nguyện vọng bên trong của người khác bằng các dấu hiệu, cử chỉ, thái
độ bên ngoài
+ Một tầm nhìn sâu rộng và mềm dẻo: là đặc điểm cơ bản nhất trong tư duy của
người lãnh đạo Người lãnh đạo phải có tầm nhìn xa hơn người khác, tạo ra tầm nhìn
ra người khác, biết dẫn dắt tổ chức mình đi đến đâu, hình dung ra tương lai của tổ chức Cách nhìn mềm dẻo và khả năng tư duy linh hoạt, nó luôn gắn liền với tư duy sáng tạo Là người đóng vai trò định hướng và dẫn dắt của tổ chức, là người đưa ra quyết định cuối cùng để xử lý mọi công việc của tổ chức, vì vậy người lãnh đạo phải
có những phẩm chất tư duy đặc biệt nêu trên, thiếu chúng khó thực hiện tốt chức năng dẫn dắt định hướng của mình
+ Tính kiên định, nhất quán: là đặc điểm hết sức quan trọng trong năng lực
định hướng hành vi của người lãnh đạo để đạt được mục tiêu đã định Người lãnh đạo phải có năng lực định hướng cao, kiên trì mục tiêu, kiên định trong việc giữ lập trường
Trang 3đã chọn, nhất quán bảo vệ các giá trị, các nguyên tắc đã được xác lập, không dễ dàng thay đổi để chiều theo hoàn cảnh hoặc từ sức ép từ bên ngoài
Bản lĩnh, quyết đoán, khôn ngoan là đặc điểm cần có để lựa chọn phương án phù hợp, trí tuệ, ra quyết định để đạt được mục tiêu của tổ chức; để đảm bảo cho người lãnh đạo đi tới thành công
- Năng lực đặc biệt cần có đối với người lãnh đạo:
+ Năng lực tổ chức: là khả năng tập hợp, lôi cuốn những người khác xung
quanh mình để thực hiện những mục tiêu đã xác định; khả năng phát hiện và sử dụng con người một cách tối ưu
Khả năng biết đánh giá đúng năng lực, sở trường, sở đoản, điểm mạnh, đierm yếu của từng cá nhân, đặt họ đúng vị trí phù hợp với năng lực sở trường của mỗi người, có thể phát huy năng lực của mỗi người một cách tối đa Có khả năng xây dựng được một đọi ngũ tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của tổ chức trong hiện tại và trong tương lai
+ Năng lực giao tiếp: Là khả năng ứng xử một cách tối ưu trong quan hệ và
tiếp xúc với những người xung quanh, nắm được tâm tư nguyện vọng của những người xung quanh để ứng xử với mỗi 1 cách phù hợp nhất với mọi người và từng người trong hoàn cảnh cụ thể
+ Năng lực sư phạm: là khả năng tác động, ảnh hưởng đến người khác, thuyết
phục được họ Khơi dậy sự tự tin ở người khác, khả năng xây dựng lòng tin đối với lãnh đạo, khả năng thuyết phục, khả năng ám thị
+ Năng lực chuyên môn của người lãnh đạo: là năng lực chuyên môn chỉ cần
cho 1 lĩnh vực hoạt động, nếu không có nó thì không thể hoạt động tốt trong lĩnh vực
ấy Đó là năng lực chỉ huy, điều hành bộ máy
II Uy tín của người lãnh đạo
Khái niệm: Uy tín của người lãnh đạo là sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố
quyền lực và sự tín nhiệm của mọi người đối với bản thân người lãnh đạo
Vai trò (3 vai trò):
- Uy tín là phẩm chất tâm lý đòi hỏi khách quan đối với người lãnh đạo: Người
lãnh đạo phải là người có uy tín đối với nhân dân, với người khác, là một trong những tiêu chuẩn hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đối với những cá nhân được bầu hoặc cử làm lãnh đạo: Muốn đóng vai trò của người lãnh đạo, trước hết phải có uy tín
- Uy tín của người lãnh đạo là điều kiện cần thiết cho hoạt động lãnh đạo có thể diễn ra một cách bình thường, hiệu quả: Hoạt động lãnh đạo là phối hợp với
những người khác để thực hiện nhiệm vụ khác nhau nhằm đạt được mục tiêu xác định,
vì vậy người lãnh đạo phải có sức mạnh tinh thần chi phối, lôi cuốn thuyết phục những người xunh quanh một cách tự nguyện, tự giác Sức mạnh ấy chính là uy tín
- Uy tín của người lãnh đạo là điều kiện đảm bảo sự cố kết, thống nhất giữa các thành viên trong tổ chức: Để có được sự cố kết và thống nhất thì người lãnh đạo
pahir có sức mạnh tinh thần, có khả năng làm cho các thành viên phục tùng, nghe theo một cách tự giác
- Các yếu tố tạo nên uy tín cho người lãnh đạo
Trang 4+ Vị trí lãnh đạo: là yếu tố khách quan, bên ngoài, có khả năng tạo ra uy tín
cho NLĐ Bất kỳ cá nhân nào, muốn tạo lập uy tín lãnh đạo thì trước tiên phải được đặt vào một vị trí lãnh đạo nhât định Vị trí LĐ là yếu tố không thể thiếu để tạo nên uy tín cho NLĐ nhưng nó chỉ là khả năng, là điều kiện cần NLĐ sử dụng vị trí LĐ của mình một cách đúng đắn, hợp lý, đáp ứng được kỳ vọng của xã hội đối với vị trí ấy thì NLĐ sẽ chinh phục được mọi người ở vị trí LĐ của mình, tức là có uy tín Tóm lại, vị trí hay quyền lực LĐ sẽ trở thành quyền lực của uy tín nếu nó biến thành yếu tố năng lực trong nhân cách NLĐ, được “nội tại hóa” trong nhân cách ấy
+ Năng lực, phẩm chất đạo đức và kết quả hoạt động của cá nhân NLĐ là yếu
tố cơ bản, nội tại, đóng vai trò quyết định tạo nên uy tín lãnh đạo Nghĩa là NLĐ có uy tín hay không phụ thuộc vào họ giỏi hay không, đức độ hay không và có làm được việc hay không
+ Sự thừa nhận của những người xung quanh là yếu tố cần thiết không thể
thiếu để tạo nên uy tín cho người LĐ Phải có sự tín nhiệm, tin cậy một cách tự giác,
tự nguyện của những người xung quanh đối với vị trí lãnh đạo của một cá nhân nào đó thì cá nhân đó mới có sức mạnh tinh thần được gọi là uy tín lãnh đạo Đó chính là sự thừa nhận những năng lực, phẩm chất, phong cách và kết quả hoạt động của cá nhân người lãnh đạo tương ứng và xứng đáng với vị trí lãnh đạo mà cá nhân ấy được giao
- Các biểu hiện của uy tín lãnh đạo
Để xác định một NLĐ có uy tín hay không, uy tín ở mức độ nào, có thể căn cứ vào một số biểu hiện chủ yếu sau:
+ Mức độ và tính chất của việc nắm thông tin đối với người LĐ: NLĐ có uy
tín, được mọi thành viên trong tổ chức tin cậy, tín nhiệm thì bằng những con đường và cách thức khác nhau, mọi sự kiện cũng như diễn biến trong tổ chức sẽ được thông báo một cách trung thực, đầy đủ và sớm nhất cho người LĐ bởi các thành viên khác nhau của tổ chức ấy Vì vậy những thông tin mà NLĐ có được từ tổ chức mình càng chính xác, càng đầy đủ, càng kịp thời thì uy tín càng cao
+ Sự chấp hành của cấp dưới như thế nào phản ánh uy tín của NLĐ như thế.
NLĐ có uy tín cao, khi giao nhiệm vụ sẽ được cấp dưới thực hiện một cách nhiệt tình, triệt để, đầy trách nhiệm, đến nơi đến chốn và đạt hiệu quả cao Và ngược lại
+ Thái độ của những người xung quanh: là một trong những dấu hiệu rõ rệt
nhất nói lên mức độ uy tín của NLĐ NLĐ có uy tín thường được cấp dưới kính trọng, người cùng cấp quý mến, cấp trên tin cậy và những kẻ không thích, không đồng quan điểm cũng nể nang
- Con đường tạo lập, giữ gìn và nâng cao uy tín người lãnh đạo
Cần quan tâm một số nguyên tắc sau:
+ “Uy tín là điều kiện để đạt mục tiêu lãnh đạo chứ không phải mục tiêu của hoạt động lãnh đạo” ; đối với hoạt động lãnh đạo, uy tín là phương tiện chứ không
phải cứu cánh NLĐ không nên tạo lập uy thế cho mình bằng mọi giá, nếu không xuất phát từ năng lực và phẩm chất đạo đức của riêng mình thì chỉ tạo được uy tín giả mà thôi
+ Uy tín đối với NLĐ trong XH ta không chỉ là vấn đề của riêng cá nhân NLĐ mà còn chính là vấn đề của tổ chức Đảng, của Nhà nước và hệ thống chính trị nói chung Vì uy tín cá nhân NLĐ có liên quan chặt chẽ với uy tín của tổ chức, của
chế độ XH nói chung
Trang 5+ Đừng đứng núi này trông núi khác: Uy tín là hiện tượng tâm lý XH gắn với
mỗi cá nhân trong những lĩnh vực hoạt động cụ thể, diễn ra trong không gian, thời gian cụ thể với những quan hệ cụ thể Vì vậy, mỗi cá nhân chỉ có thể tạo lập và duy trì
uy tín cho mình trong một hoặc một vài lĩnh vực nhất định, trong một số quan hệ nhất định
Uy tín là cái mà có nó thì rất khó khăn và lâu dài, nhưng để mất nó thì dễ dàng và nhanh chóng.
Ý nghĩa: Uy tín LĐ là phẩm chất chỉ có thể tạo nên, duy trì và phát triển trong mối quan hệ chặt chẽ, lành mạnh, tốt đẹp với quần chúng, với những người xung quanh Vì vậy NLĐ thiết lập và duy trì được các mối quan hệ với những người xung quanh càng rộng, càng sâu sắc thì sẽ có được uy tín càng cao, càng bền Lưu ý thiết lập và duy trì một khoảng cách quan hệ hợp lý
Con đường cơ bản và chủ yếu nhất để NLĐ có thể tạo lập, duy trì và nâng cao
uy tín cho mình là thường xuyên học tập, tu dưỡng để nâng cao trình độ và năng lực, nâng cao phẩm chất đạo đức và chứng tỏ tính hiều quả trong công việc
III Phong cách người lãnh đạo
“ Phong cách lãnh đạo của một cá nhân là mẫu hành vi mà người đó lựa chọn
và thể hiện trong quá trình tác động và gây ảnh hưởng một cách nỗ lực đến hoạt động của những người khác theo nhận thức của họ”
Theo cách phân loại thông thường có ba kiểu phong cách lãnh đạo tương ứng với 3 kiểu người lãnh đạo đó là: Phong cách lãnh đạo độc tài ứng với phong cách này
là kiểu người lãnh đạo độc tài (chuyên chế); phong cách lãnh đạo dân chủ - kiểu người lãnh đạo dân chủ; phong cách lãnh đạo tự do - kiểu người lãnh đạo tự do hành động
- Phong cách lãnh đạo độc tài hay chuyên chế: là người luôn đòi hỏi cấp dưới
phải phục tùng tuyệt đối mọi mệnh lệnh của mình Bản thân người lãnh đạo tự tìm hiểu, tự suy nghĩ và quyết định tất cả các vấn đề và cho rằng chỉ có mình mới là người có quyền duy nhất được lựa chọn
- Phong cách lãnh đạo dân chủ: là người luôn trưng cầu ý kiến của cấp dưới.
Trước khi quyết định làm việc gì người lãnh đạo dân chủ thường tổ chức hội nghị họp
để lấy ý kiến và sự trao đổi của mọi người Trong mọi trường hợp người lãnh đạo dân chủ đều là chủ toạ và khuyến khích sự tham gia ý kiến của mọi nhân viên
- Phong cách lãnh đạo kiểu tự do: là người chỉ làm công việc cung cấp thông
tin cho nhân viên Người lãnh đạo tự do hầu như không tham gia vào hoạt động của tập thể mà để cho mọi người phát huy hết khả năng độc lập, tự điều khiển tư duy và hành động của mình, ít có sự điều hành của người lãnh đạo
Chúng ta không thể khẳng định được phong cách lãnh đạo nào là hay nhất, là tốt nhất, điều đó còn tuỳ thuộc vào những tình huống, điều kiện cụ thể của một đơn vị,
tổ chức nhất định Để chọn một phong cách lãnh đạo phù hợp cho một tình huống, một tổ chức, nhà lãnh đạo cần lưu ý đến đặc điểm tam lý của từng loại người trong tập thể; đến mặt chủ quan của bản thân, thái độ mọi người trong tổ chức, đặc điểm của tình huống cụ thể…song quan trọng nhất vẫn là chọn một phong cách phù hợp với cá tính của từng loại người
Vấn đề đổi mới phong cách làm việc được Đảng và Chủ tịch HCM đặc biệt quan tâm từ trước tới nay Trong các nghị quyết của Đảng từ Đại hội VI tới nay yêu
Trang 6cầu đổi mới phương pháp làm việc ở các cấp, các ngành luôn được đặt ở vị trí quan trọng Đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo và lề lối làm việc cho đó là một yêu cầu quan trọng và cấp bách trong giai đoạn hiện nay
Loại bỏ phong cách lãnh đạo quan liêu Đây là con đẻ của cơ chế quan liêu bao cấp, là nguyên nhân trực tiếp của các bệnh gia trưởng, độc đoán thiếu dân chủ, không
đi sâu, đi sát thực tế, cục bộ địa phương, vô kỷ luật…dẫn đến hiệu quả quản lý lãnh đạo kém Chủ tịch HCM gọi chủ nghĩa quan liêu là ‘một thứ giặc trong lòng chúng ta”
vì nó làm cho người lãnh đạo bảo thủ, trì trệ, ỷ lại, vô trách nhiệm, thiếu năng động và đổi mới, bóp nghẹt sáng kiến của mọi người, mất dân chủ, mất đoàn kết…
Phong cách lãnh đạo quan liêu thường được biểu hiện ở một số đặc điểm sau:
- Khuynh hướng cứng nhắc, cơ cấu tổ chức quản lý cồng kềnh, nhiều cấp Giải quyết công việc thường lâu hay ngâm việc; không đề ra tiến độ thực hiện; thụ động; trông chờ sự chỉ đạo của cấp trên
- Có thiên hướng đầu óc thủ cựu, quan liêu, sính giấy tờ, hay gây phiền phức
- Có thái độ thờ ơ với các yêu cầu thực tế của mọi người
- Nhỏ nhặt trong quan hệ với những người dưới quyền, hay can thiệp vô căn cứ vào công việc hàng ngày của họ
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến quan liêu Nếu xét ở góc độ tâm lý từng người thì:
- Do động cơ nhu cầu thăng tiến không đúng đắn Mục đích công tác nặng về quyền lợi cá nhân
- Do trình độ lý luận, chuyên môn quản lý yếu Năng lực và phương pháp hạn chế, không đáp ứng với chức danh lãnh đạo
- Do lập trường tư tưởng, lập trường quản lý còn lệch lạc
- Do không được đào tạo, bồi dưỡng để làm lãnh đạo quản lý…
Vì vậy để xây dựng được phong cách lãnh đạo mới có hiệu quả cần phải chú ý một số điểm sau:
Không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, quản lý nhằm đổi mới tư duy, cách thức lãnh đạo.Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; lời nói đi đôi với việc làm, suy nghĩ kỹ trước khi nói, trước khi làm Làm việc luôn đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc tập thể, dám quyết, dám làm, dám chịu trách nhiệm Thường xuyên nắm vững tình hình thực tiễn, sát dân, dựa vào dân, phát huy tính sáng tạo của dân, hiểu và gần gũi dân, vì dân Tăng cường công tác phê bình và tự phê bình, làm việc cởi mở tránh “yêu nên tốt, ghét nên xấu”, chống chủ nghĩa cá nhân.Giữ gìn và nâng cao những phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như Bác Hồ
đã dạy Mềm dẻo, sáng tạo, linh hoạt, đổi mới trong công tác và trong giao tiếp, trong
xử lý công việc Khi xem xét, suy nghĩ phải có lý trí, song khi hành động phải có tình cảm
Đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, cùng với đó chúng ta cũng đang tiến hành cải cách nền hành chính quốc gia Để thực hiện những nhiệm vụ trọng đại trên, đòi hỏi mỗi người cán bộ, lãnh đạo phải chú trọng đổi mới phong cách lãnh đạo dựa trên yêu cầu và nguyên tắc của Đảng và những quy định của hệ thống quản lý XHCN, việc nghiên cứu phong cách lãnh đạo có ý nghĩa thực tiễn to lớn nó giúp cho người
Trang 7lónh đạo cỏc cấp, cỏc ngành ở nước ta hiện nay cú cơ sở để rốn luyện, hỡnh thành phong cỏch lónh đạo dõn chủ, khoa học và cú hiệu quả./
* Liên hệ :
Bản thân Tôi là một cán bộ quản lý kinh tế công tác tại SKHĐT THG, Tôi nhận thấy việc ra quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định lãnh đạo, quản
lý đối với một ngời cán bộ quản lý nói chung, quản lý kinh tế nói riêng là vô cùng quan trọng
Bởi lẽ, hiện nay việc nõng cao chất lượng đội ngũ cỏn bộ QLKT là nõng cao chất lượng một cỏch toàn diện về mọi mặt Tuy nhiờn, theo Tụi, trước mắt
và chủ yếu cần tập trung nõng cao hơn nữa về việc nâng cao chất lợng của việc
ra quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định lãnh đạo, quản lý của một ngời cán bộ quản lý cần phải:
- Bản thân nói riêng, cán bộ QLKT nói chung để ra đợc một quyết định quản lý đúng đắn , đã luôn tập trung giỏo dục, bồi dưỡng, nõng cao hơn lũng tuyệt đối trung thành với Tổ quốc XHCN, với Đảng và nhõn dõn Việt Nam, xõy dựng cho họ tinh thần sẵn sàng chiến đấu hy sinh bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, chủ quyền và toàn vẹn lónh thổ của đất nước; tin tưởng vào khả năng tất thắng của CNXH và ra sức bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN và cụng cuộc đổi mới của nhõn dõn ta hiện nay Bồi dưỡng, nõng cao hơn nữa cho bản thân, về bản lĩnh chớnh trị; giỳp Tôi luụn cú bản lĩnh và quan điểm chớnh trị kiờn định vững vàng trờn cơ sở lập trường, quan điểm của giai cấp cụng nhõn, khụng hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin,đặc biệt là giỳp cho Tôi và cỏn bộ trong cơ quan ngày càng am hiểu sõu sắc và thực hiện tốt hơn đường lối đổi mới, CNH,HĐH đất nước của Đảng ta hiện nay
Đó là một động lực quan trọng để Tôi có thể ra một quyết định đúng với quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nớc, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của cán bộ cấp dới
- Mặt khác, Bản thân Tôi đã quan tõm bồi dưỡng, nõng cao ý thức tổ chức
kỷ luật, ý thức giữ gỡn sự đoàn kết nhất trớ trong nội bộ cơ quan, đơn vị Bồi dưỡng, xõy dựng cho bản thân và cán bộ trong cơ quan lối sống trung thực, khụng giả dối, khụng núi sai sự thật, lời núi đi đụi với việc làm; dỏm nghĩ, dỏm làm, dỏm nhỡn thẳng vào sự thật, dỏm chịu trỏch nhiệm; khụng dấu diếm khuyết điểm Xõy dựng lối sống lành mạnh, sống bằng sức lao động của chớnh bản thõn mỡnh; đồng thời quan tõm giỳp đỡ người khỏc, khụng ớch kỷ, thực dụng, chạy theo đồng tiền Khụng tham nhũng, buụn lậu, khụng xõm phạm tài sản của Nhà nước và của nhõn dõn Luụn biết đặt lợi ớch của Đảng, Nhà nước, nhõn dõn lao động lờn trờn lợi ớch riờng của cỏ nhõn và gia đỡnh mỡnh, hết lũng, hết sức phục vụ nhõn dõn Gương mẫu hoàn thành tốt mọi cụng việc được Đảng, Nhà nước, đơn vị và nhõn dõn giao phú Bồi dưỡng, nõng cao cho đội ngũ cỏn bộ, cụng chức cú đức tớnh luụn quan tõm, chăm lo thiết thực đến đời sống của quần
Trang 8chỳng lao động Làm cho họ thật gần gũi nhõn dõn, phải sẵn sàng nghe quần chỳng phờ bỡnh; hoà mỡnh vào quần chỳng Đõy chớnh là một nội dung quan trọng nhằm thực hiện chế độ dõn chủ thực sự ở đơn vị cơ sở hiện nay Nhất là với những việc ra quyết định và thực hiện các quyết định liên quan đến kinh tế
nh ở cơ quan Tôi
- Trong quá trình đề ra và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý Tôi cũng
luôn cố gắng: Nhận thức đỳng đắn, đõy đủ và sõu sắc của họ về những qui luật khỏch
quan về kinh tế, nõng cao khả năng khỏi quỏt, nắm bắt và xử lý một cỏch khoa học, sỏng tạo, đỳng đắn cỏc vấn đề, sự vật, hiện tượng nảy sinh trong cuộc sống và trong quan hệ xó hội.Do vậy hiện nay, Tôi đã chỳ trọng nõng cao hơn nữa về kiến thức kinh
tế thị truờng, kiến thức về quản lý kinh tế và tổ chức sản xuất kinh doanh.Đồng thời cựng với việc nõng cao năng lực trớ tuệ, cần nõng cao năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn của mình Bởi vỡ, chỉ cú thụng qua hoạt động thực tiễn một cỏch tớch cực, sỏng tạo mới cú cơ sở, điều kiện để hỡnh thành, phỏt triển phẩm chất nhõn cỏch, đạo đức cỏch mạng, bản lĩnh chớnh trị và năng lực trớ tuệ của người cỏn bộ QLKT
Chính vì vậy Tôi đã luôn có những chính sách coi trọng việc khen thởng đúng lúc vớí những cán bộ hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ, đồng thời kiểm tra nghiêm túc việc thực hiện các quyết định quản lý đã đề ra để có biện pháp kỷ luật uấn, nắm những lệch lạc và sai phạm một cách kịp thời có hiệu quả.Tôi cũng luôn ủng hộ, hỗ trợ những điều kiên thuận lợi nhất để cán bộ trong cơ quan đợc đi học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ góp phần thực hiện các quyết định quản lý ngày càng tốt hơn
Vì thế, trong thời gian qua Tôi đa luôn nỗ lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ của một cán bộ quản lý, luôn đợc anh em, đồng chí đồng nghiệp tin tởng, có uy tín và trách nhiệm trớc công việc của bản thân và cơ quan
* Tuy nhiên, bên cạnh những u điểm trên, trong quá trình ra các quyết định quản lý và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý đó có lúc còn cha thực sự hiệu quả Nhiều công trình dự án còn cha đảm bảo đúng tiến độ, công tác tham mu có lúc
có nơI còn cha phù hợp; trình độ tổ chức thch hiện của đội ngũ cán bộ trong cơ quan còn cha ngang tầm với thời kỳ mới; Công tác phê và tự phê bình của anh em còn hạn chế; nhiều dự án cha phát huy đựoc hết công năng……
* Để góp phần nâng cao chất lợng của ra quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định lãnh đạo, quản lý ở cơ quan tôI trong thời gian tới TôI thiết nghĩ cần chú trọng các giải pháp sau:
- Tiếp tục giỏo dục, bồi dưỡng, nõng cao hơn lũng tuyệt đối trung thành với Tổ quốc XHCN, với Đảng và nhõn dõn Việt Nam, cho Bản thân và đông đoả cán bộ trong cơ quan đơn vị Xõy dựng lối sống lành mạnh, sống bằng sức lao động của chớnh bản thõn mỡnh; đồng thời quan tõm giỳp đỡ người khỏc, khụng ớch kỷ, thực dụng, chạy theo đồng tiền Khụng tham nhũng, buụn lậu, khụng xõm phạm tài sản của Nhà nước và của nhõn dõn
- Là một cơ quan quản lý kinh tế phải tích cực học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, cũng nh những kiến thức về KTTT, trong quá trình quản lý phải nắm đợc các đặc điểm tâm lý nhất là nhu cầu, lợi ích, trình độ, tâm trạng và khả năng của những ngời sẽ trực tiếp thực hiện quyết định, những ngời có liên quan
Trang 9và chịu hậu quả của việc thực hiện quyết định quản lý của bản thân và cơ quan mình
- Là Ngời lãnh đạo , quản lý trong cơ quan Tôi tự nhủ phải luôn giữ đúng vai trò trọng tài trong phân công và cần tạo ra hiệu ứng tâm lý xã hội để nhiều ngời xung phong nhận việc và có sự gắn bó với công việc, thêm tin yêu mến phục ngời lãnh đạo, quản lý, những ngời cùng thực hiện công việc càng đoàn kết, tin tởng và giúp đỡ lẫn nhau Từ đó góp phần thực hiện thắng lợi mọi nhiệm
vụ của cơ quan
- Chăm lo, tạo điều kiện giúp đỡ cho anh em trong cơ quan tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
- Là một cơ quan quản lý kinh tế phải luôn Tổ chức kiểm tra tiến độ thực hiện và chất lợng ra quyết định để kịp thời phát hiện và có hớng điều chỉnh phù hợp
- Cải cách Thủ tục hành chớnh là quy trỡnh thực thi cụng việc của cụng chức Thủ tục hành chớnh đơn giản, rừ ràng, cụng khai sẽ tạo điều kiện cho cụng chức thực thi tốt cụng vụ, trỏch nhiệm của mỡnh, tiết kiệm thời gian và tiền của cho doanh nghiệp, cho cụng dõn, tạo điều kiện cho tổ chức, cụng dõn thực hiện tốt quyền lợi của mỡnh, gúp phần thỳc đẩy phỏt triển kinh tế - xó hội
- Đầu tư đổi mới trang thiết bị và nõng cấp mạng thụng tin của cơ quan Cựng với quỏ trỡnh hoàn thiện tổ chức bộ mỏy, cần tiến hành đầu tư trang thiết bị hiện đại, nõng cấp mạng lưới thụng tin quản lý, điều hành nhằm từng bước hiện đại hoỏ cụng Sở và tạo điều kiện để cụng chức thực hiện nhiệm vụ của mỡnh cũng như là cở sở để tinh giảm biờn chế
- Phân cấp, phân công công việc thực sự hiệu quả trong phạm vi cơ quan Tôi là một trong những khõu quan trọng làm cho bộ mỏy quản lý của cơ quan thực thi tốt chức năng, nhiệm vụ được giao Phương chõm là: Cụng việc để ai làm tốt hơn, nhanh hơn thỡ kiờn quyết phõn cho ngời đú thực hiện Việc phõn công phải nhằm mục tiờu để cụng tỏc quản lý nhà nước cú hiệu quả hơn chứ khụng cú nghĩa là buụng lỏng quản lý, làm kộm hiệu lực quản lý của cơ quan
Cõu 2: Cơ cấu xó hội, phõn tõng xó hội, phõn hoỏ giầu ngheo ở VN
Là kết cấu và hỡnh thức tổ chức bờn trong của một hệ thống xó hội nhất định - biểu hiện như là một sự thống nhất tương đối bền vững của cỏc mối liờn hệ, cỏc nhõn tố, cỏc thành phần cơ bản nhất cấu thành hệ thống xó hội Những thành tố này tạo ra bộ khung cho tất cả xó hội loài người Những thành tố cơ bản nhất của cơ cấu xó hội là nhúm, vị thế xó hội, vai trũ
xó hội, quan hệ xó hội và cỏc thiết chế
Định nghĩa trờn chỉ ra cỏc đặc trưng của cơ cấu xó hội như sau:
Cơ cấu xó hội là kết cõỳ và hỡnh thức tổ chức bờn trong của một hệ thống
xó hội.Cơ cấu xó hội khụng chỉ được xem như là một tổng thể, một tập hợp cỏc
bộ phận tạo thành xó hội mà cũn được xem xột ở mặt kết cấu hỡnh thức bờn trong của một hệ thống xó hội nhất định
Cơ cấu xó hội được coi là sự thống nhất của hai mặt: cỏc thành phần xó hội và cỏc mối liờn hệ xó hội.Sự vận động và biến đổi của cơ cấu xó hội luụn cú
Trang 10nguồn gốc từ sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt, các mối liên hệ, các yếu
tố cấu thành cơ cấu ã hội, hai mặt trên gắn bó mật thiết với nhau, tác đọng qua lại với nhau
Cơ cấu xã hội là mô hình, bộ khung của xã hội để xem xet xã hội được cấu thành từ những nhóm xã hội nào như nhóm xã hội giai cấp, nhóm xã hội nghề nghiệp, nhóm xã hội nhân khẩu, nhóm xã hội dân tộc, nhóm xã hôị chia theo vùng, lãnh thổ…Việc xem xét nhóm xã hội là đơn vị cơ bản để phân tích cơ cấu
xã hội, tiếp cận về nhóm với việc xác định vị thế, vai trò của nhóm trong xã hội, các thiết chế xã hội, các mạng lưới xã hội, là cách tiếp cận đăc trưng xã hội học
về cơ cấu xã hội
*Các yếu tố cấu thành cơ cấu xã hội:
- Nhóm xã hội: la tập hợp người liên hệ với nhau theo một kiểu nhất định,
hay nói một cách khác, nhóm xã hội là một tập hợp người có liên hệ với nhau về
vị thế vai trò, những nhu cầu lợi ích và những định hướng giá trị nhất định Ờ đây cần phân biệt giữa nhóm xã hội và đám đông và nhóm xã hội và cộng đồng
xã hội là khác nhau
+xét về quy mô có thể phân chia thành nhóm nhỏ và nhóm lớn Nhóm nhò
là tập hợp xã hội ít người trong đó các thành viên cóquan hệ trực tiếp với nhau, tương đói ổn định với nhau; Nhóm lớn là những tập hợp xã hội rộng lớn được hình thành trên cơ sở các dấu hiệu chung có liên hệ trước hết đến đời sống trên
cơ sở của một hệ thống quan niệm xã hộihiện có ví dụ:một giai cấp, một đoàn thể, một tộc người
+Xét về hình thức có thể phân thành nhóm chính thức và nhóm không chính thức Nhóm chính thức được thành lập công khai, bằng thể chế hoá như gia đình, tập thể, tổ chúc xã hội; nhóm không chính thức là nhóm hình thành do
sự thoả thuận ngầm vớinhau giữa các thành viên về nhu cầu, giá trị, sở thích ví
dụ nhóm bạn bè…Ngoài ra, dựa trên các dấu hiệu khác để phân thành các cặp nhóm như: nhóm chính, nhóm phụ, nhóm cơ bản, nhóm không cơ bản, nhóm có thực, nhóm giả định
- Vị thế xã hội: theo quan niệm xã hội học, vị thế là một vị trí xã hội trong
cấu trúc xã hội Mỗi vị thế quyết định chỗ đứng của một cá nhân hay một nhóm
xã hội trong xã hội và mối quan hệ phương thức ứng xử của cá nhân và nhóm xã hội đó với xã hội xung quanh Đó là chỗ đứng của cá nhân trong bậc thang xã hội, là sự đánh giá của cộng đồng đối với cá nhân biểu thị sự kính nể trọng thị của cộng đồng đối với cá nhân.Các yếutố cấu tạo nên vị thế rất phong phú như dòng dõi, giai tầng, đẳng cấp, chủng tộc, dân tộc, sắc tộc…
Phân chia vị thế xã hội: dựa vào nguồn gốc tự nhiên và xã hội có: vị thế tự nhiên và vị thế đạt được Vị thế tự nhiên là vị thế bị chỉ định, bị gán cho bởi những thiên chức, những đặc điểm cơ bản mà cá nhân không tự kiểm soát hay mong muốn mà có ví dụ nam hay nữ, da đen hay da trắng, già hay trẻ…; Vị thế đạt được là vị thế phụ thuộc vào những đặc điểm mà trong một chừng mựcnhất định cá nhân có thể kiểm soát được Vị thế xã hộipụ thuộc vào sự nỗ lực phấn