Nghiên cứu những hoạt động của khu vực công cộng và tổ chức những hoạt động kinh tế công cộng Kinh tế học nghiên cứu trả lời câu hỏi: vì sao các cá nhân, hoặc một nhóm người sản xuất ho
Trang 1Chương I
Nền kinh tế hỗn hợp và khu vực kinh tế công cộng
1 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế học công cộng
1.1 Nghiên cứu những hoạt động của khu vực công cộng và tổ chức những hoạt động kinh tế công cộng
Kinh tế học nghiên cứu trả lời câu hỏi: vì sao các cá nhân, hoặc một nhóm người (sản xuất hoặc tiêu dùng) ra các quyết định và làm như thế nào trong các quyết định sử dụng và phân phối nguồn lực con người và nguồn lực tự nhiên một cách hiệu quả nhất
Kinh tế học chia ra hai phần: Kinh tế vi mô nghiên cứu hành vi ứng xử của các cá
nhân hoặc một nhóm cá nhân (người sản xuất và người tiêu dùng) nhằm đạt được các mục tiêu của họ; nghiên cứu các bộ phận hoạt động trong kinh tế thị trường và sự vận
dụng các quy luật khách quan vào các hoạt động kinh tế vi mô Kinh tế vĩ mô nghiên
cứu hoạt động, các ứng xử của toàn bộ nền kinh tế và các công cụ điều hành nền kinh tế
Nó nhấn mạnh tới sự tương tác trong nền kinh tế tổng thể
Nói một cách đầy đủ, kinh tế học là môn khoa học của sự lựa chọn Nó nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mà con người và xã hội lựa chọn như thế nào để sử dụng nguồn tài nguyên khan hiếm một cách có hiệu quả và phân phối các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cho các thành viên trong xã hội tiêu dùng cả thời hiện tại và thời tương lai
Kinh tế công cộng nghiên cứu các hoạt động kinh tế của khu vực công cộng (chủ yếu là các chương trình chi tiêu của Chính phủ) và tổ chức các hoạt động, chi tiêu của Chính phủ sao cho có hiệu quả nhất dưới góc độ toàn xã hội, không riêng cho một cá nhân và đơn vị nào
1.2 Tìm hiểu và dự đoán những hậu quả mà các hoạt động của Chính phủ có thể gây ra
Hoạt động của Chính phủ rất đa dạng, là cơ quan điều hành trên tầm vĩ mô, Chính phủ có rất nhiều công việc và chính sách phải ban hành trong một năm Các chính sách này không bao giờ thoả mãn được mọi góc độ của xã hội Đặc biệt là vấn đề công bằng
và hiệu quả Khi đánh thuế một sản phẩm nào đó, ai sẽ là người thực chất phải chịu thuế? Người tiêu dùng hay người sản xuất hoặc cả hai Như chúng ta đã biết, chính sách thuế thường không chỉ làm giảm lợi nhuận của công ty mà một phần thuế còn chuyển cho người tiêu dùng phải chịu Việc Chính phủ thay đổi chế độ tuổi nghỉ hưu sẽ có hậu quả gì về an toàn xã hội? Hậu quả của việc thu học phí ở các trường công? Hậu quả của việc tăng giảm lãi suất ngân hàng và tỉ giá hối đoái? Hậu quả của việc huy động vốn trong dân để đầu tư cho các công trình của Chính phủ?
Các kết quả của các chính sách của Chính phủ thường rất khó đánh giá một cách chính xác Ngay cả khi các chính sách này đã được thực hiện, mặc dù vậy vẫn còn nhiều
ý kiến tranh luận về tác dụng của nó
Trang 21.3 Đánh giá các phương án chính sách
Để đánh giá được các phương án chính sách chúng ta không chỉ hiểu biết hậu quả của các phương án chính sách, mà còn cần đưa ra những chuẩn mực để đánh giá chính sách một cách cụ thể Các bước để đánh giá một phương án chính sách được tiến hành như sau:
ư Trước tiên phải xác định mục tiêu chủ yếu của các chính sách của Chính phủ là gì? trong giai đoạn nào?
ư Bước tiếp theo là xác định mức độ các phương án nhằm đáp ứng được mục tiêu, tiêu chuẩn của chính sách
ư Dự đoán, đánh giá hậu quả và các ảnh hưởng của chúng trong phạm vi xã hội, kinh tế, môi trường đặc biệt là giữa sự công bằng xã hội và hiệu quả kinh tế
2 Chính phủ và vai trò của Chính phủ
2.1 Chính phủ là ai
Tất cả chúng ta đều có một số ý tưởng chung nào đó về các cơ quan nhà nước như: Quốc hội và các cơ quan lập pháp tại chính quyền trung ương cũng như địa phương, chủ tịch nước, chủ tịch các tỉnh, huyện và toà án các cấp
Điều gì là sự khác biệt chủ yếu giữa Chính phủ và các cơ quan tư nhân?
Có hai điểm cần phân biệt đó là:
Thứ nhất: Những người chịu trách nhiệm các cơ quan công lập do dân bầu ra Tính hợp pháp của những người được giữ chức vụ được phát sinh trực tiếp, hoặc gián tiếp từ quá trình bầu cử Ngược lại, những người quản lý công ty tư nhân do cổ đông bầu ra, hoặc do ban quản trị chọn lựa
Thứ hai: Chính phủ được giao một số quyền hạn nhất định mà các công ty tư nhân không được giao Ví dụ: Chính phủ có thể buộc các cá nhân, công ty phải đóng thuế, đi nghĩa vụ quân sự, thậm chí Chính phủ có quyền hạn chế một số hoạt động của các công
do sẽ phục vụ cho những lợi ích tốt và hiệu quả nhất của nền kinh tế, xã hội
Adam Smith cho ưu điểm của nền kinh tế hoàn toàn tự do cạnh tranh là “bàn tay
vô hình” Bàn tay vô hình của Adam Smith sẽ điều hành các công ty tư nhân cạnh tranh và tạo ra hiệu quả kinh tế cho xã hội Karl Mark là người có ảnh hưởng nhất trong số những người ủng hộ vai trò lớn hơn của nhà nước trong việc kiểm soát tư liệu sản xuất
Trang 3Chúng ta sẽ nghiên cứu sau những thất bại của nền kinh tế hoàn toàn tự do cạnh
tranh do “bàn tay vô hình” điều khiển, những thất bại đó là cơ sở, minh chứng cho một
điều rằng có nhiều vấn đề mà nền kinh tế thị trường hoàn hảo không thể giải quyết được một cách thoả đáng Hiệu quả Pareto mới chỉ giải quyết được vấn đề hiệu quả kinh tế, còn các vấn đề khác về công bằng và thất bại của nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn
hảo thì “bàn tay vô hình” không thể giải quyết được
Ngày nay, có rất nhiều quan điểm và mô hình quản lý nền kinh tế của một quốc
gia Nhưng quan điểm thịnh hành nhất hiện nay là Chính phủ can thiệp có giới hạn làm
giảm bớt (nhưng không giải quyết được) các vấn đề thất bại của nền kinh tế thị trường Chính phủ nên có vai trò tích cực trong việc sử dụng toàn vẹn vấn đề lao động và giảm những mặt xấu nhất của sự đói nghèo, nhưng doanh nghiệp tư nhân nên giữ vai trò trung tâm, hiệu quả trong nền kinh tế
3 Một số mô hình kinh tế và nền kinh tế hỗn hợp
3.1 Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung
Đặc trưng cơ bản nhất của mô hình này là việc lựa chọn, quyết định 3 vấn đề kinh
tế cơ bản đều do Chính phủ thực hiện (cơ chế mệnh lệnh áp đặt từ trên xuống) Ưu điểm của nền kinh tế tổ chức theo mô hình kế hoạch hoá tập trung là quản lý tập trung thống
nhất việc sử dụng nguồn lực nên đã giải quyết được nhu cầu công cộng, xã hội và những cân đối lớn của nền kinh tế Hạn chế phân hoá giàu nghèo và đảm bảo sự công bằng xã hội
Nhược điểm: Bộ máy quản lý cồng kềnh, quan liêu và hoạt động kém hiệu quả Tất cả những vấn đề kinh tế cơ bản đều do các cơ quan kế hoạch của Chính phủ quyết định nên chỉ cần sai sót nhỏ của các nhà kế hoạch sẽ dẫn đến sự bất ổn định cho nền kinh tế Trong thực tế, Chính phủ không đủ sức làm toàn bộ các công việc này và nếu có thì cũng không hoàn toàn có hiệu quả Người sản xuất và người tiêu dùng kém năng động sáng tạo bởi họ không có quyền lựa chọn Phân phối mang tính chất bình quân không xuất phát từ nhu cầu thị trường dẫn đến tình trạng thừa thiếu hàng hoá một cách giả tạo
Do vậy việc khai thác sử dụng các nguồn lực kém hiệu quả, nền kinh tế phát triển chậm
3.2 Mô hình kinh tế thị trường
Đặc trưng cơ bản của mô hình này là tất cả 3 vấn đề kinh tế cơ bản đều do thị trường
quyết định (theo sự dẫn dắt của giá thị trường - “Bàn tay vô hình”) Ưu điểm: Người sản
xuất và người tiêu dùng được quyền tự do lựa chọn và ra quyết định trong sản xuất tiêu dùng nên tính năng động, chủ động sáng tạo cao Kích thích nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh, công nghệ kỹ thuật thường xuyên được
đổi mới Phi tập trung hoá các quyền lực trên các phương diện các quyết định cho các chủ thể sản xuất Khai thác sử dụng các nguồn lực có hiệu quả và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng
kinh tế Nhược điểm: Do cạnh tranh vì lợi nhuận và coi lợi nhuận là mục tiêu duy nhất nên
dẫn đến ô nhiễm môi trường (tự nhiên, kinh tế, xã hội) Phân hoá giàu nghèo và bất công xã hội ngày càng tăng Mâu thuẫn quan hệ kinh tế với quan hệ truyền thống Nhiều vấn đề xã hội hết sức nan giải nảy sinh Phát sinh nhiều rủi ro, tiêu cực
Trang 43.3 Mô hình kinh tế hỗn hợp
Mô hình kinh tế hỗn hợp là mô hình vừa phát huy được nhân tố khách quan (quy luật kinh tế thị trường) lại vừa coi trọng được nhân tố chủ quan (can thiệp của con người) Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa tác động khách quan của thị trường với vai trò của Chính phủ
Ưu điểm của mô hình này là phát huy được những ưu điểm và hạn chế đến mức thấp nhất các tồn tại của hai mô hình trên nên việc khai thác sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn, nền kinh tế phát triển nhanh và ổn định Do vậy người ta cho rằng: đây là mô hình có hiệu quả nhất và được nhiều nước trên thế giới áp dụng Tuy nhiên, tuỳ điều kiện cụ thể của mỗi nước mà vận dụng vai trò của thị trường và Chính phủ cho phù hợp Ngày nay, một số nước tư bản phát triển có một nền kinh tế hỗn hợp như Mỹ, Anh, Nhật trong khi nhiều hoạt động kinh tế do các hãng tư nhân thực hiện, thì Chính phủ cũng thực hiện nhiều hoạt động kinh tế khác Thêm vào đó Chính phủ còn làm thay đổi hoặc tác động đến khu vực kinh tế tư nhân một cách cố ý hoặc không cố ý bằng nhiều loại quy chế, thuế khoá và các khoản trợ cấp Ví dụ: một trăm năm trước đây, ở Mỹ đã
có một số đường cao tốc và toàn bộ đường sắt là của tư nhân Nhưng ngày nay không có con đường cao tốc lớn của tư nhân tại Mỹ và hầu hết hành khách đi lại trong các bang tại
Mỹ bằng đường của Amtrak, một doanh nghiệp công được nhà nước trợ cấp
Ngược lại, ở một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây, hầu hết các hoạt động đều do nhà nước thực hiện
Do nền kinh tế hỗn hợp luôn gặp phải các vấn đề xác định ranh giới thích hợp giữa các hoạt động của Chính phủ và tư nhân cho nên việc nghiên cứu về kinh tế công cộng là một điều cần thiết
Các câu hỏi đặt ra là: Tại sao Chính phủ tiến hành thực hiện các hoạt động này mà
không thực hiện các hoạt động khác? Tại sao quy mô hoạt động của Chính phủ lại như vậy mà không lớn hơn, hoặc nhỏ hơn? Liệu Chính phủ có làm quá nhiều và tốt các công việc dự định làm không? Và có làm tốt hơn được nữa không? Đây là những câu hỏi trọng tâm mà môn kinh tế công cộng nghiên cứu
Phần sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu những thất bại (khuyết tật) của một nền kinh
tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo
4 Những khuyết tật của nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Trước hết chúng ta cần khẳng định rằng một nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo sẽ đem lại hiệu quả dưới góc độ kinh tế Nhưng chỉ với chỉ tiêu hiệu quả nhất thì điều đó chưa thoả mãn yêu cầu của một xã hội phát triển bền vững Ngoài ra, các khuyết tật (thất bại) của thị trường cạnh tranh hoàn hảo cũng cần phải được làm giảm bớt thông qua các chính sách của Chính phủ nhằm làm cho vai trò hiệu quả của thị trường cao hơn
Trang 5Những khuyết tật (thất bại) của nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo đó là: Chênh lệch thu nhập và hiện tượng nghèo đói; Độc quyền sản xuất hoặc tiêu thụ hàng hoá dịch vụ; Hàng hoá công cộng; Chi phí ngoại ứng; Thị trường không hoàn hảo do quá
ít người mua hoặc người bán như thị trường bảo hiểm, thị trường phụ trợ, thị trường bác
sĩ, thuốc chữa bệnh; Thông tin không hoàn hảo do người sản xuất hoặc tiêu dùng không nắm vững được thông tin hoặc bị thông tin sai lệch; Thất nghiệp, lạm phát và mất cân bằng; Phân phối lại hàng hoá khuyến dụng
5 Những khuyết tật trong điều hành kinh tế của Chính phủ Những thất bại của thị trường đã dẫn đến việc đề ra những chương trình lớn của Chính phủ, những khiếm khuyết của những chương trình đó lại dẫn các nhà khoa học và kinh tế đến việc nghiên cứu sự thất bại của Chính phủ Trong những điều kiện nào đó thì các chương trình của Chính phủ thực hiện không tốt? Những thất bại của các chương trình đó có phải thuần tuý và tình cờ hay không, hay chúng là những kết quả có thể dự
đoán trước, do bản chất vốn có của Chính phủ? Có thể rút ra được những bài học cho tương lai về các chương trình này được không?
Có bốn lý do cơ bản gây ra các thất bại có tính chất hệ thống của các chương trình của
Chính phủ đó là: Thứ nhất, thông tin của Chính phủ bị hạn chế; Thứ hai, kiểm soát hạn chế
của Chính phủ đối với các phản ứng của tư nhân; Thứ ba, kiểm soát hạn chế của Chính phủ với bộ máy hành chính quan liêu và thứ tư, những hạn chế của các quá trình chính trị áp đặt
5.1 Thông tin hạn chế
Các hoạt động kinh tế của Chính phủ cũng như của các hãng tư nhân nhằm mục
đích chính là lợi nhuận Các hoạt động kinh tế của Chính phủ ngoài mục tiêu chính là lợi nhuận còn chú ý tới vấn đề công bằng của xã hội Nhưng đối với các hãng tư nhân thì cơ chế cạnh tranh tạo cho họ một mục tiêu chính duy nhất là lợi nhuận Chính vì vậy mà bằng mọi giá, ngay cả việc bưng bít thông tin, đưa ra những thông tin sai lệch các hãng cũng dám làm (để trốn thuế, hoặc đánh bại đối thủ v.v )
Hậu quả của các chính sách, hoạt động của Chính phủ rất phức tạp và khó thấy trước Do những hạn chế về thông tin, hoặc các thông tin sai lệch sẽ dẫn tới các chính sách và hành động của Chính phủ có kết quả không như mong muốn
5.2 Kiểm soát hạn chế đối với các phản ứng của tư nhân
Chính phủ chỉ có thể kiểm soát một cách hạn chế đối với các kết quả hành động của mình bởi vì một chính sách trên tầm vĩ mô ra đời sẽ ảnh hưởng tới rất nhiều các lĩnh vực mà thậm chí có lường trước, Chính phủ cũng không thể thấy hết được những ảnh hưởng thực tế trong ngắn hạn và đặc biệt là trong dài hạn của chính sách đó
Ví dụ: Khi UBND thành phố ra một văn bản pháp luật về kiểm soát tiền thuê nhà của thành phố, những người ra văn bản này đã bỏ qua một thực tế là nếu lợi nhuận bị giảm thì chủ tư nhân đang cho thuê nhà có thể quay sang đầu tư lĩnh vực khác Những người ra văn bản đã không dự đoán được rằng số lượng nhà cho thuê sẽ bị giảm và chất lượng dịch
Trang 6vụ của chủ cho thuê cũng có thể bị xuống cấp Mặc dù chính phủ đã nỗ lực kiểm soát sự xuống cấp này bằng cách áp đặt các tiêu chuẩn phục vụ đối với các chủ cho thuê nhà, nhưng những áp đặt này rất tốn kém, không bền vững và chỉ thành công một phần
5.3 Kiểm soát hạn chế đối với bộ máy hành chính quan liêu
Quốc hội và các cơ quan lập pháp xây dựng luật pháp, việc thực hiện luật pháp này bằng các văn bản dưới luật lại được giao quyền cho một số cơ quan chức năng bên dưới Các cơ quan chức năng này bỏ ra khá nhiều thời gian để viết các văn bản chi tiết dưới luật Trong nhiều trường hợp, việc không thực hiện được ý định của Quốc hội không phải nhằm tránh ý muốn của Quốc hội mà là do kết quả thiếu rõ ràng trong ý định của Quốc hội Ngoài ra, còn một vấn đề nữa là việc đảm bảo để những người thi hành pháp luật làm việc một cách công minh và hiệu quả Những yếu tố này làm cho việc thực thi các chính sách của Quốc hội và các cơ quan lập pháp đôi khi không hoàn toàn đi đúng ý
định, mục tiêu cơ bản, nguyên gốc của Quốc hội và các cơ quan lập pháp đề ra
5.4 Những hạn chế của các quá trình chính trị áp đặt
Ngay cả khi Chính phủ có đầy đủ thông tin về các hậu quả của các chương trình trong dài hạn và trong ngắn hạn thì việc chọn lựa trong số những phương pháp thực hiện chương trình đó cũng có thể gây ra những khó khăn nhất định Hành động, thực hiện của Chính phủ ảnh hưởng tới toàn dân, nhưng lại chỉ có một nhóm người quyết định Do đó, thất bại của một số chính khách trong việc thực hiện công việc dường như vì lợi ích của công chúng, đó có thể là hậu quả của những công trình và cơ chế Không phải hoàn toàn các thất bại của Chính phủ là do thông tin hạn chế, quan liêu hoặc phản ứng của khu vực tư nhân mà còn do chính bản thân của cơ chế, chính sách sinh ra Khi các chương trình, chính sách của Chính phủ đưa ra mang tính áp đặt, duy ý chí, không tuân theo các quy luật kinh tế, xã hội môi trường, tự nhiên v.v của một nhóm người trong bộ máy của Chính phủ cũng là một nguyên nhân dẫn tới thất bại của Chính phủ
Bốn hạn chế trên trong hành động của Chính phủ là tiền đề để xây dựng các chính sách thành công của Chính phủ
6 Những vấn đề kinh tế cơ bản của khu vực kinh tế công cộng Kinh tế học nói chung là nghiên cứu làm thế nào và vì sao các cá nhân, hoặc một nhóm người (sản xuất hoặc tiêu dùng) ra quyết định sử dụng và phân phối nguồn lực con người và nguồn lực tự nhiên (các nguồn lực khan hiếm) một cách hiệu quả nhất
Giống như mọi lĩnh vực khác của kinh tế học, kinh tế học về khu vực công cộng liên quan đến những câu hỏi cơ bản về sự chọn lựa sau đây:
6.1 Sản xuất cái gì?
Đây cũng là câu hỏi của cầu liên quan đến người tiêu dùng Dựa vào nhu cầu thị trường và điều kiện các nguồn lực của Chính phủ mà chọn lựa chọn và quyết định các vấn đề như: Nên dành bao nhiêu nguồn lực để sản xuất hàng hoá công cộng (HHCC), như quốc phòng, đường giao thông, giáo dục , bao giờ thì tiến hành sản xuất và nên dành bao nhiêu nguồn lực để sản xuất hàng hoá tư nhân (HHTN) như xe máy, ti vi v.v
Trang 7HHTN
HHCC
Hình 1.1 Đường giới hạn năng lực SX của xã hội giữa HHCC và HHTN
6.2 Sản xuất cái đó như thế nào?
ở đây cần đặt ra câu hỏi, khi nào Chính phủ nên nhận trách nhiệm sản xuất ra những hàng hoá do công cộng cung cấp và khi nào Chính phủ nên mua các loại hàng hoá này từ các hãng tư nhân Có một thực tế rằng, hầu hết vũ khí đều do các hãng tư nhân sản xuất, trong khi đó chỉ một phần nhỏ tỉ lệ chi tiêu của giáo dục đến với các trường học tư ở các nước
Có hai quan điểm về ai sản xuất cái gì Một quan điểm cho rằng doanh nghiệp nhà nước nên sản xuất ra hàng hoá dịch vụ như điện thoại, thép, điện để bán cho các cá nhân
và chừng nào số hàng hoá này không do các doanh nghiệp nhà nước sản xuất ra thì người tiêu dùng còn bị bóc lột Một quan điểm khác cho rằng, các doanh nghiệp nhà nước có bộ máy quản lý cồng kềnh kém hiệu quả hơn nhiều so với các hãng tư nhân, chính vì vậy nên hợp đồng hoặc để cho tư nhân sản xuất các loại hàng hoá dịch vụ này
và Chính phủ dùng ngân sách mua các loại hàng hoá này từ các hãng tư nhân
Để giải quyết vấn đề trên, cần đặt ra câu hỏi tổng quát là chính sách của Chính phủ
có tác động đến việc hãng sản xuất ra hàng hoá như thế nào Ví dụ: luật bảo vệ môi trường hạn chế các hãng gây ra ô nhiễm, thuế thu nhập và các loại thuế khác làm tăng chi phí hạn chế người sản xuất, người tiêu dùng như thế nào?
6.3 Phân phối cho ai?
Ai sẽ là người được hưởng lợi từ những hàng hoá, dịch vụ, công trình do Chính phủ xây dựng nên Những quyết định của Chính phủ về đánh thuế hay chương trình phúc lợi
có tác động ra sao đến khoản tiền thu nhập mà các cá nhân có được để chi tiêu Tương tự như vậy, Chính phủ phải quyết định nên sản xuất HHCC nào? Một số nhóm người sẽ có lợi từ một số hàng hoá công cộng này và ngược lại
6.4 Thực hiện các chọn lựa tập thể như thế nào?
Cách thực hiện những chọn lựa tập thể là một lĩnh vực mà kinh tế học công cộng quan tâm hơn so với các lĩnh vực khác Những lựa chọn tập thể là cái mà xã hội và chúng ta phải cùng nhau thực hiện, ví dụ như cơ cấu luật pháp, quy mô quân sự, chi tiêu vào HHCC Đây là một việc làm và để ra được quyết định thì phức tạp và khó hơn nhiều
Trang 8trong lĩnh vực HHTN Thông thường các quyết định lựa chọn này thường thông qua biểu quyết tập thể từ Quốc hội và các cơ quan chức năng của Chính phủ Nhưng điều này không thể tránh khỏi những ý định riêng của một nhóm cá nhân, tập đoàn Ngoài ra, việc bầu cử cũng có những hạn chế trong nguyên tắc của nó (chúng ta sẽ nghiên cứu vấn
đề này trong phần sau)
Tóm tắt nội dung chương I
1 Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước (nền kinh tế hỗn hợp), hoạt động kinh tế do cả các doanh nghiệp tư nhân và Chính phủ thực hiện
2 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo do “bàn tay vô hình” điều khiển sẽ cung cấp
hàng hoá dịch vụ một cách hữu hiệu Nhưng nền kinh tế thị trường không phải hoàn toàn
có ưu điểm, những hạn chế cơ bản của khu vực kinh tế tư nhân trong việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của xã hội Chính phủ là người đứng ra sửa chữa những hạn chế này nhằm làm cho nền kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả hơn Ngoài vai trò sửa chữa những hạn chế của nền kinh tế thị trường, vai trò trong phân phối lại và hàng hoá khuyến dụng là chức năng cơ bản của Chính phủ
3 Những hạn chế của các chương trình công cộng của các chính phủ thường do
những nguyên nhân chính sau đây: Thứ nhất, ảnh hưởng và kết quả của các chính sách
và hoạt động của Chính phủ là rất phức tạp và khó dự đoán trước được hết; thứ hai,
Chính phủ chỉ có thể kiểm soát ở một mức độ nào đó (không thể toàn bộ) của các hạn
chế này; thứ ba, những người xây dựng chính sách, pháp luật chỉ có vai trò và sự kiểm soát hạn chế với những ảnh hưởng này; thứ tư, các nhà chính sách có thể hành động để làm cho lợi ích đặc biệt của tư nhân đi xa hơn
4 Kinh tế công cộng chủ yếu nghiên cứu lựa chọn giữa khu vực công và tư nhân
và những lựa chọn trong khu vực kinh tế công cộng Điều này liên quan đến các câu hỏi cơ bản sau: Sản xuất cái gì? Sản xuất những cái đó như thế nào? Sản xuất cho ai? Và quá trình ra các quyết định, chính sách này như thế nào?
5 Kinh tế học thực chứng nghiên cứu quy mô chính sách, hoạt động của Chính phủ và ảnh hưởng cũng như kết quả của các chính sách và các hoạt động đó Kinh tế học chuẩn tắc cố gắng đánh giá các phương án mà Chính phủ theo đuổi
Câu hỏi thảo luận và ôn tập chương I
1 Đối tượng môn học KTCC là gì?
2 Các bước để đánh giá một phương án chính sách được tiến hành như thế nào?
3 Chính phủ là ai và vai trò của chính phủ là gì dưới góc độ KTCC?
4 So sánh ưu, nhược điểm của 3 mô hình kinh tế cơ bản?
5 Phân tích những thất bại trong điều hành của chính phủ?
6 Phân tích 3 vấn đề kinh tế cơ bản của khu vực KTCC?
Trang 9Chương II
Cơ sở hoạt động kinh tế công cộng đối với chính phủ
1 Hiệu quả của nền kinh tế thị trường cạnh tranh
1.1 Các định lý cơ bản về kinh tế học phúc lợi
Định lý 1: Trong các điều kiện nhất định, thị trường cạnh tranh sẽ dẫn tới việc
phân bổ các nguồn lực ở đó, không thể phân bổ lại nguồn lực có thể làm một cá nhân nào đó có lợi hơn mà không làm cho ai đó bị thiệt (hiệu quả Pareto)
UA
UB
Định lý 2: Mọi điểm trên đường khả năng thoả dụng đều có thể đạt được bằng việc
phân bổ đúng các nguồn lực trong nền kinh tế cạnh tranh
Khi nói về hiệu quả Pareto, chúng ta chưa đề cập đến việc phân phối thu nhập như thế nào ở bất kỳ điểm nào trên đường khả năng thoả dụng đều đạt được hiệu quả Pareto,
nhưng nếu tại điểm 1 thì A quá nhiều mà B lại quá ít Định lý thứ hai hàm ý rằng nếu
chúng ta không thích phân phối do thị trường cạnh tranh tạo ra, chúng ta không cần phải loại bỏ chúng Điều mà chúng ta cần làm là phân phối lại, phần còn lại để thị trường cạnh tranh giải quyết
1.2 Hiệu quả Pareto của nền kinh tế thị trường
a) Hiệu quả trong sản xuất
Giả sử hàm sản xuất X = F (LX,KX) và Y = F (LY,KY)
Trang 10KX là lượng vốn để sử dụng sản xuất hàng hoá X
LY là lượng lao động sử dụng để sản xuất hàng hoá Y
KY là lượng vốn để sử dụng sản xuất hàng hoá Y
Để đạt được hiệu quả trong quá trình sản xuất đòi hỏi quá trình sản xuất hàng hoá
X và Y phải thoả mãn các điều kiện sau:
MPLY là sản phẩm biên của hàng hoá Y khi sử dụng thêm một đầu vào lao động
MPKY là sản phẩm biên của hàng hoá Y khi sử dụng thêm một đầu vào vốn
w là tiền lương đơn vị
r là lãi suất vốn vay
Kết luận: Để đạt được hiệu quả trong quá trình sản xuất đòi hỏi tỉ lệ thay thế biên (marginal rate of Substitution) giữa vốn và lao động sản xuất hàng hoá X bằng với tỉ lệ thay thế biên giữa vốn và lao động của hàng hoá Y đồng thời bằng với tỉ lệ giữa tiền lương và giá của vốn (lãi suất)
w MRTS KL Y = MRTS KL X = -
r
Trang 11Hình 2.2 Hiệu quả trong sản xuất
b) Hiệu quả trong quá trình tiêu dùng
Giả sử hàm hữu dụng U = U (X,Y)
Trong đó:
U là hàm hữu dụng khi người tiêu dùng sử dụng hai loại hàng hoá X và Y
Để đạt được hiệu quả tối đa trong sử dụng hai loại hàng hoá X và Y đối với hai người tiêu dùng A và B đòi hỏi phải thoả mãn các điều kiện sau:
A = MRS XY
B = -
Trang 12MUXA là hữu dụng biên của người tiêu dùng A khi sử dụng hàng hoá X
MUYA là hữu dụng biên của người tiêu dùng A khi sử dụng hàng hoá Y
MUXB là hữu dụng biên của người tiêu dùng B khi sử dụng hàng hoá X
MUYB
là hữu dụng biên của người tiêu dùng B khi sử dụng hàng hoá Y
PX là giá của hàng hoá X
PY là giá của hàng hoá Y
Hình 3.2 Hiệu quả trong tiêu dùng
Kết luận : Để đạt được hiệu quả trong tiêu dùng thì tỉ lệ thay thế biên (marginal
rate of substitution) giữa hai loại hàng hoá X và Y (MRS XY ) đối với người tiêu dùng A phải bằng tỉ lệ thay thế biên của X và Y của người tiêu dùng B và bằng tỉ số giá của hàng hoá X (P X ) và giá hàng hoá Y (P Y )
Trang 13c) Hiệu quả hỗn hợp (tiêu dùng và sản xuất)
Hình 4.2a Hiệu quả hỗn hợp
Kết luận: Hiệu quả trong phân phối sản phẩm và tài nguyên đạt đ−ợc khi tỉ lệ thay thế biên giữa hai loại hàng hoá X và Y (MRS XY ) bằng với tỉ lệ chuyển đổi biên (marginal rate of transformation) giữa hai hàng hoá X và Y (MRT XY ) và bằng với tỉ số giá giữ hai loại hàng hoá.
d) Tối đa hoá phúc lợi xã hội
Điều kiện để tối đa hoá phúc lợi xã hội
(1) Hiệu quả trong sản xuất
(2) Hiệu quả trong tiêu dùng Hiệu quả Pareto
Trang 14Hình 4.2b Điểm tối đa hoá phúc lợi xã hội
Hiệu quả Pareto có thể đạt được với 3 điều kiện đầu của phúc lợi xã hội, đó là hiệu quả trong sản xuất, hiệu quả trong tiêu dùng và hiệu quả hỗn hợp giữa tiêu dùng và sản xuất Như vậy, bất kỳ điểm nào trên đường YX của hình 4.2a cũng cho phép đạt được hiệu quả Pareto Với mỗi điểm đó chúng ta lại có thể tìm được một đường OA hoặc OB (hình 4.2a), tương đương với các đường này chúng ta có thể tìm được vô số các đường U1U2 Nhưng điểm nào trên đường YX (hình 4.2a) sẽ cho hiệu quả xã hội cao nhất (hình 4.2b) là chức năng của lý thuyết chọn lựa, hay sự thể hiện vai trò của Chính phủ trong phân phối thu nhập quốc dân (điều kiện 4)
Hình 4.2c Cải thiện Pareto
Cải thiện Pareto là việc làm cho một người nào đó trong xã hội có lợi hơn mà không làm giảm phúc lợi của bất kỳ người nào Đây là cơ sở lý luận cho các chính sách
Trang 15Hình 5.2 Định giá và sản lượng độc quyền dẫn tới mất mát của xã hội
can thiệp vào thị trường của Chính phủ ngoài nhiệm vụ phân phối lại và hàng hoá khuyến dụng Nếu nền kinh tế đã đạt được hiệu quả Pareto thì coi như Chính phủ không cần can thiệp vào làm tăng hiệu quả kinh tế mà lúc đó chỉ có hai vai trò duy nhất là phân phối lại và hàng hoá khuyến dụng
Trên hình 4.2c, việc ra chính sách làm chuyển dịch từ điểm A đến B hoặc đến C chỉ mang chức năng phân phối lại, không có ý nghĩa gì trong cải thiện Pareto Bởi vì việc tăng phúc lợi của U2 sẽ làm giảm phúc lợi của U1 Điểm D là điểm chưa đạt được hiệu quả Pareto, vai trò của Chính phủ là làm dịch chuyển từ D đến A hoặc đến C, động thái này làm cho một trong phúc lợi của người này tăng lên mà không làm giảm phúc lợi của người khác “cải thiện Pareto” Chính sách làm dịch chuyển từ D đến B sẽ làm phúc lợi của hai cá nhân cùng tăng lên, đây cũng là cải thiện Pareto
2 Những thất bại của nền kinh tế thị trường, cơ sở điều hành của Chính phủ (nhằm cải thiện Pareto)
2.1 Khắc phục những thất bại của thị trường
a) Hạn chế tác động của độc quyền và mất trắng phúc lợi xã hội
Trong hoàn cảnh thị trường độc quyền, các hãng độc quyền thường hạn chế sản lượng sản xuất ra nhằm nâng giá sản phẩm, ép người tiêu dùng mua với giá cao hơn so với thị trường cạnh tranh hoàn hảo nhằm mục đích tăng tối đa lợi nhuận Chính vì vậy cho nên các hãng độc quyền tự nhiên tuân theo quy luật tối đa hoá lợi nhuận khi họ sản xuất tại điểm MC = MR trong khi đó đường doanh thu biên của các nhà độc quyền luôn luôn nằm dưới đường cầu Chính vì vậy, giá của các nhà độc quyền được định đoạt theo quy luật riêng khác với các hãng sản xuất, cung cấp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo (Chú ý: trong cạnh tranh hoàn hảo MR = P) Tăng số lượng bán ra của các nhà độc quyền sẽ dẫn tới giảm doanh thu bởi vì sản phẩm của các nhà độc quyền thường có
đường cầu ít co dãn chính vì vậy sẽ làm hạ giá bán của tất cả các đơn vị hàng hoá do
giảm giá bán (Chú ý: phân biệt với cạnh tranh hoàn hảo cho học sinh trong việc tăng số bán ra)
Trang 16b) Cung cấp hàng hoá công cộng cho xã hội
Hàng hoá công cộng thuần tuý có hai đặc điểm cơ bản: Thứ nhất, không phải trả
thêm tiền khi hưởng lợi, sử dụng HHCC hay nói cách khác là chi phí sử dụng cận biên
bằng không (ví dụ quốc phòng); Thứ hai, khó có thể loại trừ việc sử dụng (ví dụ ngọn
hải đăng)
Hai đặc điểm trên dẫn tới việc thị trường cạnh tranh không thể hoặc không cung cấp đủ HHCC thuần tuý Bởi vì: ví dụ về ngọn hải đăng, các chủ tầu có nhiều tầu lớn có thể quyết định rằng lợi ích (MB) mà các chủ tầu nhận được từ đèn biển cao hơn chi phí (MC) Trong hoàn cảnh này nếu là các hãng tư nhân thì họ sẽ quyết định sản xuất, hoặc dịch vụ ngay; Nhưng ngược lại, ngọn hải đăng là một loại hàng hoá công cộng chính vì vậy khi tính xem nên đặt bao nhiêu cây đèn, chủ tầu chỉ quan tâm, phân tích xem ông ta
sẽ nhận được bao nhiêu lợi mà không tính đến những người khác sẽ được lợi bao nhiêu!
Do đó, HHCC thuần tuý thường có ∑MBi > ∑MCi (tổng lợi ích biên lớn hơn so với tổng chi phí biên cho tất cả người sử dụng hoặc hưởng lợi), nhưng lợi ích cho mỗi con tàu MBi < ∑MC Trong trường hợp khi mà ∑MBi > ∑MCi và MBi < ∑MC nếu để thị trường cạnh tranh thì những loại hàng hoá này sẽ không được xây dựng, hoặc không
được cung cấp đầy đủ Chính vì vậy Chính phủ phải can thiệp vào Cần nhớ rằng, quy luật đầu tư trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo là tổng lợi ích biên bằng với tổng chi phí biên đây chính là dạng của hai đường cầu và đường cung của hàng hoá dịch vụ trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo Đối với các hãng tư nhân hoặc người tiêu dùng thì quyết
định sản xuất hay tiêu dùng bao giờ cũng dựa vào điểm chi phí biên MC bằng với lợi ích biên MB hoặc chi phí biên bằng với hữu dụng biên MU
c) Điều hành các yếu tố ngoại ứng
Thứ nhất: Hoạt động của một cá nhân hay một tổ chức làm ảnh hưởng tới các chức
năng thoả dụng, chức năng sản xuất của các cá nhân hoặc tổ chức khác Thứ hai: ảnh hưởng không cố ý (người sản xuất, người tiêu dùng, các tổ chức Chính phủ) Thứ 3: Có
thể là ngoại ứng tích cực hoặc ngoại ứng tiêu cực
Trang 17PP
e) Khắc phục những thất bại về thông tin
Thông tin không đầy đủ về sản phẩm hoặc công việc không đủ cho bên cung hoặc bên cầu Ví dụ, những người bán thường có nhiều thông tin về sản phẩm hơn so với người mua, các bác sĩ thường có nhiều thông tin về nhu cầu cần thiết chăm sóc hơn là bệnh nhân, chủ thường có nhiều thông tin hơn là người làm công Chính vì sự thông tin không hoàn hảo này sẽ dẫn đến thiệt hại cho xã hội Sự mất mát của xã hội được diễn tả bằng mô hình sau
Phần lợi ích người bán được lợi
do thông tin không chuẩn và cũng là phần thiệt hại của người tiêu dùng (P u P i ca)
P
S
a
PU Pi
Hình 7.2 Mô hình sai lệch thông tin dẫn tới mất mát của XH
Trang 18Đường cầu Du là do sai lệch thông tin (ví dụ, quảng cáo không đúng sẽ làm sai lệch thông tin cho người sản xuất hoặc người tiêu dùng), Di là cầu thực sự nếu có thông tin đầy đủ và thông tin đúng Như vậy, có hai hệ quả xảy ra khi thông tin không đầy đủ
cho người tiêu dùng: thứ nhất, tăng lượng cầu và tăng giá so với thực tế, giảm thặng dư của người tiêu dùng, tăng thặng dư của người sản xuất Thứ hai, tạo ra sự mất trắng của
xã hội, tam giác (abc)
d) Điều tiết khác do thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
Các nhà kinh tế cho rằng thị trường tư nhân thực hiện kém và không hiệu quả trong việc cung cấp bảo hiểm và cho vay, đây là hai lĩnh vực nữa tạo cơ sở hoạt động của Chính phủ
* Thị trường bảo hiểm
Trong thị trường bảo hiểm, các cá nhân và các hãng tư nhân thường tính toán và không bảo hiểm cho những đối tượng có nhiều rủi ro (hoả hoạn, tai nạn xe cộ, lũ lụt)
Bởi vì có hiện tượng “ăn không trong thị trường này Thị trường bảo hiểm cũng là
luận cứ để các chương trình bảo hiểm công cộng tiến hành
Ngoài ra, một số chương trình bảo hiểm được xây dựng nhằm chuyển các nguồn lực cho các đối tượng được hưởng lợi của chương trình này sang cho các đối tượng của chương trình khác Ví dụ: chương trình trợ giá cho nông dân bảo hiểm rủi ro do giá cả không ổn định đã làm tăng thu nhập của người nông dân Đây là một chính sách nhằm chuyển lợi ích từ các đối tượng khác (chủ yếu là từ những người tiêu dùng) ở khu vực thành phố sang cho người nông dân Mặc dù như chúng ta đã biết chính sách giá sàn nếu xét riêng dưới góc độ kinh tế sẽ tạo ra sự mất trắng của xã hội ở đây có sự đánh đổi giữa
sự công bằng của xã hội và hiệu quả kinh tế trong sử dụng các nguồn lực
Có những sự phối hợp sản xuất có thể được tiến hành giữa các hãng, công ty tư nhân
mà không cần tới Chính phủ Nhưng, cũng có nhiều trường hợp cần phối hợp trên quy mô lớn, đặc biệt ở các nước đang phát triển và việc này đòi hỏi một kế hoạch quy mô của Chính phủ Ví dụ: Để tái thiết những khu vực lớn của thành phố, đòi hỏi phải có sự phối
hợp giữa các nhà máy, các nhà buôn lẻ, các chủ nhà cho thuê, các doanh nghiệp như vậy
Chính phủ phải là người hoạch định và tổ chức thực hiện chương trình này
g) Thất nghiệp, lạm phát và sự mất cân bằng
Có thể nói thất nghiệp là một trong những triệu chứng rõ ràng nhất về thất bại của
một nền kinh tế thị trường Những vấn đề nảy sinh từ nạn thất nghiệp, lạm phát rất phức tạp mà môn học Kinh tế vĩ mô có thể làm rõ thêm Trong nội dung giáo trình Kinh tế công cộng, chúng tôi chỉ đề cập tới hậu quả thâm hụt ngân sách của Chính phủ và cố
Trang 19gắng nghiên cứu một số mô hình quan trọng mà các chính sách kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng đến xây dựng chính sách thuế (chương VI)
3 Phân phối lại và hàng hoá khuyến dụng, cơ sở điều hành của Chính phủ
Toàn bộ những nguyên nhân trên làm cho nền kinh tế thị trường vận hành một cách không hiệu quả và không đạt được hiệu quả Pareto Nhưng ngay cả khi nền kinh tế
đạt được hiệu quả Pareto thì cũng vẫn có hai nguyên nhân cơ bản là phân phối lại thu nhập và hàng hoá khuyến dụng làm cơ sở cho sự can thiệp của Chính phủ
3.1 Phân phối lại thu nhập
Thị trường cạnh tranh và hiệu quả Pareto chỉ nói về hiệu quả kinh tế chưa nói được
điều gì về phân phối thu nhập; thị trường cạnh tranh có thể gây ra sự phân phối không công bằng; nó có thể dành cho một số đông các nhóm người nghèo quá ít nguồn để họ
có thể sống Chúng ta có thể xem xét lại Hình 1.2, nếu hiệu quả Pareto đạt được tại điểm (1) thì cá nhân A được hưởng lợi quá nhiều và cá nhân B lại được hưởng quá ít Điều này
đòi hỏi Chính phủ phải can thiệp
3.2 Hàng hoá khuyến dụng
Một số hàng hoá gây nghiện có quy luật riêng trong tiêu dùng, khác với hàng hoá thông thường, hàng hoá gây nghiện thường làm cho người tiêu dùng sau khi sử dụng chúng sẽ có đường hữu dụng biên MU tăng dần chứ không giảm dần nếu sử dụng nhiều như hàng hoá thông thường Mọi người vẫn hút thuốc lá, thuốc phiện, không đội mũ bảo hiểm, không thắt dây an toàn khi đi ra đường; mặc dù họ biết điều đó là không có lợi cho chính bản thân họ và cộng đồng Những hàng hoá mà Chính phủ bắt buộc mọi người phải sử dụng như thắt dây an toàn, giáo dục cơ sở, không hút thuốc, đội mũ bảo hiểm khi đi ra đường được gọi là hàng hoá khuyến dụng
Một số lập luận cho rằng, Chính phủ không thể hiểu được sự hữu dụng của mỗi cá nhân bằng chính bản thân họ Nhưng chúng ta biết rằng, hút thuốc, không đeo dây an toàn, say rượu khi đi xe vv không những ảnh hưởng tới chính bản thân họ mà còn làm thiệt hại cho những người xung quanh khi xảy ra tai nạn, điều này sẽ gây thiệt hại cho không những chính bản thân họ mà còn gây thiệt hại lớn cho xã hội (chi phí ngoại ứng tiêu cực) Nhằm hạn chế những trường hợp này xảy ra, làm hao phí tài nguyên vật lực của quốc gia, Chính phủ phải là người can thiệp vào khu vực này
4 Hai phương pháp đánh giá về vai trò của Chính phủ
4.1 Phân tích chuẩn tắc
Hai định lý kinh tế cơ bản khẳng định: Khi không có các thất bại của thị trường (độc quyền, HHCC, sai lệch thông tin, các yếu tố ngoại ứng, thất nghiệp và lạm phát, thị trường không hoàn hảo ) và không có hàng hoá khuyến dụng thì tất cả những gì Chính phủ cần phải làm là chăm lo phân phối thu nhập (các nguồn lực)
Trang 20Nếu có các thất bại của thị trường, tức là thị trường cạnh tranh không tạo ra được hiệu quả Pareto thì điều đó tạo ra cho Chính phủ một vai trò cần thiết với hai nguyên tắc quan trọng cần quan tâm như sau:
Thứ nhất, cần phải chỉ ra rằng có một cách thức nào đó có thể can thiệp vào thị trường làm cho ít nhất một người hoặc mọi người cùng có lợi mà không làm cho ai bị
thiệt thòi “Cải thiện Pareto”
Thứ hai, cần phải chỉ ra rằng khi cố gắng can thiệp và sửa chữa các khuyết điểm của thị trường cạnh tranh thì các quá trình chính trị và cơ cấu hành chính của xã hội sẽ không làm ảnh hưởng tới tiến trình cải thiện Pareto trên
Nhưng chúng ta cần nhớ rằng, các chương trình công cộng hoặc các chương trình nhằm giảm các thất bại của thị trường là do một quá trình chính trị phức tạp, chứ không phải do các chính phủ lý tưởng hoặc chuyên quyền, hoặc nhân từ nào đó đề ra Ngay cả khi chúng ta có một chính phủ lý tưởng với các chính khách có các hành vi trung thực thì các chương trình của chính phủ vẫn có thể bị thất bại; bản chất của chính chính phủ cho phép giải thích các thất bại của chính phủ
4.2 Phân tích thực chứng
Phương pháp phân tích về thất bại của thị trường đối với việc tìm hiểu vai trò của chính phủ, chủ yếu là phương pháp thông qua phân tích thực chứng Phân tích thực chứng mô tả hậu quả của các chương trình của chính phủ và bản chất của các quá trình chính trị đó một cách hiện thực
Kết hợp phương pháp phân tích chuẩn tắc và phương pháp phân tích thực chứng cho phép chúng ta đánh giá được vai trò của chính phủ trong việc thực thi các nhiệm vụ cơ bản của mình
Tóm tắt chương II
1 Hiệu quả Pareto đòi hỏi phân bổ nguồn lực mà ở đó không thể có một cá nhân nào đó trong xã hội có lợi hơn mà không phải làm giảm lợi ích của bất kỳ cá nhân nào khác trong xã hội
2 Hiệu quả Pareto đòi hỏi 3 điều kiện cơ bản, hiệu quả trong sản xuất, hiệu quả trong tiêu dùng và hiệu quả hỗn hợp (MRSXY = MRTXY = Px/PY) Bất kỳ một chính sách nào làm sai lệch các điều kiện này sẽ gây ra phi hiệu quả trong nền kinh tế Hiệu quả Pareto có một hạn chế là chỉ nói được bằng cách nào làm to chiếc bánh của xã hội mà không đưa ra cách phân phối chiếc bánh đó công bằng cho xã hội
3 Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, thị trường đem lại phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả Khi những điều kiện của một thị trường cạnh tranh hoàn hảo không được
đảm bảo thì đó là cơ sở để chính phủ can thiệp vào thị trường
4 Các lý do sau đây giải thích tại sao cơ chế thị trường không đem lại phân bổ nguồn lực đạt hiệu quả Pareto: Các thất bại của thị trường (hàng hoá gây nghiện, thị
Trang 21trường ít người bán nhiều người mua ); hàng hoá công cộng; độc quyền; các yếu tố ngoại ứng; thông tin không hoàn hảo; thất nghiệp và lạm phát
5 Ngay cả khi thị trường đạt được hiệu quả Pareto thì vẫn có hai lý do cơ bản để chính phủ phải can thiệp vào đó là phân phối thu nhập và hàng hoá khuyến dụng
6 Không phải thất bại nào của thị trường cũng đòi hỏi chính phủ phải có được chính sách khả thi, các chương trình nhằm sửa chữa các thất bại của thị trường đòi hỏi phải được đánh giá nghiêm túc cần phải tính đến không chỉ các mục tiêu mà phải tính
đến các ảnh hưởng lâu dài của nó tới nền kinh tế
Câu hỏi thảo luận và ôn tập chương II
1 Nêu hai định lý cơ bản về kinh tế học phúc lợi?
2 Hiệu qủa Pareto của nên kinh tế thị trường đạt được trog điều kiện nào?
3 Hiệu quả Pareto có nói gì đến phân phối phúc lợi xã hội và sự công bằng trong nền kinh tế không?
4 Phân tích 4 thất bại truyền thông của nền kinh tế thị trường?
5 Các thị trường tư nhân thực hiện kém hiệu quả ở những lĩnh vực nào?
6 Nếu nền kinh tế không có các thất bại của thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì cơ sở điều hành của chính phủ là gì?
Trang 221.2 Chức năng
a) Chọn lựa chính sách công cộng giải quyết hài hoà giữa hiệu quả và công bằng
Chúng ta giả sử trong xã hội có hai người là A và B, tổng số thoả dụng của hai người có thể đạt được là 100 đơn vị, nhưng A có 90 đơn vị trong khi đó B chỉ có 10
đơn vị Giả sử chính phủ đưa ra một chương trình chuyển 30 đơn vị thoả dụng từ A sang B, như vậy B lúc này sẽ có 40 đơn vị thoả dụng, A có 45 đơn vị thoả dụng, 5
đơn vị thoả dụng bị mất đi do chi phí cho quá trình chuyển đổi Như vậy, chúng ta thấy đã có sự đánh đổi giữa hiệu quả và sự công bằng
Hình 1.3 Mô hình đánh đổi sự công bằng và hiệu quả
Trang 23Sự đánh đổi giữa công bằng và hiệu quả là điểm chủ yếu của nhiều cuộc tranh luận về chính sách công cộng Thứ nhất, để giảm mức độ mất công bằng thì chúng ta phải hy sinh mức độ hiệu quả của xã hội tới mức nào? Thứ hai, một số người cho rằng bất chấp hiệu quả xã hội nên tập trung giải quyết vấn đề bất công; một số khác lại cho rằng để giải quyết vấn đề công bằng không phải lo phân chia chiếc bánh như thế nào mà là làm cho chiếc bánh của xã hội tăng được kích cỡ càng nhanh càng tốt
“nước nổi lo chi bèo chẳng nổi”
Việc tối đa hoá hiệu quả thường được coi ngang với việc tối đa hoá giá trị thu nhập quốc dân (GNP): Một chương trình của chính phủ được coi là không hiệu quả nếu như nó làm giảm thu nhập quốc dân do không khuyến khích được công việc và
đầu tư Một chương trình được coi là có tác dụng tăng sự công bằng nếu như nó chuyển các nguồn lực từ người giàu hơn sang người nghèo Chúng ta cần chú ý ở đây
là hữu dụng biên (MU) của người nghèo thường lớn hơn hữu dụng biên của người giàu trên một đồng chi phí Vì vậy, khi chính phủ chuyển thu nhập của người giàu sang cho người nghèo ở một mức độ nào đó tổng hữu dụng của xã hội sẽ tăng lên Mặc dù việc làm đó có phải hy sinh dưới góc độ kinh tế
b) Phân phối thu nhập
Như chúng ta đã biết lý thuyết Pareto không đưa ra một chỉ dẫn nào liên quan tới phân phối thu nhập Nó thuần về làm sao sử dụng các nguồn lực về con người, nguồn lực tự nhiên một cách hiệu quả nhất, không quan tâm tới vấn đề đó có lợi cho các đối tượng nào trong xã hội “miễn là làm to chiếc bánh” Điều này làm cho GNP của các quốc gia được cải thiện, nhưng phân phối tổng GNP đó như thế nào?
Ai là người được nhiều nhất trong tổng GNP đó, ai là người được ít nhất trong tổng GNP thì lý thuyết Pareto không đề cập đến Hầu hết các chương trình của các chính phủ đều làm lợi cho một số người nhưng lại làm giảm lợi ích của một số người khác chủ yếu thông qua thuế Chúng ta có thể làm rõ thêm vấn đề này thông qua các mô hình sau:
• Hàm hữu dụng và mức hữu dụng cận biên
Những thay đổi do chính sách đem lại thường phức tạp Giả sử chính phủ phải tăng thuế để đạt được một chi tiêu công cộng nào đó ví dụ, làm một con đường nào
đó cho quốc gia Như vậy bản thân người dân phải làm việc vất vả hơn, thời gian nghỉ ngơi ít đi và tiêu dùng của anh ta sẽ ít đi do thu nhập bị đánh thuế Nhưng đổi lại, anh ta lại được hưởng lợi từ công trình công cộng trên (làm đường) đem lại Nếu các thay đổi này có xu hướng làm cho anh ta thích hơn có nghĩa là mức hữu dụng của anh ta tăng lên và nếu nhiều người trong xã hội cùng có mức hữu dụng tăng lên qua chính sách và chương trình trên có nghĩa là chương trình của chính phủ mang lại hiệu quả cho người dân và ngược lại
Trang 24Hình 2.3a Hàm hữu dụng và mức độ hữu dụng cận biên giảm dần
Hàm hữu dụng cận biên MU và hàm hữu dụng U cho thấy rằng khi chúng ta tăng
số lượng chuyển đổi hàng hoá cho một cá nhân nào đó thì mức thoả dụng biên của họ giảm dần Ngược lại, khi chúng ta lấy một loại hàng hoá đi từ một đối tượng nào đó để phân phối lại thì mức hữu dụng cận biên mất đi của anh ta ngày càng tăng lên Điều này cho thấy nguyên tắc chuyển đổi hàng hoá hay thu nhập giữa các đối tượng giàu, nghèo trong xã hội Chúng ta không thể chuyển đổi thu nhập với bất cứ số lượng nào
Các chương trình của chính phủ thường phức tạp hơn nhiều là đơn giản chuyển một lượng nguồn lực từ cá nhân này sang cá nhân khác Về nguyên tắc, tối đa hoá phúc lợi xã hội khi hữu dụng biên của toàn thể các cá nhân trong xã hội phải bằng nhau khi một chính sách được đưa ra, MUA = MUB = MUi
• Hiệu quả Pareto và nguyên tắc đền bù
Thông thường chính phủ cần dự tính một tập hợp những thay đổi có khả năng dẫn
tới sự “cải thiện Pareto” Ví dụ, nếu chính phủ xem xét loại bỏ hạn ngạch nhập khẩu thì
chính phủ phải có nghiên cứu xem bãi bỏ hạn ngạch hoặc thuế nhập khẩu tới mức nào để
đổi lấy giá ô tô giảm xuống Nếu số lượng mà chính phủ muốn hạn chế vượt quá mức lợi nhuận bị giảm đi của ngành lắp ráp ô tô trong nước, cũng như vượt quá thu nhập của công nhân ngành lắp ráp ô tô, thì về nguyên tắc, chúng ta thực thi việc bãi bỏ hạn ngạch kết hợp với mức đánh thuế thoả đáng vào người tiêu dùng, chúng ta có thể tạo ra được
một sự cải thiện Pareto Chúng ta có thể đền bù cho các nhà sản xuất ô tô do việc bị mất
Trang 25Nguyên tắc người được lợi có thể đền bù cho người bị thiệt hại do chính sách gây
ra được gọi là nguyên tắc đền bù. Nguyên tắc này ngầm cho thấy rằng, giá trị của một
đồng mà một cá nhân thu được sẽ đúng bằng giá trị của một đồng do người khác mất đi Nguyên tắc này cho rằng không nên phân phối lại nếu trong quá trình phân phối lại làm giảm tổng hiệu quả cho xã hội Nguyên tắc này cũng cho thấy một quan điểm nên làm to chiếc bánh cho xã hội bất kể chiếc bánh được phân phối như thế nào
Những người phê phán nguyên tắc đền bù cho rằng, chúng ta nên quan tâm tới việc tăng thêm 1.000 đồng cho người nghèo trong xã hội hơn là quan tâm tới việc mất đi hơn 1.000 đồng của người giàu trong xã hội ở đây đã sử dụng quy luật về hữu dụng biên của người nghèo và người giàu với một đồng chi phí
• Đường bàng quan của xã hội và vấn đề phân phối thu nhập
Nguyên tắc Pareto không cho phép đánh giá được phân phối thu nhập của xã hội Công cụ cơ bản để các nhà kinh tế sử dụng phân tích sự đánh đổi của người tiêu dùng
hai loại hàng hoá là đường bàng quan Đường bàng quan là đường biểu hiện tập hợp
hàng hoá mà một cá nhân bàng quan với chúng
Một cá nhân sẽ chọn lựa thế nào giữa sự tiêu dùng thịt và gạo, đương nhiên anh ta
sẽ chọn hỗn hợp cả thịt lẫn gạo chứ không chọn độc gạo hoặc thịt Trên một đường bàng quan đưa ra một loạt các chọn lựa khác nhau của cá nhân trên và đem lại những mức độ
hữu dụng bằng nhau Trên đường bàng quan U1 mức độ hữu dụng của cá nhân như nhau tương đương với mức độ hữu dụng mà 10kg thịt và 60kg gạo đưa đến cho anh ta Mặc dù các tổ hợp này có thể khác nhau, ví dụ, 5kg thịt 90kg gạo chẳng hạn
Độ hữu dụng trên đường bàng quan thứ 2 (U2) là lớn hơn độ hữu dụng trên đường bàng quan thứ nhất Như vậy nếu một cá nhân ở trên đường bàng quan cao hơn thì độ hữu dụng của anh ta sẽ cao hơn
U 2
U 1
Trang 26U của nhóm A
U của nhóm B
Hình 2.3c Đường bàng quan xã hội
Đường bàng quan của xã hội là tập hợp các độ hữu dụng (U) của nhóm cá nhân A
và nhóm cá nhân B Xã hội sẵn sàng đánh đổi giảm độ hữu dụng của một nhóm cá nhân này để tăng độ hữu dụng của một nhóm cá nhân khác tăng lên
Những điểm trên đường bàng quan W2 của xã hội mang lại mức phúc lợi xã hội cao hơn so với những điểm trên đường bàng quan W1 của xã hội Như vậy, việc dịch chuyển trên cùng một đường bàng quan chỉ là chuyển đổi phúc lợi từ nhóm cá nhân này trong xã hội sang một nhóm cá nhân khác trong xã hội, hiện tượng này không có sự “cải thiện Pareto” Nhưng nếu chính sách làm được một sự chuyển dịch từ đường bàng quan xã hội W1 lên bất
cứ đường bàng quan nào cao hơn, ví dụ, W2, đây đã có sự cải thiện Pareto Còn việc điểm đó nằm chỗ nào trên đường bàng quan W2 thì đó là vấn đề phân phối thu nhập của xã hội Khác với nguyên tắc Pareto, hàm phúc lợi xã hội là nền tảng cho việc bố trí bất cứ
kế hoạch phân bổ nguồn lực nào và dựa vào hàm đó chúng ta có thể nói rằng trường hợp này, chính sách này tốt hơn chính sách kia nếu mọi người ít ra là đều được lợi, hoặc ít ra
là một số người được lợi trong khi đó không có ai bị thiệt Nhưng việc xác định hàm phúc lợi xã hội như thế nào là một vấn đề cần phải nghiên cứu giải quyết
2 Lựa chọn của xã hội
2.1 Lựa chọn của xã hội trên lý thuyết
Hình 2.3 Các giả thiết khác nhau về sự lựa chọn của xã hội
Trang 27Trong hình 2.3, việc dịch chuyển từ điểm A đến điểm C sẽ làm cho cá nhân B trong xã hội được lợi mà cá nhân A trong xã hội bị thiệt Tổng mức hữu dụng của xã hội
là không thay đổi Dịch chuyển này không thể gọi là cải thiện Pareto Điều rõ ràng nhất trong mô hình trên là, điểm E là điểm không hiệu quả và không phải là mục đích của các chương trình, chính sách của chính phủ Ngược lại điểm B sẽ là mục tiêu của sự lựa chọn của xã hội, là mục tiêu cơ bản của một chính phủ tốt
2.2 Lựa chọn của xã hội trong thực tế
Về mặt lý thuyết chúng ta biểu diễn tổng mức hữu dụng của xã hội theo các đường hữu dụng Nhưng trong thực tế, các quan chức chính phủ không đi tìm những đường khả năng hữu dụng và cũng không mô tả các hàm phúc lợi của xã hội Họ cố gắng xác định ảnh hưởng của những chương trình được đưa ra cho các nhóm cộng đồng dân cư khác nhau và các ảnh hưởng này thường được quy lại các ảnh hưởng về hiệu quả và sự công bằng
Ví dụ, một hệ thống thuế càng có tác dụng bao nhiêu về mặt phân phối lại thu nhập thì càng tỏ ra không hiệu quả bấy nhiêu Những hệ thống thuế này đặt nền kinh tế xuống dưới các đường khả năng hữu dụng và trong những trường hợp này có thể cải tiến
hệ thống thuế làm tăng cả công bằng lẫn hiệu quả
2.3 Thuyết hữu dụng và thuyết Rawls
* Thuyết hữu dụng
Hình 4.3 Thuyết hữu dụng với quan điểm hữu dụng biên không thay đổi
Hình 5.3 Thuyết hữu dụng với quan điểm hữu dụng biên giảm dần
Trang 28Hình 6.3 Thuyết hữu dụng theo thuyết Rawls
John Rawls (Đại học Harvard) cho rằng, phúc lợi của xã hội chỉ phụ thuộc vào phúc lợi của những người nghèo khổ nhất; xã hội sẽ tốt hơn nếu chính phủ cải thiện được phúc lợi của những người nghèo đó Theo Rawls, không có một mức tăng nào về phúc lợi của người giàu có thể bù đắp cho xã hội khi phúc lợi của người nghèo bị giảm sút
Theo hình 6.3, nếu tăng độ hữu dụng cho nhóm A, đồng thời giữ cho độ hữu dụng của nhóm B không đổi thì chúng ta vẫn ở trên một đường hữu dụng như nhau của xã hội; nghĩa là xã hội không giàu lên Nó không sẵn lòng bỏ bớt độ hữu dụng của nhóm B cho nhóm A có thêm độ hữu dụng
Nếu lúc đầu cả hai nhóm đều có độ hữu dụng như nhau thì phúc lợi của xã hội chỉ tăng khi phúc lợi của hai nhóm A & B cùng được tăng lên; và mức tăng chỉ bằng với mức tăng nhỏ nhất của bất cứ nhóm nào
2.4 So sánh các hàm phúc lợi của xã hội theo thuyết hữu dụng và thuyết Rawls
Thuyết hữu dụng cho rằng, nếu chúng ta có thể chuyển một cách không tốn kém các nguồn lợi từ một cá nhân này sang một cá nhân khác, thì hy vọng chúng ta sẽ cân bằng được độ hữu dụng cận biên Tức là, nếu MUnghèo của 1 đồng > MUgiàu , thì khi chuyển một (1) đồng từ người giàu sang người nghèo, tổng mức độ hữu dụng của xã hội
sẽ tăng lên
Thuyết Rawls cho rằng chúng ta bằng mọi giá chuyển nguồn lực từ người giàu sang người nghèo tới khi làm cho người nghèo giàu lên; không chú ý tới tổn phí mà người giàu phải chịu
2.5 Đánh giá các thay đổi của chính sách
Do có nhiều thay đổi chính sách dẫn tới việc một nhóm này giàu lên bằng mồ hôi nước mắt của một nhóm nào đó, cho nên chúng ta cần đặt câu hỏi là: Liệu chúng ta có sẵn lòng chấp thuận sự giảm sút phúc lợi của một nhóm tới mức nào để đổi lấy sự gia tăng phúc lợi của một nhóm khác?
Khi đánh giá các chính sách được lựa chọn, các nhà kinh tế đặc biệt quan tâm tới hậu quả kinh tế
UA
UB
Đường U theo Rawls
Trang 29Khoản mất trắng do thuế
Thuế bị phê phán là làm giảm nhiệt tình lao động, độc quyền thì hạn chế sản xuất
và đẩy giá lên cao Để đo lường mức phi hiệu quả tính bằng tiền, các nhà kinh tế đặt ra câu hỏi “Liệu một cá nhân sẽ sẵn lòng chi ra bao nhiêu để loại trừ được sự phi hiệu quả”
Hình 7.3 Đo lường mức phi hiệu quả do thuế
Tam giác abc gọi là lượng mất trắng của xã hội do thuế (tam giác Harberger - Đại học Chicago) Người ta thường sử dụng các tam giác như vậy để đo mức phi hiệu quả của việc đánh thuế, độc quyền đã làm méo mó giá cả, chi phí của xã hội
Lượng cầu sụt vì hai nguyên nhân: Thứ nhất, khi giá tăng người tiêu dùng sẽ thay thế bằng hàng hoá khác (ảnh hưởng thay thế đến cầu) Thứ hai, khi giá tăng làm cho thu
nhập của người tiêu dùng giảm (ảnh hưởng của thu nhập)
Tóm tắt chương III
1 Kinh tế học chuẩn tắc quan tâm đến các tiêu chuẩn để đánh giá chính sách kinh
tế được chính phủ chọn lựa và thực thi Hai tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá đó là vấn đề hiệu quả và vấn đề công bằng xã hội
2 Nguyên tắc đền bù là một tiêu chuẩn cho các quyết định chính sách mà trong những tình huống đó làm cho một số cá nhân được lợi và một số cá nhân bị thiệt (không
là sự cải thiện Pareto)
3 Hàm phúc lợi xã hội là một công cụ cho việc phân tích chính sách Độ hữu dụng biên cho phép khẳng định sự tăng độ hữu dụng của cá nhân này và giảm độ hữu dụng của một cá nhân khác Hàm phúc lợi của xã hội là tổng độ hữu dụng của các cá nhân trong xã hội
4 Theo thuyết Rawls, phúc lợi của xã hội bằng độ hữu dụng của người chịu thiệt thòi nhất trong xã hội
5 Các loại thuế đều gây ra sự thay đổi ứng xử của con người và tạo ra sự mất trắng của xã hội, trừ thuế khoán và thuế đánh đúng bằng chi phí ngoại ứng tiêu cực
Trang 30Câu hỏi thảo luận và ôn tập chương III
1 Tại sao nói chính sách công cộng là sự đánh đổi giữa hiệu quả và sự công bằng?
2 Phân tích hiệu quả Pareto và nguyên tắc đền bù?
3 Lựa chọn của xã hội trên thực tế khác lựa chọn của xã hội trên lý thuyết ở những điểm nào?
4 So sánh hai quan điểm về phúc lợi xã hội theo thuyết hữu dụng và thuyết Rawls?
5 Chính sách thuế có phải lúc nào cũng ưu việt không? Vì sao thuế tạo sự mất trắng cho xã hội?
Trang 31Chương IV
Lý thuyết về chi tiêu công cộng
1 Hàng hoá công cộng và hàng hoá tư nhân do công cộng cung cấp
Trong phần này chúng ta sẽ giải quyết các câu hỏi: Hàng hoá công cộng là gì và chúng có các đặc điểm gì khác với hàng hoá tư nhân thông thường? Cung hàng hoá công cộng thế nào là hiệu quả và đủ mức? Mức độ hiệu quả phụ thuộc vào những cân nhắc phân phối hay hệ thống thuế? Và được sử dụng cho HHCC ở mức độ nào?
1.1 Đặc điểm của hàng hoá công cộng thuần tuý
Hàng hoá công cộng có hai đặc tính quan trọng đó là: thứ nhất, không thể phân bổ
theo khẩu phần để sử dụng; thứ hai, người ta không muốn sử dụng nó theo khẩu phần
Bởi vì, khi phân bổ theo khẩu phần để sử dụng, chi phí sẽ rất tốn kém đôi khi có một số hàng hoá công cộng không thể phân bổ để sử dụng theo khẩu phần được (ví dụ: đèn
đường, quốc phòng an ninh )
Ngoài ra, HHCC còn có một số đặc điểm khác nữa là: không thể loại trừ và không
có tính chất cạnh tranh trong sử dụng. Chính vì đặc điểm không thể loại trừ của hàng hoá công cộng và không cạnh tranh trong quá trình sử dụng mà hàng hoá công cộng thường bị sử dụng một cách lãng phí, không hiệu quả và gây ô nhiễm môi trường Mặc
dù vậy, cần nhớ rằng trong những trường hợp chi phí biên cho người sử dụng thêm bằng zero (MC=0) thì việc quản lý hàng hoá công cộng đó nên để cho chính phủ làm, điều này sẽ có lợi cho người tiêu dùng và xã hội hơn là để cho tư nhân làm (chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ nội dụng này trong phần sau)
a) Những HHCC không thể phân theo khẩu phần
Việc không thể thực hiện phân khẩu phần bằng hệ thống giá cả, điều này có nghĩa rằng thị trường cạnh tranh không thể hoạt động, hoặc không hoạt động có hiệu quả để tạo ra hiệu quả Pareto Đối với các loại hàng hoá dịch vụ này, chúng ta không thể sử dụng nguyên lý vi mô hay vĩ mô cho một thị trường cạnh tranh hoàn hảo để quản lý và khai thác
An ninh quốc phòng là một loại hàng hoá dịch vụ như vậy, không có một cách gì
để loại trừ ai đó không được hưởng lợi ích này Lợi ích của các chương trình sức khỏe quốc gia (ví dụ, chương trình tiêm chủng chống bại liệt) Chúng ta có thể loại trừ một ai
đó trong xã hội trong chương trình này, nhưng chi phí loại trừ rất tốn kém, khi mà chi phí loại trừ hoặc quản lý tốn kém hơn nhiều so với chi phí biên để sản xuất ra nó thì về nguyên tắc kinh tế không nên quan tâm đến việc loại trừ, hoặc quản lý nó
Ví dụ, đối với quốc phòng liệu các hãng tư nhân có thể cung cấp được không? Để làm được điều này các hãng tư nhân phải thu tiền cung cấp dịch vụ quốc phòng Nhưng
có một điều khó ở đây là, các cá nhân trong cộng đồng cho rằng mình sẽ được lợi bất kể
Trang 32mình có đóng góp hay không Nên anh ta sẽ không tự nguyện trả tiền cho dịch vụ đó (vấn đề ăn không) Chính vì vậy, mọi người phải hỗ trợ hàng hoá này thông qua việc
nộp thuế
Ví dụ 2, vấn đề phòng chống lại dịch bệnh SAR, những người bị và tiêm phòng chống bệnh này có thể chi phí lớn hơn so với lợi ích mang lại cho cá nhân, nhưng phần lớn HHCC là giảm khả năng mắc bệnh của cộng đồng Trong trường hợp này những người không phải tiêm phòng cũng được lợi từ chương trình tiêm phòng của chính phủ Chi phí loại trừ và tổ chức loại trừ trong trường hợp này gần như không thể
Trong nhiều trường hợp, chi phí cá nhân MCi > MBi nhưng lợi ích của xã hội ∑MB cộng đồng > ∑MC cá nhân rất nhiều
Ví dụ 3, khi có trường hợp hoả hoạn tại một khu dân cư nào đó, cơ quan chống hoả hoạn đã phải tiến hành dập cháy thậm trí những gia đình không đóng bảo hiểm hoả hoạn, nhưng vì lợi ích của cộng đồng lớn hơn rất nhiều cho nên chính phủ phải làm như vậy ở đây xuất hiện vấn đề ăn không
Kết luận, để tránh vấn đề ăn không chính phủ yêu cầu mọi người đóng góp cho
các dịch vụ công cộng này thông qua việc đóng thuế
Hình 1.4 Đường giới hạn khả năng hữu dụng có và không có HHCC
của chính phủ
Đóng thuế để cung cấp HHCC là vì lợi ích của tất cả mọi người trong cộng đồng, mặc dù thuế sẽ làm giảm năng lực sản xuất của hãng và sức mua của người tiêu dùng Dù sao khi chính phủ cung cấp HHCC, thì mọi người đều có lợi hơn tại điểm C (hình 1.4) Nhưng chú ý một điều, đôi khi một nhóm người có ảnh hưởng trong chính phủ lợi dụng kéo các nguồn lực từ nhóm khác về, trong thực tế là tại điểm B Tức là nhóm A sẽ có lợi rất nhiều, trong khi đó nhóm B lại bị bất lợi Ví dụ, đầu tư xây dựng đường cho một khu vực dân cư nào đó, khi một nhóm người có ảnh hưởng cố tình lái con đường đi qua khu vực dân cư mình cư trú, điều này sẽ mang lại lợi ích cho bản thân và gia đình họ
UA
UB
Đường U không có sự cung cấp HHCC của chính phủ
Đường U có cung cấp HHCC của chính phủ
B
A
C
Trang 33b) Những HHCC không muốn phân theo khẩu phần
Đặc điểm thứ hai của HHCC là không muốn, hoặc không thể loại trừ một ai: Đối với hàng hoá tư nhân, khi người này sử dụng sẽ loại trừ người kia không được sử dụng chính vì vậy mà khả năng loại trừ trong sử dụng của hàng hoá tư nhân là đương nhiên và không cần phải tổ chức loại trừ Đối với HHCC lượng sử dụng của cá nhân tăng thêm không làm giảm lượng tiêu dùng của người khác, MC của việc cung cấp hàng hoá cho thêm một người sử dụng bằng Zero Ví dụ, khi chính phủ chi phí cho bảo vệ quốc phòng thì sẽ không có chi phí biên khi sinh thêm một đứa trẻ, hoặc một người mới nhập cư từ nước khác đến nước ta Điều này hoàn toàn khác với hàng hoá tư nhân, có tính chất cạnh tranh và loại trừ
1.2 Đặc điểm của hàng hoá công cộng không thuần tuý
Quốc phòng và đèn biển là hai HHCC thuần tuý không muốn và không thể loại trừ
ai không được sử dụng Trong hàng hoá công cộng, không phải hàng hoá công cộng nào cũng có hai đặc điểm trên Chỉ có hàng hoá công cộng thuần tuý là mang hai đặc điểm
đặc trưng là không thể loại trừ và không cạnh tranh trong sử dụng
HHCC có thể loại trừ nhưng không muốn loại trừ, ví dụ, như con đường không có quá đông người qua lại Có thể đánh thuế đường, nhưng thuế đường làm giảm lượng người qua lại Một số HHCC khác có thể loại trừ nhưng tổ chức loại trừ lại rất tốn kém Mô hình sau đây liệt kê một số loại hàng hoá công cộng, hàng hoá tư nhân phân theo
đặc điểm loại trừ và chi phí loại trừ
Hình 2.4 Phân biệt HHCC thuần tuý và không thuần tuý
MC cao khi cung
cấp thêm cho một
cá nhân sử dụng Hàng hoá tư nhân do công cộng
cung cấp
Hàng hoá tư nhân thuần tuý
Đường vắng người Mong
muốn
loại trừ
Y tế công cộng và Quốc phòng
Đường
đông người Đèn biển
Hoả hoạn
Loại trừ rất tốn kém
Dễ dàng loại trừ
Loại trừ ít tốn kém
MC thấp khi thêm
một cá nhân sử
dụng
0
Trang 34Trục hoành phản ánh mức độ tăng của sự dễ dàng loại trừ, trục tung thể hiện mức tăng của chi phí biên khi có người sử dụng thêm
Góc trái là HHCC thuần tuý khi chi phí loại trừ rất tốn kém hoặc không thể có và chi phí cận biên thêm một người sử dụng bằng 0
Góc phải là HH thuần tư nhân, MC cao và dễ dàng loại trừ
Đường đông, đèn biển, hoả hoạn là những HHCC không thuần tuý, có nghĩa là chi phí loại trừ ít tốn kém (có thể dễ dàng loại trừ) nhưng chi phí biên sử dụng thêm một người là thấp
* Chú ý: Tính phi hiệu quả khi tư nhân cung cấp HHCC thuần tuý
Khi thêm một đối tượng sử dụng mà MC không tăng lên thì tư nhân cung cấp hàng hoá này sẽ không hiệu quả bằng chính phủ Bởi vì hàng hoá này không cần phân bổ theo khẩu phần, nhưng nếu HHCC này lại do một hãng tư nhân cung cấp, thì hãng đó phải thu phí sử dụng và việc thu phí sử dụng sẽ làm cho người ta sử dụng ít đi dẫn tới HHCC thuần tuý do tư nhân cung cấp sẽ được sử dụng dưới mức hiệu quả Điều này được mô tả thông qua mô hình tại hình 3.4
P
Lệ phí
Hình 3.4 Tư nhân cung cấp HHCC thuần tuý làm mất mát phúc lợi xã hội
Tại mức thu lệ phí bằng 0, có Qm lượt người đi lại Tại mức thu lệ phí, có Qu lượt người đi lại Do vậy, do thu lệ phí mà đã làm cho (Qm – Qu) lượt người không qua lại
Sự mất mát phúc lợi của người đầu tiên không đi là mức lệ phí và người cuối cùng là 0, tính bình quân là (lệ phí/2), chính vì vậy mà mất trắng của xã hội là diện tích tam giác EQuQm Nếu chiếc cầu này được chính phủ hoặc chính quyền địa phương cung cấp dịch
vụ thì sự mất mát của xã hội do tư nhân quản lý sẽ không xảy ra
Nhu cầu đi lại WTP
Khả năng của cây cầu
Số lượt qua cầu
Tổn thất phúc lợi
Số lượt không đi qua cầu do thu lệ phí
E
Trang 351.3 Hàng hoá có thể loại trừ nhưng tốn kém khi loại trừ
Thông thường, chi phí loại trừ (điều hành hệ thống giá) thường cao và rất cao đối với HHCC và thấp đối với HHTN
Nếu chi phí điều hành hệ thống giá là rất cao thì sẽ có hiệu quả hơn nếu nhà nước cung cấp hàng hoá và trang trải hàng hoá thông qua các nguồn thu thuế chung
Hình 4.4 Khi chi phí giao dịch lớn, chính phủ nên cung cấp HHCC
Giả sử MC = C, tuy nhiên để bán hàng hoá này phải có chi phí giao dịch (trong trường hợp này chi phí giao dịch rất lớn) và làm tăng giá đến P* Bây giờ, nếu chúng ta giả sử chính phủ cung cấp hàng hoá không phải trả tiền Việc làm này sẽ loại trừ chi phí giao dịch, xã hội sẽ tiết kiệm được toàn bộ phần CP*AB (chi phí giao dịch) Một phần lợi khác là khi nhà nước cung cấp loại hàng hoá này lượng tiêu dùng sẽ tăng lên từ QA
đến QE khi mà lợi ích cận biên của các cá nhân tiêu dùng MB cao hơn so với MC, khoản mất mát của xã hội do giá cao (P*) không còn nữa
Nhưng khi chính phủ cung cấp HHCC, người tiêu dùng sẽ sử dụng tới QF, tại đó MB
=0, từ QE tới QF lợi ích biên của người tiêu dùng MB < MC ⇒ mất mát của xã hội là EFQF
Kết luận:Để quyết định chính phủ có nên cung cấp HHCC có chi phí giao dịch cao hay không, cần phải tính toán cụ thể các khoản nếu: CP*AB +ABE EFQ F Mất mát do thuế > 0 ⇒ Chính phủ nên cung cấp & ngược lại nếu CP*AB +ABE EFQ F Mất mát do thuế < 0 Chính phủ không nên cung cấp loại dịch vụ, hàng hoá này mà để cho tư nhân làm sẽ có lợi cho xã hội hơn
1.4 Hàng hoá tư nhân do công cộng cung cấp
Hàng hoá công cộng cung cấp mà có chi phí biên (MC) lớn khi thêm một người
sử dụng được gọi là hàng hoá tư nhân (HHTN) công cộng cung cấp Ví dụ, giáo dục là
P
P*
C
Chi phí sản xuất
Trang 36loại HHTN do công cộng cung cấp Nhưng khi hàng hoá này được cung cấp tự do thì lại làm thiệt hại cho xã hội do MC > MB, trong khi đó người sử dụng sẽ sử dụng tới
điểm mà MB = 0 gây tổn thất cho xã hội Mức tổn thất thế nào đối với xã hội hoàn toàn phụ thuộc và độ co dãn của đường cầu (∑MBi), nếu độ co dãn của cầu với giá thấp thì mức thiệt hại không nhiều và ngược lại, độ co dãn của cầu với giá cao thì độ thiệt hại phúc lợi xã hội nhiều
C=MC
Hình 5.4 Hàng hóa tư nhân do công cộng cung cấp phụ thuộc độ co dãn của cầu
1.5 Những điều kiện về hiệu quả của hàng hoá công cộng
a) Điều kiện hiệu quả của HHCC
Vấn đề trung tâm là cung cấp HHCC nên ở mức nào là hiệu quả? Trong phần I của chương II, chúng ta đã nói về hiệu quả Pareto của hàng hoá cạnh tranh ngoài các tiêu chuẩn khác thì tỉ lệ thay thế biên giữa hai loại hàng hoá X và Y phải bằng tỉ lệ chuyển
đổi biên giữa hai loại hàng hoá đó (MRSXY = MRTXY)
Ngược lại, HHCC thuần tuý được cung cấp một cách có hiệu quả khi: Tổng các tỉ
P
P
Trang 37b) Đường cầu của hàng hoá công cộng
Các cá nhân không mua HHCC, nhưng họ phải đóng thuế cho việc cung cấp
HHCC Khoản trả thêm cho mỗi đơn vị HHCC là giá thuế của mỗi cá nhân Nếu ta giả
định rằng giá thuế của một cá nhân là p Như vậy, tổng số ngân sách mà cá nhân có thể chi tiêu vào HHTN & HHCC là:
C + p*G = I
Trong đó, C là chi tiêu của cá nhân cho HHTN, G là tổng lượng HHCC được cung cấp và I là thu nhập Chúng ta có thể hiểu rõ vấn đề này hơn thông qua mô hình sau:
Hình 6.4 Đường cầu về HHCC và sự thay đổi lượng cầu khi giảm thuế
Trang 38Dọc theo đường giới hạn ngân sách (SS1), các cá nhân có sự đánh đổi giữa số lượng HHCC & HHTN Cá nhân sẵn sàng bỏ ra một số HHTN nếu nhận thêm được HHCC Lượng HHTN bỏ để nhận thêm một đơn vị HHCC là tại điểm tỉ lệ thay thế biên giữa hai loại hàng hoá X (HHTN) và Y (HHCC) phải bằng tỉ lệ chuyển đổi biên giữa hai loại hàng hoá đó (MRSXY = MRTXY)
Độ hữu dụng cao nhất của các cá nhân là điểm tiếp xúc giữa đường hữu dụng và
đường ngân sách (điểm E1)
Khi chúng ta giảm giá thuế, đường ngân sách của cá nhân chuyển sang phải SS2 và
điểm ưa thích nhất của cá nhân chuyển sang E2, mức cầu của cá nhân về HHCC tăng lên rất nhiều
Bằng cách tăng, giảm giá thuế chúng ta có thể vẽ đường cầu về HHCC Đường cầu
về HHCC coi như đường “sẵn sàng trả cận biên”(marginal WTP) Tức là, tại mỗi mức
sản lượng HHCC, đường đó cho biết các nhân sẵn sàng trả biên (WTP) bao nhiêu để có thêm một đơn vị HHCC Chú ý: Giá thuế mà cá nhân đó phải trả chính bằng tỉ lệ thay thế biên MRS
c) Đường tổng cầu về HHCC
Hình 7.4 Tổng cầu HHCC
Tổng số theo chiều dọc của các đường cầu là đường tổng cầu, đó là tổng lượng mà tất cả các cá nhân sẵn sàng trả để có thêm một đơn vị HHCC Đó chính là tổng các lợi ích cận biên của các cá nhân ∑MBi
Trong thị trường cạnh tranh của HHTN, mọi người phải trả giá như nhau cho mỗi
đơn vị hàng hoá sử dụng, nhưng đối với HHCC, Chính phủ có thể định mức thuế (giá) khác nhau đối với mỗi đối tượng sử dụng có thể tuỳ theo thu nhập và mức đóng góp của từng đối tượng cho xã hội
Giá thuế
của A nộp
Giá thuế
Đường cầu HHCC của A
Đường tổng cầu
Đồng
Trang 391.6 Vai trò quan trọng của chính phủ với tư cách là HHCC
HHCC quan trọng nhất là sự quản lý của chính phủ Tất cả cộng đồng sẽ được lợi nếu chúng ta có một chính phủ tốt, hiệu quả và có phản ứng tốt hơn với các hiện tượng kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường Một chính phủ tốt là một loại HHCC thuần tuý có cả hai đặc điểm quan trọng đó là khó và không thể loại trừ một ai trong việc hưởng lợi từ chính phủ đem lại
Nếu chính phủ tốt hơn, quản lý hiệu quả hơn thì có thể giảm mức thuế mà vẫn không phải giảm mức cung cấp dịch vụ của chính phủ Điều này sẽ làm mọi người đều
có lợi
2 Lựa chọn công cộng
Cung HHTN do thị trường quyết định, nhưng cung HHCC thường do các quốc hội, hoặc chính phủ quyết định
2.1 Cơ chế tư nhân trong phân phối nguồn lực
Hệ thống giá cả trong nền kinh tế thị trường khuyến khích các hãng sản xuất và là cơ sở phân bổ hàng hoá đã được sản xuất cho người tiêu dùng Đây cũng là cơ sở để phân phối các nguồn lực trong hệ thống thị trường cạnh tranh và HHTN Điều này đã
được chúng ta nghiên cứu kỹ ở các lý thuyết kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo Cơ chế phân phối nguồn lực trong lý thuyết công cộng không phải do “bàn tay vô hình” điều hành mà thông qua ý kiến của quốc hội hoặc các quyết định của chính phủ hay các cơ quan chức năng của chính phủ tại trung ương hoặc địa phương
2.2 Cơ chế công cộng trong phân phối nguồn lực
Những cơ chế phân phối nguồn lực trong khu vực kinh tế công cộng hoàn toàn khác Các cử tri bầu ra các đại biểu, các đại biểu này lại bỏ phiếu cho một ngân sách công cộng và tiền sẽ do nhiều cơ quan hành chính chi tiêu
Khi một đại biểu quốc hội bỏ phiếu tán thành, là phản ánh quan điểm của các cử
tri, chứ không phải quan điểm của riêng ông ta Họ phải cân nhắc, một là, phải chắc chắn về các quan điểm cử tri của mình; hai là, bởi vì các quan điểm của các cử tri có thể
khác nhau cho nên ông ta phải cân nhắc kỹ để ra quyết định
Các cá nhân không thể có quyết định trực tiếp lượng, loại HHCC mà mình ưa thích như mua một loại HHTN nào đó Họ phải thể hiện ý thích thông qua các đại biểu Ngay cả khi ý thích của họ được thể hiện đúng thì việc tổng hợp các ý thích này để đưa ra một quyết định đúng cũng là một vấn đề đòi hỏi phải có sự cân nhắc
kỹ lưỡng
2.3 Biểu quyết theo đa số
Để quyết định đầu tư, chọn lựa một chi tiêu nào đó của chính phủ thường thông qua biểu quyết
Trang 40a) Người dân đóng thuế đánh giá lá phiếu của mình như thế nào
Lúc đầu do lợi ích biên của HHCC đem lại cho mỗi cá nhân là rất lớn, mức độ lợi ích này sẽ đạt tối đa tại điểm giao giữa hai đường MC & MB Vượt qua giao điểm này, lợi ích cận biên của HHCC đem lại cho mỗi cá nhân nhỏ hơn so với chi phí biên mà họ phải trả (MB < MC), hàm thoả dụng của cá nhân giảm dần do phải bỏ quá nhiều HHTN
để đóng thuế xây dựng HHCC
b) Nghịch lý của biểu quyết (không có người thắng rõ ràng)
Cơ chế công cộng phân phối nguồn lực dựa vào đa số biểu quyết Nhưng nguyên tắc này không hoàn thiện và có nghịch lý trong vấn đề biểu quyết Hạn chế của biểu quyết theo đa số, là khả năng không có một sự cân bằng Condorcet một nhà triết học Pháp đã chứng minh thông qua ví dụ sau: Giả sử ta có 3 cử tri và 3 phương án A, B và C
MC
MB
Chi tiêu của chính phủ
Chi tiêu của chính phủ