1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lí luận giá trị lao động của c mac là lí luận hoàn chỉnh, khoa học nhất ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này

64 2,4K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 80,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. LỜI MỞ ĐẦU Trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người đều có những hiểu biết và cách giải thích các hiện tượng kinh tế xă hội nhất định. Việc giải thích các hiện tượng kinh tế xã hội ngày càng trở nên hết sức cần thiết đối với đời sống kinh tế của xă hội loài người. Mặt khác, các trường phái lí luận qua các giai đoạn lịch sử khác nhau mang tính kế thừa, phát triển, cũng như¬ phê phán có tính lịch sử của các trường phái kinh tế học. Chủ nghĩa trọng thương (thế kỷ XVXVII) là lí luận đầu tiên nghiên cứu về phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa. Trong thời kỳ này, tư bản thương nghiệp chiếm địa vị thống trị, vì vậy trọng tâm chủ yếu của Chủ nghĩa trọng thương là lĩnh vực lưu thông và phương pháp nghiên cứu là sự khái quát có tính chất kinh nghiệm, những hiện tượng bề ngoài của đời sống kinh tế xã hội. Sự phát triển của Chủ nghĩa tư bản làm cho những luận điểm của Chủ nghĩa trọng thương trở nên lỗi thời, nhường chỗ cho sự ra đời của Chủ nghĩa trọng nông. Chủ nghĩa trọng nông đă chuyển lĩnh vực nghiên cứu từ lưu thông đi vào sản xuất, đây là một tư duy kinh tế đúng đắn. Tuy nhiên, lí luận của Chủ nghĩa trọng nông cũng còn nhiều hạn chế, họ coi sản xuất chỉ là sản xuất trong nông nghiệp, họ hiểu sai về lao động sản xuất và chưa có một quan niệm đúng đắn về giá trị. Nền kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ, các vấn đề kinh tế đòi hỏi phải được nghiên cứu tỷ mỉ, chu đáo và khoa học hơn. Do đó lí luận kinh tế chính trị tư sản cổ điển xuất hiện, các đại biểu tiêu biểu của trường phái này là: W. Petty, A. Smith và D. Ricardo. Điểm sáng của trường phái kinh tế chính trị cổ điển Anh đó chính là học thuyết về giá trị lao động, đây có thể cao là đỉnh cao lí luận của kinh tế chính trị tư sản cổ điển. Giữa thế kỷ XIX, trên cơ sở những thành tựu của kinh tế, áp dụng Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử vào nghiên cứu kinh tế, Mác và Ănghen đă làm một cuộc cách mạng trong lịch sử các học thuyết kinh tế, khác về cơ bản trên các phương diện: đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nội dung, tính giai cấp...học thuyết của C. Mác ra đời là sự kế thừa và phát triển những học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học. Học thuyết kinh tế của C.Mác là sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng, trong đó có học thuyết về giá trị lao động. C. Mác đã nêu lên những mặt tiến bộ, đồng thời cũng vạch rõ những khuyết tật và mâu thuẫn của Chủ nghĩa tư bản. Ông cũng khẳng định phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa tất yếu sẽ bị thay thế bởi phương thức sản xuất mới cao hơn, tiết bộ hơn, đó là phương thức sản xuất Cộng sản chủ nghĩa. Đặc biệt trong đó, những lí luận về giá trị lao động là một trong nhưng học thuyết hoàn chỉnh và khoa học nhất của C.Mác, góp phần không nhỏ đưa những học thuyết kinh tế của C.Mác đặt đến đỉnh cao trong khoa kinh tế chính trị.

Trang 1

I LỜI MỞ ĐẦU 3

II.NỘI DUNG 5

1 Lí do chọn đề tài 5

2 Mục đích,đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 5

2.1 Mục đích nghiên cứu 5

2.2 Đối tượng nghiên cứu 6

2.3 Phạm vi nghiên cứu 6

2.4 Phương pháp nghiên cứu 6

3 Lí luận giá trị - lao động của một số nhà kinh tế tư sản cổ điển 6

3.1 Những lí luận ban đầu về giá trị - lao động của William Petty 6

3.2 Sự phát triển lí luận giá trị-lao động Adam Smith 8

3.3 Sự bổ sung về lí luận giá trị - lao động của David Ricardo 13

4 Lí luận của C.Mác về học thuyết giá trị - lao động 18

4.1 Sơ lược về học thuyết giá trị lao động của C.Mac trong quyển I ‘’Tư Bản” 19

4.2.Lý luận giá trị - lao động của C.Mác là lý luận hoàn chỉnh nhất, khoa học nhất 39

4.3 C Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất ra hàng hoá 41

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu lí luận giá trị lao động 42

5.1 Nhận thức đúng đắn lý luận giá trị - lao động và vai trò của nó trong phát triển kinh tế thị trường 43 5.2 Cần chú trọng đến cả hai mặt giá trị sử dụng và

Trang 2

giá trị của hàng hóa trong sản xuất hàng hóa 45 5.3 Phải tiết kiệm cả lao động sống và lao động quá khứ

trong sản xuất hàng hóa 46 5.4 Trong phát triển kinh tế thị trường phải tôn trọng

quy luật giá trị và các quy luật kinh tế khách quan 47 5.5 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, đẩy mạnh cơ

chế quản lý, phát triển kinh tế thị trường 47 5.6 Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao

hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước 48

III KẾT LUẬN 51

IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 3

I LỜI MỞ ĐẦU

Trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người đều có nhữnghiểu biết và cách giải thích các hiện tượng kinh tế - xă hội nhất định Việc giảithích các hiện tượng kinh tế - xã hội ngày càng trở nên hết sức cần thiết đối vớiđời sống kinh tế của xă hội loài người Mặt khác, các trường phái lí luận quacác giai đoạn lịch sử khác nhau mang tính kế thừa, phát triển, cũng như phêphán có tính lịch sử của các trường phái kinh tế học

Chủ nghĩa trọng thương (thế kỷ XV-XVII) là lí luận đầu tiên nghiên cứu

về phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa Trong thời kỳ này, tư bản thươngnghiệp chiếm địa vị thống trị, vì vậy trọng tâm chủ yếu của Chủ nghĩa trọngthương là lĩnh vực lưu thông và phương pháp nghiên cứu là sự khái quát có tínhchất kinh nghiệm, những hiện tượng bề ngoài của đời sống kinh tế xã hội Sựphát triển của Chủ nghĩa tư bản làm cho những luận điểm của Chủ nghĩa trọngthương trở nên lỗi thời, nhường chỗ cho sự ra đời của Chủ nghĩa trọng nông.Chủ nghĩa trọng nông đă chuyển lĩnh vực nghiên cứu từ lưu thông đi vào sảnxuất, đây là một tư duy kinh tế đúng đắn Tuy nhiên, lí luận của Chủ nghĩatrọng nông cũng còn nhiều hạn chế, họ coi sản xuất chỉ là sản xuất trong nôngnghiệp, họ hiểu sai về lao động sản xuất và chưa có một quan niệm đúng đắn vềgiá trị

Nền kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ, các vấn đềkinh tế đòi hỏi phải được nghiên cứu tỷ mỉ, chu đáo và khoa học hơn Do đó líluận kinh tế chính trị tư sản cổ điển xuất hiện, các đại biểu tiêu biểu của trườngphái này là: W Petty, A Smith và D Ricardo Điểm sáng của trường phái kinh

Trang 4

tế chính trị cổ điển Anh đó chính là học thuyết về giá trị - lao động, đây có thểcao là đỉnh cao lí luận của kinh tế chính trị tư sản cổ điển.

Giữa thế kỷ XIX, trên cơ sở những thành tựu của kinh tế, áp dụng Chủnghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử vào nghiên cứu kinh tế,Mác và Ănghen đă làm một cuộc cách mạng trong lịch sử các học thuyết kinh

tế, khác về cơ bản trên các phương diện: đối tượng nghiên cứu, phương phápnghiên cứu, nội dung, tính giai cấp học thuyết của C Mác ra đời là sự kế thừa

và phát triển những học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học,kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học

Học thuyết kinh tế của C.Mác là sự thống nhất giữa tính khoa học và tínhcách mạng, trong đó có học thuyết về giá trị lao động C Mác đã nêu lên nhữngmặt tiến bộ, đồng thời cũng vạch rõ những khuyết tật và mâu thuẫn của Chủnghĩa tư bản Ông cũng khẳng định phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa tấtyếu sẽ bị thay thế bởi phương thức sản xuất mới cao hơn, tiết bộ hơn, đó làphương thức sản xuất Cộng sản chủ nghĩa Đặc biệt trong đó, những lí luận vềgiá trị - lao động là một trong nhưng học thuyết hoàn chỉnh và khoa học nhấtcủa C.Mác, góp phần không nhỏ đưa những học thuyết kinh tế của C.Mác đặtđến đỉnh cao trong khoa kinh tế chính trị

Trang 5

I NỘI DUNG

1 Lí do chọn đề tài

Học thuyết kinh tế cho rằng giá trị hàng hoá là do lao động sản xuất rahàng hoá quyết định Người đặt nền móng đầu tiên cho học thuyết này là W.Petty và P Boisguilbert, rồi đến A Smith và V Ricardo, là những người đónggóp lớn vào học thuyết giá trị lao động Tuy vậy, phải qua nhiều thế kỉ trao đổihàng hoá, con người mới dần dần hiểu ra được thực thể của giá trị và nhận thứcđược quy luật giá trị Phải chờ đến C.Mác thì học thuyết giá trị lao động mớiphát triển đầy đủ Nhờ phát hiện được tính hai mặt của lao động mới khẳng địnhđược lao động nào tạo ra giá trị hàng hoá C.Mác đã phân tích nền kinh tế tưbản chủ nghĩa, khám phá ra giá trị sức lao động được xem là hàng hoá, quy luậtgiá trị thặng dư và hệ thống các quy luật kinh tế của chủ.Từ đó, ông đã đưa họcthuyết về giá trị - lao động đến sự hoàn thiện, trở thành một trong những họcthuyết hoàn chỉnh và khoa học nhất

Tại Việt Nam hiện nay, việc áp dụng linh hoạt những học thuyết của cácnhà kinh tế, đặc biệt là học thuyết giá trị lao động của C Mác và Ăng-ghencàng cần thiết hơn nữa trong bối cảnh chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trườngđịnh hướng Xã hội chủ nghĩa Chính vì vậy mà tôi lựa chọn đề tài “Lí luận giátrị -lao động của C.Mac là lí luận hoàn chỉnh, khoa học nhất.Ý nghĩa của việcnghiên cứu vấn đề này” làm đề tài cho tiểu luận môn học “Tác phẩm kinh điểnKinh tế chính trị - Phần kinh tế tư bản chủ nghĩa” của mình

2 Mục đích,đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 6

Làm rõ sự hoàn chỉnh về nội dung cũng như tính khoa học trong họcthuyết về giá trị - lao động của C.Mác và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đềnày đối với tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay Qua đó có thể áp dụng linhhoạt những học thuyết của các nhà kinh tế, đặc biệt là học thuyết giá trị laođộng của C Mác và Ăng-ghen vào nền kinh tế nước ta hiện nay.

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về học thuyết kinh tế của C.Mác là sự thống nhất giữa tínhkhoa học và tính cách mạng, trong đó có học thuyết về giá trị lao động Đặc biệttrong đó, những lí luận về giá trị - lao động là một trong nhưng học thuyết hoànchỉnh và khoa học nhất của C.Mác

2.3.Phạm vi nghiên cứu

Ctác phẩm kinh tế của C.Mác và các nhà kinh tế thuộc trường phái tư sản

cổ điển như W.Petty, A.Smith, D.Ricardo

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng kết hợp các phương pháp như logic, so sánh, tổng hợp, chứngminh, phân tích để làm rõ nội dung tiểu luận

3.Lí luận giá trị lao động của một số nhà kinh tế tư sản cổ điển

3.1 Những lí luận ban đầu về giá trị lao động của William Petty

Những thành tựu trong lí luận của W.Petty

Wiliam Petty ( 1623- 1687 ) sinh tại thành phố Romsi- miền nam nước

Anh, trong một gia đình sản xuất vải dạ Từ nhỏ đã tỏ ra thông minh Ông làngười đặt nền móng cho trường phái kinh tế chính trị cổ điển ở Anh, tác phẩmcủa ông được xuất bản trong những năm 60-70 của thế kỷ XVII

C.Mác cho rằng: “Chủ đề của kinh tế chính trị cổ điển” là W.Petty –người đưa ra nguyên lý giá trị - lao động, “xứng đáng là người thành lập ra kinh

Trang 7

tế chính trị tư sản cổ điển” W.Petty không trực tiếp trình bày lý luận giá trị,nhưng qua những luận điểm của ông về giá cả cho thấy ông là người đầu tiênđưa ra nguyên lý về giá trị lao động.

Theo W Petty giá trị hàng hóa là do lao động kết tinh Như vậy, đến đấyW.Petty đã khẳng định vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị hàng hóa.Với phát hiện này, ông đã đối lập hoàn toàn với học thuyết kinh tế trọngthương,vì họ cho rằng lưu thông tạo ra giá trị Đây là một cống hiến lớn của ông

so với tất cả các nhà kinh tế trước và đương thời với ông Với phát minh này W.Petty được coi là cha để của kinh tế chính trị học

Để tìm ra lí luận giá trị của hàng hóa, W Petty đã bắt đầu nghiên cứu vềgiá cả Theo ông có 3 loại giá cả là: giá cả tự nhiên, giá cả thị trường và giá cảchính trị

- Giá cả tự nhiên là giá cả vốn có, là giá cả có trước khi trao đổi đãnằm trong hàng hóa Giá cả tự nhiên là do thời gian lao động kết tinh tronghàng hóa và trong tiền tệ (vàng – bạc) tạo ra Do vậy, theo ông người ta trao đổihàng hóa lấy tiền tệ (vàng – bạc) thực chất là trao đổi lao động của nhau Vớiquan niệm này, W Petty đã tìm thấy cái chung trong hàng hóa đem trao đổi vớinhau, đó là thời gian lao động của con người Giá cả tự nhiên do hao phí laođộng quyết định và cho rằng năng suất lao động có ảnh hưởng đến mức hao phí

đó Khi xác định giá cả tự nhiên của hàng hóa, ông đem so sánh nó với lượnglao động hao phí để tạo ra bạc hay vàng Theo ông, nếu người ta có thể khaithác một ounce bạc và đưa nó từ mỏ Peru về LonDon với một số chi phí thờigian cần thiết để sản xuất ra một busel lúa mì, thì sản phẩm thứ nhất sẽ là giá cả

tự nhiên của sản phẩm thứ hai Ông nghiên cứu ảnh hưởng của năng suất laođộng đến giá trị của hàng hóa, cho rằng nếu tìm ra được mỏ giàu quặng hơn mà

Trang 8

người ta khia thác được 2 ounce bạc cũng dễ dàng như hiện nay người ta khaithác 1 ounce , thì với những điều kiện khác không thay đổi, 2 ounce bạc là giá

cả tự nhiên của 1 busel lúa mì Như vậy, giá cả tự nhiên (giá trị) của hàng hóa tỷ

lệ nghịch với năng suất lao động khai thác bạc hay vàng Nhận xét lý luận giá

cả tự nhiên, C.Mác cho rằng, W.Petty là người đầu tiên nêu định nghĩa về giátrị

- Giá cả nhân tạo hay là giá cả thị trường của hàng hóa phụ thuộcvào giá cả tự nhiên và cung cầu của hàng hóa

- Giá cả chính trị chịu sự tác động của các yếu tố chính trị đối vớilượng chi phí lao động để sản xuất ra hàng hóa, làm cho các chi phi này vượtlên cao hơn so với các chi phí lao động tự nhiên

Việc phân biệt ba loại giá cả nói trên thế hiện sự có của W Petty khi tìmhiểu bản chất và nguồn gốc thực sự của hàng hóa ở lao động sản xuất ra nó, màcác hình thức thể hiện bên ngoài thường che lấp đi Đồng thời, ông còn xác địnhmối quan hệ giữa giá trị hàng hóa với năng suất lao động Nếu năng suất laođộng tăng thì giá trị của hàng hóa giảm và ngược lại Ngoài ra, W.Petty còn đặtvấn đề nghiên cứu lao động giản đơn và lao động phức tạp nhưng không thànhcông

Những hạn chế trong lí luận của W.Petty

Tuy vậy lí luận giá trị lao động của W.Petty cũng còn nhưng hạn chế.Ông chưa phân biệt được lao động cụ thể với lao động trừu tượng, bởi vậy chưathể chỉ rõ được nguồn gốc của giá trị hàng hóa Ông cũng lẫn lộn giữa giá trị vàgiá trị trao đổi, giữa giá trị và giá trị sử dụng Ông tập trung nghiên cứu về giá

cả, một bên là hàng hóa, một bên là tiền tệ, tức là ông mới chú ý nghiên cứu vềmặt lượng Ông chỉ thừa nhận lao động khai thác vàng bạc mới là nguồn gốc

Trang 9

của giá trị, còn giá trị của hàng hóa chỉ được xác định nhờ quá trình trao đổitiền tệ Theo ông, giá trị của hàng hóa chính là sự phản ánh giá trị của tiền tệ,cũng như ánh sáng của mặt trăng là sự phản chiếu của ánh sáng mặt trời Đó làảnh hưởng tư tưởng của học thuyết kinh tế trọng thương.

W.Petty đưa ra luận điển nổi tiếng: “Lao động là cha của của cải, còn đấy

là mẹ của của cải” Luận điểm đó đúng nếu xem của cải là giá trị sử dụng, song

sẽ sai nếu hiểu lao động và tự nhiên là hai yếu tố tạo ra giá trị hay nguồn gốccủa giá trị Từ luận điểm này ông đã gặp sai lầm khi xác định lao động và đấtđai là cơ sở tự nhiên của giá cả mọi sản phẩm Ông đã tìm thước đo thống nhấtcủa giá trị - thước đo chung đối với tự nhiên là lao động, ông đưa ra luận điểm

“thước đo thông thường của giá trị là thức ăn trung bình hàng ngày của ngườilớn, chứ không phảo lao động hàng ngày của người đó” Ông coi giá trị của máinhà tranh ở Iceland là số lượng những khẩu phần mà người đó tiêu dùng trongkhi lập nên ngôi nhà đó Lập luận trên chứng tỏ ông chưa phân biệt rõ giá trị sửdụng với giá trị trao đổi, chưa biết đến tính chất xã hội của giá trị và chưa phânbiệt được lao động cụ thể và lao động trừu tượng

3.2 Sự phát triển lí luận giá trị-lao động Adam Smith

Adam Smith ( 1723-1790) sinh ra tại thị trấn Kircaldy, vùng Fife,

Scotland Ông là nhà kinh tế chính trị học và triết gia đạo đức học vĩ đại ngườiScotland, tác gỉa của bộ sách “tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải củacác quốc gia”, đã giúp tạo ra kinh tế học hiện đại và cung cấp một trong những

cơ sở nổi hợp lý tiếng nhất của thương mại tự do, chủ nghĩa tư bản, và chủnghĩa tự do Trong bộ sách trên, ông xác định kinh tế chính trị có hai nhiệm vụ,một là, phân tích thực tiễn khách quan nền kinh tế và giải thích tính quy luật

Trang 10

phát triển của nó.Hai là đưa ra những đề nghị cụ thể về chính sách kinh tế chonhà nước và doanh nghiệp.

So với W.Petty và trường phái trọng thương ông đã có những bước tiếnđáng kể Đó là sự trình bày và phân tích một cách có hệ thống sớm nhất về giátrị của kinh tế học tư sản cổ điển Lý luận về giá trị của Adam Smith chủ yếu

Thứ nhất là thước đo thật sự của giá trị trao đổi là gì, hay nói cách khác là cái gì

đã tạo ra giá trị thực sự của mọi thứ hàng hóa

Thứ hai là các bộ phận tạo nên giá trị thực sự rốt cuộc là cái gì Thứ ba là trường hợp nào đã khiến cho một bộ phận hay toàn bộ giá cả nói trên

có lúc cao hơn giá cả tự nhiên hoặc giá cả bình thường của chúng, có lúc lạithấp hơn giá cả tự nhiên hoặc giá cả bình thường của chúng.Giải đáp lý luận về ba vấn đề này là nội dung của lý luận về giá trị của ông.Trước khi nêu vấn đề và bắt đầu nghiên cứu lý luận giá trị, trước hết ông phânbiệt hai cách dùng của từ “giá trị”: Giá trị sử dụng và giá trị trao đổi Ông nói:

từ “giá trị có hai nghĩa khác nhau, có lúc nó biểu thị hiệu quả sử dụng như làmột vật phẩm đặc biệt, có lúc biểu thị sức mua do chỗ chiếm hữu một vật nào

đó mà nó có được đối với vật khác Cái trước gọi là giá trị sử dụng, cái sau gọi

là giá trị trao đổi Tiếp đó ông còn chứng minh rõ quan hệ giữa giá trị sử dụng

Những thứ có giá trị sử dụng rất lớn, thường có giá trị trao đổi cực nhỏ, thậmchí không có Ngược lại, những thứ có giá trị trao đổi rất lớn, thường có giá trị

sử dụng cực nhỏ, hoặc không có giá trị trao đổi Việc phân biệt rõ ràng hai kháiniệm giá trị sử dụng và giá trị trao đổi này đồng thời giải thích rõ là giá trị traođổi lớn hay nhỏ không có liên quan gì đến giá trị sử dụng, đó là công lao của

Trang 11

Adam Smith Nhưng ông cho rằng những thứ không có giá trị sử dụng có thể có

Khi xây dựng lý luận giá trị, trước hết ông giải quyết vấn đề “Thế nào là thước

đo thực sự của giá trị trao đổi” Ông cho rằng trao đổi hàng hóa chẳng qua làtrao đổi lượng giá trị lao động thể hiện trong hàng hóa đó Vì thế, giá trị trao đổicủa hàng hóa là do lao động quyết định Điều đó là hoàn toàn tự nhiên Laođộng là thước đo thực sự để xác định giá trị trao đổi của mọi loại hàng hóa.Việc xác nhận lao động quyết định giá trị của hàng hóa là công lao và thành tíchkhoa học của ông Nhưng ông không hiểu được tính chất xã hội của loại laođộng này Vì thế, khi đi sâu tìm hiểu thêm xem là lao động gì quyết định giá trịcủa hàng hóa, lao động xác định giá trị của hàng hóa như thế nào thì ông rơi vào

sự hỗn loạn Một mặt ông cho rằng lao động quyết định giá trị của hàng hóa làlao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa Lượng giá trị của hàng hóa tỷ lệthuận với lượng thời gian lao động hao phí trong sản xuất.Đồng thời ông còn nghiên cứu sự phân biệt giữa lao động đơn giản và lao độngphức tạp, ông cho rằng trong cùng một đơn vị thời gian, lao động phức tạp cóthể tạo ra giá trị nhiều hơn là lao động đơn giản Mặc khác ông lại giải thích laođộng là sự hi sinh, “yên vui, tự do và hạnh phúc” Đồng thời ông cho rằng, laođộng quyết định giá trị hàng hóa là lao động mua được hoặc có thể chi phốiđược hàng hàng hóa trong trao đổi Như vậy đã rơi vào suy luận lẫn quẫn dùnggiá trị quyết định giá trị Điều này hiển nhiên là sai lầm Ông đã lẫn lộn vấn đềgiá trị đã được quyết định như thế nào trong sản xuất và giá trị đã biểu hiện nhưthế nào trong trao đổi Khi giải đáp vấn đề “giá cả thật”, tức là giá trị do cái gìtạo nên, ông ý thức được rằng trong xã hội tư bản chủ nghĩa, lao động hao phí

để sản xuất ra hàng hóa có khối lượng ngang nhau Nhưng do chỗ ông chưa

Trang 12

phân biệt được lao động và sức lao động, vì vậy ông không thể giải thích laođộng (mà tư bản mua được trong điều kiện trao đổi ngang giá trên cơ sở lý luậngiá trị lao động) làm thế nào có thể đẻ ra lợi nhuận Thế là đã xa rời lý luận giátrị lao động, ông khẳng định rằng, quy luật giá trị chỉ thích hợp với “xã hộimông muội thời kỳ đầu”, mà giá trị không thích hợp với xã hội tư bản chủnghĩa Ông cho rằng trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giá trị hàng hóa không cònquyết định bởi lượng lao động hao phí trong sản xuất vừa do lượng lao độngmua được quyết định Lượng lao động mua được có thể phân tích thành ba loạithu nhập là tiền lương, lợi nhụận và địa tô Ngược lại cũng có thể nói lượng laođộng mua được là do ba loại thu nhập - tiền lương, lợi nhuận và địa tô tạothành Như vậy trên thực tế đã chuyển giá trị là do lao động quyết định sang giátrị quyết định bởi ba loại thu nhập Vì vậy, ông nói “tiền lương, lợi nhuận và địa

tô là ba nguồn gốc cơ bản của mọi thu nhập và mọi giá trị có thể trao đổi”.Quan điểm này của ông được các nhà kinh tế học tư sản sau đó phát triển thành

Ông cho rằng giá trị hàng hóa được chia thành ba loại thu nhập là sai lầm Ởđây ông lẫn lộn giá trị hàng hóa với giá trị mới sáng tạo của lao động.Vấn đề thứ ba trong lý luận giá trị của ông là nghiên cứu quy luật giá trị và tácdụng của nó Ông đã phân biệt giá cả thị trường và giá cả tự nhiên Giá cả tựnhiên là chỉ giá cả cấu tạo nên theo mức tự nhiên, tức là tiền lương, lợi nhuận

và địa tô chi trả theo mức bình quân Giá cả thực tế là chỉ giá cả sản xuất thốngnhất với giá trị Giá cả thị trường do sự thay đổi quan hệ cung cầu của hàng hóa,nên có lúc cao hơn có lúc thấp hơn giá cả tự nhiên, nhưng do tự do cạnh tranh,giá cả thị trường thường có xu thế tự nhiên nhất trí với giá cả tự nhiên Có thểthấy rằng, không những ông coi giá cả dao động xoay quanh giá trị là một hiện

Trang 13

tượng có tính quy luật, mà còn chứng minh rõ tác dụng điều tiết của quy luậtgiá trị đối với sản xuất hàng hoá Nhưng do chỗ không hiểu được mối liên hệnội tại giữa giá trị và giá cả, ông không giải thích được sự xa rời giá cả khỏi giátrị chính là hình thức tác dụng của quy luật giá trị

A.Smith cho rằng, giá trị trao đổi của hàng hóa được thể hiện trong tươngquan trao đổi giữa lượng hàng hóa này với lượng hàng hóa khác, cũng trong nềnkinh tế hàng hóa phát triển, nó được biểu hiện ở tiền Giá trị hàng hóa được thểhiện ở tiền là giá cả Tuy nhiên, giá trị của tiền lại thay đổi qua thời gian, nênông đã phân biệt gía cả danh nghĩa với giá cả thực tế

Theo ông, giá cả thực tế của lao động thể hiện bằng số lượng những thứcần dùng và tiện nghi trong đời sống do nó mang lại Giá cả danh nghĩa của laođộng được biểu hiện bằng lượng tiền Đây là một phát hiện để sau này được cácnhà kinh tế học đề nghị đưa vào tính toán sản phẩm quốc dân Giá cả thực tếchính là giá cả của một năm được chọn làm gốc; còn giá cả danh nghĩa chính làmức giá hiện thời, nó có thể bị biến động bởi lạm phát tiền tệ

Ông đã phân biệt giá cả tự nhiên với giá cả thị trường của hàng hóa Theoông, giá cả tự nhiên là chi phí sản xuất dài hạn, còn giá cả thực tế (gọi là giá thịtrường) được xác định bằng sự tương tác giữa cung và cầu trong ngắn hạn

Theo ông, “Giá cả thị trường của mỗi loại hàng hóa riêng biệt đều đượcđiều chỉnh bằng tỉ lệ giữa số lượng hàng thực sự được mang ra chợ bán vàlượng cầu của những người muốn mua hàng hóa đó theo giá tự nhiên, tức làtổng giá trị tiền thuê đất đai, lao động và lợi nhuận mà phải trả để có thể đưahàng hóa ra bán tại thị trường Những người muốn mua như vậy gọi là nhữngngười có nhu cầu thực tế, vì có thể là điều kiện đủ để đưa thứ hàng hóa đó ra thịtrường Nhu cầu thực tế khác với nhu cầu tuyệt đối Một người rất khéo léo có

Trang 14

thể có nhu cầu mua một cái xe 6 ngựa, anh ta có thể muốn mua được cái xe đó,nhưng nhu cầu đó không thực tế vì hàng hóa đó không bao giờ được mang bán

ở thị trường để thỏa mãn nhu cầu đó của anh ta”

Cung, cầu có ảnh hưởng đến giá cả thực tế Theo ông, khi một thứ hànghóa nào đó không đáp ứng nhu cầu thực tế , thì người muốn mua thứ hàng hóa

đó với giá bằng tổng giá trị của nó sẽ không mua được vì không có đủ thứ hànghóa đó mà họ cần mua Để có được thứ hàng mình cần, một số người mua sẵnsàng trả giá cao hơn Do đó, giá cả thị trường sẽ ít nhiều cao hơn giá tự nhiêntuy theo mức độ khan hiếm và giàu có của những người muốn giành cho đượcthứ hàng mình muốn mua

Ngược lại, khi số lượng hàng hóa mang bán tại thị trường vượt quá nhucầu thực tế, nó không thể bán hết được cho những người muốn mua với giá cảbằng toàn bộ giá trị của các mặt hàng đó, thì một phần hàng hóa tất phải bán vớigiá rẻ hơn, và giá bán hạ này làm cho tổng giá trị hàng hóa bán ra bị giảm sút.Giá thị trường ít nhiều tụt xuống dưới gía tự nhiên tùy ở chỗ lương hàng hóa dưthừa làm tăng nhiều hay ít sự cạnh tranh giữa những người bán hàng, và tùymức độ họ thấy cần phải thanh toán ngay số hàng họ có trong tay

Còn khi số lượng hàng hóa đem bán ra thị trường chỉ vừa đủ thỏa mãnnhu cầu thực tế của người tiêu dùng, thì giá cả thị trường tất nhiên sẽ chỉ vừađúng hoặc chênh lệch chút ít so với giá tự nhiên Toàn bộ hàng hóa chỉ có thểbán theo giá này, không thể nào tăng lên được Những người bán đắt buộc phảichấp nhận bán với giá này, nhưng cũng không bắt buộc bán với giá rẻ hơn

Từ phân tích trên, ông khẳng định giá cả thị trường là giá bán thực tế củahàng hóa, nó chịu ảnh hưởng bởi biến động cung – cầu Giữa giá cả tự nhiên vàgiá cả thực tế có quan hệ với nhau giá cả tự nhiên là trung tâm,giá cả thực tế

Trang 15

luôn luôn hướng về giá cả tự nhiên Ngoài ra giá cả thực tế còn chịu tác độngbởi những “sự cố”, nạn đầu cơ của thương nhân, tình trạng độc quyền và nhữngđạo luật đặc biệt nào đó của nhà nước Những “sự cố” mà ông nêu ở đây quy tụlại chính là để ngăn chặn thông tin của người bán hay người mua Ví dụ, ôngviết “Giá bán độc quyền trong bất kì trường hợp nào cũng là giá bán cao nhất cóthể có Ngược lai giá cả tự nhiên,hay giá cạnh tranh tự do, là giá thấp nhất cóthể có trong một thời gian dài Giá độc quyền là giá cao nhất trong mọi trườnghợp có thể vắt được của người mua hàng, hoặc người tiêu dùng phải đồng ý trả;giá tự do cạnh tranh là gía thấp nhất mà người bán thường có thể thu được vàđồng thời có thể tiếp tục công việc kinh doanh của mình’’.

Tính khoa học của nó đã được D Ricardo, Karl Mars và các nhà kinh tếhọc về sau kế thừa và phát triển Hạn chế chủ yếu trong lí luận này là ông đãxác định giá cả tự nhiên bằng những khoản thanh toán cho mỗi yếu tố sản xuất

Tóm lại, do hạn chế về lập trường, quan điểm và phương pháp, nên lý luận giátrị của ông vừa có yếu tố khoa học vừa có yếu tố tầm thường, đồng thời trênthực tế ông đã rơi vào tình trạng hỗn loạn Nhưng lý luận giá trị của ông khôngthể không kể là chiều sâu hay chiều rộng đều vượt các bậc tiền bối của ông,nhất là ông lại là người đầu tiên trình bày một cách có hệ thống lý luận giá trịlao động, đồng thời về cơ bản ông đã kiên trì dùng lý luận giá trị lao động đểnghiên cứu vấn đề lợi nhuận và địa tô Đó là đóng góp chủ yếu của ông về mặtkhoa học và có tác động tương đối lớn đến những lí luận của C.Mác về giá trị -lao động trong những nghiên cứu sau này

3.3 Sự bổ sung về lí luận giá trị - lao động của David Ricardo

Trang 16

David Ricardo (1772 - 1823) là một nhà kinh tế học người Anh, ảnh

hưởng lớn trong kinh tế học cổ điển sánh ngang cùng Adam Smith và ThomasMalthus David Ricardo la người là người cổ vũ thương mại tự do dựa trên lýluận với lợi thế so sánh Ông tiếp bước Adam Smith và đóng góp lớn vào việcphát triển thuyết giá trị lao động Các lý luận của ông cũng ảnh hưởng đáng kểđến tư tưởng của C.Mác

Lý luận giá trị lao động chiếm vị trí trung tâm trong học thuyết kinh tếcủa D.Ricarcdo, được ông trình bày trong tác phẩm nổi tiếng “ Những nguyên lí

cơ bản của kinh tế chính trị và thuế khóa “ xuất bản năm 1817 Ông đã kế thừa

và phát triển tư tưởng của A.Smith Công lao của D.Ricardo là đã rà soát lạitoàn bộ lý luận giá trị của A.smith, phê phán những quan điểm sai lầm gạt bỏnhững mâu thuẫn trong cách giải thích nước đôi của A.Smith và phát triển thêmnhững nguyên lý đúng đắn khoa học Chẳng hạn, trong hai định nghĩa về giá trịcủa A.Smith, D.Ricardo chỉ ra rằng định nghĩa “ giá trị do lao động hao phíquyết định” là đúng, còn định nghĩa “giá trị lao động mà người ta có thể muađược hàng hóa này quyết định” là không đúng Theo D.Ricardo, không phải chỉtrong nền sản xuất hàng hóa giản đơn, mà ngay cả trong nền sản xuất lớn tư bảnchủ nghĩa, giá trị vẫn do lao động quyết định Ông chỉ ra rằng, trong cơ cấu giátrị hàng hóa phải gồm ba bộ phận là tư bản bất biến c, tư bản khả biến v và giátrị thặng dư m, chứ không thể loại c ra khỏi giá trị sản phẩm như A.Smith đãlàm

Ông đã phân biệt rõ hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng và giátrị trao đổi cũng như chỉ rõ giá trị sử dụng là điều kiện cần thiết cho giá trị traođổi, nhưng không phải thước đo của nó Trừ một số ít hàng hóa khan hiếm, thìgiá trị sử dụng quyết định giá trị trao đổi, còn đại đa số hàng hóa khác, giá trị là

Trang 17

do lao động quyết định Vì giá trị trao đổi là một lượng tương đối biểu hiện khốilượng hàng hóa khác (hay tiền tệ) nên D.Ricardo đặt vấn đề là bên cạnh giá trịtương đối còn tồn tại giá trị tuyệt đối Đó là thực thể của giá trị, là số lượng laođộng kết tinh, giá trị trao đổi là hình thức cần thiết và có khả năng duy nhất biểuhiện giá trị tuyệt đối.

Tuy nhiên ông cũng chưa phân tích được sự chuyển dịch c vào sản phẩmmới diễn ra như thế Ông cũng có ý định phân tích giản đơn và lao động phứctạp, quy lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình Ông nói rằnglao động xã hội

cần thiết quyết định lượng giá trị hàng hóa, song lại cho rằng lao động xãhội cần thiết do điều kiện sản xấu quyết định

Phương pháp nghiên cứu giá trị hàng hóa của ông còn mang tính siêuhình Ông coi giá trị là phạm trù vĩnh viễn Đó là thuộc tính của mọi vật, màkhông thấy được mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị, do ông chưa thấytính hai mặt của lao động.Ông còn chịu ảnh hưởng của tính khan hiếm quyếtđịnh giá trị, ông chưa phân biệt được giá trị hàng hóa với giá cả sản xuất, dùcho ông đã có nhận thấy xu hướng bình quân hóa tỉ suất lợi nhuận

Những thành tựu trong nghiên cứu

D.Ricardo đã phân biệt được 2 thuộc tính của hàng hóa là giá trị và giá trị

sử dụng, đã vạch ra nguồn gốc của giá trị hàng hóa là lao động cũng như đãquan tâm nghiên cứu lượng giá trị và các nhân tố ảnh hường đến lượng giá trịhàng hóa và chỉ ra hình thức của giá trị hàng hóa

Về giá trị, trên cơ sở kế thừa và phát triển lý luận của A.Smith D.Ricardokhẳng định giá trị sử dụng rất cần thiết cho thực hiện giá trị trao đổi nhưngkhông quyết định giá trị trao đổi Ông viết : “ tính hữu ích không phải là thước

Trang 18

đo giá trị trao đổi mặc dù nó có liên quan mật thiết với giá trị này Nếu mộthàng hóa không có chút giá trị sử dụng nào nó sẽ không có giá trị trao đổi cho

dù có hiếm hoi đến mấy hay việc sản xuất ra nó đòi hỏi biết bao công sức chăngnữa.”

D.Ricardo đánh giá cao luận điểm của A.Smith trong xác định nguồn gốccủa giá trị là do lao động hao phí tạo ra Ông đã phát triển học thuyết giá trịđứng trên quan điểm này

Trước hết D.Ricardo gạt bỏ sai lầm của A.Smith trong định nghĩa thứ haicoi giá trị lao động mà người ta có thể mua được hàng hóa đó quyết định Ôngkhẳng định giá trị hàng hóa là số lượng các hàng hóa khác mà nó có thể đổiđược phụ thuộc vào số lượng lao động tương đối cần phải sử dụng trong quátrình sản xuất chứ không phụ thuộc vào số tiền phải trả cho lao động ấy tăng lênhay giảm xuống, chứ không phải do khối lượng tương đối các hàng hóa màngười lao động đổi được từ lao động của mình

Theo ông, lượng giá trị hàng hóa được quyết định bởi số lượng lao độngsản xuất ra hàng hóa đó Giá trị của một vật nhiều hay ít phụ thuộc vào lượnglao động sử dụng trong quá trình sản xuất ra chúng nhiều hay ít Một sự gia tăng

về lượng lao động phải làm tăng giá trị của hàng hóa đó mà lao động thực hiệnkhi mỗi sự giảm bớt sẽ hạ giá trị ấy xuống

D.Ricardo có ý định phân biệt giá trị tương đối với giá trị tuyệt đối Ôngviết :” những lập luận ở đây của tôi chỉ nhằm làm cho các bạn thấy rằng điềuquan trọng là sự thay đổi trong giá trị tương đối của các hàng hóa chứ khôngphải là trong giá trị tuyệt đối của chung” Giá trị tương đối của các hàng hóagần như không thay đổi trong nhiều năm trời, vì nó bao giờ cũng chỉ tồn tạitrong mối tương quan với các hàng hóa khác Ông coi giá trị tương đối ( về

Trang 19

sau , ông còn gọi là “ giá trị so sánh” ) chẳng qua là dùng để chỉ giá trị trao đổi.Còn phạm trù giá trị tuyệt đối ( trong trường hợp khác, ông còn gọi là “ giá trịthực tế” ) hay nói vắn tắt là “ giá trị”) có lẽ dùng để chỉ lượng lao động kết tinhtrong hàng hóa nhưng do không thiếu các hình thái giá trị mà chỉ nghiên cứucác đại lượng giá trị, nên không hiểu được thực tế của giá trị, còn lẫn lộn giữahai phạm trù này và cho rằng giá trị tương đối do thời gian lao động quyết định.

Dù sao thì D.Ricardo đã cho rằng tồn tại một đơn vị chung làm cơ sở so sánhnhững lượng lao động kết tinh vào các hàng hóa khác nhau

D.Ricardo phê phán quan điểm sai lầm của A.Smith về 3 nguồn thu nhậpcấu thành giá trị ( tiền công, lợi nhuận và địa tô ) và khẳng định lượng giá trịcủa một hàng hóa phụ thuộc vào số lượng lao động tương đối cần phải sử dụng

để sản xuất ra nó Không phải ba nguồn thu nhập cấu thành hàng hóa mà ngượclại, giá trị hàng hóa có trước, được thực hiện, rồi mới phân chia thành ba nguồnthu nhập nói trên

Ông phê phán quan điểm của A.Smith coi địa tô là một bộ phận cấuthành giá trị (quan điểm này bị C.Mác gọi là “ tín điều “) và cho rằng khôngphải địa tô đã làm giá nông sản tăng, mà chính giá nông sản tăng đã tạo ra địa

tô Mặc dù chưa vạch ra được nguồn gốc thực sự của địa tô, nhưng ông vẫn nhấtquán quan điểm giá trị được phân phối thành các nguồn thu nhập

Hơn nữa, 3 nguồn thu nhập nói trên không đủ nói lên số lượng giá trị củahàng hóa Theo D.Ricardo, không chỉ có lao động sống ảnh hường trực tiếp tớilượng giá trị hàng hóa mà còn kế tới lao động đã kết tinh trong nguyên liệu,công cụ, nhà xưởng dùng trong quá trình sản xuất ra hàng hóa đó Ông gọi laođộng chỉ dùng cho việc sản xuất hàng hóa như thế này là lượng lao động cầnthiết và đã quan tâm tới thời gian lao động cần thiết cho việc sản xuất hàng hóa

Trang 20

K.Marx đê đânh giâ cao luận điểm năy của D.Ricardo vă ông gọi đđy lă hao phílao động cần thiết để sản xuất ra hăng hóa.

Trín quan điểm lượng lao động cần thiết quyết định lượng giâ trị hănghóa, D.Ricardo cho rằng lượng giâ trị năy “ bị thay đổi đâng kể do sự âp dụngmây móc vă câc thiết bị lđu bền, cố định khâc” vă “ do độ bền vă tốc độ thu hồikhâc nhau của tư bản”

Về giâ cả, D.Ricardo đê nhất quân quan điểm giâ cả hình thănh trín cơ sởchi phí sản xuất Giâ cả hăng hóa lă giâ trị trao đổi của nó nhưng biểu hiện bằngtiền nhưng giâ trị được đo bằng số lượng hao phí lao động cần thiết để sản xuất

ra hăng hóa Ông phí phân quan điểm cho rằng giâ cả của hăng hóa chỉ phụthuộc văo quan hệ cung – cầu vă khẳng định rằng” giâ cả những hăng hóa ấy ,câi lệ thuộc văo sự cạnh tranh trín thị trường vă số lượng của chúng chung quykhông phụ thuộc văo tình trạng của cung – cầu, mă chỉ phụ thuộc văo chi phísản xuất ra chúng tăng lín hay giảm xuống mă thôi” “ Chi phí sản xuất” mẵng nói lă lượng lao động cần thiết để sản xuất hăng hóa đó hay giâ trị hănghóa

Ông còn giải thích giâ cả tự nhiín không phải lă một giâ cả thông thường

mă lă một giâ cả cần thiết để thường xuyín thỏa mên lượng cầu với một lợinhuận thông thường Giâ cả tự nhiín níu trín ,theo ông , có thể lă hình thâichuyển hóa của giâ trị trong điều kiện tự do cạnh tranh

D.Ricardo còn cho rằng cung – cầu có ảnh hưởng đến giâ cả hăng hóanhưng chỉ ảnh hường “ ngay lập tức “ có tính “ tạm thời “ mă thôi

Hạn chế trong nghiín cứu của D.Ricardo

Mặc dù đê đưa học thuyết giâ trị lao động của trường phâi cổ điển tớiđỉnh cao, nhưng D.Ricardo vẫn không vượt qua được những hạn chế cố hữu của

Trang 21

trường phái này Phương pháp nghiên cứu của ông còn mang tính siêu hình , coigiá trị là phạm trù vĩnh viễn , là thuộc tính của mọi vật Không thấy được mẫuthuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị, vì chưa biết đến tính hai mặt của lao độngsản xuất hàng hóa Khi xác định lượng giá trị hàng hóa, ông chưa biết được giácủa lao động quá khứ kết tinh trong nguyên liệu, công cụ, nhà xưởng dùngtrong quá trình sản xuất được chuyển dịch vào sản phẩm mới như thế nào Mặc

dù ông phê phán” tín điều của A.Smith “ về 3 nguồn gốc cấu thành giá trị hànghóa, nhưng vẫn cho rằng lợi nhuận thông thường của tư bản là một bộ phận cấuthành giá trị mà không chút băn khoăn về nguồn gốc của lợi nhuận, Tuy đó chỉ

ra lao động cần thiết quyết định lượng giá trị hàng hóa, xong lại cho rằng laođộng cần thiết do điều kiện sản xuất xấu nhất hay tính khan hiếm quyết định.Chưa chỉ ra được các hình thức của giá trị hàng hóa, chưa phân biệt được giá trịhàng hóa với giá cả sản xuất, mặc dù ông có nhìn thấy xu hướng bình quân hóa

tỉ suất lợi nhuận

Các nhà kinh tế của trường phái này còn bị trộn lẫn 2 yếu tố khoa học vàtầm thường A Smith không nhất quán trong khái niệm giá trị hàng hóa, lẫn lộntrong phân phối giá trị và cấu thành giá trị để cho 2 yếu tố đó khoa học và tầmthường sống yên ổn bên nhau ; chưa thoát khỏi quan điểm siêu hình coi giá trị

là phạm trù vĩnh viễn; chưa thấy được mẫu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trịhàng hóa

Lịch sử đã chứng kiến sau D.Ricardo có 2 lối rẽ : Một ngã theo hướngMacxit với việc hoàn tất nhất nguyên hóa nguồn gốc giá trị, còn một ngả theohướng phủ nhận học quan điểm này để xây dựng một học thuyết một giá trị đanguyên lấy các nhận tố sản xuất làm cơ sở

Trang 22

4 Học thuyết giá trị lao động của Các Mác là lí luận khoa học và hoàn chỉnh nhất

C.Mác (1818 – 1883 ) được sinh ra tại nước Đức, con một luật sư người

Do Thái

- Năm 1835, Mác vào học trường Đại học Tổng hợp Bon và sau đó học

Đại học Tổng hợp Béclin, khoa luật, sử, triết học

- Năm 1842, ông làm chủ tòa báo “Sông Ranh” và bắt đầu nghiên cứu

kinh tế chính trị

- Năm 1844, Mác gặp Ph Ăngghen và hai người trở thành đôi bạn than

thiết

- Năm 1847 hai ông gia nhập tổ chức “Đồng minh những người cộng

sản” và trở thành những người lãnh đạo tổ chức này và sau đổi thành Quốc tế

cộng sản

- Năm 1849 C.Mác lại bị trục xuất khỏi nước Đức và sang sống ở Anh

cho đến cuối đời

C.Mác không chỉ là nhà lý luận mà ông còn là nhà hoạt động thực tiễn.Ông đã hiến trọn cả đời mình cho sự nghiệp cách mạng cảu giai cấp vô sản vàquần chúng lao động trên toàn thế giới

4.1 Sơ lược về học thuyết giá trị lao động của C.Mac trong quyển I ‘’Tư Bản”

Lý luận giá trị - lao động là một trong 3 học thuyết lớn của C.Mac trongquyển I ‘’ Tư Bản’’ Học thuyết giá trị lao động gồm 3 chương lớn :

Chương I : Hàng hóa

Chương II : Quá trình trao đổi

Chương III : Tiền tệ hay lưu thông hàng hóa

Trang 23

1) Chương I : Hàng hóa

Đối tượng nghiên cứu của chương I : C.Mac bắt đầu nghiên cứu từ tế bàohàng hóa để vạch rõ thực chất hàng hóa là gì? Nó có thuộc tính như thế nào?Thực chất đây là nghiên cứu quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dưới hình tháinguyên thủy ban đầu của nó

C.Mac nghiên cứu hàng hóa thực chất là nghiên cứu giá trị ẩn dấu đằngsau hàng hóa đó và phát hiện ra giá trị là gì và nó vận động ra sao Chính ởchương I trên cơ sở phân tích hàng hóa C.Mac xác lập sự tồn tại tất yếu của quyluật giá trị trong trao đổi sản phẩm – giá trị hay hàng hóa là quan hệ xã hội củasản xuất

Mác nghiên cứu hàng hóa để vạch ra sự hình thành tất yếu của tiền tệ vàvạch ra được bản chất của tiền tệ, từ đó xóa bỏ được cái bí ẩn của tiền tệ

a) Hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá

Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào đó củacon người và dùng để trao đổi với nhau Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội , sảnxuất hàng hoá có bản chất khác nhau, nhưng hàng hoá đều có hai thuộc tính:

 Giá trị sử dụng

Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào

đó của con người, ví dụ: cơm để ăn, xe đạp để đi, máy móc, nguyên nhiên vậtliệu để sản xuất …Vật phẩm nào cũng có một số công dụng nhất định Côngdụng của vật phẩm do thuộc tính tự nhiên của vật chất quyết định Khoa học kỹthuật càng phát triển, người ta càng phát hiện thêm những thuộc tính mới củasản phẩm và lợi dụng chúng để tạo ra những giá trị sử dụng hay tiêu dùng Nó

là nội dung vật chất của của cải Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn

Trang 24

Giá trị sử dụng nói ở đây với tư cách là thuộc tính của hàng hoá, nókhông phải là giá trị sử dụng cho bản thân người sản xuất hàng hoá, mà là giátrị sử dụng cho người khác, cho xã hội thông qua trao đổi – mua bán Trongkinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi.

 Giá trị hàng hoá

Muốn hiểu được giá trị phải đi từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi là quan

hệ tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giá trị sử dụng khác Ví dụ:1m vải = 10 kg thóc Vải và thóc là hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau

về chất, tại sao chúng lại có thể trao đổi được với nhau và trao đổi theo tỷ lệ nàođó

Khi hai sản phẩm khác nhau (vải và thóc) có thể trao đổi được với nhauthì giữa chúng phải có một cơ sở chung nào đó Cái chung ấy không phải là giátrị sử dụng, tuy nhiên, sự khác nhau về giá trị sử dụng của chúng là điều kiệncần thiết của sự trao đổi Nhưng cái chung đó phải nằm ngay ở trong cả haihàng hoá Nếu gạt giá trị sử dụng của sản phẩm sang một bên, thì giữa chúngchỉ còn một cái chung làm cơ sở cho quan hệ trao đổi Đó là chúng đều là sảnphẩm của lao động Để sản xuất ra vải hoặc thóc, những người sản xuất đềuphải hao phí lao động Chính hao phí lao động ẩn giấu trong hàng hoá làm chochúng có thể so sánh được với nhau khi trao đổi Chúng được trao đổi theo một

tỷ lệ nhất định, một số lượng vải ít hơn đổi lấy một lượng thóc nhiều hơn (1mvải = 10 kg thóc); nhưng lượng lao động hao phí để sản xuất ra chúng là ngangbằng nhau Lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá ẩn giấu trong hàng hoáchính là giá trị của hàng hoá Vậy giá trị là lao động xã hội của người sản xuấthàng hoá kết tinh trong hàng hoá Chất của giá trị là lao động, vì vậy sản phẩmnào không có lao động của người sản xuất chứa đựng trong đó, thì nó không có

Trang 25

giá trị Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giátrị càng cao.

Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hìnhthức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài Khi trao đổi sản phẩm cho nhau, nhữngngười sản xuất ngầm so sánh lao động ẩn giấu trong hàng hoá với nhau Thựcchất của quan hệ trao đổi là người ta trao đổi lượng lao động hao phí của mìnhchứa đựng trong các hàng hoá Vì vậy, giá trị là biểu hiện quan hệ giữa nhữngngười sản xuất hàng hoá Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sảnxuất hàng hoá Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính

xã hội của hàng hoá Như vậy, hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giátrị sử dụng và giá trị, nhưng là sự thống nhất của hai mặt đối lập Đối với ngườisản xuất hàng hoá, họ tạo ra giá trị sử dụng, nhưng mục đích của họ không phải

là giá trị sử dụng mà là giá trị, họ quan tâm đến giá trị sử dụng là để đạt đượcmục đích giá trị mà thôi Ngược lại, đối với người mua, cái mà họ quan tâm làgiá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình Nhưng, muốn có giá trị

sử dụng thì phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó Như vậy, trước khi thựchiện giá trị sử dụng phải thực hiện giá trị của nó Nếu không thực hiện được giátrị, sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng

b) Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá

Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị là do lao độngsản xuất hàng hoá có tính hai mặt Chính tính chất hai mặt của lao động sảnxuất hàng hoá quyết định tính hai mặt của bản thân hàng hoá C Mác là ngườiđầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá Đó là laođộng cụ thể và lao động trừu tượng

 Lao động cụ thể

Trang 26

Là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệpchuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng riêng,phương pháp riên, phương tiện riêng và kết quả riêng Ví dụ: lao động cụ thểcủa người thợ mộc, mục đích là sản xuất cái bàn, cái ghế, đối tượng lao động là

gỗ, phương pháp của anh ta là các thao tác về bào, khoan, đục; phương tiệnđược sử dụng là cái cưa , cái đục, cái bào, cái khoan; kết quả lao động là tạo racái bàn, cái ghế

Mỗi lao động cụ thể tạo ra một loại giá trị sử dụng nhất định Lao động

cụ thể càng nhiều loại càng tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau Các laođộng cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội Cùng với sự pháttriển của khoa học, kỹ thuật, các hình thức lao động cụ thể ngày càng đa dạng,phong phú, nó phản ánh trình độ phát triển của phân công lao động xã hội Laođộng cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, là một điều kiện không thể thiếu trongbất kỳ hình thái kinh tế – xã hội nào Cần chú ý rằng, hình thức của lao động cụthể có thể thay đổi

 Lao động trừu tượngLao động của người sản xuất hàng hoá, nếu coi là sự hao phí sức lực nóichung của con người, không kể đến hình thức cụ thể của nó như thế nào, thì gọi

là lao động trừu tượng Lao động của người thợ mộc và lao động của người thợmay, nếu xét về mặt lao động cụ thể thì hoàn toàn khác nhau, nhưng nếu gạt tất

cả những sự khác nhau ấy sang một bên thì chúng chỉ còn có một cái chung,đều phải tiêu phí sức óc, sức bắp thịt và sức thần kinh của con người Lao độngtrừu tượng chính là lao động hao phí đồng chất của con người Lao động baogiờ cũng là sự hao phí sức lực của con người xét về mặt sinh lý Nhưng khôngphải sự hao phí sức lao động nào về mặt sinh lý cũng là lao động trừu tượng

Trang 27

Lao động trừu tượng chỉ có trong nền sản xuất hàng hoá, do mục đích của sảnxuất là để trao đổi Vì vậy, xuất hiện sự cần thiết phải quy các lao động cụ thểvốn rất khác nhau, không thể so sánh được với nhau thành một thứ lao độngđồng chất, tức lao động trừu tượng Lao động trừu tượng tạo ra giá trị làm cơ sởcho sự ngang bằng trong trao đổi Nếu không có sản xuất hàng hoá , không cótrao đỏi thì cũng không cần phải quy các lao động cụ thể về lao động trừutượng Vì vậy, lao động trừu tượng là một phạm trù lịch sử riêng có của sảnxuất hàng hoá ở đây không phải có hai thứ lao động khác nhau mà chỉ là laođộng của người sản xuất hàng hoá, nhưng lao động đó mang tính hai mặt: vừa

là lao động cụ thể, vừa là lao động trừu tượng

Việc phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá có ý nghĩarất to lớn về mặt lý luận; nó đem đến cho lý thuyết lao động sản xuất một cơ sởkhoa học thực sự Giúp ta giải thích được hiện tượng phức tạp diễn ra trongthực tế, như sự vận động trái ngược: khối lượng của cải vật chất ngày càng tănglên, đi liền với khối lượng giá trị của nó giảm xuống hay không thay đổi

Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá phản ánh tính chất tư nhân

và tính chât xã hội của người sản xuất hàng hoá Trong nền kinh tế hàng hoá,sản xuất như thế nào, sản xuất cái gì là việc riêng của mỗi người Họ là ngườisản xuất độc lập, lao động của họ vì vậy có tính chất tư nhân và lao động cụ thểcủa họ sẽ biểu hiện của lao động tư nhân Đồng thời lao động của mỗi ngườisản xuất hàng hoá, nếu xé về mặt hao phí sức lực nói chung, tức lao động trừutượng, thì nó luôn là một bộ phận của lao động xã hội thống nhất, nằm trong hệthống phân công lao động xã hội, nên lao động trừu tượng là biểu hiện của laođộng xã hội

Trang 28

Trong nền sản xuất hàng hoá giữa lao động tư nhân và lao động xã hội cómâu thuẫn với nhau Đó là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá “giản đơn”.Mâu thuẫn này biểu hiện: sản phẩm do người sản xuất nhỏ tạo ra có thể khôngphù hợp với nhu cầu của xã hội; hao phí lao động cá biệt của người sản xuất cóthể cao hơn hay thấp hơn hao phí lao động mà xã hội chấp nhận; mâu thuẫngiữa lao động tư nhân và lao động xã hội chứa đựng khả năng “sản xuất thừa”

là mầm mống của mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản

c) Lượng giá trị hàng hoá

 Thời gian lao động xã hội cần thiếtChất của giá trị là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá kếttinh trong hàng hoá Vậy lượng giá trị là do lượng lao động hao phí để sản xuất

ra hàng hoá đó quyết định Đo lượng lao động bằng thước đo thời gian như: mộtgiờ lao động, một ngày lao động…Do đó, lượng giá trị của hàng hoá cũng dothời gian lao động quyết định Trong thực tế, một loại hàng hoá đưa ra thịtrường là do rất nhiều người sản xuất ra, nhưng mỗi người sản xuất do điều kiệnsản xuất , trình độ tay nghề là không giống nhau, nên thời gian lao động cá biệt

đẻ sản xuất ra hàng hoá của họ khác nhau Thời gian lao động cá biệt quyết địnhlượng giá trị cá biệt hàng hoá của từng người sản xuất Nhưng lượng giá trị xãhội của hàng hoá không phải được tính bằng thời gian lao động cá biệt mà bằngthời gian lao động xã hội cần thiết Thời gian lao động xã hội cần thiết là thờigian cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá trong điều kiện bình thường của xãhội, tức là với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình vàcường độ trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định Thông thường, thời

Trang 29

gian lao động xã hội cần thiết trùng hợp với thời gian lao động cá biệt củanhững người cung cấp đại bộ phận loại hàng hoá nào đó trên thị trường.

 Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá

Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trị củahàng hoá cũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi này tuỳ thuộc vàonăng suất lao động và mức độ phức tạp hay giản đơn của lao động Lượng giátrị hàng hoá thay đổi do tác động của năng suất lao động: quan hệ tỷ lệ nghịch.Lao động giản đơn là sự hao phí lao động một cách giản đơn mà bất kỳ mộtngười bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được Laođộng phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện Như vậy,lượng giá trị của hàng hoá được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết,giản đơn trung bình

 Cấu thành lượng giá trị hàng hoá

Theo W.Petty thì lượng giá trị hàng hoá = v

Theo A.Smith thì lượng giá trị hàng hoá = v + m

Theo D.Ricardo thì lượng giá trị hàng hoá = c1 + v + m

Theo Mác để sản xuất ra hàng hoá cần phải chi phí lao động bao gồm laođộng quá khứ tồn tại trong các yếu tố tư liệu sản xuất như máy móc, công cụ ,nguyên liệu, vật liệu và lao động sống Vì vậy, lượng giá trị hàng hoá được cấuthành bởi cả giá trị của những tư liệu sản xuất đã sử dụng để sản xuất hàng hoá,tức là giá trị cũ (ký hiệu là c) và hao phí lao động sống của người sản xuất trongquá trình tạo ra hàng hoá, tức là giá trị mới (ký hiệu là v+m) Giá trị hàng hoá =giá trị cũ tái hiện + giá trị mới Ký hiệu: W = c + v + m

d) Sự phát triển các hình thái giá trị

Trang 30

Hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị Vềmặt giá trị sử dụng, tức hình thái tự nhiên của hàng hoá, ta có thể nhận biết trựctiếp được bằng các giác quan Nhưng về mặt giá trị, tức hình thái xã hội củahàng hoá, nó không có một nguyên tử vật chất nào nên không thể cảm nhận trựctiếp được Nó chỉ bộc lộ ra trong quá trình trao đổi thông qua các hình thái biểuhiện của nó.

 Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên Đây là hình thái phôi thai của giá trị, nó xuất hiện trong giai đoạn đầucủa trao đổi hàng hoá, trao đổi mang tính chất hiện vật ngẫu nhiên, người ta traođổi trực tiếp vật này lấy vật khác Ví dụ: 1 m vải = 10 kg thóc Ở đây, giá trị củavải được biểu hiện ở thóc Còn thóc là cái được dùng để làm phương tiện đểbiểu hiện giá trị của vải Với thuộc tính tự nhiên của mình, thóc trở thành hiệnthân giá trị của vải Sở dĩ như vậy vì bản thân thóc cũng có giá trị Hàng hoá(vải) mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hoá khác (thóc) thì gọi là hìnhthái giá trị tương đối Còn hàng hoá (thóc) mà giá trị sử dụng của nó biểu hiệngiá trị của hàng hoá khác (vải) gọi là hình thái vật ngang giá Nó có ba đặcđiểm: giá trị sử dụng của nó trở thành hình thức biểu hiện của giá trị; lao động

cụ thể trở thành hình thức biểu hiện của lao động trừu tượng; lao động tư nhântrở thành hình thức biểu hiện của lao động xã hội

 Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng Khi lực lượng sản xuất phát triển hơn, sau phân công lao động xã hội lầnthứ nhất, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, trao đổi trở nên thường xuyên hơn, mộthàng hoá có thể đổi lấy nhiều hàng hoá khác Tương ứng với giai đoạn này làhình thái đầy đủ hay mở rộng

 Hình thái giá trị chung

Trang 31

Với sự phát triển cao hơn của lực lượng sản xuất và phân công lao động

xã hội, hàng hoá được đưa ra trao đổi thường xuyên hơn Nhu cầu trao đổi do

đó trở nên phức tạp hơn, người có vải muốn đổi thóc, nhưng người có thóc lạikhông cần vải mà lại cần thứ khác Vì thế, việc trao đổi trực tiếp không cònthích hợp và gây trở ngại cho trao đổi Trong tình hình đó, người ta phải đivòng, mang hàng hoá của mình đổi lấy thứ hàng hoá mà nó được nhiều người

ưa chuộng, rồi đem đổi lấy thứ hàng hoá mà mình cần Khi vật trung gian trongtrao đổi được cố định lại ở thứ hàng hoá được nhiều người ưa chuộng , thì hìnhthái chung xuất hiện Các địa phương khác nhau thì hàng hoá dùng làm vậtngang giá chung cũng khác nhau

 Hình thái tiền tệKhi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hơn nữa,sản xuất hàng hoá và thị trường ngày càng mở rộng, thì tình trạng có nhiều vậtngang giá chung làm cho trao đổi giữa các địa phương vấp phải khó khăn , do

đó đòi hỏi khách quan phải hình thành vật ngang giá chung thống nhất Khi vậtngang giá chung được cố định lại ở một vật độc tôn và phổ biến thì hình tháitiền tệ của giá trị Vậy tiền tệ là một hàng hoá đặc biệt được tách ra từ trong thếgiới hàng hoá làm vật ngang giá chung thống nhất; nó thể hiện lao động xã hội

và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá

2) Chương II : Quá trình trao đổi

Đối tượng nghiên cứu :Nghiên cứu mối quan hệ giữa người và người đãđược phát hiện ra ẩn sau quan hệ giữ vật với vật dẫn đến giá trị chính là quan hệgiữa người và người Vậy quan hệ này nó vận động và phát triển ra sao? Ở đây,nghiên cứu lĩnh vực lưu thông để xem xét giá trị được tạo ra trong sản xuất và

nó được tạo ra trong lưu thông như thế nào?

Trang 32

Chương II còn đề cập tới nghiên cứu của C.Mac : Mác không chia thànhtiết mà viết liền một mạch, do đó ta có thể phân tích như sau :

Đoạn 1, C.Mac đặt vấn đề có tính nêu phương pháp cho toàn chương:Sản phẩm trao đổi được với nhau là do con người đem đến, điều đó không phụthuộc vào ý muốn chủ quan của họ mà do cơ sở kinh tế khách quan quyết định

– họ phải thừa nhận lẫn nhau là những người tư hữu “Muốn cho những đồ vật

đó quan hệ với nhau như những hàng hóa, thì những người giữ hàng hóa phảiđối xử với nhau như những người mà ý chí của họ chi phối các vật đó… Do đó,

họ phải công nhận lẫn nhau là những người tư hữu” (123) “Muốn cho việcchuyển nhượng đó mang tính chất có đi có lại, thì người ta chỉ cần phải mặcnhiên coi nhau như những kẻ sở hữu tư nhân đối với các vật có thể chuyểnnhượng ấy và do đó, là những con người độc lập đối với nhau Nhưng mối quan

hệ độc lập đối với nhau đó không tồn tại giữa các thành viên của một cộng độngđược hình thành một cách tự nhiên, dù cho một cộng đồng đó mang hình thứcmột gia đình gia trưởng, một công xã ở Ấn Độ thời cổ, hay một quốc gia Inca”(137 – 138)

Vì sao phải trao đồi hàng hóa?

“Các hàng hóa đều không phải là giá trị sử dụng đối với người chủ củachúng và đều là giá trị sử dụng đối với những người không phải chủ của chúng

Do đó hàng hóa phải luôn luôn chuyển từ tay người này sang tay người khác”(134) Đối với chủ hàng hóa, hàng hóa chỉ là vật mang giá trị trao đổi, và do đó,

là một phương tiện để trao đổi, C.Mac chỉ ra mâu thuẫn của hai thuộc tính củahàng hóa Hàng hóa được thực hiện với tư cách là những giá trị trước khi chúngđược thực hiện với tư cách là những giá trị sử dụng Mặt khác, trước khi hànghóa được thực hiện với tư cách là những giá trị thì chúng phải chứng tỏ rằng

Ngày đăng: 28/06/2016, 11:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thái tiền đúc phát sinh từ chức năng của tiền làm phương tiện lưu  thông. Một trọng lượng vàng được biểu hiện trong giá cả hay trong tên gọi bằng  tiền của hàng hóa, phải đối lập với hàng hóa trong lưu thông với tư cách là một  mẩu vàng cùng tên, hay - Lí luận giá trị  lao động của c mac là lí luận hoàn chỉnh, khoa học nhất ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này
Hình th ái tiền đúc phát sinh từ chức năng của tiền làm phương tiện lưu thông. Một trọng lượng vàng được biểu hiện trong giá cả hay trong tên gọi bằng tiền của hàng hóa, phải đối lập với hàng hóa trong lưu thông với tư cách là một mẩu vàng cùng tên, hay (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w