Hình thành hai giaicấp cơ bản trong xã hội, trên cơ sở quan hệ bóc lột, với hính thức bóc lộttinh vi và không có giới hạn so với các phương thức sản xuất trước kia.Tuy máy móc ra đời ban
Trang 1Tư bản” Đây là tác phẩm chủ yếu của Mác – một công trình nghiên cứukinh tế hết sức vĩ đại về Chủ nghĩa tư bản thời kì tự do cạnh tranh Dựa trêntổng kết thực
tiễn phát triển ở nước Anh cổ điển, Ông đã phântích một cách khoa học và triệt để Chủ nghĩa tưbản với tư cách là một hình thái kinh tế xã hội,
đã vạch ra quy luật phát sinh, phát triển củaphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và nhữngmâu thuẫn trong lòng nó tất yếu sẽ thúc đẩy xãhội tư bản quá độ lên một phương thức sản xuấtcao hơn
Trên cơ sở xác định rõ đối tượng nghiên cứu, và sử dụng sức mạnhtrừu tượng hóa, Mác đã xây dựng hệ thống các lý luận hết sức lôgic, chặtchẽ “… Động cơ thúc đẩy và mục đích quyết định quá trình sản xuất tưbản chủ nghĩa là sự tăng lên càng nhiều càng tốt của tư bản, tức là sản xuất
ra giá trị thặng dư càng nhiều càng tốt, do đó, là việc nhà tư bản bóc lột sứclao động càng nhiều càng tốt”2 Qua lý luận giá trị thăng dư, Mác đã chỉ rõquy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản nó quyết định tất cả nhữngđặc điểm và những mặt chủ yếu của nền sản xuất ấy Quy luật này biểuhiện mối quan hệ sản xuất chủ yếu của phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa – quan hệ tư bản bóc lột lao động làm thuê Mác đã coi việc pháthiện ra quy luật giá trị thặng dư là mục đích cuối cùng của công trình
1 Bài phát biểu của Đồng chí Lê Hữu Nghĩa, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc Gia Hồ Chí Minh tại lế kỉ niệm 190 năm ngày sinh Các Mác
2 C.Mác Tư bản, tiếng Việt, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát – xcơ – va, t I, q I, ph I, tr 420
Bìa ngoài cuốn "Tư bản"
Trang 2nghiên cứu của mình trong Bộ “ Tư bản” Học thuyết giá trị thặng dư đãcho phép giải thích đúng tất cả mọi quá trình và hiện tượng kinh tế xã hộitrong xã hội tư bản, vạch rõ những cơ sở sâu xa của phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa, và bản chất bóc lột, nguyên nhân những mâu thuẫn đốikháng giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản Đặc biệt, học thuyết giátrị thặng dư cho phép luận chứng một cách khoa học về sự diệt vong tất yếucủa chủ nghĩa tư bản Chính vì vậy mà V I Lênin gọi học thuyết giá trịthặng dư là hòn đá tảng của Học thuyết kinh tế Mác Lênin đã nhấn mạnhrằng “ Mác đã hoàn toàn dựa vào và chỉ dựa vào những quy luật kinh tế của
sự vận động của xã hội hiện tại mà kết luận rằng xã hội tư bản chủ nghĩanhất định sẽ phải chuyển biến thành xã hội xã hội chủ nghĩa”1 nghĩa là dựa
vào quy luật giá trị thặng dư
Như vậy, việc nghiên cứu Học thuyết Mác, mà đặc biệt là lý luận giátrị thặng dư có ý nghĩa quan trọng Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự pháttriển như vũ bão của khoa học – kỹ thuật – công nghệ, đang có nhiều chủthuyết xây dựng nhằm bác bỏ học thuyết Mác mà trước tiên là lý luận giátrị thặng dư Nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư giúp những người giác ngộchủ nghĩa Mác củng cố quan điểm lập trường Mác – xít, chống lại các luậnđiệu đả kích, đồng thời trong quá trình phát triển đất nước chúng ta cũng cóthể rút ra những vấn đề có tính quy luật đi lên nền sản xuất lớn Từ đó, tiếptục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tạo ranhiều sản phẩm thặng dư, tăng tích lũy
Cuốn "Tư bản" đang trở thành sách bán chạy nhất, đặc biệt là trongthời điểm đang diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính Những ngày qua, lýluận của Các Mác liên tục được trích dẫn trên các báo ở Đức, quê hươngcủa Các Mác và là nước hiện cũng đang lao đao vì khủng hoảng tài chính
Dưới đầu đề “Phải chăng Các Mác có lý?”, tờ Hamburger Morgenpost
(Đức) viết: “Trong những ngày khốn khó này, ai đi tìm câu trả lời ở Các
Trang 3Mác chắc chắn là không sai lầm” Họ cho rằng, giờ đây ai đi tìm câu trả lời
ở Các Mác “chắc chắn là không sai” bởi ngay trong Tuyên ngôn ĐảngCộng sản, Các Mác đã yêu cầu cần có “sự tập trung hóa trong tay Nhà nướcthông qua một ngân hàng quốc gia cùng với vốn Nhà nước” Theo báo này,trong cuộc khủng hoảng hiện nay, Các Mác “lại trở nên vô cùng hấp dẫn”1.Không những chúng ta nghiên cứu Bộ “ Tư bản” mà có cả các nướcphương Tây, nơi mà chủ nghĩa tư bản đã ra đời và phát triển cho tới ngàynay Vậy trong Bộ “Tư bản” có gì? Để nhận thức rõ tầm quan trọng và đểhiểu sâu hơn về Học thuyết kinh tế của Mác, mà trước tiên là lý luận giá trịthặng dư, tạo điều kiện cho việc học tập các môn kinh điển chuyên nghành,
tác giải chọn đề tài tiểu luận “Lý luận giá trị thặng dư trong học thuyết
kinh tế của C Mác Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này trong giai đoạn hiện nay?”
1http://vnexpress.net, Sách của Karl Marx bán chạy giữa cơn bão tài chính
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
I Hoàn cảnh ra đời:
Mác sinh năm 1818, trong một giađình thuộc tầng lớp trung lưu Do Thái, ởTrier, Đức Ông học tại trường trung học ở
đó Sau khi tốt nghiệp ông quyết định vàotrường Đại học Bonn để học luật, nhưngchẳng bao lâu sau đó ông cảm thấy chánngán với các vấn đề luật pháp và bắt đầusay sưa với triết học Để theo đuổi niềmđam mê này ông chuyển sang trường Đạihọc Berlin, nơi lúc đó đang sôi sục triết họcHegel Mác đã tiếp nhận nhiều tư tưởng củaHegel với một cách có phê phán Ông nhận bằng tiến sỹ triết học năm
1841 Sau đó, với những tư tưởng tiến bộ, ông liên tục bị trục xuất khỏiParis, Brussel Ông và gia đình cuối cùng đã được chính quyền Londonchấp nhận Mác đã sống 33 năm còn lại tại London, dành hầu hết thời giantại bảo tàng Anh và nghiên cứu Kinh tế học, lãnh đạo phong trào công nhânquốc tế
Mác đã viết Bộ “Tư bản” trong thời gian khá dài, đây là tác phẩmchủ yếu của ông Ông đã làm việc bốn chục năm để viết nó, từ giữa nhữngnăm 40 của thế kỉ XIX cho tới khi ông qua đời Trong đó, tập I được ra mắtbạn đọc năm 1867, các tập tiếp theo được xuất bản sau khi Mác mất và doĂngghen chuẩn bị.(Tập II năm 1885, tập III năm 1894, tập 4 được dành đểnói về lịch sử và phê phán học thuyết kinh tế) Đây cũng là quãng thời gian
mà bối cảnh thế giới có nhiều biến đổi chính trị - xã hội, tư tưởng, mà trướctiên là kinh tế
Trang 51.1 Về kinh tế:
Giai đoạn từ giữ thế kỉ XIX, lần lượt các nước tư bản hoàn thànhcuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, mà mở đầu là nước Anh Cuộccách mạng công nghiệp lần thứ I, đã có những tác động lớn, biến lao độngthủ công thành lao động máy móc, đưa chủ nghĩa tư bản từ công trường thủcông sang đại công nghiệp cơ khí, tạo tiến đề vật chất cho chủ nghĩa tư bản,giúp cho chủ nghĩa tư bản chiến thắng hoàn toàn chế độ phong kiến Đồngthời, các mâu thuẫn xã hội và kinh tế được thể hiện đầy đủ
1.2 Về chính trị - xã hội:
Những biến đổi nêu trên về kinh tế đã có những biến đổi nhất định
về chính trị - xã hội Một giai cấp mới đã ra đời – đó là giai cấp công nhâncông nghiệp – sản phẩm của Đại công nghiệp cơ khí Hình thành hai giaicấp cơ bản trong xã hội, trên cơ sở quan hệ bóc lột, với hính thức bóc lộttinh vi và không có giới hạn so với các phương thức sản xuất trước kia.Tuy máy móc ra đời ban đầu nó là phương tiện để giải phóng sức lao động,nhưng sau chủ nghĩa tư bản đã biến chúng thành công cụ bóc lột sức laođộng của người công nhân Do vậy, các phong trào đấu tranh của côngnhân đã diễn ra tự phát Điều này đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu, xây dựngmột lý luận tiến bộ soi đường cho giai cấp công nhân đấu tranh, chuyển từ
tự phát sang tự giác
1.3 Về tư tưởng:
Trong giai đoạn này có nhiều phát minh khoa học, điển hình với
ba trào lưu tư tưởng lớn là Triết học cổ điển Đức, Kinh tế chính trị cổđiển Anh, và Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp Mác đã kế thừa cóphê phán những tư tưởng của các trào lưu này để góp phần xây dựng lýluận của mình
Có thể nói, trong bối cảnh như vậy, Mác đã kế thừa những tinh hoacủa nhân loại, kết hợp với thực tiễn sinh động của Chủ nghĩa tư bản ở nướcAnh qua tài năng trí tuệ của mình ông đã viết nên Bộ “Tư bản”
Trang 6II Nội dung lý luận về giá trị thặng dư của Mác trong “Bộ Tư Bản”
2.1 Lý luận giá trị thặng dư – bước tiến khoa học của Mác so với các nhà kinh tế tư sản cổ điển.
Được ra đời trong điều kiện và hoàn cảnh như vậy, bằng Bộ “ Tưbản”, “Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng trong kinh tế chính trị học,
về đối tượng và phương pháp nghiên cứu, về học thuyết giá trị lao động,ông đã đưa quan niệm duy vật lịch sử vào việc phân tích các phạm trù, cácquy luật kinh tế,…nhưng hơn cả là việc xây dựng học thuyết giá trị thặng
dư Trước đó, nhà kinh tế Thomson đã nêu ra giá trị thặng dư, nhưngkhông thừa nhận phạm trù này vì cho rằng nếu tồn tại sẽ vi phạm quyluật giá trị”1 Mác là người đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh học thuyết giá
trị thặng dư và khẳng định giá trị thặng dư tồn tại và phát triển hoàn toàntuân theo quy luật giá trị Trước tiên, Mác đã kế thừa một cách có phêphán lý luận của các nhà kinh tế trước ông, mà điển hình là các nhà kinh
tế tư sản cố điển
2.1 1 Những hạn chế trong việc nghiên cứu tư bản và lợi nhuận của các nhà kinh tế tư sản cổ điển:
Trước Mác đã có nhiều trường phái khác nhau định nghĩa về tư bản
Ví dụ: Trường phái trọng thương cho rằng tư bản là tiền mang lại tiền lớnhơn, phái trọng nông thì cho rằng tư bản là tiền ứng trước A Smith lạiđịnh nghĩa tư bản là một bộ phận của cải hay cái dự trù mà nhờ đó người sởhữu nó nhận được thu nhập Ông đã gắn tư bản với lợi nhuận Ông xâydựng lý thuyết về lợi nhuận tự nhiên, cho rằng, lợi nhuận tự nhiên là phầntrả cho tư bản, do kết quả của việc tiết kiệm Nhưng đây chỉ đơn thuần làđịnh nghĩa về lợi nhuận tự nhiên, nó không giải thích cái gì quyết định mứclợi nhuận tự nhiên D Ricacdo lại coi tư bản là công cụ, là vật Ông ta coilợi nhuận là phần thặng dư, hay phần còn lại của nhà tư bản sau khi đã trảcông cho công nhân và địa tô cho địa chủ Rõ ràng các nhà kinh tế trước
Trang 7Mác đã hoàn toàn nhìn nhận một cách phiến diện, không biện chứng về tưbản và lợi nhuận Họ cho tư bản là vật thể, tồn tại vĩnh viễn Họ cũngkhông tìm ra nguồn gốc của lợi nhuận
Trong chương đầu tiên quyển IV bộ “Tư Bản” C Mác đã khẳngđịnh rằng, tất cả những nhà kinh tế học trước ông đều nhầm lẫn giá trịthặng dư với một hình thái nào đó Ví dụ : trong phái trọng nông nhầm lẫngiá trị thặng dư với “sản phẩm ròng”, A Smith nhầm nó với lợi nhuận…Khi người ta nói đến sản phẩm ròng, lợi nhuận thì cũng có nghĩa là nói đếngiá trị thặng dư C Mác là người đầu tiên tách phạm trù giá trị thặng dưthành một phạm trù riêng Vậy với phương pháp nghiên cứu như thế nào,
và bắt đầu từ đâu mà Mác có thể làm được điều mà các nhà tiền bối khônglàm được?
2 2 Lý luận giá trị thặng dư của Mác
2.2.1 Công thức chung của tư bản, bước đi đúng đắn cho việc tìm ra giá trị thặng dư.
Mác bắt đầu nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư từ công thức chungcủa tư bản Ông viết: “Lưu thông hàng hóa là khởi điểm của tư bản… Nếugạt sang một bên cái nội dung vật thể của lưu thông hàng hóa, sự trao đổigiá trị sử dụng khác nhau, và chỉ xét tới những hình thái do quá trình đó đẻ
ra thì chúng ta sẽ thấy rằng tiền là sản phẩm cuối cùng của quá trình ấy.Sản phẩm cuối cùng ấy của lưu thông hàng hóa là hình thái biểu hiện đầutiên của tư bản.”1 Không những tiền là biểu hiện đầu tiên của tư bản, khixuất hiện đầu tiên trên vũ đài, tức là trên thị trường, thị trường hàng hóa,thị trường lao động, hay thị trường tiền tệ, thì mỗi tư bản bao giờ cũng xuấthiện dưới dạng tiền, số tiền này phải được chuyển hóa thành tư bản thôngqua những quá trình nhất định Như vậy, Mác đã chỉ rõ được hình thái đầutiên và hình thái cuối cùng của tư bản, đó chính là Tiền Tiền với tư cách là
1 C.Mác & Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, t.23, tr.221
Trang 8tiền, và tiền với tư cách là tư bản lúc đầu chỉ khác nhau về hình thái lưuthông không giống nhau mà thôi.
Bằng những lập luận vô cùng sắc sảo, Mác đã chỉ ra công thức chungcủa tư bản và mâu thuẫn của nó Chúng ta hãy xem Mác nghiên cứu và lậpluận như thế nào?
Đầu tiên, Mác đã so sánh sự giống và khác nhau giữa lưu thông hànghóa giản đơn (H – T – H) và lưu thông tư bản(T – H – T) qua công thứcchung Ông đã đưa ra một ví dụ dùng 100 p xt để mua 2000 pao bông vàđem 2000 pao bông đó ra bán thu được 110 p xt., để đặt vấn đề rất
hay:“chúng ta cũng sẽ thấy một sự khác nhau về nội dung ẩn giấu đằng
sau những sự khác nhau về hình thức ấy” Ông chỉ rõ những điểm khác
nhau của hai công thức này và phân tích chúng, giúp chúng ta thấy đượcbản chất của lưu thông tư bản Hai hình thái trên có giống nhau: Đều trảiqua hai giai đoạn đối lập nhau (mua, bán); trong mỗi giai đoạn đó đứng đốidiện với nhau là hai yếu tố vật chất (Hàng và tiền); và cả hai hình thái đóđều biểu hiện quan hệ kinh tế giữa người mua và người bán
Sự khác nhau đầu tiên Mác nói đến giữa hai công thức này là “trình
tự đảo ngược của những giai đoạn đối lập ấy của lưu thông” Lưu thông
hàng hóa bắt đầu bằng việc bán kết thúc bằng việc mua, còn lưu thông củatiền với tư cách là tư bản thì bắt đầu bằng việc mua và kết thúc bằng việcbán Trong hình thái thứ nhất, tiền là vật trung gian, còn trong hình thái thứhai tiền với vai trò là một loại hàng hóa Từ đó, Mác đã chỉ ra điểm khácnhau tiếp theo trong hai công thức đó là ở mục đích cuối cùng của lưuthông “ Trong quá trình lưu thông H – T – H, tiền cuối cùng đượcchuyển thành hàng hóa, hàng hóa này được chuyển làm giá trị sử dụng”,
“ngược lại trong hình thái đối lập T – H – T, người mua chỉ chi tiền củamình ra để rồi thu lại tiền với tư cách là người bán”1 Giá trị là mục đíchcủa lưu thông tư bản
Trang 9Những lý luận đó giúp Mác tiếp tục chỉ rõ giới hạn của sự vận độngcho từng loại hình lưu thông Đó cũng là điểm khác nhau tiếp theo giữachúng Lưu thông hàng hóa giản đơn, việc lưu thông là phương tiện để đạtmục đích sử dụng nằm ngoài lưu thông, chỉ là phương tiện để chiếm giá trị
sử dụng thỏa mãn nhu cầu, nên vận động đó có giới hạn Trong lưu thông
tư bản, sự vận động là không có giới hạn “nó ra khỏi lĩnh vực lưu thông rồilại trở lại lưu thông, tự duy trì và sinh sôi nảy nở trong lưu thông, quay trở
về dưới dạng lớn lên và lại không ngừng bắt đầu vòng chu chuyển ấy”1
Như vậy, Mác đã xây dựng lý luận của mình một cách khá lôgic và chặtchẽ trong việc nghiên cứu công thức chung của tư bản Mác cũng khẳngđịnh Mua để Bán, T – H – T’ không phải là hình thái riêng của một loại tưbản – tư bản thương nhân, mà nó tồn tại ngay cả ở tư bản công nghiệp, cả ở
tư bản cho vay (T – T’) Như vậy, T – H – T’ thực sự là công thức chungcủa tư bản, đúng như nó thể hiện trong lĩnh vực lưu thông và trong nó thểhiện những mâu thuẫn
Mác lập luận bằng chính những nghiên cứu trước đây của mình đểchỉ rõ những mâu thuẫn công thức chung của tư bản hàng hóa có giá trị vàgiá trị sử dụng, giá trị của hàng hóa là do lao động xã hội trừu tượng kếttinh trong hàng hóa, tiền lại là sự kết tinh của giá trị thông qua ý niệm vềmột số lượng vàng nhất định, nhưng trong lưu thông không thể sinh ra mộtnguyên tử giá trị nào Nhưng hình thái lưu thông, nhờ đó tiền chuyển hóathành tư bản, hình như mâu thuẫn với ba điều trên Mác đã chuyển sangxem xét lĩnh vực trao đổi Ông nêu ra 2 trường hợp, trao đổi ngang giá vàkhông ngang giá Sau đó, ông đặt từng trường hợp “ những hàng hóa, hoặchàng hóa và tiền có cùng một giá trị trao đổi, tức là vật ngang giá, đượcngười ta đem trao đổi với nhau, thì rõ ràng là không ai rút được từ lưuthông ra nhiều giá trị hơn số đã bỏ vào trong đó”2 Trong trường hợp tiếp
1 C.Mác & Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, t.23, tr.234
2 C.Mác & Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, t.23, tr.240
Trang 10theo, hàng hóa trao đổi không ngang giá có thể sảy ra các khả năng: ngườibán hàng hóa cao hơn giá trị hàng hóa của mình, người mua hàng hóa thấphơn giá trị của mình, cón người mua rẻ bán đắt, và có những kẻ bịp bợm.Trong các trường hợp đó cũng không tạo thêm một nguyên tử giá trị nào.
Từ đó, Mác kết luận “ Vậy tư bản không thể không xuất hiện từ lưu thông
và cũng không xuất hiện ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưuthông đồng thời không phải trong lưu thông”1 Đây chính là mâu thuẫn
công thức chung của tư bản Mâu thuẫn đặt ra yêu cầu phải giải quyết
Tính lôgic và lịch sử đã được thể hiện đầy đủ trong nghiên cứu củaMác Từ việc so sánh hai công thức, chỉ ra công thức chung của tư bản vàmâu thuẫn của nó Có thể khẳng định tư bản bao giờ cũng xuất hiện dướihình thức tiền Vậy tiền chuyển hóa thành tư bản như thế nào? Mác đã giảithích điểu này ra sao? Đó là do trên thị trường tư bản chủ nghĩa lúc nàyxuất hiện một loại hàng hóa mới, đặc biệt, đó là hàng hóa sức lao động
2 2 2 Lý luận hàng hóa sức lao động - mâu thuẫn công thức chung của
tư bản được giải quyết
Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự phát triển vượt bậc so với nềnsản xuất hàng hóa giản đơn không những cả về lượng mà còn cả về chất.Trên thị trường lúc này xuất hiện một loại hàng hóa mới, đặc biệt, chưatừng xuất hiện trước đây Và một điều quan trọng đó là nhờ nó mà mâuthuẫn công thức chung của tư bản được giải quyết
Mác cho rằng sức lao động là “toàn bộ những năng lực thể chất vàtinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và đượcngười đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”2
Nhưng muốn cho người chủ tiền tìm được trên thị trường một sứclao động với tư cách là hàng hóa thì một số điều kiện khác nhau phải thựchiện Mác đã chỉ ra hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa Sức
1 C.Mác & Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, t.23, tr.249
2C.Mác & Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, t.23, tr.251
Trang 11lao động chỉ xuất hiện với tư cách là hàng hóa khi nó được đưa ra thịtrường và chỉ trong chừng mực nó được đưa ra thị trường, tức là khi nóđược chủ sở hữu của nó đem bán Muốn vậy thì người chủ của nó phải có
khả năng chi phối nó, tức là anh ta phải là “kẻ tự do” sở hữu sức lao động
của mình Cả người chủ sở hữu sức lao động – Người bán, và chủ tiền –Người mua đều bình đẳng về mặt pháp lý Do đó, người chủ sở hữu sức lao
động chỉ bán sức lao động trong một thời gian nhất định mà thôi Nếu anh
ta bán đứt hẳn toàn bộ sức lao động ấy trong một lần thì anh ta sẽ tự bán
cả thân anh ta, anh ta sẽ trở thành người nô lệ Dưới chủ nghĩa tư bản, xãhội tiến bộ nhất so với các xã hội trước đó, người lao động có sự tự dotương đối, trong đó có việc sở hữu sức lao động của mình Với tư cách đó,người sở hữu sức lao động bao giờ cũng chỉ để cho người mua sử dụnghoặc tiêu dung sức lao động trong một thời gian nhất định mà thôi, anh takhông từ bỏ quyền sở hữu sức lao động của mình
Điều kiện thứ hai Mác chỉ ra là người chủ sức lao động phải khôngcòn có khả năng bán những hàng hóa trong đó lao động của anh ta được vậthóa, mà trái lại, anh ta buộc phải đem bán, với tư cách là hàng hóa, chínhngay cái sức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể người sống của anh ta màthôi Mác đã đưa ra các khả năng để cho người nào đó bán được hàng hóakhác với sức lao động của mình, thì tất nhiên là anh ta phải có những tưliện sản xuất, ví dụ như nguyên liệu, công cụ lao động … Anh ta không thểlàm giày ống mà không có da thuộc Ngoài ra anh ta còn cần có tư liệu sinhhoạt nữa Có nghĩa là điểu kiện thứ hai phải là bản thân người sở hữu sức
lao động không còn gì cả - “trần như nhộng” hình ảnh chính xác, không
còn gì có thể diễn tả hay hơn thế như trong kết luận của Mác về người laođộng trong chủ nghĩa tư bản
Mác đã kết luận điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa, mộtthứ hàng hóa đặc biệt “Như vậy là để chuyển hóa tiền thành tư bản, ngườichủ tiền phải tìm được người lao động tự dơ trên thị trường hàng hóa, tự do
Trang 12theo hai nghĩa: theo nghĩa là một con người tự do, chi phối được sức laođộng của mình với tư cách là một hàng hóa, và mặt khác anh ta không còn
có một hàng hóa nào khác để bán, nói một cách khác là trần như nhộng,
hoàn toàn không có những vật cần thiết để thực hiện sức lao động củamình.”1.
Người chủ tiền đã tìm thấy trên thị trường lao động với tính cách làmột chi nhánh đặc biệt của thị trường hàng hóa Mác đã khẳng định rằngmối quan hệ giữa người chủ tiền, và người chủ sở hữu sức lao động là sựphát triển tất yếu của lịch sử, là sản phẩm của nhiều cuộc cách mạng kinh
tế, là sản vật của sự diệt vong của hàng loạt những hình thái sản xuất xã hội
cũ hơn
Qua những lập luận trên ta có thể thấy cách phân tích lập luận vôcùng lôgic và chặt chẽ, chính xác, kết hợp với lý luận với thực tiễn, làmcho người đọc ai cũng phải thừa nhận
Mác tiếp tục dẫn dắt: “chúng ta phải nghiên cứu tường tận hơn thứ
hàng hóa đặc biệt đó, tức là sức lao động Cũng như mọi hàng hóa khác, hàng hóa này cũng có giá trị Giá trị ấy được quyết định bởi cái gì?” 2
Giá trị sức lao động, cũng như mọi hàng hóa khác, được quyết địnhbởi số thời gian lao động cần thiết để sản xuất, và do đó, để tái sản xuất rathứ sản phẩm đặc biệt ấy Vì sức lao động là một giá trị, cho nên bản thân
nó chỉ đại biểu cho một sức lao động trung bình nhất định đã vật hóa Đểsản xuất và tái sản xuất sức lao động phải tiêu dùng những tư liệu sinh hoạtcần thiết Như vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những
tư liệu sinh hoạt ấy Không chỉ tư liệu sinh hoạt cho bản thân anh ta, nêngiá trị sức lao động phải được tính thông qua những tư liệu sinh hoạt cầnthiết không những cho người công nhân mà còn cho cả con cái họ Đồngthời còn có cả những chí phí đào tạo gia nhập vào tổng số những giá trị
1 C.Mác & Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, t.23, tr.253
Trang 13được chi phí để sản xuất ra sức lao động Mác đã đưa ra công thức tính sốlượng trung bình hàng ngày của những hàng hóa ấy =
Trên thực tế, tổng số những chi phí ấy được thanh toán bằng nhữngthu nhập trung bình, thu được từ ngày này qua ngày khác Trong công thứctrên, A là số khối lượng các hàng hóa cần thiết hàng ngày để sản xuất raSLĐ = A, khối lượng hàng hóa cần thiết cho mỗi tuần = B; khối lượnghàng hóa cần thiết cho mỗi tháng = C, v.v…
Mác đã phân tích rất kĩ lưỡng, chặt chẽ Để có được điều này đòi hỏiphải tốn rất nhiều thời gian, tâm sức và một trí tuệ siêu việt Trong việcphân tích giá trị sức lao động, Mác cũng đã chỉ ra rằng tùy điều kiện khácnhau của mỗi quốc gia, khu vực, tức là, ngược lại với các hàng hóa khác,việc quy định giá trị của sức lao động bao hàm một yếu tố lịch sử và yếu tốtinh thần Nhưng với một nước nhất định và một thời kì nhất định, thì tínhtrung bình, quy mô của những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người laođộng là một đại lượng nhất định Mác đã tính đến hoàn cảnh lịch sử cụ thể.Ông đã khá toàn diện trong việc phân tích các bộ “Tư bản” nói chung vàgiá trị sức lao động nói riêng
Khi chuyển sang phân tích về giá trị sử dụng của hàng hóa sức laođộng Mác chỉ rõ một điểm đặc biệt của thứ hàng hóa này, “Khi hợp đồnglao động được ký kết giữa người mua và người bán thì giá trị sử dụng của
nó vẫn chưa thật sự chuyển sang tay người mua Trong khi như đã phântích ở trên giá trị của hàng hóa sức lao động, cũng như giá trị của bất kì mộtloại hàng hóa nào khác, đã được quyết định trước khi nó đi vào lưu thông.Nhưng giá trị sử dụng của sức lao động thì chỉ bao hàm những biểu hiệnsau này mà thôi Mác nói: “Vậy là ở khắp mọi nơi, người lao động đều ứngtrước giá trị sử dụng của sức lao động của mình cho nhà tư bản; anh ta để
(365A + 52B + 4C + v.v.)
365
Trang 14cho mọi người tiêu dùng sức lao động của mình trước khi nhận được giá cảcủa nó, nói tóm lại, ở đâu người công nhân cũng cho nhà tư bản vay nợ”sức lao động đã được bán rồi nhưng chỉ về sau, nó mới được trả tiền Tiềncủa người mua lúc này làm chức năng thanh toán Vậy giá trị sử dụng củasức lao động là gì? Giá trị sử dụng của nó mà người chủ tiền nhận được khitrao đổi, đến lượt nó, lại chỉ thể hiện ra trong quá trình sử dụng thực sự, tức
là trong quá trình tiêu dùng sức lao động Quá trình tiêu dùng sức lao độngđồng thời là quá trình sản xuất ra hàng hóa và giá trị thặng dư
Bằng phương pháp luận khoa học, đồng thời Mác cũng kế thừa cóphê phán những luận điểm của các nhà lý luận khác Chẳng hạn, Mác đã sửdụng quan điểm của Stoóc – sơ “người công nhân…cho vay sự cần cù củamình” để nói rằng nhà tư bản vay nợ Điều đó giúp cho luận điểm của Máctrở nên thuyết phục hơn Tuy vậy, ông cũng phê phán thẳng thắn nhữngđiểm không tiến bộ Mác viết về Stoóc – sơ “ nhưng ông ta lại thêm mộtcách láu cá rằng người công nhân “không sợ mất gì cả” ngoài việc mất tiềncông của mình … vì người công nhân không chuyển một cái vật chất gìvào sản xuất cả”1 Đây chỉ là một dẫn chứng trong rất nhiều các luận điểm
mà trong cách viết của Mác đã sử dụng chính các luận điểm của các nhà lýluận khác để xây dựng, củng cố luận điểm của mình
Ăngghen nói rằng Mác là người đầu tiên phát hiện ra lý thuyết mới
về tiền chuyển hóa hành tư bản, bằng việc ông phát hiện ra phạm trù hànghóa sức lao động Có thể nói đây chính là chiếc chìa khóa để giải quyết mốiquan hệ giữa tư bản và lao động, đã tìm ra bí mật của sản xuất tư bản chủnghĩa Không những hàng hóa sức lao động là điều kiện cho sự chuyển hóatiền thành tư bản, giải quyết được vấn đề tiền đẻ ra tiền mà không vi phạmquy luật sản xuất hàng hóa Khi sức lao động thực sự trở thành hàng hóa thìsản xuất hàng hóa giản đơn sẽ trở thành sản xuất tư bản chủ nghĩa Nó báohiệu một thời đại mới, thời đại của tư bản công nghiệp Lý luận hàng hóa
Trang 15sức lao động là cơ sở lý luận để xây dựng nên học thuyết giá trị thặng dư,những bế tắc của các nhà kinh tế học cổ điểm được giải quyết Như vậy,việc tìm ra lý luận hàng hóa sức lao động có ý nghĩa quan trọng Vậy hànghóa sức lao động giải quyết được mâu thuẫn trong công thức chung của tưbản như thế nào?
2 2 3 Thực chất quá trình sản xuất giá trị thặng dư:
Như đã trình bày, người mua sức lao động tiêu dùng sức đó bằngcách bắt người bán nó phải lao động Lao động chính là quá trình tiêu dùngsức lao động Trong chủ nghĩa tư bản việc sử dụng sức lao động chính làviệc tiêu dùng hàng hóa mà chủ tiền đã mua, tức là sức lao động Ngườimang sức lao động, người công nhân, phải tiêu dùng các tư liệu sản xuấtbằng lao động của mình Người lao động thực hiện quá trình lao động chonhà tư bản chứ không phải bản thân mình Như vậy, việc sử dụng hàng hóasức lao động của người công nhân là quá trình tư bản tiêu dùng sức laođộng với hai đặc trưng, “người công nhân lao động dưới sự kiểm soát củanhà tư bản, lao động của anh ta thuộc về nhà tư bản, Nhà tư bản trông nomsao cho công việc tiến hành được tốt và những tư liệu sản xuất được tiêudùng một cách hợp lý”1 Đó là đặc trưng thứ nhất Đặc trưng thứ hai là sản
phẩm thuộc sở hữu của nhà tư bản, chứ không phải những người sản xuấttrực tiếp, không phải người công nhân
Để làm rõ hơn đặc điểm của quá trình sử dụng hàng hóa sức laođộng trong chủ nghĩa tư bản, từ quan điểm duy vật lịch sử, “ Những thờiđại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ởchỗ chúng sản xuất ra bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”2, đặcđiểm của sức lao động trong chủ nghĩa tư bản đã được Mác chỉ ra Ta cóthể hiểu, trong chủ nghĩa tư bản, cách thức sản xuất đó là bóc lột sức laođộng của người công nhân Những sản phẩm người công nhân làm ra bị
1 C.Mác & Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, t.23, tr.277
2 C.Mác & Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, t.23, tr.269
Trang 16tước đoạt bởi chính người mua sức lao động của họ Bằng việc mua sức laođộng, nhă tư bản đê kết hợp bản thđn lao động với tư câch lă một chất mensống văo những yếu tố chết cấu thănh sản phẩm, cũng thuộc về hắn ta.Theo quan điểm của hắn, quâ trình lao động chỉ lă việc tiíu dùng thứ hănghóa mă hắn ta đê mua, tức lă sức lao động Kết quả của quâ trình tiíu dùnghăng hóa sức lao động đương nhiín thuộc về hắn như quâ trình lín mennho trong hầm rượu
* Tư bản bất biến vă tư bản khả biến:
Mâc nghiín cứu tư bản bất biến vă tư bản khả biến nhằm khẳng địnhlại lý luận đê trình băy về nguồn gốc giâ trị thặng dư vă nơi tạo ra nó, tức lẵng muốn vạch rõ vai trò của từng bộ phận tư bản trong việc tạo ra giâ trịthặng dư Mâc viết: “ Cúng với những bộ phđn cấu thănh ấy của tư bản, xĩttrín quan điểm của quâ trình lao động phđn biệt thănh những nhđn tố khâchquan vă chủ quan, thănh những tư liệu sản xuất vă sức lao động, nhưng xĩttrín quan điểm của quâ trình lăm tăng giâ trị thì lại phđn biệt thănh tư bảnbất biến vă tư bản khả biến”1
Qua phđn tích, lập luận, Mâc kết luận: Trong quâ trình sản xuất, bộphận tư bản bất biến thănh tư liệu sản xuất, tức lă thănh nguyín liệu, vậtliệu phụ vă tư liệu lao động, không thay đổi đại lượng giâ trị của nó Mâcgọi đó lă bộ phận bất biến của tư bản, hay tư bản bất biến
Trâi lại bộ tư bản biến thănh sức lao động lại thay đổi giâ trị của nótrong quâ trình sản xuất Nó tâi sản xuất ra vật ngang giâ với bản thđn nó văngoăi ra lại còn sản xuất ra một số dư, tức lă giâ trị thặng dư; giâ trị thặng
dư năy có thể thay đổi, có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn Từ một đại lượng bấtbiến, bộ phận năy của tư bản không ngừng chuyển hóa thănh một đại lượngkhả biến Mâc gọi nó lă tư bản khả biến
Mâc đê vạch rõ nguồn gốc thực sự của việc hình thănh giâ trị thặng
dư, vạch trần bản chất của sự bóc lột tư bản chủ nghĩa bị quan hệ hăng hóa
Trang 17che đậy Khi tổ chức sản xuất, nhà tư bản chi một số tiền nhất định vào việcmua tư liệu sản xuất và mua sức lao động, chỉ nhằm một mục đích duy nhất
là thu được một khoản dôi ra ngoài số tiền mà hắn ứng ra ban đầu, nghĩa làthu được giá trị thặng dư Tư liệu sản xuất không thể là nguồn gốc của giátrị thăng dư, vì chúng không tạo ra giá trị mới, mà chỉ chuyển hóa giá trịcủa chúng sang sản phẩm mới Còn với đặc tính riêng của hàng hóa sức laođộng, khiến nói chính là nguồn gốc của giá trị thặng dư Đó cũng chính lànguyên nhân vì sao mà nhà tư bản bắt người công nhân ngoài số thời gianlao động cần thiết để tạo ra thêm nhiều sản phẩm, mang lại nhiều giá trị, đểnhà tư bản chiếm đoạt
2 2 4 Các phương pháp sản suất giá trị thặng dư – Mác chỉ rõ mặt lượng giá trị thặng dư:
Các Mác nêu rõ nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư Có nhữngcách thức như thế nào để tạo ra giá trị thặng dư Nghiên cứu quá trình sảnxuất tư bản chủ nghĩa Mác chỉ ra hai phương pháp Đó là phương pháp sảnxuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dưtương đối
* Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối:
Việc mua hàng hóa sức lao động là điều kiện căn bản để tiền chuyểnhóa thành tư bản Nhưng sau khi mua sức lao động, nhà tư bản phải tiêudùng nó, nếu không tiêu dùng thì không thu được giá trị thặng dư Mácnghiên cứu quá trình sản xuất ra tư bản chủ nghĩa với tư cách là quá trìnhtạo ra giá trị Ông đã đưa ra các giả định:
- Tư liệu sản xuất thực sự dùng để sản xuất ra những giá trị sử dụng
- Chỉ dung thời gian lao động tất yếu trong điều kiện sản xuất bìnhthường (sức lao động hoạt động trong điều kiện trung bình của xã hội; tưliệu sản xuất phải được tiêu dung ở mức bình thường( những hao phí vô íchkhông them vào giá trị sản phẩm thì không được tính vào giá trị sảnphẩm))
Trang 18- Phải tuân theo quy luật sản xuất hàng hóa, đặc biệt là quy luật giá trị.Với các giả định nêu trên, Các Mác miêu tả quá trình sản xuất ra giátrị thặng dư thông qua quá trình sản xuất hàng hóa mà cụ thể là sản xuấtsợi Trong quá trình phân tích ông đã sử dụng lý luận tính chất hai mặt củalao động sản xuất hàng hóa để phân tích
Giả định ngày lao động là 12h 24h lao động hay hai ngày tạo ra12silinh (sh) Để chế biến được 10pao sợi, cần một lượng bông là 10pao, cógiá trị là 10 (sh), mua số lượng cọc sợi là 2 (sh) Vậy bộ phận tư liệu sảnxuất (bông + Cọc sợi) đã tạo ra 12 (sh) trong giá trị của 10pao sợi hay đó là
sự vật chất hóa của hai ngày lao động Do đó, bây giờ còn cần phải tìmphần giá trị mà lao động của người kéo sợi đã kết hợp vào sản phẩm
Khi bán sức lao động, giả định giá trị sức lao động một ngày 3 (sh),biểu hiện bằng giờ lao động, chẳng hạn một giờ lao động chế biến 1 2/3pao bông thành 1 2/3 pao sợi thì sau 6h lao động sẽ chuyển hết 10pao bôngthành 10 pao sợi 10 pao sợi đó biểu thị cho 6h lao động, và bằng 3 (sh).Việc kéo sợi đã gắn thêm vào bông 3 (sh) Khi ấy tổng giá trị sản phẩm (10pao sợi) đã vật hóa 2 ½ ngày lao động, biểu hiện = 12 + 3 = 15 (sh) Do
đó, giá cả phù hợp với giá trị 10 pao sợi = 15 (sh) hay giá cả 1 pao sợi = 1(sh) 6 penny
Giá cả của 10 pao sợi là 15 (sh) và nó được chi tiêu hết trên thịtrường hàng hóa các nhân tố sản xuất (10(sh) vào bông; 2(sh) vào số cọcsợi, và 3 (sh) vào sức lao động) Rõ ràng là đến đây giá trị ứng trước khôngtăng lên, không sản xuất ra giá trị thặng dư và do đó tiền không biến thành
tư bản Mác lại tiếp tục lập luận:
Nhưng giá trị một ngày sức lao động là 3 (sh) (chỉ trị giá nửa ngàylao động ) và sự tiêu phí sức lao động ấy trong một ngày – đó là hai Đạilượng hoàn toàn khác nhau Sự chênh lệch đó chính là mục đích của nhà tưbản khi mua sức lao động, mà hắn vẫn hành động theo đúng quy luật củasản xuất hàng hóa Nhà tư bản sẽ tổ chức lao động 12h một ngày và trong
Trang 1912h lao động sẽ biến 20pao bông thành 20pao sợi Bây giờ trong 20pao sợi
đó đã vật hóa 5 ngày lao động (4 ngày tư liệu sản xuất đã tiêu dung và 1ngày được bông thu hút trong quá trình kéo sợi) và biểu hiện bằng tiền qua
5 ngày lao động, đó là 30 (sh) Vậy đó đúng là giá cả của 20 pao sợi(=30sh) Nhưng tổng giá trị của hàng hóa được ném vào trong qua trình chỉ
là 27(sh) Vậy 27 (sh) đã chuyển thành 30 (sh) Chúng đã đem lại một giátrị thặng dư là 3 (sh), tiền đã biến thành tư bản
Mác kết luận: “Nếu chúng ta so sánh qua trình tạo ra giá trị với quátrình làm tăng gía trị, thì chúng ta sẽ thấy rằng quá trình làm tăng giá trị
chẳng qua cũng chỉ là quá trình tạo ra giá trị được kéo dài quá 1 điểm mà
thôi”1 Nói cách khác đó là kéo dài tuyệt đối ngày lao động vượt quá thờigian lao động cần thiết, tức là vượt quá thời gian mà người lao động sảnxuất ra vật ngang giá với giá trị sức lao động của mình Đây chính làphương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối, một trong những phươngpháp nâng cao trình độ bóc lột Phương pháp này được áp dụng nhiều tronggiai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, trước khi nền đại sản xuất cơ khí chiếm
vị trí thống trị
* Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối:
Khi nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối, C.Mác đã xuấtphát từ giả định giá trị Sức lao động (Thời gian lao động tất yếu) là khôngđổi, còn thời gian lao động thặng dư là một đại lượng khả biến Khi nghiêncứu sản xuất giá trị thặng dư tương đối, ông giả định đo độ dài ngày laođộng và việc chia lao động cần thiết và lao động thặng dư là đã cho sẵn.Vậy làm thế nào để việc sản xuất ra giá trị thặng dư có thể tăng lên được.Trong thực tế, thời gian lao động tất yếu có thể thay đổi được do kết quảcủa việc tăng năng suất lao động, mà tăng năng suất lao động lại là kết quảcủa nhiều yếu tố: tiến bộ khoa học kĩ thuật, cải tiến tổ chức sản xuất, đổimới phương pháp sản xuất, v.v…
1 C.Mác & Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, t.23, tr.291