Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo- hai dòng chủ lưu của VHTÐVN.. Quang Trung chống giặc Thanh.. Cho nên, chế độ phong kiến co thể hưng thịnh hay suy vong nhưng ý thức dân
Trang 11 Tính chất bác học cao
quý
những sáng tác văn chương co
như thế mới được xem là bác
học, cao nhã, cao quý Chẳng
hạn, noi đến cây và hoa, người
đọc sẽ bắt gặp tùng, trúc, cúc,
mai, sen… Đây là những biểu
tượng để chỉ phẩm chất, khí tiết
của bậc trượng phu, người quân
tử; noi đến vật thì thường là
long, ly, quy, phụng; noi đến
người thì ngư, tiều, canh, mục;
tả cảnh mùa thu phải là rừng
phong lá rụng, sen tàn giếng
ngọc, mây đùn cửa ải, lá ngô
đồng vàng rơi; noi hoa bốn mùa
thì thường là xuân lan, thu cúc,
hạ sen, đông mai… Vì thế,
người đọc không lấy làm lạ là
một kiệt tác như Dụ chư ty
tướng hịch văn (Hịch tướng sĩ)
của Hưng Đạo Vương Trần
Quốc Tuấn, để khích lệ lòng yêu
nước của các tướng sĩ dưới
quyền xông lên đánh quân xâm
lược, tác giả lại nêu lên những
tấm gương trung thần nghĩa sĩ ơ
sách vơ Trung Quốc như Ky
Tín, Do Vu, Dự Nhượng, Vương
Công Kiên
1 Chủ nghĩa yêu nước và
chủ nghĩa nhân đạo- hai
dòng chủ lưu của
VHTÐVN
a Chủ nghĩa yêu nước:
Văn hoa Ðại Việt, văn chương
Ðại Việt khơi nguồn từ truyền
thống sản xuất và chiến đấu của
tổ tiên, từ những thành tựu văn
hoa và từ chính thực tiễn hàng
nghìn năm đấu tranh chống giặc
ngoại xâm phương Bắc
Hiếm thấy một dân tộc nào trên
thế giới lại phải liên tục tiến
hành những cuộc chiến tranh
chống giặc ngoại xâm như dân
tộc Việt Nam Nhà Tiền Lê, nhà
Lý chống Tống Nhà Trần chống
Nguyên Mông Nhà Hậu Lê
chống giặc Minh Quang Trung
chống giặc Thanh Những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại được tiến hành trong trường ky lịch sử
nhằm bảo vệ nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc không những tôi luyện bản lĩnh dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tin, khí thế
hào hùng của dân tộc mà còn gop phần làm nên một truyền thống lớn trong văn học Việt Nam: Chủ nghĩa yêu nước
Ðặc điểm lịch sử đo đã quy định cho hướng phát triển của văn học là phải luôn quan tâm đến việc ca ngợi ý chí quật cường, khát vọng chiến đấu, chiến thắng, lòng căm thù giặc sâu sắc, ý thức trách nhiệm của những tấm gương yêu nước, những người anh hùng dân tộc quên thân mình vì nghĩa lớn Co thể noi, đặc điểm này phản ánh
rõ nét nhất mối quan hệ biện chứng giữa lịch sử dân tộc và
văn học dân tộc
Quá trình đấu tranh giữ nước tác động sâu sắc đến sự phát triển của văn học, bồi đắp, phát triển ý thức tự hào dân tộc, tinh thần độc lập tự chủ Cho nên, chế độ
phong kiến co thể hưng thịnh hay suy vong nhưng ý thức dân tộc, nội dung yêu nước trong văn học vẫn phát triển không ngừng
Các tác phẩm văn học yêu nước thời ky này thường tập trung thể
hiện một số khía cạnh tiêu biểu như:
- Tình yêu quê hương
- Lòng căm thù giặc
- Yï thức trách nhiệm
- Tinh thần vượt kho, sẵn sàng
hy sinh vì Tổ quốc
- Ý chí quyết chiến, quyết thắng
- Ðề cao chính nghĩa của người Việt Nam trong những cuộc kháng chiến
b Chủ nghĩa nhân đạo Văn học do con người sáng tạo nên và tất yếu no phải phục vụ trơ lại cho con người Vì vậy, tinh thần nhân đạo là một phẩm chất cần co để một tác phẩm trơ thành bất tử đối với nhân loại Ðiều này cũng co nghĩa là, trong
xu hướng phát triển chung của văn học nhân loại, VHTÐVN vẫn hướng tới việc thể hiện những vấn đề của chủ nghĩa nhân đạo như:
- Khát vọng hòa bình
- Nhận thức ngày càng sâu sắc về nhân dân mà trước hết là đối với những tầng lớp thấp hèn trong xã hội phân chia giai cấp
- Ðấu tranh cho hạnh phúc, cho quyền sống của con người, chống lại ách thống trị của chế độ phong kiến
- Ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động
- Tố cáo mạnh mẽ và đấu tranh chống những thế lực phi nhân
2 Văn học viết phát triển dựa trên những thành tựu của văn học dân gian
- Văn học viết Việt Nam hay bất
ky một nền văn học dân tộc nào khác đều phải phát triển trên cơ
sơ kế thừa những tinh hoa của văn học dân gian Trong tình hình cụ thể của VHTÐVN, mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian chủ yếu là do các nguyên nhân sau:
+ Sau khi nước nhà độc lập, nhu cầu thiết yếu mà nhà nước phong kiến Việt Nam cần phải chú ý là việc xây dựng một nền văn hoa mang đậm bản sắc dân tộc, chống lại âm mưu bành trướng, đồng hoa của kẻ thù phương Bắc và nâng cao lòng tự hào dân tộc
Trang 2+ Những tác phẩm bằng
chữ Hán trong thời ky này
thường dễ xa lại với quần chúng
bình dân, tác phẩm ít được
truyền tụng rộng rãi Vì vậy,
càng về sau, nhu cầu quần chúng
hoa, dân tộc hoa tác phẩm ngày
càng mạnh mẽ Trong quá trình
giải quyết vấn đề này, chỉ co văn
học dân gian là nhân tố tích cực
nhất
Quá trình kế thừa, khai thác
VHDG là một quá trình hoàn
thiện dần các yếu tố tinh lọc từ
VHDG bắt đầu từ thơ ca
Nguyễn Trãi về sau (Thời
Lý-Trần, việc tiếp thu nguồn
VHDG chưa được đặt ra đúng
mức)
+ Văn học viết tiếp thu từ
văn học dân gian chủ yếu là về
đề tài, thi liệu, ngôn ngữ, quan
niệm thẩm mỹ, chủ yếu là khía
cạnh ngôn ngữ và thể loại
+ Trong quá trình phát
triển, hai bộ phận luôn co mối
quan hệ biện chứng, tác động,
bổ sung lẫn nhau để cùng phát
triển (Những tác động trơ lại của
văn học viết đối với văn học dân
gian
3 Văn học viết phát triển
dựa trên cơ sở tiếp thu,
tinh lọc những yếu tố tích
cực của hệ ý thức nước
ngoài
- Sự du nhập của các học thuyết
vào Việt Nam chủ yếu do các
nguyên nhân sau:
+ Vấn đề giao lưu văn hoa
giữa các dân tộc là một vấn đề
mang tính quy luật Từ xưa,
nước ta và các vùng phụ cận đã
co sự giao lưu văn hoa nhưng
chỉ trong phạm vi hẹp, chủ yếu
là từ Trung Quốc sang
+ Hơn 1000 năm bắc
thuộc, dân tộc ta không tránh
khỏi bị ảnh hương bơi sự bành
trướng văn hoa và nhất là âm mưu đồng hoa của kẻ thù
Những tên quan lại phương Bắc sang đô hộ Việt Nam không chỉ
boc lột, vơ vét tài nguyên mà
còn truyền bá rộng rãi các học thuyết triết học co nguồn gốc từ
Trung Quốc vào Việt Nam một cách khéo léo và thâm hiểm
+ Khi nhà nước phong kiến VN bắt đầu hình thành, giai cấp thống trị không co mẫu mực nào khác hơn là nhà nước PK
TQ đã tồn tại trước đo hàng nghìn năm và co rất nhiều kinh nghiệm trong việc lợi dụng các học thuyết triết học như một công cụ đắc lực trong việc củng cố ngai vàng, thống trị nhân dân
- Các học thuyết Nho- Phật- Lão đều co những điểm tích cực nhất định nên các nhà tư tương lớn của Việt Nam thời Trung đại đã
chú ý khai thác, tinh lọc, vận dụng sao cho nét tích cực đo phát huy tác dụng trong hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn lịch sử
4 Văn học chữ Hán phát triển song song với văn học chữ Nôm
Ngay từ khi được các nhà văn mạnh dạn đưa vào sáng tác văn học, chữ Nôm ngày càng khẳng định vị trí của mình bên cạnh chữ Hán vốn đã co ảnh hương sâu sắc trong văn học thời Lý
Trần
Sự phát triển của Văn học chữ
Nôm khẳng định ý thức dân tộc phát triển ngày càng cao, biểu hiện lòng tự hào, ý thức bảo vệ
ngôn ngữ, văn hoa dân tộc chống lại âm mưu đồng hoa của
kẻ thù
Ở thời Lý, Trần, việc sử dụng chữ Nôm trong sáng tác văn học chưa được phổ biến
Từ thế ky XV về sau, Nguyễn Trãi đã mạnh dạn đưa chữ Nôm vào sáng tác văn học Thơ ông tuy chưa được trau chuốt nhưng đậm đà bản sắc dân tộc.Thành công của Nguyễn Trãi chính là tiền đề cho con đường phát triển của văn học chữ Nôm đến đỉnh cao Truyện Kiều
5 Thơ phát triển sớm và mạnh hơn văn xuôi
Ở thời trung đại, văn chính luận mang tính quan phương chủ yếu là công cụ của nhà nước phong kiến Mặt khác, những đặc thù trong tư duy nghệ thuật, truyền thống sáng tác dẫn đến một thực tế là các tác phẩm văn xuôi hình tượng chỉ chiếm một số lượng khiêm tốn so với các tác phẩm thơ ca
Thể thơ thường sử dụng nhất trong VHTÐ là thơ Ðường luật Ðây là hệ quả của quá trình giao lưu văn hoa lâu dài và nằm trong quan niệm thẩm mỹ của các nhà thơ cổ điển Trong thời ky này, thơ Ðường luật đã được chính quy hoa trong văn chương trường ốc và văn chương cử tử Cho nên, sự thống trị văn đàn của thơ Ðuờng luật trong bất ky một tập thơ nào thời trung đại là một điều dễ hiểu
Tuy nhiên, việc sử dụng thơ Ðường luật với tư cách là một thể thơ chính thống trong các ky thi và trong sáng tác đã gây không ít trơ ngại trong nội dung thể hiện do bị chi phối bơi sự ngặt nghèo của luật thơ chặt chẽ
Ở thời Nguyễn Trãi, thơ luật Ðường biến thể thành thơ thất ngôn xen lục ngôn đầy sáng tạo, độc đáo, phong khoáng, rất phù hợp với cách nghĩ, cách noi, tâm lý của dân tộc nên được một số nhà thơ đời sau tiếp tục sử dụng (Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Trang 36 Việc sử dụng điển tích
và các hình ảnh tượng
trưng ước lệ- những thủ
pháp nghệ thuật được sử
dụng phổ biến trong văn
chương trung đại
Ðể miêu tả, người ta cho rằng
cần phải co những mẫu mực mà
qua nhiều thời ky đã được mặc
nhiên chấp nhận sử dụng Quan
điểm ước lệ không chú ý đến
logic đòi sống, đến mối quan hệ
thực tế của các hình ảnh mang
tính chất mẫu mực, công thức
Vì thế, khi phân tích các hình
ảnh ước lệ, chúng ta không cần
đặt vần đề co lý hay không co
lý, đúng hay không đúng thực tế
mà chỉ xem xét sức mạnh khơi
gợi của hình tượng co sâu sắc
hay không, hình tượng co được
dùng đúng tình đúng cảnh và thể
hiện được tư tương tình cảm của
nhà thơ hay không
II Hùng văn
1 Văn chương tham gia
xây dựng ý thức dân
tộc
- Từ bài Thiên đô
chiếu, của Lý
Công Uẩn, Nam
Quốc Sơn Hà, đến
Phạt Tống Lộ bố
văn Lý thường kiệt
2 Tham gia cổ vũ động
viên binh sĩ trong chiến
tranh
- Hịch tướng sĩ Trần
Quốc Tuấn
- Trong HTS, hình
tượng người anh
hùng co tích chất
cá nhân
• Sơn hà, xã tắc thuộc sơ hữu của quý tộc
• Đối với tướng sĩ
thì ơn tri ngộ là
chuyện cá
x cá x
3 Bộ phận văn chương trực tiếp miêu tả cái khốc liệt của chiến tranh
4 BPVC hồi cố chiến tranh
- Chiếm số lượng lớn, thể hiện ơ thơ Đề vịnh (vịnh vật, cảnh, sử)
- T/c lý tính nhiều hơn
- Chủ yếu là tác phẩm của các nhà
thơ
- Thể loại: thơ dài, phú
5 Những khúc ca bi phân của những anh hung lỡ vận gđ đầu thế ký XV
- Bài “cảm hoài”-đặng dung
6 Hình tượng trung tâm, người anh hùng vệ
quốc lãng mạn, hào sảng
Hai là, văn học Lý – Trần đa vận động và phát triển trên cơ sở ý thức dân tộc, kết hợp với cảm hứng thời đại, mở ra một dòng văn học yêu nước trong văn chương Việt Nam.
Ở thời trung đại, trong
đo co thời Lý – Trần, yêu nước gắn liền với lý tương trung quân
Yêu nước và trung quân là một
Trên cơ sơ ý thức độc lập dân tộc được củng cố và phát triển, kết hợp với âm hương của thời đại phục hưng mà cảm hứng yêu nước trong văn học Lý – Trần được thể hiện ơ nhiều khía cạnh, sắc thái, cung bậc, giọng điệu khác nhau bơi những thời điểm lịch sử khác nhau
Trong điều kiện đất nước hoà bình thì cảm hứng yêu
nước được bộc lộ trong thơ văn thường là ý thức tự cường, tự tôn dân tộc; là niềm khát vọng xây dựng đất nước hoà bình hạnh phúc; là yêu giống nòi, tiếng noi, cảnh trí của non sông gấm voc và yêu cả nền văn hoá của dân tộc Câu thơ của Đô
Pháp Thuận “Vô vi cư điện các, Xứ xứ tức đao binh” khi trả lời
vua Lê Đại Hành đã chứng tỏ niềm tin vào vận mệnh đất nước
Bài Thiên đô chiếu (Chiếu dời
đô) thể hiện sự nhìn xa trông rộng của Lý Thái Tổ về tương lai đất nước, vì Thăng Long không chỉ đẹp ơ thế đất “rồng cuộn hổ ngồi” mà còn là nơi trung tâm để co thể “mưu toan việc lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau”, điều mà cố đô Hoa Lư không còn phù hợp với yêu cầu của thời đại lịch sử bấy
giờ Bài Bạch Đằng giang phu của Trương Hán Siêu
không chỉ đưa lại cho người dọc một tình yêu thiên nhiên với cảnh trí tươi đẹp của non sông gấm voc, mà còn đem đến một niềm tự hào lớn về truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc trong lịch sử chống ngoại xâm
Bài phu từng được xem là kiệt
tác văn chương Lê Quý Đôn thế
ky XVIII đã so sánh bài phú này
với bài Xích Bích phu của Tô
Đông Pha (đời Tống – Trung Quốc) rồi ngợi khen “văn thể phú triều Trần phần lớn khôi ky, hùng vĩ, lưu loát, đẹp đẽ, âm vận, cách điệu giống như thể văn nhà Tống”
Cũng là con sông Bạch Đằng lẫy lừng chiến tích, nửa thế ky sau cuộc kháng ch iến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai (1285), thứ ba (1287), Trần Minh Tông và Trương Hán Siêu cùng cảm nhận một màu máu tanh hôi trên dòng sông:
“Ngỡ rằng máu giặc hãy còn đây”, dù theo thời gian, nước vẫn trôi nhưng dấu vết, chiến
Trang 4tích lịch sử thì vẫn còn lưu lại
mãi Thật tự hào biết bao! Cũng
với cảm hứng ấy, Phạm Sư
Mạnh khi nhìn dòng sông cuộn
song, cảm thấy lòng bồi hồi
tương nhớ chiến tích oai hùng
năm xưa của Ngô Quyền phá tan
quân Nam Hán trên dòng Bạch
Đằng giang:
Hung hăng Bạch Đằng đào,
Tưởng tượng Ngô Vương
thuyền.
(Thơ văn Lý – Trần, tập 3,
tr.79)
Dịch:
Bạch Đằng cuồn cuộn song,
Tương thuyền chiến Ngô
Vương
Để hơn trăm năm sau, thi
hào Nguyễn Trãi khi đến dòng
sông này cũng đã co cảm xúc và
niềm tự hào như thế trong bài
thơ Bạch Đằng hải khẩu.
Khi Tổ quốc bị xâm
lăng thì yêu nước là lòng căm
thù giặc, là tinh thần quyết chiến
thắng kẻ thù, bảo vệ đến cùng
chủ quyền của dân tộc Yêu
nước còn là lòng biết ơn và ca
ngợi những con người dám xả
thân cứu nước; những con người
thà hy sinh chứ không hàng
giặc, không hợp tác với kẻ thù
Bài thơ thần (Nam quốc sơn hà)
tương truyền của Lý Thường
Kiệt vẻn vẹn chỉ hai mươi tám
tiếng, goi gọn trong bốn câu mà
ít nhất đã mang hai tầng ý nghĩa:
vừa là lời hịch lại vừa là
lời tuyên ngôn, vì đã khích lệ, cổ
vũ tinh thần quyết chiến đấu và
chiến thắng quân Tống xâm
lược vào năm 1076 trên trận
tuyến sông Cầu; đồng thời
khẳng định cương vực bờ cõi
chủ quyền của đất nước với sự
phân biệt rạch ròi “Nam quốc”
với “Bắc quốc” và “Nam đế” với
“Bắc đế” Do thế, xưa nay nhân
dân ta đã coi bài thơ như là lời tuyên ngôn độc lập đầu tiên của
dân tộc:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Thơ văn Lý – Trần, tập 1, tr.322)
Dịch:
Núi sông Nam Việt vua Nam ơ, Vằng vặc sách trời chia xứ sơ
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?
Chúng mày nhất định phải tan vỡ
Hay như lòng căm thù, sự căm tức của chủ tướng Trần Quốc Tuấn “tới bữa quên ăn, nửa đêm vô gối, ruột đau như cắt, nước mắt đằm đìa”, với ước muốn “xẻ thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù” thì đo cũng là lòng căm thù sôi sục của tướng sĩ trong thời điểm ấy Còn đây là khí phách hào hùng cùng niềm tin vào vận nước nghìn thu được thể hiện trong bài thơ ngắn với giọng điệu hả hê của Trần Quang Khải:
Đoạt sóc Chương Dương độ, Cầm hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu trí lực, Vạn cổ thử giang san.
(Thơ văn Lý – Trần, tập 2, tr.424)
Dịch:
Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy nghìn thu
Cảm hứng yêu nước của thời đại Đông A còn vút lên giọng hào sảng của kẻ nam nhi quyết lập công để lưu danh hậu thế trong thơ của Phạm Ngũ Lão:
Hoàng sóc giang sơn cáp ky thu,
Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vu Hầu.
(Thơ văn Lý – Trần, tập 2, tr 562)
Dịch:
Múa giáo non sông trải mấy thu,
Ba quân hùng khí át sao Ngưu Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu
Một thời đại văn học đầy
chất tráng ca Hào khí thời đại
ấy đã làm cho Trần Phu, một sứ thần nhà Nguyên, vào thời điểm
đo đi sứ sang ta, khi về lại Trung Quốc vẫn còn “giật mình kinh sợ” đến nôi “toc bạc” Cái cảm
giác này ông co ghi trong bài Sứ hoàn cảm sự:
Kim qua ảnh lý đan tâm khổ, Đồng cổ thanh trung, bạch phát sinh.
Dĩ hạnh quy lai thân kiện tại, Mộng hồi do giác chướng hồn kinh.
Trang 5Dịch:
Bong lè binh khí lòng đau khổ, Vang vọng trống đồng, toc bạc sinh
Mừng được về nhà, thân khoẻ mạnh,
Ngủ dài, trơ dậy, thấy còn kinh Cảm hứng yêu nước ấy còn thể hiện qua giọng điệu uất hận, dồn nén của người anh
hùng lỡ vận trong bài Cảm hoài của Đặng Dung Đây là hai
câu kết:
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Ky độ long tuyền đái nguyệt ma.
(Thơ văn Lý – Trần, tập 3, tr.517)
Dịch:
Thù trả chưa xong đầu đã bạc Gươm mài bong nguyệt đã bao rày