THỰC TIỄN QUẢN TRỊ BỆNH VIỆN Ở VIỆT NAM Chúng tôi xin bắt đầu bài viết bằng một câu chuyện thường gặp ở các bệnh viện, nhất là các bệnh viện tuyến cuối ở những thành phố lớn như Hà nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh. Đó là câu chuyện về những người bệnh nhân lặn lội từ những vùng quê xa xôi hẻo lánh, đến những bệnh viện đa khoa với nhiều chuyên khoa sâu và đội ngũ các giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ dày dặn kinh nghiệm trong chuyên khoa sâu của mình. Vào những ngày từ thứ hai đến thứ bảy trong tuần, khi bạn đi một vòng tham quan các khoa khám bệnh của những bệnh viện tuyến cuối này, bạn sẽ dễ dàng bắt gặp nhiều bệnh nhân cầm trong tay một xấp toa thuốc ít nhất là 3 toa thuốc của ba vị bác sĩ thuộc 3 chuyên khoa sâu khác nhau. Mỗi vị bác sĩ đem hết tài năng, kinh nghiệm của mình trong chuyên khoa để hầu mong đem lại hiệu quả tốt nhất cho người bệnh. Mỗi toa thuốc, bạn có thể thấy có ít nhất 5 loại thuốc. Mỗi loại thuốc có khi bệnh nhân phải uống ít nhất là 23 viên mỗi ngày. Như vậy bạn dễ dàng tính được là mỗi ngày người bệnh nhân này phải uống bao nhiêu viên thuốc và kết quả thế nào thì chắc là phải nói “Phước chủ may Thầy”. Người xưa có kể một câu chuyện về ba thầy bói mù cùng tả một con voi và con voi được tả như thế nào thì các bạn cũng đã rõ.
Trang 1MÔ HÌNH HỆ THỐNG TRONG QUẢN TRỊ BỆNH VIỆN
Lưu Thị Bích Ngọc*, Lê Nguyễn Thụy Khanh**
THỰC TIỄN QUẢN TRỊ BỆNH VIỆN Ở VIỆT
NAM
Chúng tôi xin bắt đầu bài viết bằng một
câu chuyện thường gặp ở các bệnh viện, nhất
là các bệnh viện tuyến cuối ở những thành
phố lớn như Hà nội, Huế và Thành phố Hồ
Chí Minh Đó là câu chuyện về những người
bệnh nhân lặn lội từ những vùng quê xa xôi
hẻo lánh, đến những bệnh viện đa khoa với
nhiều chuyên khoa sâu và đội ngũ các giáo sư,
tiến sĩ, bác sĩ dày dặn kinh nghiệm trong
chuyên khoa sâu của mình Vào những ngày
từ thứ hai đến thứ bảy trong tuần, khi bạn đi
một vòng tham quan các khoa khám bệnh của
những bệnh viện tuyến cuối này, bạn sẽ dễ
dàng bắt gặp nhiều bệnh nhân cầm trong tay
một xấp toa thuốc ít nhất là 3 toa thuốc của ba
vị bác sĩ thuộc 3 chuyên khoa sâu khác nhau
Mỗi vị bác sĩ đem hết tài năng, kinh nghiệm
của mình trong chuyên khoa để hầu mong
đem lại hiệu quả tốt nhất cho người bệnh Mỗi
toa thuốc, bạn có thể thấy có ít nhất 5 loại
thuốc Mỗi loại thuốc có khi bệnh nhân phải
uống ít nhất là 2-3 viên mỗi ngày Như vậy
bạn dễ dàng tính được là mỗi ngày người
bệnh nhân này phải uống bao nhiêu viên
thuốc và kết quả thế nào thì chắc là phải nói
“Phước chủ may Thầy” Người xưa có kể một
câu chuyện về ba thầy bói mù cùng tả một con
voi và con voi được tả như thế nào thì các bạn
cũng đã rõ
Đó là câu chuyện về những người bác sĩ
quá chuyên sâu về chuyên khoa của mình mà
không hề có cái nhìn tổng quát về những bất
thường của cơ quan nội tạng bệnh nhân trong
một cơ thể thống nhất với những hoạt động
tác động qua lại của những cơ quan Ơ đây,
chúng tôi muốn liên kết câu chuyện này với
câu chuyện quản lý ở các bệnh viện nhất là những bệnh viện công ở Việt Nam Thời gian qua, những sai phạm nghiêm trọng trong lãnh vực y tế như ở Bệnh viện Bình Dân, Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình như báo đài đưa tin, hầu như đều xảy ra ở bệnh viện công và bắt nguồn từ qui trình quản trị mà nút thắt của vấn đề nằm ở vai trò của giám đốc bệnh viện
Mô hình CEO quản trị bệnh viện đã được
áp dụng thành công trên thế giới trong nhiều năm qua Mỗi bệnh viện đều có CEO đứng đầu, bên dưới là những giám đốc giúp việc như giám đốc y khoa, giám đốc tài chính, giám đốc tiếp thị… Mô hình này vận hành rất tốt ở nhiều nước trên thế giới Y tế nước ta không phải là một ốc đảo, phải nằm trong quần thể thế giới, vì vậy cần có sự thay đổi sao cho phù hợp với phát triển của thế giới mà vẫn hài hòa với hoàn cảnh xã hội và văn hóa của Việt nam Trong thời gian chờ đợi sự thay đổi lớn lao này, chúng tôi xin phép trình bày
mô hình hệ thống trong quản trị bệnh viện với cốt lõi vấn đề là lãnh đạo với “tư duy hệ thống”, hầu mong giúp ích được cho các nhà lãnh đạo ở bệnh viện trong công tác quản lý của mình
CÁC MÔ HÌNH HỆ THỐNG TRONG QUẢN TRỊ BỆNH VIỆN
Những mô hình hệ thống có thể đưa ra một bức tranh cho nhà quản trị về cách thức các yếu tố liên kết nhau trong một tổ chức và liên kết với tổ chức Nhiều mô hình mang đến cho nhà quản lý chăm sóc sức khỏe một bức tranh về hệ thống tổ chức nơi họ làm việc Các
mô hình khác nhau có thể cộng hưởng với các nhà quản lý khác nhau, phụ thuộc vào bối cảnh công việc, trình độ, và phong cách cá nhân Mô hình nhà quản lý chọn không quan
* ĐH Mở Malaysia **Bệnh viện ĐH Y Dược
Trang 2trọng bằng cái cách nhà quản lý sử dụng mô
hình để nhận biết, hiểu, dự đoán cách thức các
thành phần trong hệ thống tương tác thành
một khối
Hệ thống cơ bản nhất có thể thể hiện qua 3
thành tố: đầu vào, quy trình chuyển đổi, đầu
ra, như trong sơ đồ đơn giản sau:
Đầu vào Qui trình chuyển đổi Đầu ra
Trong một tổ chức dịch vụ sức khỏe, đầu
vào bao gồm bệnh nhân, nhân viên, nguồn
cung ứng, trang thiết bị, và vốn Qui trình
chuyển đổi gồm qui trình chẩn đoán, điều trị
lâm sàng, hoạt động vận hành, và các chức
năng quản trị kinh doanh Đầu ra gồm tình
trạng sức khỏe của bệnh nhân và hiệu quả
hoạt động của tổ chức
Những nỗ lực cải tiến chất lượng theo
quan điểm truyền thống gói gọn trong việc
quản trị các thành phần trong hệ thống Kiểm soát chất lượng đầu vào về nguồn nhân lực bao gồm yêu cầu giấy phép hành nghề, học tập liên tục, và đánh giá hiệu quả hoạt động Kiểm soát đầu vào về kỹ thuật công nghệ như trong điều trị nội khoa thì bao gồm các thử nghiệm lâm sàng và phê duyệt của Cục quản
lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ Kiểm soát chất lượng qui trình chuyển đổi bao gồm hướng dẫn thực hành lâm sàng, cải thiện qui trình, hay đơn giản hóa công việc Kiểm soát chất lượng đầu vào và qui trình chuyển đổi nhằm nâng cao chất lượng của đầu ra, như tình trạng lâm sàng và chức năng của bệnh nhân, mức độ hài lòng với dịch vụ, hiệu quả
về mặt chi phí, hành vi nhân viên, và văn hóa
tổ chức
Hình 1 Các hệ thống quản trị chất lượng
Thêm vòng phản hồi giúp biến hệ thống cơ
bản này thành một hệ thống năng động hơn,
và từ đó dẫn đến một phương pháp ‘trưởng
thành’ hơn trong nỗ lực cải thiện chất lượng
Những thông tin phản hồi về chất lượng đầu
ra giúp cải thiện đầu vào và qui trình chuyển
đổi Phản hồi liên tục thúc đẩy cải tiến liên tục
(xem Hình 1) Tương tự với 3 thước đo chất
lượng của Donabedian (1980) (cấu trúc, qui
trình, kết quả), song trọng tâm ở đây bao gồm
toàn tổ chức, chứ không chỉ những thành tố
lâm sàng hay y khoa của hệ thống
Tư duy hệ thống (systems thinking) được
định nghĩa như là “một ngành khoa học để
nhìn toàn thể Đây là khung để nhìn thấy mối quan hệ tương hỗ, hơn là thành tố, để thấy được những mẫu thay đổi hơn là ‘những bức ảnh’ tĩnh” (Senge 1990) Cải thiện chất lượng từng bộ phận, hiểu và cải thiện chất lượng những mối quan hệ giữa các bộ phận sẽ đưa nhà quản trị đến phương pháp tiên tiến nhất trong quản trị chất lượng trong các tổ chức –
đó là phương pháp tư duy hệ thống
Hai mô hình được mô tả trong bài viết này
là Mô hình 3 qui trình cốt lõi (Three Core Process Model) và Những tiêu chuẩn hoạt động chăm sóc sức khỏe tối ưu của Chương trình chất lượng quốc gia Baldrige (the Baldrige National Quality Program – BNQP)
Cải thiện đầu
vào
Cải thiện qui trình
chuyển đổi
Đầu ra
Thông tin phản hồi
Trang 3Mô hình 3 qui trình cốt lõi (Three Core
Process Model)
Mô hình 3 qui trình cốt lõi ở Hình 2 mô tả
cách nhìn ‘ngang’ về một tổ chức chăm sóc sức
khỏe (Kelly và cộng sự 1997; Ostroff và Smith
1992); tất cả các qui trình trong tổ chức (biểu
thị bằng những mũi tên) nên hoạt động đồng
hành hướng về cải thiện hiệu quả hoạt động
Mô hình bắt đầu từ phía bên phải của hình
thông qua xác định những kết quả kỳ vọng
Một tập họp cân bằng gồm những kết quả về người bệnh, được rút từ la bàn giá trị lâm sàng (clinical value compass) (Nelson và cộng sự 1996), được dùng để mô tả kết quả kỳ vọng trong kết quả lâm sàng, tình trạng chức năng,
độ hài lòng so với nhu cầu, và chi phí Mô hình này mô tả văn hóa tổ chức và hành vi nhân viên là kết quả hay đầu ra của các qui trình tổ chức
Hình 2 Mô hình 3 qui trình cốt lõi
Theo mô hình 3 qui trình cốt lõi, dù rằng
có nhiều qui trình diễn ra ở một tổ chức chăm
sóc sức khỏe, song những qui trình này có thể
được nhóm thành 3 loại chính: (1) các qui
trình lâm sàng, (2) các qui trình vận hành hay
dòng bệnh nhân, (3) các qui trình quản trị
Qui trình lâm sàng/y khoa là lý do cơ bản
mà bệnh nhân tìm đến dịch vụ ở một cơ sở y
tế - đó là đáp ứng nhu cầu lâm sàng, có thể
bao gồm những qui trình liên quan đến chẩn
đoán, điều trị, phòng bệnh, và chăm sóc giảm
nhẹ (palliative care) Qui trình lâm sàng/y
khoa bao gồm những qui trình thuộc phạm vi của thầy thuốc và phạm vi không thuộc thầy thuốc Qui trình có thể liên quan đến y khoa (liên quan đến thầy thuốc), như phẫu thuật; có thể liên quan đến cải thiện tình trạng chức năng của bệnh nhân, như vật lý trị liệu; có thể liên quan đến chăm sóc hằng ngày mà bệnh nhân hay thân nhân không thể thực hiện mà không được trợ giúp, như chăm sóc điều dưỡng sau tai nạn; hay có thể liên quan đến điều trị đặc biệt, như thở oxygen hay tiêm thuốc tĩnh mạch đối với bệnh nhân viêm phổi
Qui trình ra quyết định quản trị
Qui trình lâm sàng/y khoa
Qui trình dòng bệnh nhân/vận hành
Qui trình ra quyết định quản trị
Kết quả đầu ra:
Kết quả lâm sàng tối ưu Giá trị đối với bệnh nhân
Sự hài lòng của bệnh nhân Tình trạng chức năng
Văn hóa
Trang 4Qui trình dòng bệnh nhân/vận hành cho
phép bệnh nhân tiếp cận các qui trình lâm
sàng trong thời gian khám bệnh hay điều trị
tại bệnh viện, bao gồm những qui trình như:
đăng ký và tiếp nhận bệnh nhân, xét nghiệm
chẩn đoán, xác định bệnh nhân được điều trị ở
khoa nào, và khi nào bệnh nhân được chuyển
viện hay xuất viện, đảm bảo người bệnh nhận
được bữa ăn hay thuốc đúng giờ, và chuẩn bị
người bệnh và thân nhân trước khi xuất viện
Qui trình quyết định quản trị chiếm hai vị
trí trong hình, trên và dưới hai qui trình cốt lõi
kia Bằng cách này, mô hình minh họa qui
trình hành chính tác động đến toàn bộ tổ chức
như thế nào Những qui trình này bao gồm: ra
quyết định, giao tiếp, phân phối nguồn lực, và
đánh giá hiệu quả hoạt động
Những mũi tên liên kết 3 qui trình cốt lõi
phản ánh mối quan hệ tương hỗ giữa các quá
trình này, để đạt đến kết quả kỳ vọng
Ý nghĩa đối với nhà quản trị chăm sóc sức
khỏe
Mô hình 3 qui trình cốt lõi mang đến cho
nhà quản trị nhiều bài học Trước hết, mối
quan hệ tương hỗ giữa các qui trình gợi ý rằng
cải thiện bất kỳ qui trình nào cũng đều góp
phần nâng cao giá trị của dịch vụ; tuy nhiên,
tác động đồng thời của các qui trình cốt lõi
này tạo nên sự cộng hưởng có thể giúp cải
thiện nhanh hơn “Một qui trình lâm sàng
hiệu quả được hỗ trợ bởi một qui trình vận
hành kém hiệu quả hay ngược lại, thì vẫn là
một qui trình không hiệu quả … Ngoài ra, nếu
… những thay đổi được thực hiện mà không
có sự tham gia của đội ngũ y bác sĩ, thì cũng
giảm khả năng thực hiện thành công Do đó
cần có những qui trình ra quyết định đưa y
bác sĩ tích cực tham gia vào những nỗ lực thay
đổi” (Kelly và cộng sự 1997: 127-28)
Ví dụ như, ở một đơn vị phẫu thuật, thời
gian hậu phẫu – từ lúc bệnh nhân rời phòng
mổ đến lúc bệnh nhân xuất viện – dài hơn ở
những đơn vị tương tự Nỗ lực cải tiến được
khởi xướng để cải thiện qui trình chăm sóc
hậu phẫu, qua đó cải thiện qui trình xuất viện,
và thời gian lưu lại trong bệnh viện sẽ giảm đi Khi tiến hành cải tiến, đội cải tiến nhận ra rằng qui trình gây mê đang ảnh hưởng đến khả năng đạt được kết quả tốt hơn Nếu bệnh nhân bị gây mê sâu trong phòng mổ và chậm tỉnh lại, thì cải thiện qui trình hậu phẫu không đạt lợi ích trọn vẹn Tương tự như thế, nếu thầy thuốc thực hiện một phác đồ điều trị mới
để gây mê và kiểm soát đau, song bệnh nhân vẫn phải chờ điều dưỡng làm thủ tục xuất viện, thì cải thiện qui trình gây mê cũng sẽ không đạt đến kết quả tối ưu Nhận ra được mối quan hệ phụ thuộc giữa hai qui trình trên,
và cải thiện đồng thời qui trình xuất viện và phác đồ gây mê giúp đạt được lợi ích của cả hai qui trình Hơn nữa, nếu các qui trình quản trị không cho phép nhân viên sắp xếp lịch làm việc để tham gia vào qui trình cải tiến, thì sẽ không có cải tiến nào xảy ra được
Thứ 2, mô hình 3 qui trình cốt lõi giúp hướng về bệnh nhân bằng cách hướng các qui trình và nỗ lực cải tiến về phía nhu cầu của bệnh nhân Quan điểm vận hành và quản trị phải luôn luôn ở trong bối cảnh làm thế nào người bệnh đi qua cả hệ thống để tiếp cận một qui trình lâm sàng Ví dụ như một quyết định dường như giản đơn chẳng hạn như sắp lịch nghỉ ăn trưa cho nhân viên đã mang lại ý nghĩa mới cho một khoa cấp cứu khi quyết định xét đến dòng bệnh nhân Mặc dù việc sắp lịch nghỉ ăn trưa lúc giữa trưa có vẻ như hợp
lý, song lại gây ra trở ngại không cần thiết đối với bệnh nhân và trì trệ trong qui trình chăm sóc bệnh nhân bởi vì thường thì lượt bệnh nhân tái khám tăng lên trong khoảng thời gian
từ 11 giờ sáng đến 1 giờ trưa Nếu khoa cấp cứu hướng về bệnh nhân thì đội ngũ nhân viên nên có mặt lúc bệnh nhân cần họ Kết quả
là giờ nghỉ ăn trưa được điều chỉnh, xảy ra trước và sau–hơn là trong giờ cao điểm bệnh nhân đến tái khám
Thứ 3, mô hình khẳng định những đóng góp, tuy tương trợ lẫn nhau song khác biệt,
Trang 5mà mỗi qui trình và người cung cấp hay thực
hiện qui trình này mang đến cho hiệu quả
chăm sóc bệnh nhân cũng như cho thành công
của cơ sở y tế Bằng cách này, sự hợp tác giữa
toàn bộ nhân viên y tế có để được nâng lên,
như một nhà quản lý nói với một nhóm thầy
thuốc: “Tôi sẽ không chỉ các anh chị cách thực
hành y khoa Tuy nhiên, quan trọng là tôi biết
nhu cầu của các anh chị để mà các anh chị có
thể mang lại cho bệnh nhân dịch vụ chăm sóc
sức khỏe chất lượng, và anh chị cần biết
những rào cản để thỏa mãn nhu cầu của các
anh chị Quyết định tốt nhất sẽ đến khi chúng
ta làm việc và lên kế hoạch cùng nhau.”
Thứ 4, khi vai trò quản trị được xem là một
qui trình hơn là một chức năng hay cấu trúc,
thì tất cả các công cụ được sử dụng để cải tiến
những qui trình khác có thể cũng được áp
dụng vào các qui trình quản trị để giúp nhà
quản lý cải thiện hiệu quả của chính họ Nếu
một trong những kết quả kỳ vọng là sự hài
lòng của bệnh nhân, thì các qui trình ra quyết
định quản trị phải bao gồm các cơ chế thu
thập, phân tích, báo cáo, truyền đạt, và đánh giá dữ liệu về độ hài lòng của bệnh nhân
Các tiêu chuẩn hoạt động chăm sóc sức khỏe tối ưu của Chương trình chất lượng quốc gia Baldrige (the Baldrige National Quality Program – BNQP)
Các tiêu chuẩn hoạt động chăm sóc sức khỏe tối ưu của Chương trình chất lượng quốc gia Baldrige mang đến một khung hiện đại nhất giúp đạt đến hiệu quả tổ chức (Dean và Bowen 1994) Đối với các độc giả mong muốn tìm hiểu sâu hơn về mô hình thì có thể tìm thấy trên trang web của Baldrige một bản hoàn chỉnh các tiêu chí cùng với các ví dụ về cách thức các tổ chức dịch vụ sức khỏe thực hiện những tiêu chí này
Hình 3 minh họa các thành tố chính yếu trong mô hình và những mối liên kết giữa các thành tố Đoạn văn sau sẽ hướng dẫn cách đọc
và phân tích hình mình họa (Viện Tiêu Chuẩn
và Công Nghệ Quốc Gia 2006: 6):
Hình 3 Các tiêu chuẩn hoạt động chăm sóc sức khỏe tối ưu của Chương trình chất lượng quốc gia Baldrige
Hồ sơ tổ chức:
Môi trường, Các mối quan hệ, và thách thức
2 Hoạch định chiến lược
1
Thuật lãnh đạo
3 Hướng về bệnh nhân, các khách hàng khác,
và các thị trường
5 Hướng về nguồn nhân lực
6 Quản trị qui trình
7 Các kết quả
4
Đo lường, phân tích, và quản trị tri thức
Trang 6Hồ sơ tổ chức (trên cùng của hình) thiết
lập bối cảnh cho cách thức tổ chức hoạt động
Môi trường, các mối quan hệ công việc, những
thách thức chiến lược đóng vai trò hướng dẫn
bao quát cho hệ thống quản trị hiệu quả hoạt
động của tổ chức bạn
Vận hành của hệ thống bao gồm 6 mục ở
trung tâm của hình, xác định các hoạt động
của tổ chức và các kết quả tổ chức có thể đạt
được Thuật lãnh đạo; Hoạch định chiến lược;
Hướng về người bệnh, các khách hàng khác,
và các thị trường biểu thị bộ ba lãnh đạo
(leadership triad) Những hạng mục này được
đặt cùng nhau nhằm nhấn mạnh đến tầm
quan trọng của thuật lãnh đạo hướng về chiến
lược, bệnh nhân, và những đối tượng khách
hàng khác (Lưu Trọng Tuấn 2012a) Những
nhà quản trị cấp cao phải định hướng cho tổ
chức và tìm cơ hội tương lại cho tổ chức
Hướng về nguồn nhân lực, quản trị qui
trình, và kết quả biểu thị bộ ba kết quả (results
triad) Nhân viên và những qui trình cốt lõi
của tổ chức hoàn tất công việc của tổ chức để
sinh ra kết quả hoạt động
Tất cả hành động đều hướng về kết quả-
một phức hợp gồm các kết quả từ chăm sóc
sức khỏe, bệnh nhân và khách hàng khác, và
thị trường, tài chính, và kết quả của hoạt động
nội bộ, bao gồm nguồn nhân lực, quản trị công
ty (governance),và trách nhiệm xã hội (Lưu
Trọng Tuấn 2012b, 2013)
Mũi tên nằm ngang ở giữa mô hình nối bộ
ba lãnh đạo với bộ ba kết quả, một mối nối
quan trọng đối với sự thành công của tổ chức
Hơn nữa, mũi tên chỉ mối quan hệ giữa thuật
lãnh đạo và kết quả Mũi tên hai đầu biểu thị
tầm quan trọng của thông tin phản hồi trong
hệ thống quản trị hoạt động hiệu quả
Đo lường, phân tích, và quản trị tri thức là
quan trọng đối với quản trị hiệu quả tổ chức,
cũng như đối với một hệ thống hướng tri thức
để cải thiện hiệu quả hoạt động chăm sóc sức
khỏe Đo lường, phân tích, và quản trị tri thức
đóng vai trò nền tảng cho hệ thống quản trị hiệu quả hoạt động
Ý NGHĨA ĐỐI VỚI NHÀ QUẢN TRỊ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
Nhà quản trị có thể rút nhiều bài học từ
mô hình hệ thống BNQP Trước hết, mô hình
mô tả các thành tố thiết yếu giúp đạt hiệu quả
tổ chức (biểu thị bởi 7 ô trong mô hình) và cách thức các thành tố liên kết với nhau Mô hình nhận ra những tình huống đặc biệt, mà những tổ chức khác nhau hoạt động và khuyến khích nhà quản trị dựa vào hồ sơ tổ chức để ra quyết định, xây dựng chiến lược,
và hành động Bản chất tổng thể của hồ sơ tổ chức giúp tổ chức liên tục đánh giá những ảnh hưởng bên ngoài, như yêu cầu về môi trường, luật pháp, hay thị trường
Khi được xem xét dưới ánh sáng của mô hình BNQP, có thể thấy rằng những nguyên lý
về chất lượng toàn diện (hướng về khách hàng, cải tiến liên tục, và hoạt động đội) đã đề cập đến một số thành tố cần thiết (hướng về bệnh nhân, khách hàng khác, và thị trường; quản trị qui trình; và hướng về nguồn nhân lực) song chưa đầy đủ Mô hình BNQP gợi ý rằng quản trị chất lượng trong một tổ chức chăm sóc sức khỏe đòi hỏi nhà quản trị không chỉ chú ý đến 3 nguyên tắc chất lượng toàn diện, mà còn đến thuật lãnh đạo, hoạch định chiến lược, đo lường, phân tích, và quản trị tri thức, và hướng về nguồn nhân lực góp phần đạt đến kết quả kỳ vọng của tổ chức
Ví dụ như nhà quản trị sử dụng mô hình này hiểu mối liên kết giữa các thành tố trong quản trị qui trình và nhu cầu nguồn nhân lực Trước khi thực hiện cải tiến một qui trình, nhà quản trị thường tự hỏi, “Cần có gì để đảm bảo nhân viên thành công khi thực hiện qui trình mới?” Kết quả là nhà quản trị có thể cần phải
bố trí thừa nhân viên một chút khi thực hiện một qui trình mới để cho mỗi nhân viên có thêm thời gian khi học qui trình mới hoặc vai trò mới của họ Thích nghi vào cái gì mới cần thời gian, bằng cách hoạch định trước, nhà
Trang 7quản trị có thể thương lượng cho một độ lệch
chuẩn về ngân sách ngắn hạn hay năng suất
cần cho giai đoạn chuyển tiếp Hiểu rõ mô
hình BNQP giúp nhà quản trị nhận thức ra
rằng vai trò của họ trong cải tiến qui trình
cũng gồm cả việc bảo đảm nhân viên nhận
được thông tin, đào tạo, và các công cụ họ cần
để họ có thể thực hiện thành công những cải
tiến trong bối cảnh công việc
Mô hình BNQP cũng minh họa tầm quan
trọng của tính nhất quán bên trong tổ chức
Điều này có nghĩa là các hoạt động trong mỗi
ô trong mô hình đều hướng đến cùng thành
quả, và rằng những quyết định về tổ chức và
quản trị phải nhất quán với sứ mệnh, tầm
nhìn, các giá trị, định hướng chiến lược, và
yêu cầu của bệnh nhân và các bên liên quan
(stakeholders) Ví dụ như một hệ thống chăm
sóc sức khỏe đưa ra chương trình đào tạo về
cải thiện chất lượng toàn diện cho các nhà
quản trị Mỗi nhà quản trị phải thiết kế và
thực hiện một dự án cải tiến theo yêu cầu của
chương trình đào tạo, vì thế mỗi người sẽ
chọn một chủ đề cho dự án cải tiến của mình
Mặc dù mỗi nhà quản trị sẽ cải thiện ở một
mảng họ chọn, song tổng hợp các cải thiện từ
tất cả những người tham dự chương trình đào
tạo có thể không đóng góp gì nhiều cho mục
tiêu tổng thể của tổ chức Quan sát này được
minh họa qua trường hợp một người quản lý
đã cống hiến biết bao thời gian và công sức để
cải thiện một mảng dịch vụ, song mảng này đã
bị tổ chức loại bỏ một năm sau đó Một tổ chức
chăm sóc sức khỏe khác đưa ra một cách huấn
luyện tương tự cho các nhà quản trị, song sử
dụng một người quản lý kinh nghiệm giúp các nhà quản trị chọn chủ đề cải tiến Những chủ
đề này không chỉ lợi ích trong phạm vi trách nhiệm của nhà quản trị mà còn góp phần vào mục tiêu tổng thể của tổ chức
Lời cám ơn: Các tác giả xin chân thành cảm ơn những ý kiến
của GS Nguyễn Đình Hối đóng góp cho bài viết
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Dean JW, Bowen DE (1994) Management theory and total quality: improving research and practice through theory
development Academy of management review, 19(3),
392-418
2 Donabedian A (1980) Explorations in Quality Assessment
and Monitoring, Volume 1: The Definition of Quality and Approaches to Its Assessment Chicago: Health Administration Press
3 Kelly DL, Pestotnik SL, Coons MC, Lelis JW (1997) Reengineering a surgical service line: focusing on core
process improvement American Journal of Medical Quality,
12(2), 120-129
4 Luu TT (2012a) From unbalanced to balanced: performance measures in a Vietnamese hospital
Leadership in Health Services , 25(4), 288-305
5 Luu TT (2012b) Corporate social responsibility,
leadership, and brand equity in healthcare service Social
Responsibility Journal , 8(3), 347-362
6 Luu TT (2013) The role of CSR in clinical governance and
its influence on knowledge sharing Clinical Governance:
An International Journal , 18(2), 90-113
7 National Institute of Standards and Technology (2006)
Baldrige National Quality Program: Health care criteria for performance excellence Retrieved on 1 February 2006 from www.baldrige.gov/Criteria.htm
8 Nelson EC, Mohr JJ, Batalden PB, & Plume SK (1996) Improving health care, Part 1: The clinical value compass
The Joint Commission journal on quality improvement , 22(4),
243-258
9 Ostroff F, and Smith D (1992) The horizontal organization: It’s about managing across, not up and
down McKinsey Quarterly 1992(1): 148-168
10 Senge P (1990) The fifth discipline: The art and practice of
organizational learning Milsons Point, NSW: Random House