1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đề cương triết học full 27 câu

76 683 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 103,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 24: Phân tích khái niệm và cấu trúc của nhân cách – liên hệ với xây dựng con người mới VN? Chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo cho rằng nhân cách con người là do thượng đế, do bẩm sinh quy định. Các trường phái triết học ngoài Mác xiats đồng nhất nhân cách với bản năng, xem nhẹ mặt xã hội của nhân cách. Triết học Mác – Lênin định nghĩa nhân cách là tổ hợp thái độ, thuộc tính riêng trong quan hệ hành động của con người với tự nhiên, với xã hội và với bản thân. Khái niệm nhân cách chỉ thế giới cái tôi của mỗi cá nhân, là nội dung và tính chất bên trong của mỗi cá nhân, là tổng hợp của các yếu tố tâm lý, sinh lý, xã hội tạo nên đặc trưng riêng của mỗi cá nhân, đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự khẳng định, tự điều chỉnh mọi hoạt động của mình. Về cấu trúc của nhân cách: Triết học Mác – Lênin khẳng định cấu trúc nhân cách gồm: Hạt nhân của nhân cách là thế giới quan cá nhân. Đó là toàn bộ quan điểm, lý tưởng, niềm tin, định hướng giá trị chung của cá nhân. Năng lực và phẩm chất xã hội của cá nhân như thể chế, năng lực trí tuệ, trình độ chuyên môn, các phẩm chất chính trị, đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ của cá nhân. Tâm hồn con người là bộ phận sâu kín và nhạy cảm nhất của mỗi cá nhân, đó là thế giới nội tâm của mỗi cá nhân. Liên hệ với việc xây dựng con người mới XHCN Trước hết phải tạo dựng những tiên đề cho sự hình thành nhân cách con người VN XHCN gồm phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục mặt tự phát, mặt tiêu cực của nó, củng cố nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng HCM, phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, phát triển nhân tài. Đó là những tiên đề về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội để xây dựng con người VN XHCN. Mô hình nhân cách con người VN XHCN gồm những phẩm chất sau: Tự giác học tập, nâng cao trình độ lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng HCM để hình thành và hoàn thiện thế giới quan khoa học, biện chứng và nhân sinh quan cách mạng. Hăng say học tập và học tập suốt đời, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, có năng lực thật sự trong công tác, luôn chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm…; Có đạo đức trong sáng, tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng, cởi mở khoan dung và hòa hiếu, yêu hòa bình, có tinh thần hợp tác quốc tế; Biết chắt lọc, tiếp thu, kế thừa những giá trị văn hóa, văn minh của nhân loại.

Trang 1

Câu 1 :Phân tích định nghĩa vật chất của Lê Nin ?ý thức phương pháp luận của định nghĩa.

Trong lịch sử triết học phạm trù vật chất đã làm xuất hiện các cuộc dấu tranhgay gắt giữa chủ nghĩa duy tâm va chủ ngĩa duy vật,giữa phương pháp biệnchứng và phương pháp siêu hình

Chủ nghĩa duy tâm luôn tìm mọi cánh phủ nhận chủ nghĩa duy vật họ cho rằng ,vật chất chỉ là sản phẩm của một bản nguyên tinh thần nào đó, có thể do ý chúa,phi hiện thực một sự nhào nặn chủ quan chủa các nha duy vật ma thôi

Vào thời đại của mình Mác – Ă nghen đã đưa ra quan niệm khái quát về vậtchất ‘vật chất với tính cánh là vật chất là một sự sáng tạo thuần túy của tư duy ,

la một điều trìa tượng hóa thuần túy khác với nhuwg vật chất nhất định và đangtồn tại, vật chất

Với tính cánh là vật chất không tồn tại cảm tính’.Như vậy Mac – Ăng hen đãnêu lên tư tưởng cơ bản vật chất là cái tồn tại khách quan ở trong các sự vật hữuhình, ở bên ngoài ý thức và để hiểu được vật chất thì phải trừu tượng hóa nókhông phải là một dang cụ thẻ nào đó ma chỉ bằng cảm tính người ta có thểnhận biết được Tuy nhiên , vào thời kỳ của Mác – Ăng hen chưa đưa ra đượcmột định nghĩa vật chất mang tính kinh điển mà nêu ra nhưng nội dung bản chất

về nội hàm phạm trù vật chất trong triết học duy vật biện chứng

Vào cuối thé kỉ XIX đầu thế kỉ XX khoa học tự nhiên và và những điều kiện vềlịch sử , kinh tế và xã hội , đã có những thay đổi lớn liên quan trực tiếp đến vấn

đề cơ bản của triết học và đòi hỏi phải có nhận thức mới, quan niệm mới về vậtchất

Trên lĩnh vực khoa học tự nhiên:

Năm 1895 Rơnghen đã phát hiện ra tia X, đó là 1 loiaj sóng điện từ có bướcsóng cực ngắn, 1 hiên tượng mới lạ về vật chất tồn tại dưới dạng sóng

Năm 1896 Beccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ điều đó chứng tỏ nguyên

tử không phải là cái bất biến như quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình.Năm 1897 Tômxơn phát hiện ra điện tử là 1 thành phần cấu tạo nên nguyên tử Năm 1901 Kaufman đã chứng minh được khối lượng điện tử không phải là đạilượng tĩnh mà thay đổi theo tốc độ vận động của điện tử

Với những phát minh đó quan niệm xưa cũ về nguyên tử với tư cách là vật chất

đã trở nên lạc hậu, những quan niệm về giới hạn cuối cùng của vật chất lànguyên tử, rồi nó không thể phân chia được rồi khối lượng của nó không thể thayđổi đã suy sụp trước đó những phát minh khoa học, điều này gây ra sự Hoangmang cho các nhà khoa học tự nhiên trên lĩnh vực vật lý học Những người theoCNDT đã lợi dụng cơ hội này để tấn công CNDV để phủ nhận CNML từ nêntảng của nó là VC, họ cho rằng VC đã tiêu tan vì vậy CNDV k có cơ sở

Trên lĩnh vực CT-XH:

Trang 2

Vào đầu Tk XX trung tâm của CMTG đã chuyển dịch từ Tây Âu về Đông Âu vàtập trung ở nước Nga những mâu thuẫn về dân tộc, giai cấp đang dần chín mùi.Điều kiện khách quan và chủ quan cho 1 cuộc CM ở Nga đang dần được hội tụ.Cuộc chiến tranh trên bình diện ý thức diễn ra gay gắt quyết liệt giữa 1 bên làCNM chân chính vơi 1 bên là CN cơ hội dưới nhiều màu sắc Vấn đề cần phảibảo về và phát triển CNM trong thời kỳ mới được đặt ra 1 cách trực tiếp.

Từ yêu cầu của việc giải quyết cuộc khủng hoảng trên lĩnh vực vật lý và bảo vệCNM chống lại CNDT,CN cơ hội; từ yêu cầu chuẩn bị về mặt lý luận cho cuộcCMVS đang tới gần thì Lenin đã viết 1 tác phẩm nổi tiếng ‘‘ CNDV và CN kinhnghiệm phê phán’’ Chính trong tác phẩm đó ông đã đưa ra 1 định nghĩa KHmang tính kinh điển về VC đó là:

‘‘VC là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại chocon người trong cảm giác được cảm giác của chúng ta sao lại, chép lại, chụp lại,phản ánh và tồn tại không phụ thuộc và cảm giác’’

Về nội dung ý nghĩa

Trước hết Lenin khẳng định ‘‘VC là 1 phạm trù triết học’’ tức là VC là đóitượng nghiên cứu của triết học Nó là VC nới chung, vô hạn, vô tận, k sinh ra, kmất đi

Đồng thời quan niệm VC là 1 phạm trù triết học nhằm tránh nhầm lẫn với VCtheo quan niệm của các ngành KH # , mỗi ngành KH chỉ nghiên cứu 1 lĩnhvực ,1 phạm vi nhất định của hiện thực vật chất, do vậy phạm trù của nó cũngchỉ phản ánh VC ở lĩnh vực nhất định của hiện thực

Thuộc tính chung nhất, cơ bản nhất của VC là ‘‘thực tại khách quan’’ TheoLenin thực tại là tất cả những gì tồn tại còn khách quan là bên ngoài, độc lập với

ý thức của con người Tất cả những gì tồn tại bên ngoài ko phụ thuộc vào ý thứccon người đều thuộc vào phạm trù vật chất Đây là thuộc tính cơ bản của mọidạng vật chất khác nhau , cái căn bản đẻ pân biệt vật chất với ý thức , ý thứccũng là cái có thực ,là tồn tại ,tuy nhiên nó tồn tại trong bộ óc con người tức tồntại chủ quan, do đó nó ko thể là vật chất Điều là những dang khác nhau của vậtchất ,kể cả các quan hệ sản xuất của XH,Quan hệ SX tuy ko tồn tại dưới dangvật thể ,ko có cấu trúc dưới dang nguyên tử ,pân tử nhưng chúng lại tồn tại mộtcánh khách quan và độc lập với ý thức

Phần đưa các khoa học ra khỏi cuộc khủng hoảng lúc bấy giờ về mặt thế gớiquan trong lĩnh vực vật lý học cũng như trong khoa học tự nhiên , do vậy nó đã

có vai trò định hướng , vạch ra cho các dạng # nhau cua VC tìm ra PP cải tạo

TG ngày càng có hiệu quả

Khắc phục được những thiếu sót khiếm khuyết của chủ nghĩa duy vật trước Mac

về VC hoặc quy luật vào 1 thuộc tính cụ thể nào đáy của nó

2

Trang 3

Định ngĩa VC của Le nin về VC chống lại các quan điểm duy tâm cả kháchquan và chủ quan về VC , đồng thời nó khắc phục được cả quan điểm duy tâm

Của con người ,Quan hệ SX chính là vật chất dưới dạng XH

‘VC là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác …và tồntại ko lệ thuộc vào cảm giác,

Ở đây Lê nin khẳng định , VC là tính thứ 1, là nguồn gốc khách quan của cảmgiác ,ý thức VC nó ko tồn tại 1 cánh vô hình trừu tượng mà nó tồn tại hiện thực,cụ thể, cảm tính và khi nó tác động vào cảm quan một cánh trực tiếp hay giántiếp thì gây ra cảm giác ở con người Mặt # ý thức của con người chẳng qua chỉ

là sự phản ánh VC ma thôi , như vậy ở trong quan hệ giữa VC và ý thức thì vậtchất là cái có trước và quyết định ý thức ‘Được cảm giác chúng ta chép lại ,chụp lại,phản ánh’

Theo Lê nin Vc la cái được cảm giác của chúng ta chép lại,chuoj lại ,phản ánh.Trên cơ sở sự tác động của sự vật khách quan lên các cơ quan cảm giác , conngười có được hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Như vậy , thông qua

cá giác quan mà con người có theerr nhận thức được thế giới bên ngoài Khảnăng đó chính là xuất phát từ t

Thuộc tính ‘tồn tại cảm tính’, nghĩa là sự tồn tại có thể nhân thức được

Về phương pháp định nghĩa :

VC là 1 trong những phạm trù rộng nhất trong triết học nên ko thể định nghĩa nóbằng phương pháp thông thường la quy khái niệm cần định nghĩa vào khái niệmrộng hơn và chỉ ra những đặc điển # biệt Ví dụ khi định nghĩa về ANQG thì

‘ANQG là sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ XH, độc lập , chủ quyền,thống nhất ,toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quan trọng khác của 1 quốc gia;.Leenin đã định nghĩa VC đặt nó trong quan hẹ với cái đối lập ,tức với ý thức ,vàchỉ ra những thuộc tính căn bản , phổ biến để pân biệt VC với ý thức Leeninchính là người đầu tiên sử dụng phương pháp khoa học này đẻ định nghĩa pạmtrù Vc

Ông khẳng định :’VC ko là cái gì khác hơn là thực tại khách quan tồn tại độc lậpvới ý thức của con người và đượng ý thức phản ánh ‘

Sự đối lập giữa VC và ý thức vừa mang nghĩa tuyệt đối bừa mang ngĩa tươngđôií Tuyệt đối là trên phương diện nhận thức để xác định về mặt bản thể luận cái

gì là v

Trang 4

Cái gì là VC, cái gì ko phải là vật chất để khẳng định VC có trước ý thức có sau.Tương đối là giữa VC và ý thức có quan hệ với nhau, nguồn gốc nội dung của ýthức có liên quan mật thiết với VC Leenin đã nhấn mạnh :’Dĩ nhiên sự đối lậpgiữa VC và ý thức có ý nghĩa hết sức hẹp trong vấn đè nhận thức luận về cơ bản

là thừa nhận cái gì có trước ,cái gì có sau

Ngoài ra ko còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó chỉ là tương đối’’

Ý nghĩa khoa học của định nghĩa :

Định nghĩa VC của Lê nin đã giải pháp được đầy đủ 2 mặt của vấn đè cơ bảncủa triết học trên lập trường duy vật biện chứng , là khát quát hóa , trừu tượnghóa cao độ, khẳng định được thế giới VC.Nó là cơ sở để định hướng vững chắccho TG quan triết học duy vật giúp chúng ta xác định được cái VC trong lĩnhvực XH, đó chính là các quan hệ XH tóm lại độc lập với ý thức của con người.Định nghĩa VC của Lê nin là kết quả của sự khát quát hóa các thành tựu củakhoa học tự nhiên và đã đóng góp

4

Trang 5

Câu 2 :QUAN ĐIỂM MAC XIT VỀ VẬN ĐỘNG – Ý NGHĨA CỦA NÓ(VẬN ĐÔNGLÀ PHƯƠNG THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT VÀ

LÀ THUỘC TÍNH CỐ HƯU CỦA VẬT CHẤT HIỂU NHƯ THẾ NÀO

VỀ NGUYÊN LÝ NAY?Ý NGHĨA CỦA NÓ).

Trong lịch sử tồn tại của triết học và các trường phái triết học đã có rất nhiềuquan điểm # nhau đề cập tới phạm trù vận động Phạm trù này xuất hiện sớmtrong lịch sử

Quan điểm của CNDT :xuất phát từ việc phủ nhận sự tồn tại của VC CNDTcũng phủ nhận luôn sự vận động của VC, họ chỉ thừa nhận rằng vận động là vậnđộng của thượng đế ,của thần linh và thượng đế, nó chỉ còn là vận động thuầntúy

Quan điểm của CNDV siêu hình :Thừa nhận sự vận động của vật chất tuy nhiênhọc cho rằng ,vận động chỉ là sự dịch chuyển vị trí của sự vật 1cách giản đơn vàmang tính cơ học vận động cơ giới và họ xác định nguyên nhân cùng các loạihình cũng như nguyên nhân của sự vận động đó Triết học Mac xít cho rằng vậnđộng là mọi sự biến đổi biên hóa nói chung Ăng hen định nghĩa:’ Vận độnghiểu theo nghĩa chung nhất thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi vị trí đơn giảncho đến tư duy’’

Như vậy # với những quan niệm thông thường trong triết học , vận động ko chỉđơn thuần là sự dịch chuyển ,thay đổi vị trí ko gian, ngược lại ,sự thay đổi vị trítrong ko gian chỉ là 1 hình thức vận động thấp và đơn giản của VC Với sự tồntại đa dạng và phong phú của nó ,VC còn nhiều hình thức vận đọng khác ,phứctạp hơn nhiều so với vận động cơ học

Triết học Mác – Lê nin khẳng định vận động gắn liền với VC ,ko có VC nào kovận động Vận động là thuộc tính cố hữu của VC ,là phương thức tồn tại của

VC ,điều đó có ý nghĩa VC tồn tại bằng sự vận động và thông qua vận động bộc

lộ sự tồn tại của mình, k thể có VC nào k vận động và ngược lại k thể có sự vânđộng nào lại ko phải là vân động của VC ,ko thuộc VC và diễn ra bên ngoài VCBản thân sụ vận động của tư duy ý thức bản chất cũng chính là sản pảm của sựvận động TG VC mà thôi Mác Ăng hen khẳng định:

‘Các hình thức và các dạng khác nhau chỉ có thể được nhận thức thông qua vậnđộng , thuộc tính của vật thể chỉ bộc lộ thông qua vận động ,về 1 vật thể ko vậnđộng thì ko có gì để nói cả’’

Bất cứ 1 sự vật hiện tượng VC là 1 hệ thống bao gồm nhiều mặt , nhiều bộ phận,nhiều yếu tố # nhau được sắp xếp theo 1 kết cấu nhất định và chúng có mối liên

hệ chặt chẽ với nhau,ảnh hưởng tác động qua lại với nhau và chính sự tác độngqua lại vói nhau đó tạo nên sự biến đổi nói chung Mọi sự biến đổi của VC kopải là do tác động của bên ngoài, nguồn gốc của sự biến đổi nằm ngay trong sựvật Vì vạy triết học Mác xít khẳng định vận động của VC là tự thân vận

Trang 6

động.Và bản thân vận động cũng ko do ai sáng tạo ra và ko bị tiêu diệt.Đây la 1nguyên lý của cơ bản của chủ nghĩa biện chứng ,quy luật này nó được khẳngđịnh bởi luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của…theo định luật này thìtrong quá trình vận động và chuyển hóa sang 1 cái khác vật chất luôn được bảotoàn cả về mặt lượng lẫn mặt chất.Nếu 1 hình thức vận động nào đó mất đi thìtất yếu nảy sinh 1 hình thức vận động # thay thế nó.Các hình thức vận động có

sự dịch chuyển hóa lẫn nhau, còn vận động của VC thì vĩnh viễn tồn tại cùng sựtồn tại của VC

Quan diểm này trên của chủ nghĩa duy vật đối lập với quan điểm của các nhàtriết học theo chủ nghĩa duy tâm và siêu hình ,họ ko đi tìm nguồn gốc của sựvận động về thần linh hoặc chủ thể nhận thức

Vận động của VC là tuyệt đối la thương xuyên ko ngừng còn hiện tượng đứng

im chỉ là tương đối tạm thời và xét trong 1 quan hệ xác định nào đó về thực chấtđứng im chỉ là 1 dạng vận đọng đạc biệt đón là vận động trong trạng thái cânbằng

Ăng hen đã khẳng định.’’Cần pải hiểu tính bất diệt của vận động ko chỉ đơnthuần về mặt số lượng mà cần phải hiểu cả về mặt chất lượng nũa’’

Thông qua sự vận động mà VC bộc lộ những đặc trưng ,đậc điểm ,những thuộctính của mình ,vận động của VC ở đây là vận động trong không gian và time ,nó

ko có điểm bắt đầu và điểm kết thúc

Dựa trên những thành tựu khoa học của thế kỷ XIX và thành tựu của khoa họchiện đại chủ nghĩa duy vật biện chứng đã phát hiện ra nhiều nnhuwngx hìnhthức vận động mới của VC ,các hình thức vận động đó hết sức đa dạng vàphong phú tuy nhiên khát quát lại thì có 5 hình thức vận động cơ bản sau:

Vận đông cơ học : Thể hiện sự duy chuyển vị trí của các vật thể trong ko gian Vận động vật lý: Là sự vận động biến đổi của các phân tử ,các hạt nguyên

tử ,quá trình nhiệt điện

Vận động hóa học :Thể hiện quá trình biến đổi của các nguyên tố ,quá trình hóahợp ,phân giải các chất…

Vận động sinh học thể hiện ở hoạt động sống của cơ thể ,quá trình trao đổi chấtgiữa cơ thể và môi trường

Vận động xã hội thẻ hiện ở sự biến đổi thay thế lẫn nhau các chế độ XH ,cáchinh thái XH…

Tuy nhiên ở đây chúng ta cần chú ý rằng các hình thái vận động trên có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau, Các hình thức vận động của VC pụ thuộc vào trình

độ tổ chức kết cấu của VC,Các hình thức vận động tồn tại ko tách rời nhau,1hình thức vận động cao có thể bao hàm trong nó nhiều hình thức vận độngthấp , song nó lại luôn biểu hiện đặc trưng của hình thức vận động đó ,song hìnhthức vận động ko thể chứa đựng hình thức vận động cao

6

Trang 7

Mặt # ,các hình thức trên có sụ khác nhau về chất ,do dó ko thể quy các hìnhthức vận động cao vào hình thức vận động thấp,mỗi kết cấu VC #nhau thi lựachọn 1 hình thức vận động phù hợp vói mình ,nhin chung kết cấu đơn giản thìvận động thấp.Riêng đối với con người và xã hội con người thì hinh thức vậnđộng chủ yếu là vận động xã hội.

Trong sự tồn tại của mình ,mỗi 1 sự vật có thể gắn liền với nhieuf hình thức vậnđộng # nhau,Tuy nhiên ,bản thân sụ tồn tại của sự vật đó bao giờ cũng đặc trưngbằng 1 hình thức vận động cơ bản

Mọi liên hệ giũa các hình thức vận động còn biểu hiện ở sự chuyển hóa giũachúng ,Hình thức vận động này luôn có khả năng chuyển hóa thành hình thứcvạn động #.Ngoài ra các hình thức vận động này còn liên hệ với nhau quanhững mắt khâu giao tiếp có tính chất trung gian KH càng phát triển thì pháttriển ngày càng nhiều các mắt khâu giao tiếp giữa nghành này và nghành #.Việc phân loai hình thức vận động cơ bản như trên ,ăng hen đã đặt cơ sở cho sựpân loại của các nghành KH tương ứng với đối tượng nghiên cứu cúa chúng vàchỉ ra được cơ sở của khuynh hướng phân ngành và hợp ngành của các KH Mặt

# tư tưởng về sự # nhau về chất và sự thống nhất của các hình thức vân động cơbản nó còn là cơ sở cho việc chống lại những khuynh hướng sai lầm trong nhậnthức, đó là đem quy hình thức vận động cao vào hình thức vận động thấp hơn vàngược lại

Ý nghĩa:

-Khi nghiên cứu và giải quyết 1 sự vật hay 1 vấn đề nào đó cần đặt nó vào trongtrạng thái vận động biến đổi, bởi chỉ có thông qua sự vân động thì SV mới bộc

lộ ra những đặc trưng đặc điểm, những thuộc tính của mình và phải thông qua

sự vận động biến đổi ấy để tìm hiểu xác định bản chất của vận động

-Cần xác định đúng những hình thức vận động đặc trưng cho SVHT hay vấn đềđang nghiên cứu, chống quan điểm siêu hình trong nhận thức và hành động thựctiễn, cần xây dựng quan điểm động với tư duy năng động

-Việc nhận thức sự thống nhất và sự khác nhau cảu các hình thức vận động nógiúp chúng ta hiểu được mối quan hệ và sự # biệt giữa trình độ VC # nhau,tránhđược khuynh hướng đơn giản hóa chủ nghĩa cơ giới dẫn đến thủ tiêu hình thứcnày hay hình thức # của vận động,điều đó dẫn đến những sai lầm trong nghiêncứu KH và thực tiễn XH

-Trong giai đoạn hiên nay để phát triển đất nước công cuộc đổi mới cần quántriệt quan điểm vận động và phát triển nhanh phát triển bền vững

Trang 9

Câu 3: Phân tích nguồn gốc và bản chất của ý thức?

Ý thức là phạm trù cơ bản của triết học, trong lịch sử đã từng diễn ra cuộc đấutranh quyết liệt giữa quan điểm DT và DV giữa biện chứng và siêu hình, Triếthọc ML định nghĩa: ý thức là sự phản ánh của TGKQ và trong bộ óc con người

là hình ảnh chủ quan về TGKQ

Ý thức của loài người hình thành từ 2 nguồn gốc TN và XH

-Nguồn gốc TN: gồm bộ não người và sự phản ánh của TGKQ và trong bộ nãocủa con người Dựa trên những thành tựu của KHTN nhất là sinh lý học thầnkinh, CNDV biện chứng khẳng định ý thức là 1 thuộc tính của VC nhưng k phảicủa mọi dạng VC mà là thuộc tính của 1 dạng VC sống có tổ chức cao là bộ óccon người Bộ óc người là cơ quan VC đặc biệt, có cấu trúc phức tạp, hiện đạivới 14-15 tỷ nơ ron thần kinh Bộ não người là sự tiến hóa lâu dài về mặt sinhvật XH sau khi vượn tiến hóa thành người, óc vượn chuyên hóa thành óc người,làm xuất hiện 1 kết cấu VC có tổ chức hoàn thiện, tinh vi phức tạp đó là bộ óccủa con người

Bộ óc người là cơ quan VC để trong đó diễn ra các quá trình ý thức ,nhờ có hệthống thần kinh và hoạt động của hệ thống thần kinh trên vỏ não mà sự phảnánh đã phát triển và hoàn thiện mang tính chủ động và sáng tạo Không có bộ ócngười thì ko thể có ý thức ,khi bộ óc người bị tổn thương thì dẫn tới sự rối loạn

ý thức Tuy nhiên nếu chỉ có bộ óc người thôi mà ko có sự tác động của thế giớibên ngoài ,thì cũng chưa thể xuất hiện ý thức ,mà pải có sự pản ánh của bộ nãokhi thế giới quan tác động

-Pản ánh là thuộc tính phổ biến có ở mọi dạng VC đó là pản ánh.Pản ánh là sựtái tạo những đặc điểm của hệ thống VC này ở 1 hệ thống VC # trong quá trìnhtác đọng qua lại giauwx chúng Phản ánh là quá trình từ thấp đến cao ,tươngứng với quá trình tiến hóa của thế giới VC.Hình thức đầu tiên đơn ngianr nhátđăc trưng cho giới tự nhiên vô cơ là pản ứng vật lý.hóa học Sự pản ánh này cònmang tính chất của sự pản ánh tâm lý ý thức ra đời đưa tới sự xuất hiện ý thức -Nguôn gốc XH ý thức là sự phát triển của XH pụ thuộc vào XH,ngay từ đầutính chất XH.Quá trình hình thành lên ý thức ko phải chủ yếu nhờ vào tự nhiên

và sự tác động của tự nhiên vào con người mà chủ yếu nhờ vào hoạt động củacon người trong quá trình cải biến tự nhiên.\

-Nhờ vào hoạt động đặ biệt là hoạt động thực tiễn của mình trong đó trước hết

là hoạt động LĐSX con người tác động vào tự nhiên,bắt giới tự nhiên phải bộc

lộ những thuộc tính những đặc điểm ,những thuộc tính những đặc điểm ,nhữngquy luật thành những hiện tượng thông qua những hiện tượng đó con người cótri thức về tự nhiên

-Mặt # cũng thông qua lao động con người đã cải biến được bản thân mình theohướng ngày càng hoàn thiện Các giác quan nhạy cảm hơn ,các hoạt động của

bộ óc năng động hơn nhờ vậy khả năng nhận thức về thế giói khách quan ngàycàng phát triển Chính thông qua quá trình lao đông ấy ở con người xuất hiệnnhu cầu cần trao đổi kinh nghiệm thông tin cho nhau…từ nhu cầu này đã làmxuất hiện ngôn ngữ cả (tiếng nói chữ viết.)Ngôn ngữ là cái vỏ VC tu duy ,nó

Trang 10

vừa là công cụ vừa là phương tiện để thực hiện tu duy ý thức và đồng thời pháttriển ý thức Ko có ngôn ngữ thi ý thức ko có cái để thể hiện cũng như để thựchiện Ăng hen khẳng định Trước hết là LĐ,sau LĐ và đồng thời với LĐ là ngônngữ đó la hai kích thích tố chủ yếu làm hình thành lên ý thưc’’

-Tóm lại ý thức ra đời từ 2 nguồn gốc tự nhiên và XH vầ thiếu 1 trog hai nguồngốc ấy thì ý thức ko thể ra đời được ,trong đó nguồn gốc XH là chủ yếu mangtinh quyết điịnh

-Bản chất của ý thức là sự pản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc conngười 1 cánh năng động sangs tạo

Trc hết pải thừa nhận ý thức là cái pản ánh hiện thực khách quan là cái bị pảnánh ,trong mối quan hệ này cái bị pản ánh tồn tại khách quan bên ngoài ,nộidung của ý thức đương nhiên là hiện thực khách quan ,tuy nhiên hình ảnh về nócòn phụ thuộc vào yếu tố chủ thể là con người chảng hạn về trình độ ,về tâmtrạng…

-Ý thức ko phải la sự pản ánh tùy tiện xuyên tạc cũng như ko pải là sự sao chépgiản đơn ,con người la 1 thực thể xã hội hoạt động của con người là năng độngsáng tạo vì vậy ý thức của con người cũng là sự pản ánh mang tính chủđộng ,tính năng sang tạo

-Tính năng động sáng tạo của ý thức được thể hiện đa dạng phong phú ,nó cóthể tao ra những tri thức mới về sự vật,có thể tượng tưởng ra những cái ko cótrong trực tế,có thể dự báo tiên đoán được tương lai,có thể tạo lên những cái ko

có trong thực tế tạo lên ảo tưởng ,những huyền thoại ,những lý thuyết khoa học

-Tính sáng tạo của ý thức ko có nghĩa là ý thức đẻ ra VC Sáng tạo của ý thức làsáng tạo của sự pản ánh ,sáng tạo theo quy luật và trong khuôn khổ của sự pảnánh chính thức tiễn XH của con người tạo ra sự pản ánh pức tạp sáng tạo năngđộng của bộ óc

-Ý nghĩa là 1 hiện tượng XH ,ra đời ,tồn tại gần với hoạt động thực tiễn của conngười chịu sự chi phối của các quy luật khách quan ,đặc biệt và chủ yếu là cácquy luật XH ,điều kiện hoàn cảnh ,trình độ XH …Vì thế ,ý thức mang bản chất

XH ,Mác đã nhấn mạnh : Ngay từ đầu ,ý thưc là một sản pẩm của Xh ,và là nhưvậy chừng nào con người còn tồn tại

10

Trang 11

Câu 4 : Mối quan hệ biện chứng giữa VC và ý thức ,ý nghĩa PP luận MQH nay?

-Trong lịch sử tồn tại và phát triển của triêt học đã diễn ra cuộc đấu tranh gay

gắt giữa các trường phái triết học và các quan điểm triết học nhằm trả lời câuhỏi VC và ý thức ,cái nào có trước ,cái nào quyết định cái nào giữa chúng cóquan hệ thế nào Trước khi chủ nghĩa duy vậy biện chứng ra đời ,đã có rất nhiềucác trường phái và các quan điểm triết học khác nhau đi vào nghiên cứu ,tìmhiểu nhằm trả lời câu hỏi trên tuy nhiên họ đều có những hạn chế nhất định ,rơivào quan điểm duy tâm hoặc duy vật siêu hình máy móc

-Việc tìm hiểu về quan hệ giữa VC và ý thức có rất nhiều quan điển khácnhau :chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức là cái có trc VC,sinh ra VC ,chi phối

sự tồn tại và vận động của thế giới VC ,các sự vật hay TG VC chỉ là kết quả cho

-VC và ý thức là 2 pạm trù cơ bản của triết học ,giữa chúng luôn có mối quan hệbiện chứng với nhau,chỉ đến triết học Mác Lê nin quan hệ nay mới là sáng tỏtrên lập trường duy vật và PP biện chứng

-Còn quan điểm của Mác Lê nin khẳng định VC là tinh thứ nhất ý thức là tínhthứ 2 ,VC quyết định ý thức ,Sự khawnhr định này dưa trên căn cứ chủ yếu sauđây :

-Xét về mặt time :Vc là cái có trước ,cái vô cùng vô tân , ko có điểm khởi đầu

và điểm kết thúc Trong lịch sử tiến hóa ,ý thức là cái có sau ,ý thức chỉ xuấthiện cùng với sự xuất hiện của loài người

-Xét về mặt nguồn gốc : ý thức được hình thành từ những nguồn gôc tự nhiên

va XH ,những nguồn gốc này có liên quan mật thiết với VC ,có tiền đè từ

VC ,Vì vậy ko có VC thi ko có những tiền đè để hình thành ý thức

-Xét về mặt nooijn dung ý thức chỉ là cái pản ánh còn VC là cái được pản ánh

và đương nhiên nếu ko có TG VC thì cũng chẳng có được 1 hình ảnh nào về nó

về nó ỏ trong vỏ não của con người về thế giới chẳng qua chỉ la nhưng hình ảnhkiền thức về TG bên ngoài mà thôi

-Xét vè mặt biến đổi và phát triển của ý thức:sự biến đổi phát triển của ý thứcchỉ có thể được thể hiện trên cơ sở biến đổi phát triển của thế giới hiện thực ,của

sự tác động của tg hiện thực con người vào con người Mặt khác sự biến đổiphát triển của ý thức còn phụ thuộc vào mức độ và trình độ của những hoạtđộng có tính VC của con người đó là hoạt động thực tienx LĐSX Từ nhữngpân tích trên MÁC LÊ nin khẳng định VC giữ vai trò quyết định ý thức

Trang 12

-Khi khẳng định vai trò quyết định của VC đối với ý thức chủ nghĩa duy vạtbiện chứng đồng thời cũng vạc rõ sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của ýthức với VC,

-Ý thức thông qua hoạt động thức tiễn của con người (trước hết là LĐSX nó cóthể thúc đẩy sự quá trình biến đổi của những điều kiện VC ,cải tạo làm hoàncảnh và biến đổi TGKQ

-Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định song khi nó ra đời thì nó có tính độclập tương đối và có tác động trở lại rất lớn đối với sự tồn tại và phất triển củaTGVC

-Trong quá trình hoạt động cụ thể của con người ,nhân tố chính trị tư tưởngđược hình thành từ những điều kiện VC ,điều kiện kinh tế ,song chính trị tưtưởng cũng được tác động trở lại đối với sự phát triển của bản thân hiện thựckhách quan theo cả hai xu hướng

-Tác động tích cực :những ý thức pản ánh 1 cánh đúng đắn cánh mạng và khoahọc pản ánh chính xác bản chất quy luật vận động của thế giới VC 1 cánh nhanhhơn ,lúc đó ý thức trở thành tư tưởng kim chỉ nam của hoạt động thực tiễn.-Tác động tiêu cực :Những ý thức tư tưởng pản khoa học ,lạc hậu pản ánhxuyên tạc bản chất ,quy luật vận động của TGVC thì có tác động kìm hãm sựvận động phát triển của TGVC

Mặt khác vai trò của ý thức còn thể hiện ở chỗ nó trang bị cho con người nhữngtri thức về bản chất quy luật của đối tượng ,giúp con người đúng đắn mụctiêu ,đề ra được các phản ánh hoạt động phù hợp hình thành nên các biệp pháp

tổ chức có hiệu quả hoạt động thực tiễn ,hiện thực phát triển bởi ý thức luônmang tính năng động sáng tạo vượt trước

Sự tác động của giới vật chất bao giờ cũng phải thông qua hoạt động thực tiễncủa con người Bản thân ý thức tự nó ko trực tiếp làm thay đổi được j đối vớithế giới vật chất Vì vậy nói đến vai trò của ý thức là thức chất nói đến vai tròcủa con người ,đến tính chủ động sáng tạo trong hoạt động của con người ,ýthức chỉ đạo hoạt động con người hình thành ở họ mục tiêu ,kế hoạch ,giải pháp

…từ đó hình thành lên ý chí thúc đẩy hành động thực tiễn của con người

Sự tác động của ý thức đối với vật chất bao giờ cũng diễn ra trên cơ sở vật chất

là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai Trong bất kỳ trường hợp nào ý thức cũngchỉ là sự phản ánh của thế giới vật chất, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạotrong phản ánh và được định hướng bới những nhu cầu thực tiễn, ý thức tácđộng trở lại vật chất phải bằng lực lượng vật chất, không có một trường hợp nào

ý thức quyết định vật chất

Ý nghĩa PP luận

Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn con người vào điều kiện kháchquan, lấy khách quan làm cơ sở, làm phương tiện cho hoạt động có mục đíchcủa mình, làm căn cứ cơ sở cho mọi hoạch định về chủ trương, đường lối, chínhsách, giải pháp… phải biết nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan mộtcách chủ động sáng tạo, với ý chí quyết tâm cải tạo hiện thức theo nhu cầu tiến

bộ xã hội

12

Trang 13

Tinh thân cách mạng và khoa học trong việc vận đụng mối quan hệ vậtchất và ý thức đòi hỏi chúng ta phải chống lại thái độ tiêu cực, thụ động, bảothủ, trì trệ, vịn vào điều kiện khách quan để ngồi chờ, không dám hành động,đồng thời phải chống lại chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí mà biểu hiện của nó làhành động bất chấp quy luật, điều kiện cụ thể.

Trong hoạt động của cong người, nhân tố vật chất và nhân tố tinh thần ómối liên hệ hữu cơ với nhau, giữa chúng có sự tác động qua lại tạo thành mộtthể thống nhất, chặt chẽ Sức mạnh ý thức của con người không chỉ ở chỗ táchrời điều điện vật chất, thoát ly hiện thực khách quan mà phải biết dựa vào điềukiện vật chất đã có, phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế giớikhách quan

Lênin đã từng cảnh báo: “Không được lấy ý muốn chủ quan của mìnhlàm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược,sách lược cách mạng, nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan lấy ý chí áp đặt chothực tế, lấy ảo tưởng thay thế cho hiện thực thì mắc phải bệnh chủ quan duy ýchí”

Thực tế ở Việt Nam trước thời kỳ đổi mới Đảng ta đã phạm phải sai lầmchủ quan duy ý chí, vi pham quy luật khách quan trong việc xác định mua tiêu,bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cải tạo XHCN chủ trương xâydựng đất nước XHCN chỉ trong một thời gian rất ngắn khi mà những điều kiệncủa thức tế khách quan chưa cho phép Chúng ta chủ trương xóa bỏ hoàn toànnhững thành phần kinh tế tư bản trong quá trình quản lý và phát triển kinh tế.Tại đại hội VII đã khẳng định: “Đảng đã phạm sai lầm chủ quan, duy ý chí viphạm quy luật khách quan” và Đại hội cũng rút ra bài học là “Mọi đường lốichủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế tôn trọng quy luật khách quan”.Đến đại hội IX tổng kết 10 năm đổi mới Đảng cũng đã chỉ rõ: Đổi mới phải phùhợp với thực tiễn và luôn luôn sáng tạo

ĐH X tiếp tục khẳng định: Chiến lược 10 năm 2001-2010, xây dựng nềntảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theohướng hiện đại Bài học lớn về đường lối chính sách của Đảng phải xuất phát từthực tế, tôn trọng quy luật khách quan, một lần nuawax được nhấn mạnh trongCương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung và phát triển) năm 2011

- Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, tính tích cực chủđộng trong hoạt động cải biến thế giới khách quan của con người Vai trò tíchcực của ý thức không phải ở chỗ nó trực tiếp làm biến đổi hiện thức mà là nhậnthức đúng đắn hiện thực từ đó hình thành mục đích, phương hướng, biện pháp

và ý chí cần thiết cho hoạt động càng phản ánh đúng đắn hiện thực bao nhiêuthf hoạt động cải tạo hiện thực càng có hiệu quả bấy nhiêu Vì vậy phát huy tínhnăng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người trong hoạtđộng là vấn đề có ý nghĩa quyết định thành công hay thất bại của sự nghiệp cáchmạng

Tại đại hội VIII Đảng CSVN đã khẳng định: Trong thời kỳ đổi mới phảilấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh

Trang 14

và bền vững, phải khơi dậy cho nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, pháthuy tài trí của người VN quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi đói nghèo lạc hậu.

Tại đại hội IX nhấn mạnh: Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnhtinh thần của người VN coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và côngnghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, pháthuy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh

tế nhanh và bền vững:, Đảng ta cũng tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục phát triểnsâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa VN tiên tiến đậm đà bản sắc dântộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế xã hội, làm cho vănhóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Đại hội X Đảng ta tiếp tục khẳng định: Đổi mới giáo dục một cáchnhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệthống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện củanền giáo dục nước nhà Văn kiện ĐH XI tiếp tục nhấn mạnh đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ

sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng VN dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,công bằng, văn minh

Trong lĩnh vực công tác công an, xuất phát từ những nhiệm vụchung là bảo vệ an ninh quốc gia và TTATXH, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhà nước

và cuộc sống bình yên của nhân dân, bảo vệ công cuộc xây dựng đất nước theocon đường XHCN Lực lượng công an trước hết phải quán triệt, nắm vữngnhững nội dung cơ bản của các phạm trù vật chất và ý thức, nội dung mối quan

hệ biện chứng giữa chúng để từ đó cụ thể hóa những nội dung đó trong công tácđấu tranh phòng chống tội phạm

Cụ thể khi xảy ra một vụ án, từ việc nhận tin cho tới quá trình tiếnhành công tác khám nghiệm hiện trường nhằm thu nhập những dấu vết của tộiphạm để lại trên hiện trường xảy ra vụ án, điều đặc biệt quan trọng là chúng taphải tôn trọng thực tế khách quan từ khâu đầu đến khau cuối cùng trong khi thuthập dấu vết nhằm đảo bảo dấu vết và chứng cứ thu được phải phản ánh đúngnhững gì nó đã diễn ra phục vụ cho việc đánh giá chứng cứ và tầm quan trọngcủa chúng đối với vụ án Từ đó xác định phương án đấu tranh tập trung và cóhiệu quả Chống lại các biểu hiện của quan duy ý chí, không tôn trọng thực tạikhách quan trong việc thu nhập và đánh giá chứng cứ để dẫn đến việc kếtluaatnj theo ý chí chủ quan và làm oan sai

Thường xuyên tiến hành công tác tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệmcông tác đấu tranh phòng chống tội phạm, trên cơ sở tôn trọng hiện thực kháchquan từ đó làm căn cứ cơ sở cho mọi hoạch định về chủ trương, đường lối,chính sách, giải pháp, trong công tác tổ chức lực lượng để đấu tranh phòngchống tội phạm một cách có hiệu quả và phải biết nhận thức và vận dụng cácquy luật khách quan một cách chủ động sáng tạo, với ý chí không ngừng tấncông tội phạm nhằm đảm bảo ANQG và TTATXH

14

Trang 15

Câu 5: Nguyên lý về mối quan hệ phổ biến – ý nghĩa phương pháp luận? Phép biện chứng duy vật được Mác và Awngghen sáng lập vào giữa thế kỷ

XIX và được LêNin phát triển vào đầu thế kỷ XX Hai nguyên lý của PBCDVvừa là nguyên tắc phương pháp luận để đi sâu vào nghiên cứu thế giới Trong

đó nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến nhằm làm rõ những điều kiệncủa sự tồn tại trong mỗi SVHT

Trước hết ta cần đi vào tìm hiểu về khái niệm của mối liên hệ: Mối liên hệ là

1 phạm trù của phép biện chứng duy vật dùng để chỉ sự quy định, sự tác độngqua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt của 1SVHT trong thế giới khách quan

Các quan điểm triết học trước Mác cho rằng mọi sự vật hiện tượng trong thếgiới chúng tồn tại ở trạng thái cô lập, biệt lập tách rời nhau, cái nào riêng cái ấy,cái này tồn tại bên cạnh cái khác, giữa chúng không có sự phụ thuộc, không cómối liên hệ rằng buộc chuyển hóa quy định lẫn nhau Nếu có thì cũng chỉ lànhững mối liên hệ mang tính ngẫu nhiên, hời hợt bên ngoài Tuy vậy cũng cómột số người cho rằng, các sự vật hiện tượng có mối liên hệ với nhau và mốiliên hệ rất đa dạng, phong phú, tuy nhiêu các hình thức liên hệ khác nhau lạikhông có khả năng chuyển hóa lẫn nhau

Quan niệm trên đây của phương pháp siêu hình đã dẫn đến những sai lầm vềthế giới quan, nó không có khả năng phát hiện ra cái chung, cái bản chất, cáimang tính quy luật của sự vật động và phát triển của sự vật hiện tượng Còn chủnghĩa duy tâm thì giải thích một cách thần bí về sự liên hệ, tác động qua lại giữa

sự vật hiện tượng là do cảm giác, ý thức, ý niệm, ý niệm tuyệt đối hay là các lựclượng siêu nhiên

Ngược lại, triết học Mác- Lê Nin khẳng định thế giới là một chỉnh thể thốngnhất Các sự vật hiện tượng và quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt lạivừa có sự tác động qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau Cơ sở của mốiliên hệ là sự vận động và tính thống nhất vật chất của thế giới Các sự vật trongthế giới vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình bằng vận động mà vận động cónghĩa là liên hệ Các sự vật hiện tượng

trong thế giới dù có đa dạng phong phú và khác nhau đến mấy chăng nữa thìchúng cũng chỉ là những dạng, những hình thức tồn tại khác nhau của thế giớiduy nhất là thế giới vật chất mà thôi Ngay bản thân ý thức vốn không phải làvật chất nhưng cũng chỉ là sự phát triển đến đỉnh cao của một thuộc tính củamột dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người, nội dung của ý thức cómối liên hệ chặt chẽ với thế giới bên ngoài

Các sự vật hiện tượng trong thế giới dù có đa dạng, phong phú thế nào chăngnữa thì chúng đều có một thuộc tính chung là tồn tại khách quan, do đó mối liên

hệ giữa các sự vật hiện tượng mang tính chất khách quan

Trang 16

Phép biện chứng duy vật không chỉ khẳng định tính khách quan mà còn khẳng

định tính phổ biến của sự liên hệ và tính phổ biến ấy được thể hiện trên nhữngkhía cạnh sau:

Xét về mặt không gian: Một sự vật hiện tượng là một chỉnh thể riêng biệt,song chúng tồn tại không phải trong trạng thái biệt lập, tách ròi đối với sự vật,hiện tượng khác mà giữa chúng luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau, không có

sự vật, hiện tượng nằm ngoài mối liên hệ Chúng ta không thể tìm thấy ở bất cứđâu, bất cứ thời gian nào, lĩnh vực nào những sự vật hiện tượng tồn tại một cáchbiệt lập, hoàn toàn riêng rẽ Các sự vật, hiện tượng trong sự tồn tại của mìnhchúng tác động lẫn nhau và nhận sự tác động của các sự vật hiện tượng khác

Đó chính là hai mặt của 1 quá trình tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng Ăng ghen đã khẳng định: “Tất cả thế giới mà chúng ta có thể nghiên cứu được

là một hệ thống, một tập hợp các vật thể liên hệ khăng khít với nhau và việc cácvật thể ấy có mối liên hệ qua lại với nhau đã có ý nghĩa là các vật thể này tácđộng qua lại lẫn nhau và sự tác động qua lại ấy chính là vận động” Trong thực

tế của thời Ngày nay, trên thế giới đã và đang xuất hiện xu hướng toàn cầu hóa,khu vực hóa của mọi mặt của đời sống xã hội, khu vực hóa của mọi mặt của đờisống xã hội Các quốc gia dân tộc ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, tác động lẫnnhau trên con đường phát triển của mình

Xét về mặt cấu tạo, cấu trúc bên trong của sự vật, hiện tượng: Xét về mặt cấutrúc bên trong của mỗi sự vật hiện tượng thì mỗi sự vật

hiện tượng đều được cấu tạo lên bởi nhiều yếu tố, bộ phận khác nhau Các yếu

tố bộ phận đó không tồn tại trong trạng thái biệt lập hay hỗn độn mà chúng đềuđược kết cấu theo một trật tự Lôgic nhất định, một kiểu tổ chức nhất định để tạothành một chỉnh thể Mỗi mặt yếu tố bộ phận đó vừa thực hiện chức năng củamình vừa tạo điều kiện cho những bộ phận yếu tố khác Sự biến đổi của một yếu

tố nào đó trong cấu trúc của sự vật sẽ gây ảnh hưởng đến các bộ phận khấc vàđối với cả chỉnh thể

Xét về mặt thời gian: Mối 1 SVHT nói riêng và cả thể giới nói chung trong sựtồn tại phát triển của mình đều phải trải qua các giai đoạn, các thời kỳ khácnhau và các giai đoạn đó không tách rời nhau, có liên hệ làm tiền đề cho nhau,không những giai đoạn trong một quá trình mà cả quá trình trước và quá trìnhsau trong sự vận động và phát triển của thế giới nói chung và của từng sự vật,hiện tượng nói riêng cũng luôn liên hệ với nhau, sự kết thúc của giai đoạn nàylàm mở đầu cho gian đoạn khác tiếp theo Điều này thể hiện rõ trong mối liên

hệ giữa quá khứ - hiện tại- tương lai

Ngoài tính khách quan và phổ biến, sự liên hệ của các sự vật hiện tượng cònmang tính phong phú, đa dạng và phức tạp Tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vậtđộng và phát triển của sự vật, hiện tượng quy định Khi nghiên cứu hiện thực

16

Trang 17

khách quan có thể phân chia mối liên hệ thành nhiều loại khác nhau, tùy theotừng cặp, theo tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp, trình độnông hay sâu, vai trò trực tiếp hay gián tiếp Khái quát lại có những mối liên hệchính sau đây:mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và thứyếu, mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp, mối liên hệ bản chất và không bản chất,mối liên hệ tất nhiên hay ngẫu nhiên… trong đó mối liên hệ bên trong, trực tiếp,bản chất, tất nhiên bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng quyết định đối với sự tồntại phát triển của sự vật.

Chính tính đa dạng trong quá trình tồn tại, vận động và phát triển của bản thân

sự vật hiện tượng quy định tính đa dạng của mối liên hệ tuy sự phân chia thànhcác mối liên hệ chỉ mang tính tương đối nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiếtbởi vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí, vài trò xác định đối với sự vận động, pháttriển của sự vật hiện tượng, con người cần nắm đúng các mối liên hệ để có cáchtác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình Triết học Mác xít thừa nhận rằng những mỗi liên hệ khác nhau có thể chuyểnhóa thay đổi vị trí cho nhau, điều đó diễn ra có thể do sự thay đổi phạm vi baoquát khi nghiên cứu, xem xét hoặc có thể do kết quả vận động khách quan củachính sự vật hiện tượng

Ý nghĩa phương pháp luận:

- về mặt nhận thức khi nghiên cứu SVHT phải đặt nó trong mối liên hệ tác độngqua lại với những SVHT khác và cần phải phát hiện ra những mối liên hệ giữacác bộ phận, yếu tố, các thuộc tính, các giai đoạn khác nhau của bản thân sự vật,

kể cả các mắt khâu trung gian, gián tiếp của chúng Mặc dù trên thực tế chúng takhông thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, chính xác nhưng sự cầnthiết phải xem xét tất cả mọi mặc sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sailầm và sự cứng nhắc Lê nin khẳng định: “Muốn thức sự hiểu được sự vật, cànphải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt của mối liên hệ và quan hệ của

sự vật đó: Để nhận thức đúng SVHT cần phải xem xét nó trong mói liên hệ vớinhu cầu thực tiễn, ứng với mỗi thời kỳ, giai đoạn, thế hệ thì con người bao giờcũng chỉ phản ánh được số lượng hữu hạn các mối liên hệ Vì vậy, tri thức vềcác SVHT chỉ là tương đối, không đầy đủ và cần phải được thường xuyên bổsung thếm Quan điểm toàn diện về sự vật đòi hỏi chúng ta phải phát hiện rakhông chỉ là mối liên hệ của nó mà còn phải biết xác định phân loại tính chất,vai trò, vị trí cũng mỗi loại liên hệ đối với sự phát triển của sự vật Cần chống

cả hai khuynh hướng sai lầm phiến diện một chiều, cũng như đánh giá ngangbằng vị trí của các loại quan hệ

Về mặt thực tiến: quan điểm toàn diện đòi hỏi để cải tạo sự vật, hiện tượngcần làm thay đổi mối liên hệ bên trong của SVHT, cũng như mối liên hệ giữaSVHT đó với SVHT khác Muốn vậy cần phải xác định, sử dụng đồng bộ các

Trang 18

phương pháp, các biện pháp, phương tiện giải quyết sự vật Mặt khác quan điểmtoàn diện phải đỏi hỏi trong hoạt động thực tiễn cần kết hợp chính sách dàn đều

và chính sách có trọng điểm Vừa chú ý giải quyết về mặt tổng thể vừa biết lựachọn những vấn đề trọng tâm để tập trung giải quyết dứt điểm tạo đà cho việcgiải quyết vấn đề khác

Đối với VN trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng CSVN xác định cần phảiđổi mới toàn diện các lĩnh vực đời sống xã hội, xong mỗi bước đi phải xác địnhkhâu then chốt để tập trung sức giải quyết làm co sở đổi mới các khâu khác, lĩnhvực khác Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 của Đảng đã coi đổi mới tư duy

lý luận chính trị về chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá, nhấn mạnh phải chú trọngtăng trưởng KT đi liền với thực hiện công bằng XH, giải quyết những vấn đề

XH, đẩy mạnh CNH-HĐH, đi tới bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, vừa chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế, vừa giương cao ngọn cờ độc lập tụ chủ, ANQP…trong

đó xác định phát triển kinh tế là trọng tâm Văn kiện đại hội lần thứ XI tiếp tụcnhấn mạnh: đổi mói toàn diện, mạnh mẽ đất nước theo con đường XHCN Sau

25 năm đổi mới toàn diện đất nước, thế và lực của đất nước không ngừng lớnmạnh Những thành tựu của công cuộc đổi mới là hệ quả chứng minh cho sựvận dúng đúng đắn quan điểm đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để, có trọng tâm,trọng điểm, lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm, xây dựng đảng làm then chốt,tăng trưởng kinh tế đi đôi với sự phát triển văn hóa, mở rộng hợp tác sâu rộng,toàn diện với các nước trên nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ

18

Trang 19

Câu 6: Nguyên lý về sự phát triển – ý nghĩa phương pháp luận

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến gắn liền với nguyên lý về sự pháttriển Sự liên hệ, tác động qua lại của các SV,HT tất yếu dẫn đến sự vận độngbiến đổi và phát triển của chúng Nguyên lý về sự phát triển nhằm làm rõ quátrình vận động và phát triển của thế giới khách quan Trong lịch sử triết học, khixem xét về sự phát triển, đã có nhiều quan điểm khách quan:

Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo xem sự phát triển như là kết quả củanhững ý niệm của các lực lượng siêu tự nhiên hoặc ý muốn chủ quan của conngười

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình xem xét các sự vật hiện tượngnhư là những cái được sinh ra một lần là xong, không có sự biến đổi từ sự vậtnày sang sự vật khác vì vậy họ phủ nhận sự phát triển, sự phát triển chỉ là sựtăng lên hoặc giảm đi về lượng mà không có sự thay đổi về chất, không đề cậpđến cái mới, hoặc là họ cho sự phát triển chỉ là sự thăng trầm, phức tạp, biến đổituần hoàn lặp lại theo vòng tròn khép kín không có bước quanh co phức tạp vànguồn gốc của sự phát triển là do yếu tố bên ngoài

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Mac-Leenin cho rằng: Pháttriển là một phạm trù của triết học dùng để khái quát quá trình vận động từ thấpđến cao, từ đơn giản đến phức tạp từ khém hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiệnhơn, các quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời củacái mới thay thế cái cũ Sự phát triển là quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫnđến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc Có nghĩa làquá trình phát triển, dường như quay lại điểm khởi đầu song trên cơ sở mới caohơn Quan điểm của phép biện chứng duy vật khẳng định nguồn gốc của sự pháttriển nằm ngay trong bản thân của sự vật, do những mâu thuẫn của sự vật quyđịnh

Sự phát triển là kết quả đấu tranh giải quyết những mâu thuẫn bên trongcủa sự vật Triết học Mác xít khẳng định “phát triển là tự thân phát triển, nso làquá trình khách quan độc lập với ý thức của con người Sai lầm của chủ nghĩaduy tâm về vấn đề này là đi tìm nguồn gốc của sự phát triển trong lực lượngsiêu tự nhiên hay cho rằng ý thức con người quyết định tất cả Còn nhược điểmcủa chủ nghĩa duy vật siêu hình trước Mác là ở chỗ đi tìm sự phát triển từ sự tácđộng bên ngoài, hoặc cho rằng, phát triển chẳng qua chỉ là tăng lên về mặt sốlượng Lê Nin đã từng so sánh “hai quan niệm về sự phát triển (sự tiến hóa) sựphát triển coi như giảm đi và tăng lên, như là sắp lại và sự phát triển coi như là

sự thống nhất thành các mặt đối lập Quan niệm thứ nhất là khô cứng, nghèonàn và khô khan Quan niệm thứ 2 là sinh động chỉ có quan niệm thứ 2 mới cho

ta chìa khóa của sự tự vận động, của tất cả mọi cái đang tồn tại, chỉ có nó mớicho ta chía khóa của những bước nhảy vọt, của sự gián đoạn, của tính tiệm đến,

Trang 20

của sự chuyển hóa thành các mặt đối lập, của sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinhcái mới Theo quan điểm này sự phát triển không bao quát chung toàn bộ sự vậnđộng mà nó chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động Phát triển là mộttrường hợp đặc biệt của sự vận động Nói đến phát triển là nói đến vận động.

Tuy nhiên không phải với mọi sự vận động đều là sự phát triển mà chỉ cóquá trình vận động biến đổi nào làm nảy sinh ra những tính quy định mới caohơn về chất mà nhờ đó làm tăng cường tính phức tạp của sự vật, làm cho cả cơcấu tổ chức, phương thức tồn tại vận động của sự vật cũng những chức năngvốn có của nó ngày càng được hoàn thiện hơn thì mới được gọi là phát triển

Như vậy sự phát triển chỉ khái quát xu hướng chung của vận động là xuhướng đi lên sự vật mới, cái mới ra đời thay thế cái cũ và đó là trường hợp đặcbiệt của vận động Trong hiện thực khách quan, tùy theo hình thức tồn tại cụ thểcủa vật chất khác nhau mà sự phát triển được thể hiện khác nhau hay nói cáchkhác sự phát triển mang tính đa dạng, phong phú

Trong thế giới vô cơ: Sự phát triển thể hiện dưới dạng biến đổi các yếu tố

và hệ thống vật chất Sự tác động qua lại giữa chúng là quá trình hòa hợp vàphân giải các chất vô cơ từ đơn giản đến phức tạp làm xuất hiện những vật chấtphức tạp hơn

Trong thế giới hữu cơ: Sự phát triển thể ở khả năng thích nghi của sinhvật với những biến đổi phức tạp của môi trường sở sự hoàn thiện khả năng traođổi chất giữa cơ thể và môi trường, ở khả năng tự sinh ra chính mình với trình

độ ngày càng cao hơn làm xuất hiện những giống loài mới

Đối với con người, sự phát triển thể hiện ở năng lực trinh phục tự nhiên,

sự hoàn thiện khả năng lao động, sự phát triển và hoàn thiện tư duy trí tuệ củacon người cho phù hợp với sự biến đổi của môi trường sống của chính conngười Hay nói cách khác đối với con người nó chính là khả năng tự hoàn thiệnmình cả về thể chất và tinh thần phù hợp với sự vận động phát triển của môitrường

Trong tư duy, sự phát triển thể hiện ở sự nhận thức ngày càng sâu sắc,đầy đủ, chính xác bản chất quy luật vận động của nhận thức

Trong hiện thức và trong tư duy, sự phát triển diễn ra theo con đườngquanh co phức tạp, thậm chí có những bước thụt lùi tương đối, đó là quá trìnhthay đổi từ lượng đến chất, là kết quả đấu tranh giữa các mặt đối lập, của sự phủđịnh cái mới với cái cũ, con đường của sự phát triển không phải là thẳng tắpcũng không phải là vòng tròn khép kín mà diễn ra theo đường xoắn ốc tạo thành

xu thế phát triển tiến lên từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ kém hoànthiện cho tới hoàn thiện hơn của giới tự nhiên, XH và tư duy, nghĩa là trong quátrình phát triển dường như có sự quay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng trên

cơ sở trình độ cao hơn

20

Trang 21

Lê Nin đã từng nhấn mạnh rằng: “nếu hình dung sự phát triển của toànthế giới như con đường thẳng tắp không có bước quanh co, những sự thụt lùiđôi khi ra xa so với hướng chủ đạo là không thực tế, không biện chứng”.

Sự phát triển diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy mànguonf gốc của nó là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vậthiện tượng Như vậy phát triển là quá trnhf khách quan độc lập với ý thức của

cn người, song không nên hiểu sự phát triển bao giờ cũng diễn ra 1 cách đơngiản theo đường thẳng tắp Xét từng trường hợp các biệt thì có sự phát triển đilên, tuần hoàn thậm chí đi xuống, nhưng xét cả quá trình, trong một phạm virộng lớn thì vận động đi lên là khuynh hướng chung thống trị và chủ đạo của sựvận động với mỗi sự vật, hiện tượng

Ý nghĩa:

Quan điểm phát triển yêu cầu chúng ta, trong hoạt động nhận thức vàthực tiễn khi nghiên cứu và phân tích một sự vật hiện tượng nào đó cần phải xâydựng quan điểm phát triển, nghĩa là phải đặt nó trong trạng thái vận động, pháthiện và vạch ra được xu hướng , biến đổi và chuyển hóa của chúng, khắc phục

tư tưởng bảo thủ, trì trệ Như Lê Nin cho rằng “Lô gic biện chứng đòi hỏi phảixem xét sự vận động trong sự phát triển, trong sự “tự vận động” (…) trong sựbiến đổi của nó”

Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt cái hiện đang tồn tại ở sựvật mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó đồngthời phải khái quát được khuynh hướng chủ đạo của những biến đổi khác nhaucủa sự vật

Xem xét sự vật phải biết phân chia các quá trình giai đoạn phát triển trên

cơ sở đó tìm ra phương pháp tác động phù hợp nhằm thúc đẩy hoặc kìm hãm sựphát triển đó tùy theo lợi ích của con người xã hội

Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải xây dựng quan điểm lịch

sử cụ thể Quan điểm này đòi hỏi khi nhận thức và tác động vào sự vật phải chú

ý điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể, đến môi trường cụ thể mà trong đó sự vậtđược sinh ra tồn tại và phát triển Sự phát triển của sự vật trong thực tế là quátrình đầy mâu thuẫn Do vậy khi vận dụng quan điểm vào nhận thức chúng taphải thấy rõ tính quanh co, phức tạp của sự phát triển như một hiện tượng phổbiến, sự chiến thắng của cái mới là vô cùng phức tạp và phải trả giá, trên conđường tiến tới cái mới có cả sự vấp ngã và mất mát, nếu không chúng ta sẽ dễ biquan, dao động khi tiến trình cách mạng nói chung cũng như tiến triển của mỗi

cá nhân nói riêng tạm thời gặp khó khăn trắc trở

Một luận điểm hay một giải pháp nào đó có thể là đúng đắn là chân lýtrong điều kiện hoàn cảnh này nhưng lại trở thành sai lầm, không đúng trongđiều kiện hoàn cảnh khác Vì vậy phân tích tình hình cụ thể đề ra những giải

Trang 22

pháp cụ thể cho từng công việc cụ thể đó là nguyên tắc bản chất sống của chủnghĩa Mác Cần phải chống khuynh hướng bảo thủ trì trệ, đồng thời chống tưtưởng bảo thủ trì trệ không dám đổi mới hoặc nóng vội chủ quan đốt cháy giaiđoạn.

Nắm vững quan điểm về sự phát triển giúp chúng ta có thái độ lạc quanvào sự nghiệp của cách mạng ở VN Sự đổi mới sự nghiệp đổi mới chính thứcđược khởi xướng tự sau đại hội VI của Đảng vào tháng 12/1986 Xét về thựcchất sự nghiệp đổi mới ở VN là nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng dân chủ và văn minh theo định hướng XHCN Quá trình đổi mớidiễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm ddauw lại sự phát triểntheo hướng CNH-HĐH, đổi mới ở VN là quá trình phát triển đưa nền kinh tếnông nghiệp lạc hậu sang một trình độ CNH-HĐH văn minh, và thực sự đây làquá trình phức tạp, khó kahwn lâu dài Đảng đã nêu rõ: Sự nghiệp đổi mới ởnước ta diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế còn yếu kém, lạc hậu, thai tai liên tấpxảy ra, cuộc khủng hoảng TC-KT xảy ra ở một số nước Châu Á, tình hình thếgioiwsi và khu vực diễn biến phức tạp Tuy nhiên với quan điểm phát triển,chúng tra luôn tin tưởng vào tính tất thắng của cái mới, Đảng ta đã nhận thức và

dự đoán đúng xu thế phát triển của thế giới và xác định động lực của sự pháttriển, của sự nghiệp đổi mới chính là nguồn nội lực trong đó có sự tranh thủngoại lực từ bên ngoài đồng thời vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận về

sự phát triển một cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước ta,tranh thủ đi tắt đón đầu Vì thế, trên 25 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt đượcnhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực CT-KT-XH Những thành tựu đó

đã tăng cường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi bộ mặt và cuộc sosongs của đấtnước của nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ XHCN, nângcao vị thế và uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế và trong khu vực Đóchính là nguồn động viên to lớn, giúp chúng tra không dao động trước nhữngdiễn biến phức tạp của tiến trình cách mạng trong nước và trên thế giới Nghịquyết XI tiếp tục nhấn mạnh trong sự nghiệp đổi mới toàn diện, mạnh mẽ đấtnước, cần đặc biệt chú ý xử lý tốt các mối quan hệ lớn giữa đổi mới, ổn định vàphát triển, giữa đổi mói kinh tế và đổi mới chính trị, giữa nội lực và ngoại lực,giữa cơ hội và thách thức, giữa độc lập tự chủ với mở rộng quan hệ hợp tác, hộinhập, hòa nhập và chống hòa tan, giữ gìn bản sấc văn hóa dân tộc Đảng takhẳng định quan điểm phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, pháttriển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh

22

Trang 23

Câu 7: Quy luật là gì? Tính chất của quy luật? Sự khác nhau giữa quy luật

tự nhiên và quy luật xã hội?

Quy luật là những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, bên trong, phổ biến và đượclặp đi lặp lại giữa các mặt, các yếu tố trong cùng một sự vật hay giữa các sự vậthiện tượng cùng loại

Triết học Mác Lênin khái quát quy luật mang tính khách quan và tính đadạng:

Tính khách quan: Đó là những mỗi liên hệ bản chất, bên trong của các sự vậthiện tượng Nó không do ai sinh ra và cũng không bị mất đi Nó không phụthuộc vào ý thức chủ quan của con người, con người chỉ có thể nhận thức vàvận dụng nó vào trong thực tiễn của mình

Tính đa dạng: các quy luật hết sức đa dạng, chúng khác nhau về mức độ phổbiến, phạm vi bao quát, tính chất tác động, vai trò của chúng trong sự vận độngphát triển của thế giới khách quan Căn cứ vào mức độ tính phổ biến có quy luậtriêng, quy luật chung, quy luật phổ biến; Căn cứ vào lĩnh vực tác động thì cóquy luật tự nhiên, quy luật xã hội và quy luật của tư duy

Phép biện chứng duy vật nghiên cứu các quy luật phổ biến tác động trong tất

cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy con người

Sự khác nhau giữa quy luật tự nhiên và quy luật xã hội:

- Quy luật tự nhiên diễn ra một cách tự động, không cần có sự tham gia củacon người Quy luật xã hội được hình thành thông qua hoạt động của con người

có ý thức quy luật tự nhiên mang tính tự phát, vô thức, mù quáng, quy luật xãhooij mang tính tự giác, thông qua hoạt động có ý thức của con người

- Quy luật tự nhiện biểu hiện như mọt quan hệ trực tiếp, có tính xác định.Quy luật xã hội thường biểu hiện là tính xu hướng, mang tính định hướng Các

sự kiện sảy ra trong đời sống xã hội diễn ra trong một thời gian càng dài, trongkhông gian càng rộng thì biểu hiện quy luật càng rõ nét

- Kết quả của quy luật xã hội phụ thuộc vào sự nhận thức và vận dụng củacon người, vì con người là chủ thể của xã hội Không có con người thì không

có xã hội và do vậy cũng không thể có quy luật xã hội

Quy luật xã hội vừa là tiền đề, vừa là kết quả hoạt động con người Con ngườixét đến cùng thông qua hoạt động của mình mà sáng tạo ra quy luật song đếnlượt nó, hoạt động của con người lại chịu sự chi phối và phụ thuộc vào quy luật

Trang 25

Câu 8: Trình bày nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mật đối lập? ý nghĩa của quy luật

Phép biện chứng duy vật được Mác và Ăngghen sáng lập vào giữa thế kỷ XIX

và được Lênin phát triển vào thế kỷ XX Nội dung của phép biện chứng duy vậtrất phong phú: nó bao gồm 2 nguyên lý, sáu cặp phạm trù cơ bản và 3 quy luật,trong đó Quy luật về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (hay còngọi là quy luật mâu thuẫn) là 1 trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duyvật Quy luật này được xác định là quy luật quan trọng nhất, là hạt nhân củaphép biện chứng duy vật bởi khi nghiên cứu về quy luật này, nó vạch ra cho tathấy được nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động và phát triển của các

sự vật hiện tượng Đồng thời nó cũng là cơ sở để giúp ta nhận thức đúng đắnnhững phạm trù quy luật khác của phép biện chứng duy vật

Lênin từng đánh giá:”Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là họcthuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân củaphép biện chứng nhưng điều đó đòi hỏi phải có sự giải thích và một sự pháttriển thêm”

Nội dung chủ yếu của quy luật này được thể hiện thông qua những phạmtrù cơ bản và mối liên hệ giữa các phạm trù đó như là mặt đối lập, mâu thuẫn,

Sự tồn tại của các mặt đối lập là khách quan và phổ biến trong tất cả các

sự vật, song cần chú ý rằng nói đến mặt đối lập đương nhiên là nói đến sự khácnhau, tuy nhiên không phải tất cả sự khác nhau đều là đối lập, mà chỉ có những

sự khác nhau có khuynh hướng vận động trái chiều nhau, phủ định nhau thì mớiđược gọi là mặt đối lập

Cũng không được nhầm lẫn giữa mặt đối lập với mâu thuẫn, mỗi mộtmâu thuẫn bao giờ cũng bao gồm ít nhất 2 mặt đối lập song không phải mọi đốilập nào cũng tạo lên mâu thuẫn Chỉ có những mặt đối lập cũng nằm trong mộtchỉnh thể và giữa chúng có mối liên hệ khăng khít với nhau thì mới tạo thànhmâu thuẫn Như vậy mâu thuẫn là sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa cácmặt đối lập, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập

Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng luôn luôn tồn tại trong

sự thống nhất với nhau

Trang 26

Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa lẫn nhau, sự tồn tạikhông tách rời nhau, sự đòi hỏi phải có nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại củamặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề cho mình.

Chú ý: Hai mặt đối lập tuy có những thuộc tính là trái ngược nhau, bài trừnhau nhưng chúng lại luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, ràng buộc và chế ước lẫnnhau và cùng tồn tại trong một sự vật Như vậy sự thống nhất thể hiện là ở tínhkhông tách rời giữa các mặt đó

Giữa các mặt đối lập tuy rất khác nhau nhưng lại có những điểm, nhữngnhân tố giống nhau đồng nhất với nhau Chính nhờ tính chất này mà các mặt đốilập đến lúc nào đó mới có thể chuyển hóa cho nhau cho nên sự thống nhất cònđược thể hiện cả sự đồng nhất giữa các nhân tố chung trong các mặt đó

Sự thống nhất của các mặt đối lập còn được thể hiện trọng trạng thái tácđộng ngang nhau giữa chúng, điều này xảy ra khi thế và lực của mỗi mặt đối lậpchưa đủ mạnh để chiếm thế áp đảo chi phối và chuyển hóa mặt đối lập kia Đâychính là trạng thái cân bằng giữa các mặt đối lập

- Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bàitrừ và phủ định lẫn nhau Đấu tranh của các mặt đối lập diễn ra dưới nhiều hìnhthức đa dạng tùy thuộc vào tính chất của các mặt đối lập cũng như mối quan hệqua lại giữa chúng, tùy thuộc vào lĩnh vực mà trong đó các mặt đối lập tồn tại,tùy thuộc vào những điều kiện mà trong đó các mặt đối lập đấu tranh

Chúng ta không nên hiểu đấu tranh chỉ là sự thủ tiêu lẫn nhau, thực ra sựthủ tiêu chỉ là một trong những hình thức đấu tranh mà thôi Ngoài hình thức đóđấu tranh còn thể hiện làm ảnh hưởng lẫn nhau, làm biến đối nhau, cải tạo nhau,thúc đẩy hay kìm hãm nhau rồi chuyển hóa cho nhau

 Mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập:

Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác độngkhác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn Như vậy mâu thuẫnbiện chứng cũng bao hầm cả sự thống nhất lẫn đấu tranh giữa các mặt đốilập Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không tách rời nhautrong quá trình vận động phát triển của sự vật Sự thống nhất gắn liền với

sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của sự vật còn sự đấu tranh gắn liềnvới tính tuyện đối của sự vận động và phát triển Điều đso có nghĩa là sựthống nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời, còn sự đấu tranhcủa các mặt đối lập là tuyệt đối

Lênin đã khẳng định: “Sự thống nhất của các mặt đối lập là có điềukiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lậpbài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng như sự phát triển sự vận động là tuyệtđối”

26

Trang 27

Sự thống nhất giữa các mặt đối lập là điều kiện cho đấu tranh, tạomoi trường, địa bàn để các mặt đối lập triển khai cuộc đấu tranh, không

có thống nhất thì không thể có đấu tranh, chính sự thống nhất đã tạo điềukiện dể sựu vật thể hiện nó đang là nó chưa phải là cái khác và chỉ trongđiều kiện như thế thì cuộc đấu tranh mới có thể được diễn ra

Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính

ổn định và tính thay đổi Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lậpquy định tính ổn định và tính thay đổi đó Chính vì vậy mâu thuẫn đượcxác định là nguồn gốc là động lực của mọi sự vận động phát triển của sựvật

Từ mối quan hệ trên chúng ta rút ra nội dung chủ yếu của Quy luậtthống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập đó là: Mọi sự vật hiện tượngđều chứa đựng những mặt những khuynh hướng đối lập tạo thành nhữngmâu thuẫn trong bản thân nó Những mâu thuẫn này phát triển đến độ gaygắt và khi có điều kiện chín mùi thì hai mặt đối lập chuyển hóa cho nhau,cái mới ra đời thay thế cái cũ Sự thống nhất cũ bị phá vỡ, sự thống nhấtmới được thiết lập và lại xuất hiện cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lậpmới Chính sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập đã tạo lênxung lực nội tại, tạo lên nguồn gốc và động lực cho mọi sự phát triển củathế giới khách quan

Ý nghĩa:

` - Để nhận thức đúng bản chất sự vật, xây dựng phương hướng cải

tạo sự vật phải chú ý nghiên cứu phát hiện mâu thuẫn của sự vật, phảinghiên cứu các mặt đối lập, tìm ra những mối liên hệ tác động qua lại lẫnnhau giữa các mặt đối lập

-Khi nghiên cứu phân tích các mâu thuẫn cần xem xét quá trìnhphát sinh, phát triển của mâu thuẫn, phải hiểu đúng và biết phân loại mâuthuẫn để có cách giải quyết mâu thuẫn phù hợp

-Để thúc đẩy sự vật phải chủ trương giải quyết mâu thuẫn chứkhông điều hòa mâu thuẫn, chống quan điểm chủ quan nóng vội khi giảiquyết mâu thuẫn, phải linh hoạt sáng tạo, kahcsh quan, bình tĩnh, chốngduy ý chí, cực đoan

Liên hệ: Hiện nay, cuộc đấu tranh chống tiêu cực trên thế giới nói

chung và ở VN nói riêng về thực chất là việc giải quyết mâu thuẫn giữacái tích cực và cái tiêu cực trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hộinhằm đem lại thắng lợi cho cái tích cực Thông qua đó nhằm thức đẩy sựphát triển và tiến bộ của xã hội VN theo mục tiêu Dân giàu – nước mạnh– xã hội công bằng dân chủ và văn minh

Trang 28

Chúng ta cần phải xác định rằng, cuộc đấu tranh mang tính phứctạp và nó diễn ra trên mọi phương diện, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.Trong cuộc đấu tranh đó chúng ta vừa phải thực hiện việc xóa bỏ mộtcách triệt để những tàn dư của xã hội cũ để lại vừa phải đấu tranh vớinhững cái xấu, cái tiêu cực đang nảy sinh từ mật trái của cơ chế thịtrường đồng thời phải đấu tranh chống lại sự xâm nhập ảnh hưởng củanhững nhân tố ngoại lai (đó là những luồng tư tưởng văn hóa đồi trụy,không lành mạnh) đang có ảnh hưởng và tác động trực tiếp tới quá trìnhhội nhập của nước ta với khu vực và thế giới Đập tan những âm mưuchống phá của các thế lực thù địch, các bọn phản cách mạng trong vàngoài đất nước ta.

Tuy nhiên, đối với chúng ta, điều quan trọng ở cuộc đấu tranh nàykhông phải là việc giải quyết với những tiêu cực đã xảy ra mà điều cốt lõi

và trọng tâm hơn cả là pahri tìm hiểu và nghiên cứu về bản chất củanhững tiêu cực đó, sự phát sinh và quá trình lây lan của tiêu cực đánh giáđúng nguyên nhân, đặc điểm, tính chất từ đó có biện pháp, giải pháp xâydựng lực lượng để tập trung giải quyết Cần phải sử dụng đồng bộ sứcmạnh của giáo dục thuyết phục với cưỡng bức trừng phạt, sức mạnh củađạo đức của dư luận xã hội và pháp luật… Nhấn mạnh điều này, Đảng takhẳng định: tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãngphí là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng ta,nhằm xây dựng một bộ máy lãnh đạo và quản lý trong sạch, vững mạnh,khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ

ta Nghị quyết trung ương IV khóa XI vừa qua thể hiện rõ quyết tâm đó

28

Trang 29

Câu 9: Trình bày quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại – ý nghĩa phương pháp luận của quy luật này?

Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngượclại là 1 trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, quy luật vạch rõcách thức của sự vận động, sự phát triển của sự vật hiện tượng

- chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quanvốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vậtcủa nó chứ không pahri cái khác

Mỗi sự vật có nhiều thuộc tính và mỗi thuộc tính cũng có nhiều đặc trưng vìvậy mỗi 1 thuộc tính là 1 chất, cho nên có thể nói mõi 1 sự vật bao hàm nhiềuchất khác nhau Tuy nhiên với tư cách là những khía cạnh của chất được bộc lộ

ra qua các quan hệ thì các thuộc tính của sự vật có các vị trí khác nhau trong đó

có thuộc tính là cơ bản có thuộc tính là không cơ bản Những thuộc tính cơ bảnđược tổng hợp lại thành chất căn bản của vật, đó là loại chất quy định sự tồn tạihay mất đi của sự vật

Chất của sự vật không chỉ được quy định bởi chất của những yếu tố cấuthành nên nó mà còn bị quy định bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố đóvới nhau nghĩa là bởi kết cấu của sự vật Vì vậy sự thay đổi về chất của sự vậtkhông chỉ phụ thuộc vào việc thay đổi các yếu tố cấu thành lên nó mà còn phụthuộc vào phương thức liên kết tổ chức các yếu tố đó với nhau

- Lượng là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của

sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và pháttriển cũng như các thuộc tính của sự vật

Lượng nói lên kích thước dài hay ngắn, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ caohay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm, số lượng nhiều hay ít… Trong thực tếlượng có thể diễn tả bằng những đơn vị đo lường cụ thể chính xác đồng thờicũng có lượng được biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát như trình độnhận thức, trình độ ý thức…

Chất và lượng là hai mặt quy định lẫn nhau không thể tách rời, mỗi chất nhấtđịnh bao giờ cũng có một lượng tương ứng với nó, không có chất và lượngthuần túy tách khỏi nhau

- Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất:

Bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng là sự thống nhất giữa mặt chất và lượng,chúng tác động qua lại lẫn nhau và trong mỗi sự vật quy định về lượng khôngbao giờ tồn tại nếu không có tính quy định về chất và ngược lại

Sự thay đổi về lượng và chất của sự vật diễn ra cùng với sự vận động pháttriển của sự vật những sự thay đổi đó có quan hệ mật thiết với nhau Sự thay đổi

về lượng có ảnh hưởng tới sự thay đổi về chất và ngược lại: Sự tác động giữachúng có thể diễn ra trong các hình thái khác nhau, có những sự thay đổi về

Trang 30

lượng làm thay đổi ngay lập tức về chát của sự vật đồng thời cũng có sự thayđổi về lượng nhưng chưa làm cho chất của sự vật thay đổi, trong trường hợp nàyxuất hiện một giới hạn mà trong đố lượng có thể biến đổi song sự vật vẫn là nó

do chất căn bản của nó chưa thay đôi, giới hạn đó được gọi là độ

Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn mà trong đó sự thayđổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật ấy Tronggiới hạn của đọ về cơ bản chất và lượng thống nhất với nhau và điều đó chứng

tỏ sự vật còn là nó mà chưa chuyển thành cái khác So với chất, lượng thườngbiến đổi nhanh hơn, sự biến đổi của vật được bắt đầu từ sự thay đổi về lượng,quá trình này được phát triển một cách tiệm tiến theo cách thức tăng dần haygiảm dần và sự thay đổi đó sẽ đạt đến điểm giới hạn cuối cùng mà tại đó nếulượng tiếp tục biến đổi thì sẽ làm cho chất căn bản của sự vật biến đổi, giới hạncuối cùng đó là điểm nút Vậy điểm nút là phạm trù triết học để chỉ thời điểm

mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật

Chất của sự vật do lượng của nó thay đổi từ trước đó được gọi là bước nhảy

vì cậy bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chấtcủa sự vật do sự thay đổi về lượng trước đó gây lên Bước nhảy là sự kết thúcmột giai đoạn phát triển của sự vật và là sự mở đầu cho một giai đoạn phát triểnmới Nó chính là sự gián đoạn trong quá trình vận động phát triển liên tụckhông ngừng của sự vật, sự gián đoạn là tiền đề cho sự liên tục và sự liên tục là

kế tiếp của hàng loạt những sự gián đoạn

Bất kỳ sự thay đổi nào về chất của sự vật cũng đều được thông qua nhữngbước nhảy Nếu chỉ bằng phạm trù tiệm tiến dần dần thì không thể giải thíchđược xuất hiện của chất mới, Lê nin khẳng định: “Tính tiệm tiến mà không cóbước nhảy vọt thì không giải thích được gì cả”

Phân loại các bước nhảy (các hình thức cơ bản)

+ Nếu dựa trên nhịp điệu để thực hiện bước nhảy thì có bước nhảy đột biến

+ Nếu căn cứ vào quy mô thực hiện bước nhảy thì có bước nhảy toàn bộ vàbước nhảy cục bộ

Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy nhằm thay đổi chất của toàn bộ các mặt yếu

tố cấu thành sự vật

Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của những mặt những yếu

tố riêng lẻ của sự vật

30

Trang 31

+ Nếu xem xét về sự thay đổi chất ở trong xã hội thì người ta phân chia sựthay đổi đó thành sự thay đổi có tính chất cách mạng và sự thay đổi có tính chấttiến hóa Trước hết về cách mạng là sự thay đổi trong đó chất của sự vật biếnđổi căn bản không phụ thuộc vào hình thức biến đổi của nó Tiến hóa là sự thayđổi về lượng với những biến đổi nhất định về chất không cơ bản của sự vật.

Sự thay đổi về chất là kết quả của sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút

và sau khi ra đời chất mới có tác dụng trở lại với sự thay đổi của lượng tạo ramột lượng mới phù hợ với nó thúc đẩy sự phát triển về lượng cả về quy mô mức

độ nhịp điệu…

Tóm lại từ những nội dung trên có thể khái quát nội dung cơ bản của quyluật lượng đổi chất đổi như sau: Bất kỳ sự vật nào cũng là sự thống nhất giữlượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng trong khuôn khổ của độ tới điểmnút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật, thông qua bước nhảy chất mới rađời sẽ tác động tới sự thay đổi của lượng mới, quá trình đó diễn ra liên tục làmcho sự vật không ngừng biến đổi phát triển

Ý nghĩa PP luận:

- Về mặt nhận thức để có tri thức đầy đủ về sự vật thì phải nhận thức nó cả

về mặt lượng và chất Phải đánh giá đúng vai trò ý nghĩa của mỗi sự thay đổi vềlượng, về chất đối với sự phát triển

- Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải biết từng bước tích lũy vềlượng để làm biến đổi về chất theo quy luật

- Phải biết kịp thời chuyển sự thay đổi về lượng thành sự thay đổi về chất,những biến đổi mang tính tiến hóa sang tính cách mạng khi có đủ các điều kiện.Phải có quyết tâm khi thực hiện những bước nhảy, đặc biệt trong lĩnh vực xã hộikhi điều kiện giải quyết và nhân tố chủ quan đã chín mùi Mặt khác phải biếtvận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy phù hợp với điều kiện hoàncảnh cụ thể Trong hoạt động thực tiễn cần phải biết đổi mới, cải tổ về mặt tổchức về phương thức giữa các yếu tố cấu thành lên sự vật từ đó làm thay đổi vềchất của sự vật hay tổ chức ở một đơn vị

Trong công cuộc đổi mới ở VN hiện nay việc thực hiện thành công quá trìnhđổi mới trên từng lĩnh vực sẽ tạo ra bước nhảy về chất ở lĩnh vực đó đồng thờitạo ddiefu kiện để thực hiện sự nhảy vọt toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xãhội Đổi mới phải toàn diện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, lấy kết quảđổi mới kinh tế làm cơ sở để đổi mới trên lĩnh vực chính trị, văn hóa tư tưởng.Đổi mới phải được thực hiện theo chiều sâu, có trọng tâm, trọng điểm

Cần phải khắc phục tư tưởng tả khuynh nôn nóng muốn đốt cháy giai đoạnthực hiện những bước nhảy khi chưa đủ điều kiện, đồng thời cần chống tư tưởnghữu khuynh không dám đổi mới, thực hiện bước nhảy khi điều kiện chophép.Đảng ta khẳng định: Xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN là tạo ra sự

Trang 32

biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn,phức tạp, cho nên phải trải qua thời kỳ quá độ lâu dài, với nhiều chặng đường,nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ Văn kiện Đại hội XIcủa Đảng khẳng định tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nướctheo con đường XHCN nhằm mục tiêu xây dựng nước VN dân giàu, nướcmạnh, xã hội dân chủ công bằng và văn minh.

32

Trang 33

Câu 10: Trình bày quay luật phủ định của phủ định – ý nghĩa phương pháp luận? làm rõ những đặc trưng của phủ định biện chứng, tính chu kỳ của sự phát triển của quy luật phủ định của phủ định, ý nghĩa của nó.

Quy luật phủ định của phủ định là một trong ba quy luật cơ bản của phépbiện chứng duy vật, quy luật này nói lên khuynh hướng con đường của sự vậnđộng, phát triển của sự vật hiện tượng trong TG khách quan, của cái mới ra đờithay thế cho cái cũ

Thế giới vật chất luôn vận động và phát triển không ngừng, các sự vật vàhiện tượng trong thế giới luôn luôn bị thay thế nhau Quá trình thay thế sự vậtnày bằng sự vật khác trong quá trình vận động gọi là sự phủ định Sự thay thế

đó được thực hiện có thể là do tác động từ bên ngoài làm cho cái cũ bị phá hủy

và cái mới được dựng lên để thay thế nó đồng thời sự thay thế còn được thựchiện thông qua việc tích lũy dần dần về lượng để chuyển hóa từ cái cũ sang cáimới, thông qua cuộc đấu tranh để giải quyết giữa các mặt đối lập trong sự vậthiện tượng Quá trình thay thế theo cách đó được gọi là phủ định biện chứng.Phủ định biện chứng là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình tự thânphủ định, tự thân phát triển, là một mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đờicủa sự vật mới tiến bộ hơn so với sự vật cũ, sự vật bị phủ định Phép biện chứngduy vật không đề cập đến sự phủ định nói chung mà chỉ quan tâm đến sự phủđịnh làm tiền đề để tạo điều kiện cho sự phát triển liên tục cho sự ra đời cái mớithay thế cái cũ, đây cũng là điểm khác nhau căn bản giữa phủ định biện chứngvới phủ định siêu hình

Quan điểm phủ định siêu hình thì xem phủ định đơn giản chỉ là sự xóa bỏ cái

cũ, không thấy được tiền đề của sự nảy sinh cái mới Mặt khác khi nói đến sự kếthừa thì họ lại chủ trương giữ lại cái cũ một cách nguyên si không cải tạo,không lọc bỏ và thực hiện sự lắp ghép giữa cái cũ và cái mới một cách máymóc Họ coi nguyên nhân của sự phủ định là bên ngoài của sự vật, hiện tượng.Phủ định biện chứng có các đặc trưng cơ bản là tính khách quan và tính kếthừa

Tính khách quan thể hiện ở chỗ nguyên nhân của sự phủ định nằm ngaytrong bản thân sự vật, nó là kết quả của quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫnbên trong sự vật và nhờ vào kết quả đó mà sự vật luôn luôn phát triển Mặt khácmỗi sự vật lại có phương thức phủ định riêng tùy thuộc vào việc giải quyếtnhững mâu thuẫn trong bản thân chúng điều này không phụ thuộc vào ý muốnhay ý thức của con người, con người chỉ có thể tác động làm cho quá trình ấydiễn ra nhanh hay chậm trên cơ sở nắm vững quy luật phát triển của sự vật màthôi

Phủ định mang tính kế thừa: Phủ định biện chứng là kết quả của quá trình tựthân phát triển vì vậy nó không phải là sự thủ tiêu phá hủy hoàn toàn cái cũ, cái

Trang 34

mới xuất hiện không phải từ hư vô mà nó là kết quả của sự phát triển cái cũ và

từ cái cũ đương nhiên trong quá trình đó có sự lọc bỏ, sự cải tạo cái cũ và giữ lạinhững nhân tố còn giá trị của cái cũ Song những nhân tố được giữ lại cũngpahri cải tạo, biến đổi trên cơ sở của cái mới

Như vậy sự phát triển chẳng qua là sự biến đổi mà rtong đó giai đoạn saubảo tồn tất cả những mặt tích cực được tạo ra từ giai đoạn trước và được bổsung thêm những mặt mới phù hợp với hiện tại Vì vậy phủ định biện chứng trởthành vòng khâu tất yếu của sự liên hệ phát triển và đây cũng là điểm khác nhaucăn bản giữa phủ định biện chứng với phủ định siêu hình

Nội dung quy luật:

CN Mác – Lê Nin khẳng định, mỗi sự vật ra đời, tồn tại đã khẳng định chính

nó, nhưng trong quá trình vận động của sinh vật ấy dần dần xuất hiện nhữngnhân tố mới, những nhân tố mới này sẽ thay thế những nhân tố cũ, sử phủ địnhbiện chứng diễn ra Sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ, đến lượt nó, sự vậtmới đó lại bị sự vật mới hơn phủ định, cứ như vậy làm cho sự vật phát triển đilên

Phủ định biện chứng mới nói lên được một giai đoạn một nấc thang trongquá trình phát triển để cái mới sự vật mới xuật hiện trong đó có sự lặp lại một sốđặc trưng cơ bản của cái xuất phát ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn thì cầnphải trải qua nhiều lần phủ định biện chứng và đến đó tức là khi sự vất mới rađời thì một chu trình phát triển mwois được hình thành

Như vậy mỗi chu kỳ trong sự phát triển thì sự vật phải trải qua 2 lần phủđịnh mới quy trở về cái ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn cái ban đầu, đó là phủđịnh cái khẳng định và phủ định cái phủ định

Phủ định cái khẳng định: Là giai đoạn làm cho sự vật chuyển hóa thành cáiđối lập với cái ban đầu nó chỉ tạo ra những mắt khâu trung gian, tạo tiền đề cho

sự phát triển và kết quả của lần phủ định này đã hàm chữa những nhân tố cho sựphủ định tiếp theo, nó có thể là cái tiến bộ hơn so với cái ban đầu nhưng cũng

có thể là một bước thụt lùi tạm thời so với cái ban đầu

Phủ định của phủ định: là chuyển cái trung gian đối lập quay trở về cái banđầu nhưng trên cơ sở cao hơn cái ban đầu Phủ định lần này mới dẫn đến sựxuất hiện của cái mới một cách trọn vẹn, đó là phủ định trong cái mới đó nó vừamang những đặc trưng đối lập với cái trung gian lại vừa có sự phục hồi mốt sốmặt, một số nhân tố của cái xuất phát ban đầu Điều này dẫn đến kết quả là cáimới vừa tiến bộ hơn so với cái trung gian vừa cao hơn so với cái xuất phát banđầu Nó vừa tích hợp được những yếu tố tích cực của cái trung gian và của cáixuất phát ban đầu vừa lọc bỏ được những cái lạc hậu không phù hợp với hiện tại

và vì vậy cái mới ra đời qua lần phủ định thứ hai này có nội ding toàn diện

34

Trang 35

phong phú hơn cái xuất phát ban đầu, nó dường như lặp lại cái xuất phát banđầu nhưng trên một trình độ cao hơn.

Sự phát triển biện chứng thông qua những lần phủ định như trên là sự thốngnhất hữu cơ giữa lọc bỏ, bảo tồn và bổ sung thêm những nhân tố tích cực mới,thông qua những lần phủ định biện chứng, sự vật sẽ ngày càng phát triển Phủđịnh của phủ định biểu hiện sự phát triển của sự vật là do những mâu thuẫn bêntrong của sự vật quyết định, mỗi lần phủ định là kết quả đấu tranh chuyển hóacủa các mặt đối lập trong bản thân sự vật

Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính chất tiến lên của sự vận độngphát triển Sự phát triển tiến lên không pahri theo một đường thẳng mà theođường xoáy ốc, hình ảnh đường xoáy ốc diễn tả được một cách rõ ràng nhất cácđặc trưng của quá trình phát triển biện chứng đó là tính kế thừa tính lặp lạinhưng không quay trở lại và tính tiến lên Mỗi vòng của đường xoáy ốc đó thểhiện ở một trình độ cao hơn nhưng dường như quay về điểm xuất phát ban đầu

và sự nối tiếp của các vòng thể hiện tính vô tận của sự phát triển tiến lên từ thấpđến cao Lê Nin đã khái quát: “Sự phát triển hình như diễn lại những giai đoạn

đã qua nhưng dưới một hình thức khác ở một trình độ cao hơn (phủ định củaphủ định), sự phát triển có thể nói là theo đường xoáy ốc chứ không theo đườngthẳng”

Chú ý số lần phủ định biện chứng trong một chu kỳ phát triển ở hiện thựckhách quan có thể nhiều hơn hai lần, điều này tùy thuộc vào tính chất đặc điểmcủa mỗi sự vật hiện tượng

Tóm lại quy luật phủ định của phủ định nói lên mối liên hệ kế thức giữa cáikhẳng định và cái phủ định Do có sự kế thừa đó phủ định biện chứng khôngphải là phủ định sạch trơn xóa bỏ tất cả những gì đã đạt được từ những giaiđoạn trước đó mà nó thực sự là điều kiện cho sự phát triển, nó duy trì và giữ gìnnhững nội dung tích cực của các giai đoạn trước bổ sung thêm những thuộc tínhmới làm cho sự vật phát triển đi theo đường xoáy ốc

Ý nghĩa phương pháp luận:

- Việc nghiên cứu về quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta luôn cónhận thức đúng đắn về xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng Quá trìnhphát triển của sự vật, hiện tượng không diễn ra một cách thẳng tắp mà quanh cophức tạp đặc biệt là lĩnh vực đời sống trong xã hội, xu hướng phát triển của các

sự vật, hiện tượng trải qua những chu kỳ khác nhau mà chu kỳ sau bao giờ cũngtiến bộ hơn chu kỳ trước đó Cơ sở lý luận trên giúp chúng ta có cái nhìn biệnchứng về xu thế của thời đại, củng cố cho ta niềm tin vào sự thắng lợi tất yếucủa CNXH

- Các sự vật, hiện tượng ở mỗi một chu kỳ phát triển thì có những tính chấtđặc điểm riêng biệt, điều đó đòi hỏi chúng ta cần phải phát hiện ra những đặc

Trang 36

điểm tính chất đó để có cách tác động một cách phù hợp nhằm mục đích kìmhãm sự phát triển của sự vật, hiện tượng có hại hoặc phải đẩy nhanh sự pháttriển của những sự vật hiện tượng có lợi cho chúng ta.

- Trong hoạt động thực tiễn, quy luật này giúp chúng ta hiểu biết một cáchđầy đủ hơn về cái mới, cái mới là cái phù hợp với quy luật, là cái tất thắng,nhưng trong lúc cái mới nảy sinh thì cái cũ trong một thời gian nào đó vẫnmạnh hơn cái mới Do đó, chúng ta cần phải có thái độ đúng mực trong việc ủng

hộ cái mới, đấu tranh vì cái mới, chống lại cái cũ lỗi thời kìm hãm sự phát triển,tạo điều kiện thuận lợi để nhân tố mới nhanh chóng phát triển và chiến thắng cái

cũ, điều này đòi hỏi chúng ta phri có ý thức và bản lĩnh

- Trong khi đấu tranh để cái tạo cái cũ cần phải biết sàng lọc, kế thừa, bảotồn những giá trị tích cực cải tạo nó phù hợp với những điều kiện mới, phải biếttrân trọng những giá trị của cái cũ, đồng thời phải khắc phục tư tưởng bảo thủ,

cứ khư khư giữ lấy những cái đã lỗi thời cản trở sự phát triển của con người vàXH

Đối với VN hiện nay chúng ta đang thực hiện đổi mới theo định hướng XHCNvới mục đích nhằm chuyển biến nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu sang côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đương nhiên trong quá trình đổi mới phải thực hiện sựphủ định biện chứng đối với cái cũ, về thực chất, nó đã nhằm phru định cái cũ

để cho ra đời cái mới Trong thực thế của quá trình thực hiện đổi mới, Đảng vànhà nước ta đã chủ trương chống lại tư tưởng bảo thủ, không giám đổi mới Phủđịnh cái cũ để phát triển cái mới, chống thái độ phủ định sạch trơn, hoặc khôiphục nguyên xi cái cũ, cái lạc hậu, đồng thời luôn giữ gìn, bảo tồn và phát huybản sắc VH dân tộc, chọn lọc và kế thừa những tinh hoa trong nền văn minh củanhân loại, tiếp thu và cải tạo những nội dung của tri thức khoa học tiên tiến trênthế giới cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước

36

Trang 37

Câu 11: Các nguyên tắc cơ bản của lý luận nhận thức? (Làm rõ sự khác nhau căn bản giữa triết học MLN với những trào lưu triết học khác nhau

về bản chất của nhận thức?)

Lý luận nhận thức hay còn gọi là nhận thức luận được hình thành ngay từ khitriết học mới ra đời Nó nghiên cứu về bản chất, về những tính quy luật, nhữnghình thức phương pháp và con đường nhận thức, con đường dẫn đến chân lý vàtiêu chuẩn của chân lý… từ đó nhằm lý giải mặt thứ 2 của vấn đề cơ bản củatriết học

- Những quan điểm khác nhau của nhận thức:

Xung quanh vấn đề trả lời câu hỏi bản chất của vấn đề nhận thức, trong lịch

sử triết học đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa chủ nghĩa duy vật và chủnghĩa duy tâm, và các trường phái triết học khác nhau có những cắt nghĩa lý giảikhác nhau

Xuất phát từ sự phủ nhận thế giới khách quan, triết học duy tâm chủ quancho rằng,, TGKQ chẳng qua chỉ là sự phức hợp của các cảm giác, do đó nhậnthức chẳng qua chỉ là sự tự nhận thức những hiện tượng chủ quan do “cái tôi”sinh ra, là sự tự nhận thức những cảm giác biểu tượng… của chính bản thâncon người (đại biểu tiêu biểu là Beccơli và Hium)

Ngược lại chủ nghĩa duy tâm khách quan xuất phát từ chỗ cho rằng ý niệmtuyệt đối là cái có trước và được tha hóa vào trong tự nhiên và xã hội, do đónhận thức là quá trình tự nhận thức của ý niệm tuyệt đối nào đó của tư tưởngthuần túy nào đó tồn tại ngoài con người không có liên quan đến các đối tượngvật chất, thực chất chỉ là sự hổi tưởng lại, sự nhớ lại của linh hồn bất tử về thếgiới ý niệm, chứ không phải là sự phản ánh thế giới khách quan (đại biểu tiêubiểu là Platon cho rằng thế giới ý niệm là cái có trước)

Thuyết hoài nghi luận của những nhà triết học bất khả thi, họ dựa trênnguyên tắc nghi ngờ tính xác thực của tri thức, không tin tưởng và phủ nhận khảnăng nhận thức, tính xác thực của những tri thức mà con người đạt được, họ đặt

sự nghi ngờ thành nguyên tắc tối cao của nhận thức, thuyết “Không thể biết”cho rằng thế giới là vật tự nó, là không thể biết, thậm chí là phủ nhận cái khảnăng nhận thức thế giới của con người cho rằng con người không thể biết thế vềthực chất, các nhà TH bất khả thi cũng như thuyết bất khả tri chỉ là một biếnthái của CNDT mà thôi

Đối lập với CNDT, CNDV trước Mác trên cơ sở khẳng định vật chất là cái

có trước, ý thức là cái có sau Vật chất là nguồn gốc của ý thức, xong do hạnchế về mặt nhận thức và bị chi phối bởi phương pháp siêu hình trực quan, cảmtính, họ cho rằng bản chất của nhận thức chỉ là sự cho phép Phản ánh một cáchthụ động đơn giản đơn một chiều về TGKQ Nhất là họ không thấy được quátrình nhận thức là quá trình biện chứng tích cựu năng động và sáng tạo Đặc biệt

Trang 38

hạn chế lớn nhất của CNDV trước Mác là chưa thấy được vai trò của thực tiễnđối với nhận thức.

Tóm lại tất cả các trào lưu TH trước Mác đều quan niệm một cách phiến diệnsai lầm về quá trình nhận thức Đặc biệt họ chưa thấy được vai trò của thực tiễnđối với nhận thức nên họ rơi vào duy tâm hoặc duy vật siêu hình về vấn đề nhậnthức luận

- Quan điểm của triết học MLN về bản chất của nhận thức:

Với sự xuất hiện của triết học Mác – Lê Nin một cuộc cách mạng trong lýluận nhận thức đã được thực hiện, Mác – Ănghen, Lê Nin đã thừa kế những yếu

tố hợp lý trong lịch sử triết học,, những tư tưởng tiến bộ trong lịch sử triết họcrồi khái quát những thành tựu của khoa học và tổng kết những kinh nghiệm thựctiễn từ đó xây dựng lên lý luận nhận thức mang tính cách mạng và khoa học,Mác và Ăngghen đã giải quyết lý luận nhận thức trên lập trường duy vật vàphương pháp biện chứng Các ông đã quán triệt những nguyên tắc căn bản củathế giới duy vật biện chứng trong lý luận nhận thực: Thế giới không phải là cái

gì khác ngoài vật chất vận động và phát triển, không phải ý thức con người sảnsinh ra thế giới vật chất như các nhà duy tâm quan niệm và ngược lai, vật chấttồn tại độc lập với ý thức của con người Vì vậy nhận thức là sự phản ánh hiệnthực khách quan vào bộ óc con người, sự phản ánh đó không phải là một hànhđộng nhất thời, máy móc, giản đơn và thụ động mà là một quá trình phức tạpcủa hoạt động trí tuệ tích cực và sáng tạo Nhờ đó lần đầu tiên những vấn đề cơbản cốt lõi của nhận thực đã được lý giải một cách đúng đắn

Xuất phát từ cách giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học, Mác đãxem xét hoạt động nhận thức trên cơ sở hoạt động thực tiễn, nên đã đưa ra đượcnhững quan điểm đúng đắn về hàng loạt vấn đề phức tạp, nan giải của nhậnthức, hình thành nên lý luận nhận thức thực sự khoa học, một bộ phận quantrọng và không thể thiếu được của triết học Macxít Có thể nói đây là bước pháttriển về chất làm cho TH mác như Aghen nói: “Không chỉ giải thích thế giới màcòn cải tạo xã hội”

Lý luận nhận thức Macxít dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau đây:

Một là: Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan ở bên ngoài conngười độc lập đối với cảm giác, với tư duy và ý thức con người Chính từ sự tácđộng của thế giới vật chất vào các giác quan của con người từ đó đã sinh ranhững cảm giác ở họ và từ đó dần hình thành lên những tri thức và ý thức vìnguồn gốc của ý thức là do thế giới khách quan đem lại, nó không phải là cáivốn có bẩm sinh trong mỗi con người và trong xã hội

Như vậy đối tượng cảu quá trình nhận thức là thế giới hiện thực khách quan

ở bên ngoài con người Nhận thức của con người là quá trình tìm hiểu khám phánhững bí mật của thế giới xung quan họ bên ngoài họ đó tuyệt đối không phải là

38

Ngày đăng: 24/06/2016, 19:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w