1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương triết học một số câu hỏi

86 251 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 113,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TRIẾT HỌC Câu 10. Anhchị hãy phân tích nội dung quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại. Vận dụng trong hoạt động thực tiễn địa phương. 1. Nội dung quy luật: Mọi sự vật, hiện tượng là sự thống nhất giữa hai mặt: chất lượng (chất) và số lượng (lượng). Từ những thay đổi về lượng dẫn sẽ đến những thay đổi về chất và ngược lại và đây chính là cách thức của sự vận động và phát triển. Chất là tính quy định vốn có của các sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính, những yếu tố cấu thành sự vật, nói lên sự vật đó là gì, phân biệt nó với các sự vật và hiện tượng khác. Phân biệt chất với tính cách là phạm trù triết học với chất hiểu theo khái niệm thường dùng hàng ngày hoặc với khái niệm chất liệu. Phân biệt chất với thuộc tính. Mỗi chất gồm nhiều thuộc tính. Mỗi sự vật, hiện tượng có thể có một hoặc nhiều chất tuy theo những mối quan hệ xác định Chất tồn tại khách quan. Chất biểu hiện tình trạng tương đối ổn định của sự vật, hiện tượng. Trong những trường hợp đặc biệt, chất là cái trừu tượng và dường như nằm ngoài sự vật, hiện tượng. b. Khái niệm lượng Lượng là tính quy định của sự vật, hiện tượng về mặt qui mô, trình độ, tốc độ phát triển của nó, biểu thị bằng các con số, các thuộc tính, các yếu tố,.. cấu thành nó. Lượng không chỉ biểu hiện bằng các con số, các đại lượng xác định cụ thể, mà lượng còn được nhận thức bằng khả năng trừu tượng hóa. Lượng là nhân tố quy định bên trong, nhưng đồng thời cũng có những lượng chỉ nói lên nhân tố dường như bên ngoài sự vật. Lượng tồn tại khách quan. So với chất, lượng là cái thường xuyên biến đổi. Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa tương đối. 2. Tính thống nhất và mối quan hệ phổ biến của lượng và chất. a. Khái niệm về Độ: Mỗi sự vật là một thể thống nhất của hai mặt chất và lượng. Hai mặt đó không tách rời nhau, mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng. “Độ” là khái niệm nói lên mối quan hệ quy định lẫn nhau của chất và lượng. Nó là giới hạn mà trong đó sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó mà chưa biến thành cái khác. Trong giới hạn “độ” lượng biến đổi nhưng chưa dẫn đến chuyển hóa về chất. Độ cũng biến đổi khi những điều kiện tồn tại của sự vật, hiện tượng biến đổi. b. Những hình thức biến đổi từ lượng dẫn đến sự biến đổi về chất. Ranh giới của lượng do chất quy định, nhưng sự chuyển hóa thì bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng. Các hình thức cơ bản của sự chuyển hóa: + Tăng lên hoặc giảm đi đơn thuần về mặt số lượng + Sự dung hợp của nhiều lực lượng thành một hợp lực về căn bản khác với tổng số những lực lượng cá biệt. + Thay đổi về kết cấu, tổ chức, qui mô của sự vật, hiện tượng. Khi lượng thay đổi vượt quá giới hạn của độ thì dẫn đến thay đổi về chất (tạo ra chất mới). Sự thay đổi về chất được gọi là bước nhảy (có 4 loại bước nhảy cơ bản: bước nhảy toàn phần, bước nhảy cục bộ, bước nhảy dần dần, bước nhảy đột biến), đó là bước ngoặt căn bản trong sự biến đổi dần dần về lượng. Giới hạn mà ở đó xảy ra bước nhảy được gọi là điểm nút. Sự chuyển hóa đòi hỏi phải có điều kiện. c. Sự ảnh hưởng của chất mới đối với sự biến đổi của lượng Khi chất mới ra đời nó tạo ra một lượng mới phù hợp với nó để có một sự thống nhất mới giữa chất và lượng. Sự quy định này được biểu hiện ở qui mô và nhịp điệu phát triển mới của lượng. Tóm lại, quy luật lượngchất chỉ ra cách thức biến đổi sự vật, hiện tượng. Đó là quá trình tác động lẫn nhau giữa hai mặt: chất và lượng. Lượng biến đổi mâu thuẫn với chất cũ, chất mới ra đời với lượng mới. Lượng mới lại tiếp tục biến đổi đến giới hạn nào đó lại phá vỡ chất đang kìm hãm nó, tạo nên chất mới với lượng mới. Như vậy phát triển là quá trình vô hạn, vừa mang tính liên tục (biểu hiện ở sự biến đổi của lượng) vừa có tính gián đoạn (biểu hiện ở sự thay đổi về chất). 3. Vận dụng trong thực tiễn ở địa phương: Trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần chống lại hai khuynh hướng: + Tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, chưa có sự tích lũy đầy đủ về lượng đã muốn thực hiện bước nhảy về chất. Hoặc chỉ nhấn mạnh đến bước nhảy, xem nhẹ tích lũy về lượng, dẫn đến các hành động phiêu lưu mạo hiểm. + Tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ngại khó không dám thực hiện bước nhảy về chất. Hoặc chỉ nhấn mạnh đến sự biến đổi dần dần về lượng, từ đó rơi vào chủ nghĩa cải lương và tiến hóa luận. Cần có thái độ khách quan, khoa học và có quyết tâm thực hiện bước nhảy khi điều kiện thực hiện bước nhảy đã chín muồi. + Phân biệt các bước nhảy trong tự nhiên và trong xã hội. + Phải nhận thức đúng đắn các bước nhảy khác nhau về qui mô, nhịp độ. + Chống chủ nghĩa giáo điều Câu: 11. Anhchị hãy phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định. Từ đó liên hệ với quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người. 1. Khái niệm phủ định và phủ định

Trang 1

Câu 1 Anh /chị hãy phân tích nội dung những vấn đề cơ bản của triết học Từ đó hãy chỉ ra sự khác biệt giữa các trường phái duy vật

và duy tâm trong lịch sử triết học

1 Triết học là gì

Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều baohàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giớivới tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối

sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của conngười trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có

hệ thống dưới dạng duy lý

Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chungnhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thếgiới ấy

Bài viết tiếp theo: Nội dung, ý nghĩa quy luật lượng và chất

– Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, xét cho cùng, đều

bị các quan hệ kinh tế của xã hội quy định Dù ở xã hội nào, triết học

+ Yếu tố nhận thức – sự hiểu biết về thế giới xung quanh, trong đó có

+ Yếu tố nhận định – đánh giá về mặt đạo lý

– Triết học đã ra đời trong xã hội chiếm hữu nô lệ (ở phương Tây) vàtrong thời kỳ chuyển từ xã hội chiếm hữu nô lệ sang xã hội phong kiến(phương Đông), gắn liền với sự phân công lao động xã hội – tách laođộng trí óc ra khỏi lao động chân tay (sau lần phân công lao động thứ 2)

Trang 2

– Phù hợp với trình độ phát triển thấp ở các giai đoạn đầu tiên của lịch

sử loài người, triết học ra đời với tính cách là một khoa học tổng hợp cáctri thức của con người về hiện thực xung quanh và bản thân mình Sau

đó, do sự phát triển của thực tiễn xã hội và của quá trình tích luỹ tri thức,

đã diễn ra quá trình tách các khoa học ra khỏi triết học thành các khoahọc độc lập Triết học với tính cách là khoa học, nên nó có đối tượng vànhiệm vụ nhận thức riêng của mình, nó là hệ thống những quan niệm,quan điểm có tính chất chỉnh thể về thế giới, về các quá trình vật vất vàtinh thần và mối liên hệ giữa chúng, về nhận thức và cải biến thế giới

2 VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC

– Theo Ăng-ghen, “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là củatriết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại” Việc giảiquyết vấn đề cơ bản của triết học là cơ sở và điểm xuất phát để giảiquyết các vấn đề khác của triết học

– Vấn đề cơ bản của triết học gồm hai mặt:+ Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi: Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước,cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Nói cách khác, giữa vật chất

và ý thức cái nào là tính thứ nhất, cái nào là tính thứ hai Có hai cách trảlời khác nhau dẫn đến hình thành hai khuynh hướng triết học đối lậpnhau:

 Những quan điểm triết học cho vật chất là tính thứ nhất, ý thức làtính thứ hai hợp thành chủ nghĩa duy vật Trong lịch sử tư tưởng triếthọc có ba hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật: Chủ nghĩa duy vậtchất phác, ngây thơ cổ đại; Chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình thế kỷXVII – XVIII; Chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trang 3

 Ngược lại, những quan điểm triết học cho ý thức là tính thứ nhất,vật chất là tính thứ hai, hợp thành chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duytâm lại được thể hiện qua hai trào lưu chính: Chủ nghĩa duy tâm kháchquan (Platon, Hêghen…) và chủ nghĩa duy tâm chủ quan (Beccli,Hium…)

Bạn đã nắm vững kiến thức: Định nghĩa vật chất của Lênin

+ Mặt thứ hai trả lời cho câu hỏi: Con người có khả năng nhận thứcđược thế giới hay không? (Ý thức có thể phản ánh được vật chất haykhông, tư duy có thể phản ánh được tồn tại hay không?) Mặt này cònđược gọi là mặt nhận thức

 Các nhà triết học duy vật cho rằng, con người có khả năng nhậnthức thế giới Song, do mặt thứ nhất quy định, nên sự nhận thức đó là sựphản ánh thế giới vật chất vào óc con người

 Một số nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận con người có khảnăng nhận thức thế giới, nhưng sự nhận thức đó là sự tự nhận thức củatinh thần, tư duy

 Một số nhà triết học duy tâm khác như Hium, Can-tơ lại phủ nhậnkhả năng nhận thức thế giới của con người Đây là những người theo

“Bất khả tri luận” (Thuyết không thể biết) Khuynh hướng này khôngthừa nhận vai trò của nhận thức khoa học trong đời sống xã hội

Đối với các hệ thống triết học, vấn đề cơ bản của triết học không chủđược thể hiện trong các quan niệm có tính chất bản thể luận, mà cònđược thể hiện trong các quan niệm chính trị – xã hội, đạo đức và tôngiáo, tất nhiên có thể là nhất quán hoặc là không nhất quán

Trang 4

Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xuyên suốtlịch sử phát triển của tư tưởng triết học và thể hiện tính đảng trong triếthọc.

Hai mặt vấn đề cơ bản của triết học này tác động qua lại lẫn nhau

sự khác biệt giữa các trường phái duy vật và duy tâm trong lịch sử triết học/

Tổng kết toàn bộ lịch sử triết học, đặc biệt là lịch sử triết học Cổ điểnĐức, Ăngghen đã khái quát: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặcbiệt là triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại”; giữa ýthức và vật chất, giữa tinh thần và giới tự nhiên

Vấn đề cơ bản của triết học được phân tích trên hai mặt Thứ nhất, giữa

ý thức và vật chất: cái nào có trước, cái nào có sau? Cái nào quyết địnhcái nào? Thứ hai, con người có khả năng nhận thức chân thực thế giớihay không?

Việc giải quyết hai mặt vấn đề cơ bản của triết học là xuất phát điểm củacác trường phái lớn: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; khả triluận và bất khả tri luận Ngoài ra còn có chủ nghĩa nhị nguyên và hoàinghi luận Về thực chất, chủ nghĩa nhị nguyên có cùng bản chất với chủnghĩa duy tâm, còn hoài nghi luận thuộc về bất khả tri luận; mặt khác,bất khả tri luận thường có mối liên hệ mật thiết với chủ nghĩa duy tâm,còn khả tri luận thường gắn với chủ nghĩa duy vật

Chủ nghĩa duy vật là trường phái triết học xuất phát từ quan điểm: bảnchất của thế giới là vật chất; vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứhai; vật chất có trước quyết định ý thức Ngược lại, chủ nghĩa duy tâm làtrường phái triết học xuất phát từ quan điểm: bản chất thế giới là ý thức;

Trang 5

ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức có trước và quyếtđịnh vật chất.

Chủ nghĩa duy tâm có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội của nó,

đó là: sự xem xét phiến diện, tuyệt đối hóa, thần thánh hóa một mặt, mộtđặc tính nào đó của quá trình nhận thức và đồng thời thường gắn với lợiích của các giai cấp, tầng lớp áp bức, bóc lột nhân dân lao động Mặtkhác, chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo cũng thường có mối liên hệ mậtthiết với nhau, nương tựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển

Trong lịch sử, chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản là chủ nghĩaduy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan Chủ nghĩa duy tâmchủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người Trong khi phủnhận sự tồn tại khách quan của hiện thực, chủ nghĩa duy tâm chủ quankhẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là “phức hợp những cảm giác”của cá nhân Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứnhất của tinh thần, ý thức nhưng tinh thần ý thức ấy được quan niệm làtinh thần khách quan, ý thức khách quan có trước và tồn tại độc lập vớigiới tự nhiên và con người Thực thể tinh thần, ý thức khách quan nàythường được mang những tên gọi khác nhau như: “ý niệm tuyệt đối”,

“tinh thần tuyệt đối”, “lý tính thế giới”…

Đối lập với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật và sự tồn tại, pháttriển của nó có nguồn gốc từ sự phát triển của khoa học và thực tiễn,đồng thời thường gắn với lợi ích của giai cấp và lực lượng tiến bộ tronglịch sử Nó là kết quả của quá trình đúc kết, khái quát kinh nghiệm đểvừa phản ánh những thành tựu mà con người đã đạt được trong từng giaiđoạn lịch sử, vừa định hướng cho các lực lượng xã hội tiến bộ hoạt độngtrên nền tảng của những thành tựu ấy Trên cơ sở phát triển của khoa học

và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật đã phát triển qua các hình thức của nó,

Trang 6

trong đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức phát triển cao nhấtcủa chủ nghĩa duy vật.

Câu 2 Theo Anh/chị chủ nghĩa duy tâm về bản chất là sai lầm khi phản ánh thế giới khách quan nhưng tại sao chủ nghĩa duy tâm vẫn tồn tại đến tận ngày nay Hãy phân tích và chứng minh.

Chủ nghĩa duy tâm (CNDT) là trường phái THọc khẳng định rằng mọi thứ đều tồn tại bên trong tâm thức và thuộc về tâm thức Là một nền tảng của ngành vũ trụ học, hay 1 cách tiếp cận tới hiểu biết về sự tồn tại, CNDT thường được đặt đối lập với CNDV, cả 2 đều thuộc lớp bản thể học nhất nguyên chứ ko phải nhị nguyên hay đa nguyên

Chủ nghĩa duy tâm có hai khuynh hướng:

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người trong khi phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan và coi nó làmột cái gì đó hoàn toàn do tính tích cực của chủ thể quy định

Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận ý thức và tinh thần là thuộc tính thứ nhất (có trước), vật chất là thuộc tính thứ hai (có sau), và coi cơ

sở tồn tại không phải là tâm thức con người theo như quan niệm của Chủnghĩa duy tâm chủ quan mà là một tâm thức nào đó ở bên ngoài thế giới

như "tinh thần tuyệt đối", "lý tính thế giới", v.v ( CHƯA XONG)

Câu 3 Anh /chị hãy phân tích những nội dung chủ yếu của triết học Trung quốc Từ đó phân tích những nội dung cơ bản của triết học Trung quốc ảnh hưởng đến tư tưởng triết học Việt Nam.

Trang 7

Trung Quốc là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại Trung Quốc đất đai rộng lớn, có hai con sông lớn Hoàng Hà và Trường Giang,

là một trong những nước có nền văn minh hình thành sớm nhất và rực rỡnhất trong lịch sử Triết học Trung Quốc suy cho cùng là sự phản ánh xãhội Trung Quốc Triết học Trung Quốc có mầm mống từ lâu, nhưng thực

sự nở rộ vào khoảng thế kỷ VI đến thế kỷ III tr.CN Đây là thời kỳ biến đổi dữ dội, chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến kiểu phương Đông – thời kỳ Đông Chu liệt quốc hay Xuân Thu chiến quốc với chiến tranh liên miên, tàn khốc, trật tự xã hội cũng như luân lý đạo đức sụp đổ, cái cũ đã qua, cái mới chưa đến, lòng người chaođảo không biết đi về đâu Có thể khái quát một số đặc điểm của lịch sử

xã hội Trung Quốc như sau:

Một là, công xã nông thôn được bảo tồn lâu dài trong suốt thời kỳ lịch

sử cổ - trung đại, với hạt nhân của nó là chế độ đại gia đình phụ quyền (tông pháp) được xác lập vững chắc Địa vị của người con trưởng quan trọng nhất trong nhà, trách nhiệm cũng lớn nhất, được hưởng gia tài, giữ việc hương khói

Hai là, ở Trung Quốc, nhà nước ra đời trên cơ sở trình độ kỹ thuật còn non kém (đồ sắt chưa được sử dụng phổ biến); trong xã hội, mức độ phân hóa giai cấp chưa sâu sắc Hình thức bóc lột là hình thức cống nạp;

tô và thuế nhập làm một Mối quan hệ của các thành viên trong xã hội đối với nhà nước là quan hệ của thần dân đối với vua chứ không phải là mối quan hệ của công dân đối với nhà nước

Ba là, ruộng đất công, trên nguyên tắc, toàn bộ đất đai trong toàn quốc làthuộc quyền sở hữu của nhà vua, mọi người dân chỉ có quyền sử dụng đất Chỉ bằng một quyết định, nhà nước có thể tịch thu ruộng đất của bất

cứ ai

Bốn là, cho đến trước khi bị chủ nghĩa thực dân tư bản phương Tây xâm lược, trên đất nước Trung Quốc chưa hề có một cuộc cách mạng xã hội theo đúng nghĩa Trong lòng xã hội, các kết cấu mới – cũ đan xen lẫn

Trang 8

nhau, cùng cộng sinh bên nhau trong suốt quá trình lịch sử Thế kỷ VIII tr.CN phân tầng xã hội đã bắt đầu biến đổi sâu sắc, kết cấu giai tầng phức tạp, xung đột đã gay gắt.

Năm là, Trung Quốc được gọi là một trong những nước có nền văn minhsớm nhất và rực rỡ nhất trong lịch sử, cho đến năm 1911, lịch sử Trung Quốc trải qua ba thời kỳ kế tiếp nhau: thời kỳ thượng cổ, cổ đại, trung

cổ Tuy nhiên, tư tưởng triết học Trung Quốc chỉ nở rộ ở nửa cuối thời

kỳ cổ đại (vào thời Đông Chu) và được duy trì phát triển ít nhiều ở thời

2 Thứ hai, triết học Trung Quốc xuất phát từ con người, lấy con người làm vấn đề trung tâm Nghiên cứu thế giới cũng chỉ nhằm làm rõ vấn đề con người Tuy nhiên con người không được chú ý trên tất cả các mặt

mà chỉ chú ý trên khía cạnh luân lý, đạo đức Vấn đề bản thể luận trong triết học Trung Quốc rất mờ nhạt, còn trong triết học phương Tây lại đặt trọng tâm vào nghiên cứu thế giới, vấn đề con người cũng chỉ được bàn tới nhằm giải thích thế giới Do đó, khác với triết học Trung Quốc, trongtriết học phương Tây, vấn đề bản thể luận rất đậm nét

Về bản chất con người (tính người, Khổng Tử cho gần nhau (giống

nhau), nhưng do tập quán, phong tục mà xa nhau (khác nhau) (“Tính tương cận, tập tương viễn”); Mạnh Tự cho tính người (nhân tính) vốn

Trang 9

thiện; Tuân Tử cho tính người vốn ác; Cáo Tử cho tính không thiện cũngkhông bất thiện Đổng Trọng Thư đưa ra tính tam phẩm, còn Hàn Dũ đưa ra có tính ba bậc.

Về số phận con người, Nho giáo quy tất cả là do mệnh trời; Tuân Tử chorằng con người có thể thắng được trời Từ đó triết học Trung Quốc

hướng đến mẫu người lý tưởng như sĩ, quân tử, đại trượng phu, thánh nhân

3 Thứ ba, triết học Trung Quốc ít tồn tại dưới dạng triết học thuần túy

mà thường được trình bày xen kẽ hoặc ẩn giấu đằng sau với những vấn

đề cấu trúc xã hội, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật Vì vậy, ở Trung Quốc

ít khi có triết gia và các phần triết học độc lập Cho nên, nếu ở phương Đông nói chung, Trung Quốc nói riêng triết học ẩn giấu đằng sau các khoa học khác thì ở phương Tây ngay từ đầu, triết học đã là một khoc học độc lập, các khoa học khác lại ẩn giấu ở đằng sau triết học ở vào buổi bình minh của nó

4 Thứ tư, về mặt nhận thức, triết học Trung Quốc bàn nhiều về vấn đề trực giác tâm linh, những vấn đề phi lý tính Phương pháp nhận thức này, xét về góc độ nào đó nó phù hợp với đối tượng mà nó đặt ra để nghiên cứu Nó thường không được trình bày dưới dạng hình thức hệ thống lý luận lôgic như các tác phẩm triết học hiện đại Nhìn chung, lý luận nhận thức trong triết học Trung Quốc là phiến diện, không xem giới

tự nhiên là đối tượng nhận thức, mà chỉ nhận thức chủ yếu về mặt luân

lý đạo đức

5 Thứ năm, triết học Trung Quốc vừa thống nhất vừa đa dạng Thống nhất ở chỗ nó đều nhằm mục đích ổn định xã hội, chấm dứt chiến tranh, chẳng hạn, Nho gia đưa ra đường lối chính danh, đức trị; Pháp gia đưa rađường lối pháp trị; Mặc gia đưa ra đường lối kiêm ái; Đạo gia đường lối

vô vi Nó đa dạng ở chỗ có rất nhiều trường phái, khuynh hướng tư tưởng, với 9 trường phái và đặc biệt nổi bật hơn cả là 6 trường phái lớn

có ảnh hưởng mạnh mẽ trong đời sống, trong lịch sử xã hội là: Nho gia,

Trang 10

Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia, Âm Dương gia, Danh gia Mỗi nhà đều có chủ trương, đường lối riêng của mình.

Trong các trào lưu triết học Trung Quốc cổ đại, thường đan xen các yếu

tố duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình Cuộc đấu tranh giữa chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không gay gắt quyết liệt như ở

phương Tây Chẳng hạn như:

- Nho giáo về cơ bản là duy tâm, nhưng vẫn có những luận điểm duy vật, nhất là ở thời kỳ đầu

- Đạo gia, Mặc gia, Âm Dương ngũ hành gia bên cạnh những luận điểm duy vật lại có cả những luận điểm duy tâm

Trong suốt chiều dài hơn 2.000 năm phong kiến Trung Hoa, các học thuyết cổ đại thường được các nhà tư tưởng phong kiến kế thừa, tự nhận thuộc về trường phái đã có nào đó từ thời cổ đại mà không lập ra học thuyết mới cho nên sự phát triển của triết học Trung Quốc chủ yếu theo hướng từ từ thay đổi về lượng mà ít thấy có sự nhảy vọt về chất

6 Phép biện chứng trong triết học Trung Quốc thể hiện trong học thuyết biến dịch (Kinh dịch); sự tương tác giữa âm dương, ngũ hành; trong học thuyết Lão Tử Nhìn chung, biện chứng trong triết học Trung Quốc vẫn còn thô sơ, đơn giản, biện chứng vòng tròn, tuần hoàn khép kín

Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo là ba dòng chủ đạo, kiến tạo nên hệ tư tưởng phong kiến Trung Quốc, song trên thực tế, Nho giáo vẫn là dòng chủ đạo

* Triết học Trung quốc ảnh hưởng đến tư tưởng triết học Việt Nam

(Nho giáo của Trung Quốc ảnh hưởng đến nho giáo nước ta rất nhiều, đặc biết là từ thế kỷ 15-19, và cho đến tận bây giờ, nho giao nước ta về

cơ bản là tiếp thu nho giáo của Trung Quốc Nho giáo rất coi trọng tri thức, học hành Hàng nghìn năm qua và đến tận bây giờ, con người

chúng ta vẫn coi trọng việc học hành lên trên hết, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện tài năng cho con người Tuy vậy nho giáo vẫn có những

Trang 11

điểm tiêu cực đó là “trọng năm khinh nữ” Điểm tiêu cực này tồn tại ở nước ta cho đến thế kỹ 19, thời phong kiến được trị vì nhà Nguyễn

Nhưng đến này thì cách mạng Việt Nam đã xóa đi điểm xấu, lạc hậu củanho giáo với mục tiêu là tôn trọng quyền bình đẳng của con người, bảo

vệ quyền lợi của phụ nữ.)

Câu 4 Anh/chị hãy so sánh những đặc điểm chủ yếu của triết học phương đông và triết học phương tây Từ đó chỉ ra những điểm giống và khác nhau giữa hai nền triết học này trong lịch sử tư tưởng của nhân loại

Sự giống nhau :

THọc phương Đông và THọc phương Tây đều được hình thành, phát triển trong cuộc đấu tranh giữa CNDT,giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng.Thực chất cuộc đấu tran này là 1 phần cuộc đấu tranh tư tưởng của những giai cấp đối kháng trong xã hội Những quan niệm duy vật thường gần gũi và gắn liền với những lực lượng tiến

bộ trong XH và ngược lại những quan niệm duy tâm thường gần gũi và gắn liền với lực lượng lạc hậu, bảo thủ trong xã hội

THọc phương đông và phương tây có thể sử dụng những khái niệm, phạm trù khác nhau nhưng đêù phải bàn đến vấn đề cơ bản của THọc, đồng thời đều tuân theo những phương pháp chung trong nhận thức thế giới : phương pháp biện chứng hoặc p.p siêu hình

THọc phương tây và phương đông đều bàn đến vấn đề con người ở

những khía cạnh khác nhau, mức độ đậm nhạt khác nhau và qua những thời kỳ lịch sử khác nhau đều có những đánh giá khác nhau vè con

người

Trang 12

Các học thuyết THọc ở phương đông hay tây đều có khuynh hướngchung là xâm nhập lẫn nhua, vừa có sự kế thừa giữa các học thuyết, hoặctrong sự phát triền của học thuyết đó,vừa có sự đào thải,lọc bỏ nhữngquan niệm lạc hậu, hoặc những quan niệm ko phù hợp vs nhãn quan củagiai cấp thống trị.

Sự khác biệt căn bản của triết học phương Tây và phương Đông cònđược thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất đó là triết học phương Đông nhấn mạnh sự thống nhất trong mối quan hệ giữa con người và vũ trụ với công thức thiên địa nhân là một nguyên tắc “thiên nhân hợp nhất” Cụ thể là:

Triết học Trung quốc là nền triết học có truyền thống lịch sử lâu đờinhất, hình thành cuối thiên niên kỷ II đầu thiên niên kỷ I trước côngnguyên Đó là những kho tàng tư tưởng phản ánh lịch sử phát triển củanhững quan điểm của nhân dân Trung hoa về tự nhiên, xã hội và quan hệcon người với thế giới xung quanh, họ coi con người là tiểu vũ trụ trong

hệ thống lớn trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một Như vậycon người cũng chứa đựng tất cả những tính chất, những điều huyền bícủa vũ trụ bao la Từ điều này cho ta thấy hình thành ra các khuynhhướng như: khuynh hướng duy tâm của Mạnh Tử thì cho rằng vũ trụ,vạn vật đều tồn tại trong ý thức chủ quan vầ trong ý niệm đạo đức Trờiphú cho con người Ông đưa ra quan điểm “vạn vật đều có đầy đủ trongta” Ta tự xét mình mà thành thực, thì có cái thú vui nào lớn hơn nữa.Ông dạy mọi người phải đi tìm chân lý ở ngoài thế giới khách quan màchỉ cần suy xét ở trong tâm, “tận tâm” của mình mà thôi Như vậy theoông chỉ cần tĩnh tâm quay lại với chính mình thì mọi sự vật đều yên ổn,không có gì vui thú hơn Còn theo Thiện Ung thì cho rằng: vũ trụ tronglòng ta, lòng ta là vũ trụ Đối với khuynh hướng duy vật thô sơ - kinhdịch thì biết đến cùng cái tính của con người thì cũng có thể biết đến cái

Trang 13

tính của vạn vật, trời đất: trời có chín phương, con người có chín khiếu.

Ở phương Đông khuynh hướng duy vật chưa rõ ràng đôi khi còn đan xenvới duy tâm, mặc dù nó là kết quả của quá trình khái quát những kinhnghiệm thực tiến lâu dài của nhân dân Trung hoa thời cổ đại Quan điểmduy vật được thể hiện rõ ở học thuyết Âm dương, tuy nó còn mang tínhchất trực quan, chất phác, ngây thơ và có những quan điểm duy tâm,thần bí về lịch sử xã hội nhưng trường phái triết học này đã bộ lộ rõkhuynh hướng duy vật và tư tưởng biện chứng tự phát của mình trongquan điểm về cơ cấu và sự vận động, biến hoá của sự vật hiện tượngtrong tự nhiên cũng như trong xã hội

Ở Ấn độ tư tưởng triết học Ấn độ cổ đại được hình thành từ cuối thiênniên kỷ II đầu thiên niên kỷ I trước công nguyên, bắt nguồn từ thế giớiquan thần thoại, tôn giáo, giải thích vũ trụ bằng biểu tượng các vị thầnmang tính chất tự nhiên, có nguồn gốc từ những hình thức tôn giáo tối

cổ của nhân loại Ở Ấn độ nguyên tắc “thiên nhiên hợp nhất” lại có màusắc riêng như:

Xu hướng chính của Upanishad lànhằm biện hộ cho học thuyết duy tâm,tôn giáo trong kinh Vêđa về cái gọi là “tinh thần sáng tạo tối cao”sángtạo và chi phối thế giới này Để trả lời câu hỏi cái gì là thực tại caonhất, là căn nguyên của tất cả mà khi nhận thức được nó, người ta sẽnhận thức được mọi cái còn lại và có thể giải thoát được linh hồn khỏi

sự lo âu khổ nào của đời sống trần tục và ràng buộc của thế giới này là

“tinh thần vũ trụ tối cao” Brahman, là thực thể duy nhất, có trước nhất,tồn tại vĩnh viễn, bất diệt, là cái từ đó tất cả thế giới đều nảy sinh ra vànhập về với nó sau khi chết Tóm lại Brahman là tinh thần vũ trụ, làđấng sáng tạo duy nhất, là đại ngã, đại đinh, là vũ trụ xung quanh cái tồntại thực sự, là khách thể

Trang 14

Còn Atman là tinh thần con người, là tiểu ngã, là cái có thể mô hình hoá,

là chủ thể và chẳng qua chỉ là linh hồn vũ trụ cư trú trong con người màthôi Linh hồn con người (Atman) chỉ là sự biểu hiện, là một bộ phậncủa “tinh thần tối cao” Vì Atman “linh hồn” là cái tồn tại trong thể xáccon người ở đời sống trần tục, nên ý thức con người lầm tưởng rằng linhhồn, “cái ngã” là cái khác với “linh hồn vũ trụ”, khác với nguồn sốngkhông có sinh, không có diệt vong của vũ trụ

Vậy nên kinh Vêđa nối con người với vũ trụ bằng cầu khẩn, cúng tế bắtchước hoà điệu của vũ trụ bằng lễ nghi, hành lễ ở hình thức bên ngoài.Còn kinh Upanishad quay vào hướng nội để đi từ trong ra, đồng nhất cánhân với vũ trụ bằng tri thức thuần tuý kinh nghiệm

Đối với phương Tây lại nhấn mạnh tách con người ra khỏi vũ trụ, coicon người là chủ thể, chúa tể để nghiên cứu chinh phục vũ trụ – thế giớikhách quan Và cũng chính từ thế giới khách quan khách nhau nên dẫnđến hướng nghiên cứu tiếp cận cũng khác nhau:

Từ thế giới quan triết học “thiên nhân hợp nhất” là cơ sở quyết địnhnhiều đặc điểm khác của triết học phương Đông như: lấy con người làmđối tượng nghiên cứu chủ yếu – tính chất hướng nội; hay như nghiêncứu thế giới cũng là để làm rõ con người và vấn đề bản thảo luận trongtriết học phương Đông bị mờ nhạt Nhưng ngược lại triết học phươngTây lại đặ trọng tâm nghiên cứu vào thế giới – tính chất hướng ngoại;còn vấn đề con người chỉ được nghiên cứu để giải thích thế giới mà thôi.Cho nên phương Tây bàn đậm nét về bản thể luận của vũ trụ

Cái khác biệt nữa là ngay trong vấn đề con người phương Đông cũngquan niệm khác phương Tây:

Trang 15

Ở Phương Đông người ta đặt trọng tâm nghiên cứu mối quan hệ ngườivới người và đời sống tâm linh, ít quan tâm đến mặt sinh vật của conngười, chỉ nghiên cứu mặt đạo đức thiện hay ác theo lập trường của giaicấp trống trị cho nên nghiên cưú con người không phải là để giải phóngcon người mà là để cai trị con người, không thấy quan hệ giữa người vớingười trong lao động sản xuất.

Ở Phương Tây họ lại ít quan tâm đến mặt xã hội của con người, đề caocái tự nhiên – mặt sinh vật trong con người, chú ý giải phóng con người

về mặt nhận thức, không chú ý đến nguyên nhân kinh tế – xã hội, cáigốc để giải phóng con người

Thứ hai, ở phương Đông những tư tưởng triết học ít khi tồn tại dưới dạng thuần tuý mà thường đan xen với các hình thái ý thức xã hội khác Cái nọ lấy cái kia làm chỗ dựa và điều kiện để tồn tại và phát triển

cho nên ít có những triết gia với những tác phẩm triết học độc lập Và cónhững thời kỳ người ta đã lầm tưởng triết học là khoa học của khoa họcnhư triết học Trung hoa đan xen với chính trị lý luận, còn triết học Ấn

độ lại đan xen tôn giáo với nghệ thuật Nói chung ở phương Đông thìtriết học thường ẩn dấu đằng sau các khoa học

Ở phương Tây ngay từ thời kỳ đầu triết học đã là một khoa học học độclập với các môn khoa học khác mà các khoa học lại thường ẩn dấu đằngsau triết học Và thời kỳ Trung cổ là điển hình: khoa học muốn tồn tạiphải khoác áo tôn giáo, phải tự biến mình thành một bộ phận của giáohội

Thứ ba, Lịch sử triết học phương Đông ít thấy có những bước nhảy vọt về chất có tính vạch ra ở các thời điểm, mà chỉ là sự phát triển cục bộ, kế tiếp xen kẽ Ở Ấn độ, cũng như Trung quốc các trường phái

Trang 16

có từ thời cổ đại vẫn giữ nguyên tên gọi cho tới ngày nay (từ thế kỷ VIII– V trước công nguyên đến thế kỷ 19).

Nội dung có phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, thêm bớt hay đisâu vào từng chi tiết như: Nho tiền tần, Hán nho, Tống nho vẫn trên cơ

sở nhân – lễ – chính danh, nhưng có cải biên về một phương diện nào đó

ví như Lễ thời tiền Tần là cung kính, lễ phép, văn hoá, thời Hán biếnthành tam cương ngũ thường, đời Tống biến thành chữ Lý

Các nhà triết học ở các thời đại chỉ giới hạn mình trong khuôn khổ ủng

hộ, bảo vệ quan điểm hay một hệ thống nào đó để hoàn thiện và pháttriển nó hớn là vạch ra những sai lầm và không đặt ra mục đích tạo rathức triết học mới Do vậy nó không mâu thuận với các học thuyết đãđược đặt nền móng từ ban đầu, không phủ định nhau hoàn toàn và dẫnđến cuộc đấu tranh trong các trường phái không gay gắt và cũng khôngtriệt đêt Có tình trạng đó chính là do chế độ phong kiến quá kéo dài vàbảo thủ, kết cấu kinh tế, giai cấp trong xã hội đan xen cộng sinh bênnhau

Ngược lại ở phương Tây lại có điểm khác biệt Ở mỗi giai đoạn, mỗithời kỳ, bên cạnh các trường phái cũ lại có những trường phái mới ra đời

có tính chất vạch thời đại như thời cố đại bên cạnh trường phái Talét,Hêraclit đến Đêmôcrit rồi thời đại khai sáng Pháp, CNDV ở Anh, Hàlan, triết học cổ điển Đức Và hơn nữa cuộc đấu tranh giữa duy tâm vàduy vật mang tính chất quyết liệt, triệt để hơn

Thứ tư, Sự phân chia trường phái triết học cũng khác:

Ở phương Đông đan xen các trường phái, yếu tố duy vật, duy tâm biệnchứng, siêu hình không rõ nét Sự phân chia chỉ xét về đại thể, còn đi

Trang 17

sâu vào những nội dung cụ thể thường là có mặt duy tâm có mặt duy vật,

sơ kỳ là duy vật, hậu kỳ là nhị nguyên hay duy tâm, thể hiện rõ thế giớiquan thiếu nhất quán, thiếu triệt để của triết học vì phân kỳ lịch sử trongcác xã hội phương Đông cũng không mạch lạc như phương Tây

Ngược lại triết học phương Tây thì sự phân chia các trường phái rõ néthơn và các hình thức tồn tại lịch sử rất rõ ràng như duy vật chất phác thô

sơ đến duy vật siêu hình rồi đến duy vật biện chứng

Thứ năm, Hệ thống thuật ngữ của triết học phương Đông cung khác

so với triết học phương Tây ở 3 mảng:

- Về bản thể luận: Phương Tây dùng thuật ngữ “giới tự nhiên”, “bảnthể”, “vật chất” Còn ở phương Đông lại dùng thuật ngữ “thái cực” đạosắc, hình, vạn pháp, hay ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ Đểnói về bản chất của vũ trụ đặc biệt là khi bàn về mối quan hệ giữa conngười và vũ trụ thì phương Tây dùng phạm trù khách thể – chủ thể; conngười với tự nhiên, vật chất với ý thức, tồn tại và tư duy Còn phươngĐông lại dùng Tâm – vật, năng – sở, lí – khí, hình – thần Trong đó hìnhthần là những phạm trù xuất hiện sớm và dùng nhiều nhất

- Nói về tính chất, sự biến dổi của thế giới: phương Tây dùng thuật ngữ

“biện chứng” siêu hình, thuộc tính, vận động, đứng im nhưng lấy cái đấutranh cái động là chính Đối với phương Đông dùng thuật ngữ động –tĩnh, biến dịch, vô thường, thường còn, vô ngã và lấy cái thống nhất, lấycái tĩnh làm gốc là vì phương Đông triết học được xây dựng trên quanđiểm vũ trụ là một, phải mang tính nhịp điệu

- Khi diễn đạt về mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trên thế giới thìphương Tây dùng thuật ngữ “liên hệ”, “quan hệ” “quy luật” Còn

Trang 18

phương Đông dùng thuật ngữ “đạo” “lý” “mệnh” “thần”, cũng xuất phát

từ thế giới quan thiên nhân hợp nhất nên tất cả phải mang tính nhịp điệu,tính quy luật, tính soắn ốc của vũ trụ như thái cực đến lưỡng nghi Cónhịp điệu là hài hoà âm dương, còn vũ trụ là tập hợp khổng lồ các xoắnốc

Thứ sáu, Tuy cả hai dòng triết học phương Đông và phương Tây đều nhằm giải quyết vấn đề cơ bản của triết học nhưng phương Tây nghiêng nặng về giải quyết mặt thứ nhất còn mặt thứ hai chỉ giải quyết những vấn đề có liên quan Ngược lại ở phương Đông nặng về giải quyết mặt thứ hai cho nên dẫn đến hai phương pháp tư duy khác nhau.

Phương Tây đi từ cụ thể đến khái quát cho nênlà tư duy tất định – tư duyvật lý chính xác nhưng lại không gói được cái ngẫu nhiên xuất hiện Cònphương Đông đi từ khái quát đến cụ thể bằng các ẩn dụ triết học vớinhững cấu cách ngôn, ngụ ngôn nên không chính xác nhưng lại hiểucách nào cũng được

Câu 5 Anh/chị hãy phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin Từ

đó rút ra ý nghĩa và phương pháp luận

Lênin đã định nghĩa: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác" (V.I.Lênin: Toàn tập, t.18, Nxb Tiến bộ, M., 1980, tr.151)

Trong định nghĩa này, Lênin đã chỉ rõ:

+ "Vật chất là một phạm trù triết học" Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất

Trang 19

thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày.

+ Thuộc tính cơ bản của vật chất là "thực tại khách quan", "tồn tại không

lệ thuộc vào cảm giác" Đó cũng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì

là vật chất và cái gì không phải là vật chất

+ "Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác",

"tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác" Điều đó khẳng định "thực tại khách quan" (vật chất) là cái có trước (tính thứ nhất), còn "cảm giác" (ý thức) là cái có sau (tính thứ hai) Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức

+ "Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh" Điều đó nói lên "thực tại khách quan" (vật chất) được biểu hiện thông qua các dạng

cụ thể, bằng "cảm giác" (ý thức) con người có thể nhận thức được Và

"thực tại khách quan" (vật chất) chính là nguồn gốc, nội dung khách quan của "cảm giác" (ý thức) Định nghĩa của Lênin về vật chất đã giải quyết được cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học theo lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Định nghĩa vật chất của Lênin có ý nghĩa:

1 Chống lại tất cả các loại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về phạm trù vật chất

2 Đấu tranh khắc phục triệt để tính chất trực quan, siêu hình, máy móc

và những biến tướng của nó trong quan niệm về vật chất của các nhà triết học tư sản hiện đại Do đó, định nghĩa này cũng đã giải quyết được

sự khủng hoảng trong quan điểm về vật chất của các nhà triết học và khoa học theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình

3 Khẳng định thế giới vật chất khách quan là vô cùng, vô tận, luôn vận động và phát triển không ngừng, nên đã có tác động cổ vũ, động viên các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất, tìm ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới và những quy, luật vận động của vật chất

để làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại

Trang 20

ý nghĩa phương pháp luận: Định nghĩa vật chất của Lê nin có ý nghĩa

quan trọng đốí với sự phát triển của CN duy vật và nhận thức khoa học:

+ Khẳng định bản chất của thế gới là vật chất, vật chất có trước,

ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức, ý thức chỉ là sự phản ánh, chỉ

là sản phẩm của vật chất đồng thời định nghĩa cũng khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới, có khả năng chụp lại, chép lại, phản ảnh thế giới vc

+ Định nghĩa vật chất đã bác bỏ quan điểm xuyên tạc của CN duy tâm về CN duy vật và khẳng định bản chất của CN duy vật luôn được "khẳng định và tồn tại", cơ sở nền tảng của CN duy vật vẫn tiếp tụcphát triển và nó cũng bác bỏ các quan niệm trước đây về vật chất, góp phần mở đường cho các KH tự nhiên trong việc tìm ra các hình thức mớicủa vật chất để chứng minh cho sự phong phú của cấu trúc vật chất Vì vậy nó cung cấp thế giới quan, phương pháp luận cho hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn

Câu 6 Anh/chị hãy phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất

và ý thức Từ đó đánh giá về mối quan hệ khách quan và chủ quan trong giải quyết các vấn đề thực tiễn của nước ta hiện nay.

Đinh nghĩa:- Vật chất: Vật chất, theo Lênin “là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác,được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh lại, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Vật chất tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động để thể hiện sự tồn tại của mình.Không thể có vật chất không vận động và không có vận động ở ngoài vật chất.Đồng thời vật chất vận động trong không gian và thời gian.Không gian và thời gian

là hình thức tồn tại của vật chất,là thuộc tính chung vốn có của các dạng vật chất cụ thể - Ý thức: Ý thức lẩn phẩm của quá trình phát triển của tựnhiên và lịch sử - xã hội.Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của

Trang 21

thế giới khách quan,là sự phản ánh tích cực,tự giác,chủ động,sáng tạo thế giới khách quan và bộ não người thông qua hoạt động thực

tiễn.Chính vì vậy,không thể xem xét hai phạm trù này tách rời,cứng nhác, càng không thể coi ý thức (bao gồm cảm xúc,ý chí,tri thức,….) là cái có trước ,cái sinh ra và quyết định sự tồn tại ,phát triển của thế giới vật chất.b) Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:- Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức.Vật chất là cái có

trước,nó sinh ra và quyết định ý thức: Nguồn gốc của ý thức chính là vậtchất : bộ não ngưòi – cơ quan phản ánh thế giơí xung quanh,sự tác động của thế giới vật chất vào bộ não ngưòi,tạo thành nguồn gốc tự nhiên Lao động và ngôn ngữ(tiếng nói,chữ viết )trong hoạt động thực tiễn cùng với nguồn gốc tự nhiên quyết định sự hình thành,tồn tại và phát triển của ý thức Mặt khác,ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Vật chất là đối tượng,khách thể của ý thức,nó quy định nội dung,hình thức,khả năng và quá trình vận động của ý thức -Tác động trở lại của ý thức Ý thức do vật chất sinh ra và quy định,nhưng ý thức lại

có tính độc lập tương đối của nó.Hơn nữa,sự phản ánh của ý thức đối vớivật chất là sự phản ánh tinh thần,phản ánh sáng tạo và chủ động chứ không thụ động,máy móc,nguyên si thế giới vật chất,vì vậy nó có tác động trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Dựa trên các tri thức về quy luật khách quan,con người đề ra mục

tiêu,phương hướng,xác định phương pháp,dùng ý chí để thực hiện mục tiêu ấy.Vì vậy,ý thức tác động đến vật chất theo hai hướng chủ yếu :Nếu

ý thức phản ánh đúng đắn điều kiện vật chất,hoàn cảnh khách quan thì sẽthúc đẩy tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng vật chất.Ngược lại,nếu ý thức phản ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con người không phù hợp với quy luật khách quan,do đó:sẽ kìm hãm sự pháttriển của vật chất Tuy vậy,sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với một mức độ nhất định chứ nó không thể sinh ra hoặc tiêu diệt cácquy luật vận động của vật chất được.Và suy cho cùng,dù ở mức độ nào

Trang 22

nó vẫn phải dựa trên cơ sở sự phản ánh thế giới vật chất Biểu hiện ở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội,trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội,đồng thời ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và tác độngtrở lại tồn tại xã hội Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn

là cơ sở để nghiên cứu,xem xét các mối quan hệ khác như: lý luận và thực tiễn,khách thể và chủ thể,vấn đề chân lý …

* Đánh giá về mối quan hệ khách quan và chủ quan trong giải quyết cácvấn đề thực tiễn của nước ta hiện nay

Câu 7 Anh/chị hãy phân tích nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận và vận dụng trong thực tiễn địa phương.

a Nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

- Đối lập với quan điểm biện chứng, quan điểm siêu hình coi sự tồn tạicủa các sự vật và hiện tượng trong thế giới là những cái tách rời nhau,giữa chúng không có sự liên hệ tác động qua lại, không có sự chuyểnhóa lẫn nhau và nếu có chỉ là sự liên hệ mang tính chất ngẫu nhiên, giántiếp Ngược lại, phép biện chứng duy vật cho rằng, sự tồn tại của các sựvật, hiện tượng của thế giới không phải là sự tồn tại tách rời và cô lậplẫn nhau, mà chúng là một thể thống nhất Trong thể thống nhất

đó những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc và phụ thuộc, qui định lẫn nhau, chuyển hoá cho nhau.

Ví dụ: tự nhiên theo nghĩa rộng, là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại kháchquan Xã hội chỉ là một bộ phận đặc thù của giới tự nhiên Sự xuất hiện,tồn tại, vận động và phát triển của xã hội một mặt, phụ thuộc vào các quiluật tự nhiên, nhưng mặt khác còn phụ thuộc vào những qui luật xã hội,trong đó con người là chủ thể của lịch sử xã hội Do đó, xã hội không thể

là cái gì khác, mà chính là một bộ phận đặc thù, được tách ra hợp quiluật của tự nhiên, là hình thức tổ chức vật chất cao nhất của vật chấttrong quá trình tiến hoá liên tục, lâu dài của tự nhiên

Trang 23

- Tính chất của mối liên hệ: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú.

Tính khách quan của mối liên hệ là mối liên hệ của các sự vật, hiện

tượng trong thế giới, dù thể hiện dưới hình thức nào cũng cũng là sự quiđịnh, tác động và chuyển hoá lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng độc lập

và không phụ thuộc vào ý thức con người; con người chỉ có thể nhậnthức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn xã hội Vídụ: con người không thể tùy tiện lựa chọn chủ quan một hình thức xã hộinày hay một hình thức xã hội khác Với tư cách là chủ thể của lịch sửthông qua hoạt động thực tiễn của mình thì con người có thể nhận thức,vận dụng thành công các qui luật khách quan để khẳng định vai trò củacon người trong quá trình biến đổi hiện thực khách quan

Tính phổ biến của mối liên hệ là không có sự vật, hiện tượng nào của thế

giới tồn tại tuyệt đối biệt lập mà bao gồm những yếu tố cấu thành vớinhững mối liên hệ vốn có của sự vật, hiện tượng như một cấu trúc mangtính hệ thống và sự tương tác và biến đổi lẫn nhau trong tự nhiên, xã hội

và tư duy Những hình thức riêng biệt, cụ thể của mối liên hệ là đốitượng nghiên cứu của từng ngành khoa học cụ thể, còn phép biện chứngduy vật thì nghiên cứu những mối liên hệ phổ biến của tự nhiên xã hội

và tư duy Vì vậy, Ph.Ăngghen đã viết: “Phép biện chứng là khoa học vềmối liên hệ phổ biến”[1]

Tính đa dạng phong phú của mối liên hệ là các sự vật, hiện tượng đều có

những mối liên hệ cụ thể khác nhau gắn liền với những điều kiện kháchquan nhất định Căn cứ tính đa dạng phong phú của mối liên hệ có thểphân chia các mối liên hệ theo từng cặp như mối liên hệ bên trong vàbên ngoài, trực tiếp và gián tiếp, mối liên hệ cái chung và cái riêng, bảnchất và hiện tượng… Sự phân chia các cặp của các mối liên hệ cũngmang tính tương đối, vì mỗi loại mối liên hệ chỉ là một hình thức, một

bộ phận của mối liên hệ phổ biến và giữa chúng đều có khả năng chuyểnhoá cho nhau, tùy theo những điều kiện khách quan nhất định

b Ý nghĩa phương pháp luận

Nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến có ý nghĩa đối với hoạtđộng nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Cho nên, khinghiên cứu mối liên hệ phổ biến phải có quan điểm toàn điện, quan điểmlịch sử cụ thể

Trang 24

- Nguyên tắc (Quan điểm) toàn diện đòi hỏi chúng ta khi phân tích về sự

vật phải đặt nó trong mối quan hệ với sự vật khác Đồng thời, phảinghiên cứu tất cả những mặt, những yếu tố, những mối liên hệ vốn cócủa nó Qua đó để xác định được mối liên hệ bên trong, bản chất, quiluật của sự vật, hiện tượng Ví dụ: Cơ sở hạ tầng trong thời kỳ quá độ ởnước ta bao gồm các thành phần kinh tế, tức là các kiểu tổ chức kinh tế,các kiểu quan hệ sản xuất với các hình thức sở hữu khác nhau, thậm chíđối lập nhau, cũng tồn tại trong một nền kinh tế quốc dân thống nhất Đó

là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủnghĩa Có nghĩa là có sự thống nhất ở mức độ nhất định về mặt lợi ích,nhưng nó cũng tồn tại những mâu thuẫn nhất định…

- Nguyên tắc (Quan điểm lịch sử cụ thể) đòi hỏi khi nghiên cứu sự vật

phải thấy sự tồn tại vận động và phát triển của bản thân các sự vật vàhiện tượng là một quá trình có tính giai đoạn, tính lịch sử cụ thể Khiphân tích tính toàn diện về các mối liên hệ của sự vật phải đặt nó trongmối quan hệ cụ thể, với những điều kiện lịch sử cụ thể của các mối quan

hệ đó Ví dụ: Nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội,không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, không có nghĩa là xóa

bỏ các quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, mà chỉ phát triển sởhữu công cộng về tư liệu sản xuất Hiện nay trong điều kiện chuyển sangnền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nên việc duytrì và phát triển hình thức sở hũu tư nhân về tư liệu sản xuất là một yêucầu khách quan mang tính qui luật

Phê phán quan điểm siêu hình coi sự tồn tại của các sự vật và hiện tượng

trong thế giới là những cái tách rời nhau, giữa chúng không có sự liên hệtác động qua lại, không có sự chuyển hóa lẫn nhau và nếu có chỉ là sựliên hệ mang tính chất ngẫu nhiên, gián tiếp

* vận dụng trong thực tiễn địa phương.

Trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục…), mà trước hết là đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về CNXH Cụ thể, về xã hội: giải quyết tốt mối liên hệ giữa công nhân, nông dân và trí thức tạo thành mối liên hệ công nông trí thức

Trang 25

Về chính trị: đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới hệ thống, chức năng, tránh chồng chéo, tạo sự đồng bộ giữa đảng và nhà nước Về tư tưởng: với ba bộ phận chủ yếu: văn hóa, giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ Nó phải có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó giáo dục đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu.

Tuy nhiên không phải đổi mới tất cả các lĩnh vực ngay cùng một lúc (như thế sẽ không đủ lực để thực hiện) mà phải xác định đổi mới có trọng tâm, trọng điểm Trong đổi mới các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục… Đảng xác định đổi mới kinh tế là trước hết; đổi mới giáodục đào tạo, khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu trên cơ sở phát huy sức mạnh nội lực và tranh thủ ngoại lực

Một điều cần lưu ý nữa là trong cả nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phê phán quan điểm phiến diện, một chiều Đặc biệt, cần tích cực chống lại chủ nghĩa chiết trung (mục đích là kết hợp giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, hoặc ý định của bọn xét lại là muốn kết hợp chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán) Chủ nghĩa chiết trung không biết rút ra từ tổng số những mối liên hệ và quan hệ của thế giới khách quan thành những mối liên hệ chủ yếu, cơ bản của sự vật, hiện tượng trong tính lịch sử - cụ thể của nó và thuật ngụy biện (lập luận chủ quan, đánh tráo mối liên hệ không cơ bản, không quan trọng với mối liên hệ cơ bản, quan trọng )

Để xác định đúng đường lối, chủ trương của từng giai đoạn cách mạng, của từng thời kỳ xây dựng đất nước, bao giờ Đảng cũng phân tích tình hình cụ thể của đất nước và bối cảnh quốc tế diễn ra trong từng giai đoạn, thời kỳ và trong khi thực hiện đường lối, chủ trương, Đảng ta cũng

bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến của hoàn cảnh cụ thể

Đại hội Đảng lần VIII đã khẳng định: “Xét trên tổng thể, Đảng ta đã bắt

Trang 26

đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và chính sách đối nội, đối ngoại Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác”.

Đây là nguyên lý cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật, chúng ta phải chú trọng tất cả các mối liên hệ, đánh giá đúng vai trò mối liên hệ đang chi phối đối tượng Qua hoạt động thực tiễn, chúng ta sử dụng nhiều biện pháp, phương tiện thích hợp để thúc đẩy mối quan hệ đó pháttriển một cách tích cực

Câu 8 Anh /chị hãy phân tích các khái niệm: Thế giới quan, phương pháp luận Sau đó chỉ rõ liên hệ về quan hệ giữa ngành chuyên môn của mình với triết học.

Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó Thế giới quan đóng vai trò định hướng cho toàn bộ cuộc sống của con người, từ thực tiễn đến hoạt động nhận thức thế giới cũng như tự nhận thức bản thân để từ đó xác định lý tưởng, hệ giá lối sống, nếp sống của mình Như vậy, thế giới quan đúng đắn, khoa học là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực và trình độ phát triển của thế giới quan là một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá sự trưởng

thành của mỗi cánhân cũng như của mỗi cộng đồng xã hội

Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là hệ thống quan điểm, cácnguyên tắc chỉ đạo con người tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp trong nhận thức và thực tiễn Phương pháp luận có nhiều cấp độ; trong đó, phuơng pháp luận triết học là phương pháp luận chung nhất

Trang 27

Thế giới quan và phương pháp luận triết học là lý luận nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin: là sự kế thừa, phát triển tinh hoa chủu nghĩa duy vật

và phép biện chứng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại

+ Liên hệ về quan hệ giữa ngành chuyên môn của mình với triết học

Câu 9.Anh/ chị trình bày nội dung chủ yếu của triết học Phật giáo

và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam.

Tư tưởng triết học Phật giáo trên hai phương diện, về bản thể luận và nhân sinh quan, chứa đựng những tư tưởng duy vật và biện chứng chất phác

Phật giáo cho rằng các sự vật và hiện tượng trong vũ trụ ( chử pháp ) là

vô thuỷ, vô chung (vô cùng, vô tận) Tất cả thế giới đều ở quá trình biến đổi liên tục (vô thường ) không có một vị thần nào sáng tạo ra vạn vật

cả Tất cả các Pháp đều thuộc về một giới ( vạn vật đều nằm trong vũ trụ) gọi là Pháp giới Mỗi một pháp ( mỗi một sự việc hiện tượng, hay một lớp sự việc hiện tượng) đều ảnh hưởng đến toàn Pháp Như vậy các

sự vật, hiện tượng hay các quá trình của thế giới là luôn luôn tồn tại trong mối liên hệ, tác động qua lại và qui định lẫn nhau

Tác phẩm “ thanh dung thực luận” của kinh phật viết rằng: “ Có người

cố chấp là có Đại tự nhiên là bản thể chân thực bao khắp cả, lúc nào cũng thường định ra chư pháp và đạo Phật cho rằng toàn bộ chư pháp đều bị chi phối bởi luật nhân quả, biến hoá vô thường, không có cái bản ngã cố định, không có cái thực thể, không có hình thức nào tồn tại vĩnh viễn cả Tất cả đều theo luật nhân quả biến đổi không ngừng và chỉ có sựbiến hoá ấy là thường còn ( vĩnh viễn ) Cái nhân nhờ có cái duyên mới sinh ra được mà thành quả Quả lại nhờ có duyên mà thành nhân khác, nhân khác lại thành quả Quả lại nhờ có duyên mà thành nhân khác,

Trang 28

nhân khác lại nhờ có duyên mà thành quả mới … Cứ thế nối nhau vô cùng vô tận mà thế giới, vạn vật, muôn loài, cứ sinh sinh, hoá hoá mãi.Như vậy ngay từ đầu Phật giáo đã đặt ra mục đích giải quyết vấn đề cơ bản của Triết học một cách biện chứng và duy vật Phật giáo đã gạt bỏ vai trò sáng tạo thế giới của các “đấng tối cao” của “Thượng đế” và cho rằng bản thể của thế giới tồn tại khách quan và không do vị thần nào sáng tạo ra cả Cái bản thể ấy chính là sự thường hằng trong vận động của vũ trụ, là muôn ngàn hình thức của vạn vật trong vận động, nó có mặt trong vạn vật nhưng nó không dừng lại ở bất kỳ hình thức nào Nó muôn hình vạn trạng nhưng lại tuân hành nghiêm ngặt theo luật nhân quả.

Do qui luật nhân quả mà vạn vật ở trong quá trình biến đổi không

ngừng, thành, trụ, hoại, diệt ( sinh thành, biến đổi, tồn tại, tan rã và diệt vong) Quá trình đó phổ biến khắp vạn vật, trong vũ trụ, nó là phương thức thay đổi chất lượng của sự vật và hiện tượng

Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hoá vô thường của vạn vật,

đã xây dựng nền thuyết “ nhân duyên” trong thuyết “nhân duyên” có ba khái niệm chủ yếu là Nhân, Quả và Duyên

- Cái gì phát động ra ở vật gây ra một hay nhiều kết quả nào đó, được gọi là Nhân

- Cái gì tập lại từ Nhân được gọi là Quả

- Duyên: Là điều kiện, mối liên hệ, giúp Nhân tạo ra Quả Duyên không phải là một cái gì đó cụ thể, xác định mà nó là sự tương hợp, điều kiện

để giúp cho sự biến chuyển của vạn Pháp

Ví dụ hạt lúa là cái quả của cây lúa đã thành, mà lại là cái nhân của cây lúa sắp thành Lúa muốn thành cây lúa có bông lại phải nhờ có điều kiện

Trang 29

và những mối liên hệ thích hợp như đất, nước, không khí, ánh sáng Những yếu tố đó chính là Duyên.

Trong thế giới sinh vật, khi đã giải thích về nguyên nhân biến hoá vô thường của nó, từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện đại tới tương lại Phật giáo đã trình bày thuyết “ Thập Nhị Nhân Duyên” ( mười hai quan hệ nhân duyên) được coi là cơ sở của mọi biến đổi trong thế giới hiền sinh, một cách tất yếu của sự liên kết nghiệp quả

+ Vô minh: ( là cái không sáng suốt, mông muội, che lấp cái bản nhiên sáng tỏ)

+ Hành: ( là suy nghĩ mà hành động, do hành động mà tạo nên kết quả, tạo ra cái nghiệp, cái nếp Do hành động mà có thức ấy là hành làm quả cho vô minh và là nhân cho Thức)

+ Thức: ( Là ý thức là biết Do thức mà có Danh sắc, ấy là Thức làm quảcho hành và làm nhân cho Danh sắc)

+ Danh sắc: ( Là tên và hành ta đã biết tên ta là gì thì phải có hình và têncủa ta Do danh sắc mà có Lục xứ, ấy danh sắc làm quả cho thức và làm nhân cho Lục xứ)

+ Lục xứ hay lục nhập: ( Là sáu chỗ, sáu cảm giác: Mắt, mũi, lưỡi, tai, thân và tri thức Đã có hình hài có tên phải có Lục xứ để tiếp xúc với vạnvật Do Lục nhập mà có xúc – tiếp xúc ấy là Lục xứ làm quả cho Danh sắc và làm nhân cho Xúc.)

+ Xúc: ( Là tiếp xúc với ngoại cảnh qua sáu cơ quan xúc giác gây nên cmở rộng xúc, cảm giác Do xúc mà có thụ ấy là xúc làm quả cho Lục

xứ và làm nhân cho Thụ.)

+ Thụ: (Là tiếp thu, lĩnh nạp, những tác động bên ngoài tác động vào mình Do thụ mà có ái ấy là thụ làm quả cho Xúc và làm nhân cho ái.)

Trang 30

+ ái: (Là yêu, khát vọng, mong muốn, thích Do ái mà có Thủ Do ấy, ái làm quả cho Thụ và làm nhân cho Thủ.)

+ Thủ: ( Là lấy, chiếm đoạt cho minh Do thủ mà có Hữu Do vậy mà Thủ làm quả cho ái và làm nhân cho Hữu.)

+ Hữu: ( Là tồn tại, hiện hữu, ham, muốn, nên có dục gây thành cái

nghiệp Do Hữu mà có sinh, do đó Hữu là quả của Thủ và làm nhân của Sinh)

+ Sinh: ( Hiện hữu là ta sinh ra ở thế gian làm thần thánh, làm người, làm súc sinh Do sinh mà có Tử, ấy là sinh làm quả cho Hữu và làm nhân cho Tử)

+ Lão tử: ( Là già và chết, đã sinh ra là phải già yếu mà đã già là phải chết Nhưng chết – sống là hai mặt đối lập nhau không tách rời nhau Thể xác tan đi là hết nhưng linh hồn vẫn ở trong vòng vô minh Cho nên lại mang cái nghiệp rơi vào vòng luân hồi ( khổ não)

Thập nhị nhân duyên như nước chảy kế tiếp nhau không bao giờ cạn, không bao giờ ngừng, nên đạo Phật là Duyên Hà Các nhân duyên tự tập nhau lại mà sinh mãi mãi gọ là Duyên hà mãn Đoạn này do các duyên

mà làm quả cho đoạn trước, rồi lại do các duyên mà làm nhân cho đoạn sau Bởi 12 nhân Duyên mà vạn vật cứ sinh hoá vô thường

- Mối quan hệ Nhân – Duyên là mối quan hệ biện chứng trong không gian và thời gian giữa vạn vật Mối quan hệ đó bao trùm lên toàn bộ thế giới không tính đến cái lớn nhỏ, không tính đến sự giản đơn hay phức tạp Một hạt cát nhỏ được tạo thành trong mối quan hệ nhân quả của toàn vũ trụ Cả vũ trụ hoà hơp tạo nên nó Cũng như nó hoà hợp tạo nên

cả vũ trụ bao la Trong một có tất cả trong tất cả có một Do nhân Duyên

mà vạn vật sinh hay diệt Duyên hợp thì sinh, Duyên tan thì diệt

Trang 31

Vạn vât sinh hoá vô cùng là do ở các duyên tan hợp, hợp tan nối nhau

mà ra Nên vạn vật chỉ tồn tại ở dạng tương đối, trong dòng biến hoá vô tận vô thường vô thực thể, vô bản ngã, chỉ là hư ảo Chỉ có sự biến đổi

vô thường của vạn vật, vạn sự theo nhân duyên là thường còn không thay đổi

Do vậy toàn bộ thế giới đa dạng, phong phú, nhiều hình, nhiều vẻ cũng chỉ là dòng biến hoá hư ảo vô cùng, không có gì là thường định, là thực,

là không thực có sinh, có diệt, có người, có mình, có cảnh, có vật, có không gian, có thời gian Đó chính là cái chân lý cho ta thấy được cái chân thế tuyệt đối của vũ trụ Thấy được điều đó gọi là “ chân như” là đạt tới cõi hạnh phúc, cực lạc, không sinh, không diệt, niết bàn

Thế giới của chúng sinh (loài người) cũng do nhân duyên kết hợp mà thành Đó là sự kết hợp của hai thành phần: Phần sinh lý và phần tâm lý

- Cái tôi sinh lý tức là thể xác, hình chất với yếu tố “ sắc” ( địa, thuỷ, hoá, phong ) tức là cái cảm giác được

- Cái tôi tâm lý ( tinh thần ) linh hồn tức là “tâm” với 4 yếu tố chỉ có tên gọi mà không có hình chất gọi là “ Danh”

Trong “Sắc’ gồm những cái nhìn thấy được cũng như những thứ không nhìn thấy được nếu nó nằm trong quá trình biến đổi của “sắc” gọi là “vô biến sắc” như vật chất chuyển hoá thành năng lượng chẳng hạn

Bốn yếu tố do nhân duyên tạo thành phần tâm lý ( tinh thần ) của con người là:

+ Thụ: Những cảm giác, cảm thụ về khổ hay sướng, đưa đến sự xúc chạm lĩnh hội thân hay tâm

+ Tưởng: Suy nghĩ, tư tưởng

+ Hành: ý muốn thúc đẩy hành động

Trang 32

+ Thức: Nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lý ta là ta.

Hai thành phần tạo nên từ ngũ uẩn do Nhân – Duyên tạo thành mỗi sinh vật cụ thể có danh và có sắc Duyên hợp ngũ uẩn thì là ta Duyên tan ngũuẩn thì là diệt Quá trình hợp tan ngũ uẩn do Nhân – Duyên là vô cùng tận

- Các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn luôn biến hoá theo qui luật nhân hoá không ngừng không nghỉ, nên mọi sinh vật cũng chỉ là vụt mất, vụt còn Không có sự vật riêng biệt, cố định, không có cái tôi, cái tôi hôm qua không còn là cái tôi hôm nay Kinh Phật có đoạn viết “ Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc là không, không là sắc Thụ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế”

Như vậy thế giới là biến ảo vô thường, vô định Chỉ có những cái đó mới

là chân thực, vĩnh viễn, thường hằng Nếu không nhận thức được nó thì con người sẽ lầm tưởng ta tồn tại mãi mãi, cái gì cũng thường định, cái

gì cũng của ta Do đó, mà con người cứ khát ái, tham dục cứ mong muốn

và hành động chiếm đoạt tạo ra kết quả mà kết quả đó có thể tốt, có thể xấu gây nên nghiệp báo, rơi vào bể khổ triền miên không bao giờ dứt

Sở dĩ có nỗi khổ là do qui định của Luật nhân quả Vì thế mà ta không thấy được cái luật nhân bản của mình ( bản thể chân thực ) Khi đã mắc vào sự chi phối của Luật Nhân – Duyên, thì phải chịu nghiệp báo và kiếp luân hồi, luân chuyển tuần hoàn không ngừng, không dứt

Nghiệp và luân hồi không những chỉ là những khái niệm của Triết học Phật giáo mà có từ trong Upanishad

Nghiệp chữ phạn và Karma là cái do những hoạt động của ta, do hậu quảviệc làm của ta, do hành động của thân thể ta Được gọi là “ thân

nghiệp”, còn hậu quả của những lời nói của ta, phát ngôn của ta thì đượcgọi làg “ khẩu nghiệp” Hay những cái do ý nghĩ của ta, do tâm tue của

Trang 33

ta gây nên được gọi là ‘ý nghiệp” Tất cả những thân nghiệp, khẩu

nghiệp, ý nghiệp là do ta tham dục mà thành, do ta muốn thoả mãn tham vọng của mình gây nên Sở dĩ ta tham dục vì ta chưa hiểu đươc chân bảnvốn có của ta cũng như vạn vật là luôn luôn biến đổi không có gì là

Luân hồi: Chữ phạn là Samsara Có nghĩa là bánh xe quay tròn Đạo phật cho rằng, sau khi một thể xác sinh vật nào đó chết thì linh hồn sẽ tách ra khỏi thể xác và đầu thai vào một sinh vật khác nhập vào một thể xác khác (có thể là con người, loài vật thậm chí cỏ cây) Cứ thế mãi do kết quả, quả báo hành động của những kiếp trước gây ra Đó cũng là cách lý giải căn nguyên nỗi khổ ở đời con người

Sau khi lý giải được nỗi khổ ở cuộc đời con người là do “ thập nhị nhân duyên” làm cho con người rơi vào bể trầm luân Đạo Phật đã chủ

chương tìm con đường diệt khổ Con đường giải thoát đó không những đòi hỏi ta nhận thức được nó mà cao hơn ta phải hành động, phải thấm nhuần tứ diệu đế

Tứ diệu đế: Là bốn sự thật chắc chắn, bốn chân lý lớn, đòi hỏi chúng sinh phải thấu hiểu và thực hiện nó Tứ diệu đế gồm:

1 Khổ đế: Con người và vạn vật sinh ra là khổ, ốm đau là khổ, già yếu

là khổ, chết là khổ, ghét nhau mà phải sống gần nhau là khổ, yêu nhau

mà phải chia lìa nhau là khổ, mất là khổ mà được cũng là khổ …

Những nỗi khổ ấy từ đâu? chúng ta tiếp tục tìm hiểu Tập đế

Trang 34

2 Tập đế: Tập là tập hợp, tụ tập lại mà thành Vậy do những gì tụ tập lại

mà tạo ra nỗi khổ cho chúng sinh?

Đó là do con người có lòng tham, dâm (giận dữ ), si ( si mê, cuồng mê,

mê muội) và dục vọng Lòng tham và dục vọng của con người xâu xé là

do con người không nắm được nhân duyên Vốn như là một định luật chiphối toàn vũ trụ Chúng sinh khômg biết rằng mọi cái là ảo ảnh, sắc sắc, không không Cái tôi tưởng là có nhưng thực là không Vì không hiểu được ra nỗi khổ triền miên, từ đời này qua đời khác

3 Diệt đế: Là phải thấu hiểu được “ Thập nhị nhân duyên” để tìm ra được căn nguyên của sự khổ – để dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc rễ của cái khổ Thực chất là thoát khỏi nghiệp chướng, luân hồi, sinh tử

4 Đạo đế: Là con người ta phải theo đế diệt khổ, phải đào sâu suy nghĩ trong thế giới nội tâm ( thực nghiệm tâm linh ) Tuy luyện tâm trí, đặc biệt là thực hành YOGA để đạt tới cõi siêu phàm mà cao nhất là đạt tới cõi phận là đạt tới trình độ giác ngộ bát nhã Tới chừng đó sẽ thấy được chân như và thanh thản tuyệt đối, hết ham muốn, hết tham vọng tầm thường, tức là đạt tới cói “niết bàn” không sinh, không diệt

Thực hiện Đạo đế là một quá trình lâu dài, kiên trì, giữ nguyên giới luật tập trung thiên định cao độ Phật giáo đã trình bày 8 con đường hay 8 nguyên tắc ( Bát chính Đạo – buộc ta phải tuân thủ bát chính đạo gồm:

- Chính kiến: Phải nhận thức đúng, phân biệt được phải trái, không để cho những cái sai che lấp sự sáng suốt

- Chính tư duy: Suy nghĩ phải, phải chính, phải đúng đắn

- Chính nghiệp: Hành động phải chân chính, phải đúng đắn

- Chính ngữ: Nói phải đúng, không gian dối, không vu oan cho người khác

Trang 35

- Chính mệnh: Sống trung thực, không tham lam, vụ lợi, gian tà, không được bỏ điều nhân nghĩa.

- Chính tịnh tiến: Phải nỗ lực, siêng năng học tập, có ý thức vươn lên để đạt tới chân lý

- Chính niệm: Phải luôn luôn hướng về đạo lý chân chính, không nghĩ đến những điều bạo ngược gian ác

- Chính định: Kiên định tập trung tư tưởng vào con đường chính, không

bị thoái chí, lay chuyển trước mọi cán dỗ

Muốn thực hiện được “ Bát chính đạo” thì phải có phương pháp để thực hiện nhằm ngăn ngừa những điều gian ác gây thiệt hại cho mình và

những người làm điều thiện có lợi ích cho mình và cho người Nội dung của các phương pháp đó là thực hiện “ Ngũ giới” ( năm điều răn ) và

“Lục độ” (Sáu phép tu)

- “Ngũ giới” gồm:

+ Bất sát: Không sát sinh

+ Bất đạo: Không làm điều phi nghĩa

+ Bất dâm: Không dâm dục

+ Bất vọng ngữ: Không bịa đặt, không vu oan giáo hoạ cho kẻ khác, không nói dối

Trang 36

+ Nhẫn nhục: Phải biết kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng để làm chủ được mình.

+ Tịnh tiến: Cố gắng nỗ lực vươn lên

+ Thiền định: Tư tưởng phải tập trung vào điều ngay, chính không để cho cái xấu cho lấp

+ Bát nhã: Trí tuệ thấy rõ hết, hiểu thấu hết mọi chuyện trên thế gian.Tóm lại: Phật giáo cho rằng chỉ có bằng sự kiên định để thực hiện “Bát hành đạo”, “Ngũ giới”, “Lục độ” thì chúng sinh mới có thể giải thoát mình ra khỏi nỗi khổ Phật giáo không chủ trương giải phóng bằng cách mạng xã hội Mặc dù Phật giáo lên án rất gay gắt chế độ người bóc lột người, chống lại chủ nghĩa duy tâm cua Bàlamôn giáo Đó là một trong những nhược điểm đồng thời cũng là ưu điểm nửa vời của Đạo phật Đứng trước bể khổ của chúng sinh Phật giáo chủ trương cải tạo tâm linh chứ không phải cải tạo thế giới hiện thực Như vậy Phật giáo nguyên thuỷ có tư tưởng vô thần, phủ nhận đấng sáng tạo ( vô ngã, vô tạo giả)

và có tư tưởng biện chứng ( vô thường, lý thuyết Duyên khởi ) Tuy nhiên, Triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủ quan khi coi thế giới hiện thực là ảo giả và do cái tâm vô minh của con người tạo ra

 2.1 Sự du nhập và quá trình phát triển của Phật giáo vào Việt Nam

Theo chân các nhà buôn, nhà truyền giáo Ấn Độ, Phật giáo vào nước ta vào khoảng thế kỷ thứ I và thứ II sau công nguyên Sau đó, nối gót

người Ấn Độ các nhà Phật giáo Bắc tông vào Rồi những người tìm đường sang Trung Quốc, Ấn Độ học Phật trở về cũng tiếp tục truyền bá Phật giáo Bằng những con đường khác nhau đó, Phật giáo, một tôn giáochung của nhiều nước Nam Á và Đông Nam Á lúc bấy giờ cũng tìm được chỗ đứng ở Việt Nam Nhưng Phật giáo có nguồn gốc ở xã hội Ấn

Trang 37

Độ cổ đại vốn mang trong mình những đặc điểm của tư tưởng và tôn giáo, của con người và xã hội của quá khứ và hiên tại Ấn Độ lúc bấy giờ Có những điều không phù hợp với con người và xã hội Việt Nam đương thời Vì vậy để phát triển được ở Việt Nam, Phật giáo phải trải qua một quá trình thích nghi: Giai đoạn đầu của thời kỳ truyền bá Phật giáo vấp phải sự phản ứng của các tín ngưỡng cổ truyền của

người Việt Nam, của tục thờ phụng tổ tiên, của lệ cúng bái thổ công và các thói quen thờ cúng Người Việt Nam mang các tín ngưỡng trên không khỏi ngỡ ngàng trước Phật giáo Họ đã xa lánh, thậm trí chê bai,

đả kích Thời kỳ sau của sự truyền bá, lúc Phật giáo đã làm quen với dântộc nó vẫn còn liên tục bị sự mổ xẻ của một số người Người ta đã đặt nótrên bình diện chính trị - xã hội để khảo nghiệm và thấy rằng ở Phật giáo có những điều không thích hợp Do đó, nhiều người Việt Nam

trong những thời kỳ khác nhau đã phê phán, kỳ thị Phật giáo như : Đàm

Mĩ Mông (thế kỷ XII); Lê Quát, Trương Hán Siêu (thế kỷ XIV); Bùi Huy Bích, Phạm Nguyễn Du (thế kỷ XVIII); Phạm Quý Thích (thế

kỷ XIX) đều xem Phật giáo là điều có hại cho xã hội Nhưng ở một phía khác, trên phương diện tín ngưỡng, người Việt Nam xưa lại tìm đếnPhật giáo Dần dần, họ đi đến tôn sùng và đề cao nó Các vua Lý, vua Trần từ các thế kỷ XI đến XIV đều đề cao Phật giáo Thời Lê, thời

Nguyễn tuy tôn sùng Nho, nhưng vẫn để cho Phật giáo lưu hành Lê Sát,

Lê Ngân là những đại thần thời Lê sở và những hoàng thân, quốc thích thời Nguyễn trong nhà đều có chùa thờ Phật Thậm chí Trương Hán Siêutrước chống Phật giáo sau lại theo Phật giáo Còn quần chúng nhân dân thì lẳng lặng đi theo Phật giáo Hai khuynh hướng phủ nhận và thừa nhận trên đã đan xen nhau, kế tiếp nhau trong lịch sử Nhưng khuynh hướng thừa nhận mạnh hơn khuynh hướng phủ nhận và là khuynh

hướng chung của lịch sử, làm cho Phật giáo trở thành một tôn giáo và là một hiện tượng triết học lâu dài của dân tộc Trở thành một hiện tượng

đó, rõ ràng không phải là sự áp đặt, cũng không phải là sự lầm lỡ nhất thời, mà như là một sự tất yếu, một hiện tượng có tính quy luật, không thể khác trong hoàn cảnh lúc bấy giờ Tính tất yếu trên ít nhiều đã có người đề cập Một số người có kiến thức lịch sử lại có quan điểm hiện thực chủ nghĩa, không thể không công khai thừa nhận sự tồn tại hiển nhiên của Phật giáo Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích thế kỷ

Trang 38

XVIII đều thừa nhận một số yếu tố của Phật giáo Thậm chí Lê Quý Đôncòn cho rằng chê bai tiên Phật là thái độ "hẹp hòi"

2.2 Ảnh hưởng về mặt chính trị xã hội

Kể từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị xã hội nước ta Từ thời xax xưa, người ta đã nhấn mạnh vai trò chính trị của các nhà sư thời Lý, Trần…, nhấn mạnh các hoạt động chính trị xã hội trong một số hoạt động của phật tử hiện đại Đạo Phật là tôn giáo thịnh đạt nhất trong xã hội thời Lý Trần được coi như một quốcgiáo Thời Lý Trần có rất nhiều nhà sư nổi tiếng trong cả nước, có uy tín và địa vị chính trị xã hội Có thể kể đến các nhà sư Vạn Hạnh, Mãn Giác, Viên Thông, Minh Không, GiácHải, Pháp Loa, Huyền Quang Nhà nước Lý ,Trần tôn chuộng đạo Phật, trong bối cảnh của sự khoan dung, hoà hợp tôn giáo “Tam giáo đồng nguyên”, chủ yếu là sự kết hợp giữa Phật Giáo và Nho giáo, giữa giáo lý và thực tiễn đời sống Đạo Phật thời Lý Trần đã ảnh hưởng đến đường lối cai trị của nhà nước,

là đối trọng tư tưởng của Nho giáo Như vậy, rõ ràng rằng, Phật giáo đã đào tạo ra một tầng lớp trí thức mang tư tưởng yêu nước, ủng hộ cho nềnđộc lập của dân tộc và ủng hộ cho n hà nước phong kiến Trong khi đó, cùng với s ự du n hập của chữ Há n, Nh o giáo đã đào tạo ra một tầng lớp trí thức để làm quan cho chính quyền đô hộ Ngày nay các nhà sư giữ chức vụ cao trong giáo hội cũng tham gia vào hoạt động chính trị càng cho thấy sự ảnh hưởng rõ nét của Phật giáo đến các hoạt động

chính trị xã hội

2.3 Ảnh hưởng về mặt tư tưởng

Phật giáo ảnh hưởng đến tư tưởng người dân Việt rõ nhất qua hai thuyết Nghiệp báo và luân hồi Thông qua hai thuyết này, Phật giáo hướng con người đến cái thiện, từ bỏ điều ác Tư tưởng gieo nhân nào sẽ gặp quả ấy

từ đó tồn tại một cách âm thầm trong suy nghĩ, lối sống của người Việt

Trang 39

lúc nào không hay, thậm chí trẻ con chín, mười tuổi cũng biết câu “ác giả ác báo” Từ đó, con người tự nhiên biết mình phải sửa chữa tính ác,

tu tập tính thiện Rồi khi tai ương ập đến thì họ lại cho rằng kiếp trước mình đã làm ác nên mới gặp khổ nạn kiếp này Không than trời trách đất

mà cố gắng sống thiện để chuyển hóa nghiệp trên

“Cho hay muôn sự tại trời

Trời kia đã bắt làm người có thân”

“Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao ”

(Truyện Kiều_Nguyễn Du)

Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng người Việt Nam, khuyên răng con người tránh xa cái ác để có được cuộc sống yên vui cho hiện tại

và mai sau

2.4 Ảnh hưởng về mặt đạo lý

Phật giáo ảnh hưởng về mặt đạo lý của người Việt đó là giáo lý từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh Từ xa xưa, Nguyễn trãi đã biết:

Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Trang 40

(Bình ngô đại cáo_Nguyễn Trãi)

Và khi đại thắng quân Minh xâm lược, chẳng những ta không giết hại

mà còn cấp thuyền

bè, lương thực để họ về nước

Thần vũ chẳng giết hại

Thuận lòng trời ta mở đất hiếu sinh

(Bình ngô đại cáo_Nguyễn Trãi)

Tinh thần thương người của Phật giáo cũng ảnh hưởng rất sâu sắc trong lối sống người

Việt Nam

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước thì thương nhau cùng

Ngoài từ bi, người Việt còn chịu ảnh hưởng bởi đạo lý Tứ ân của Phật giáo Tứ ân bao gồm: ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sanh Trong đó, ân cha mẹ được đề cao trên hết Phật giáo rất coi trọng hiếu đạo Phật dạy: "muôn việc ở thế gian, không gì hơn công ơn nuôi dưỡng lớn lao của cha mẹ" (Kinh Thai Cốt) hay kinh Nhẫn Nhục dạy:

"cùng tốt điều thiện không gì hơn hiếu, cùng tốt điều ác không gì hơn

Ngày đăng: 11/01/2018, 14:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w