1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2 TLV 2

31 144 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 266,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, còn có một số khó khăn khách quannhư điều kiện hoàn cảnh sống của học sinh ở địa bàn dân cư đa phần cha làmnghề biển, mẹ ở nhà nội trợ chăm lo hết mọi việc trong gia đình ít

Trang 1

1 Cơ sở đề xuất giải pháp:

1.1 Sự cần thiết hình thành giải pháp:

Giáo dục có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển củamột dân tộc cũng như toàn thể nhân loại Giáo dục tác động đến cấu trúc xã hội,đến các bộ phận đồng thời giáo dục là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xãhội Vì thế từ trước đến nay Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến công tácgiáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu để xây dựng và phát triển đất nước

Đất nước ta đã bước vào thời kì đổi mới với quyết tâm công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu “ Dân giàu nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ văn minh” Để thực hiện được điều đó đòi hỏi mỗichúng ta phải có một nguồn lực, vừa có tài, vừa có đức, vừa có tri thức cuộcsống Nơi tạo ra những nền móng vững chắc cho quá trình học tập của mỗi conngười chính là trường Tiểu học Muốn vậy đòi hỏi nhà trường phải không ngừngnâng cao chất lượng dạy và học Việc nâng cao chất lượng dạy học trong cácnhà truờng nói chung và trường Tiểu học nói riêng là vấn đề trọng tâm của hoạtđộng giáo dục trong nhà trường Vì đây là cấp học nền móng: “Giáo dục Tiểuhọc là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng

và phát triển tình cảm, đạo đức, trí đức, thẩm mĩ và thể chất cho trẻ em nhằmhình thành cho học sinh nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” Trong các mặt giáo dục ở Tiểu học thì Tiếng Việt là công cụ giúp các emgiao tiếp, nhận biết được vốn kiến thức của nhân loại thành trí thức của riêngmình Thông qua Tiếng Việt giúp các em nhận thức được các môn học khác.Chẳng hạn, muốn giải một bài toán thì điều đầu tiên là các em phải đọc đầu bàisau đó bằng tư duy sự hiểu biết về môn học, các em trình bày bài giải qua nói,viết, giúp cho người khác hiểu được bài làm của mình Trong trường Tiểu học,môn Tiếng Việt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với học sinh bởi nó là mônhọc cung cấp cho các em những kiến thức cần thiết trong giao tiếp hàng ngày

Nó giúp các em phát triển toàn diện, hình thành ở các em những cơ sở của thếgiới khoa học, góp phần rèn luyện trí thông minh, hình thành tình cảm, thói quenđạo đức tốt đẹp của con người mới Dạy học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ

Trang 2

Dạy học Tiếng Việt giúp các em hình thành 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc,viết Phân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt hội tụ đủ cả 4 kĩ năng trên.

Nó là phân môn tổng hợp toàn bộ kiến thức đã học ở trong tuần từ các phânmôn: Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu Đối với họcsinh lớp 2 thì đây là một phân môn khó Bởi ở lứa tuổi của các em, vốn kiếnthức và hiểu biết còn hạn hẹp Bên cạnh đó, còn có một số khó khăn khách quannhư điều kiện hoàn cảnh sống của học sinh ở địa bàn dân cư đa phần cha làmnghề biển, mẹ ở nhà nội trợ chăm lo hết mọi việc trong gia đình ít có thời gianquan tâm đến các em, việc diễn đạt ngôn ngữ cỏn hạn chế nhiều, việc tiếp thukiến thức khá chậm, học sinh nghèo vốn từ ngữ,… Điều này ảnh hưởng đến việchọc tập nói chung, học phân môn Tập làm văn nói riêng Với mục tiêu rèn họcsinh ở cả bốn kỹ năng nghe, đọc, nói, viết trong đó kĩ năng viết “một đoạnvăn ngắn" là yêu cầu cơ bản khá trọng tâm ở phân môn Tập làm văn lớp 2.Đây là sự cần thiết mà tôi chọn và viết Sáng kiến kinh nghiệm với nội dung: “

Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng viết đoạn văn ngắn cho học sinh lớp 2” nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy - học phân môn Tập làm văn lớp

2

2.2 Tổng quan các vấn đề liên quan đến giải pháp:

Nghiên cứu chương trình SGK, tài liệu tham khảo để nắm được nội dung,

mức độ yêu cầu của môn Tập làm văn

Nghiên cứu phương pháp dạy viết đoạn văn ngắn nhằm phát huy tính tíchcực nhận thức của học sinh

Tìm hiểu thực tế để đánh giá tình hình viết văn của học sinh, tìm hiểu

nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh gặp khó khăn khi học phân môn Tậplàm văn

Từ những lý luận và kinh nghiệm thực tế để đưa ra các biện pháp giúphọc sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn

Dạy thử nghiệm theo biện pháp đã đề xuất

2.3 Mục tiêu của giải pháp:

Trang 3

Đề tài góp phần khắc phục được hạn chế về cách viết một đoạn văn ngắn với

câu văn cộc lốc, không đúng ngữ pháp, hay câu văn không rõ ràng, sự sắp xếp các câuvăn không lôgíc Qua đó bồi dưỡng lòng say mê yêu thích con người, cảnh vật xungquanh các em

Góp phần vào đổi mới cách dạy tiếng Việt, giúp học sinh có kĩ năng viết

đoạn văn ngắn trong phân môn Tập làm văn lớp 2 theo hướng phát huy tính cực,chủ động, sáng tạo của học sinh

Từ cách đổi mới phương pháp dạy của thầy góp phần đổi mới cách học củatrò Phát huy hết khả năng tự phát hiện của học sinh thông qua cách tổ chức câu,

ý sao cho lôgíc, cách sử dụng từ chính xác và hay khi viết

2.4 Các căn cứ đề xuất giải pháp:

Quá trình dạy học là một quá trình tư duy sáng tạo - người giáo viên là một

kĩ sư của tâm hồn, hơn nữa còn là một nhà nghệ thuật Và việc dạy học ngày nayluôn dựa trên cơ sở phát huy tính tích cực chủ động của học sinh Chính vì thế,

nó đòi hỏi người giáo viên phải luôn có sự sáng tạo, tự cải tiến phương pháp dạyhọc của mình nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học Mỗi môn học ở Tiểuhọc đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, cung cấp cho trẻnhững kiến thức cần thiết

Phân môn Tập làm văn ở Tiểu học có nhiệm vụ rất quan trọng là rèn kĩnăng nói và viết Thế nhưng hiện nay, đa số các em học sinh lớp 2 đều rất sợ họcphân môn Tập làm văn vì không biết nói gì? Viết gì? Ngay cả bản thân giáo viênđôi khi cũng không tự tin lắm khi dạy phân môn này so với các môn học khác Trong chương trình Tập làm văn lớp 2, ngay từ đầu năm học, các em đượclàm quen với đoạn văn và được rèn kĩ năng viết đoạn văn từ 3 đến 5 câu Tôi dựgiờ thăm hỏi một số lớp, tôi nhận thấy các em còn lúng túng, nhiều học sinh làmbài chưa đạt yêu cầu Các em thường lặp lại câu đã viết, dùng từ sai, cách chấmcâu còn hạn chế có em viết không đúng yêu cầu của đề bài hoặc có những bàilàm đảm bảo về số câu nhưng viết không đủ ý Việc dạy cho học sinh viết đoạnvăn chính là quá trình giáo viên khơi dậy sự hiểu biết và cảm nhận của các em

về người, vật và cuộc sống xung quanh Điều đó đòi hỏi giáo viên dạy cho học

Trang 4

sinh có cách tổ chức, sắp xếp câu, ý sao cho lôgic, cách sử dụng từ chính xác vàhay khi viết Song thực tế chỉ ra rằng một số học sinh lớp 2 khó nhận thức đượcviệc sắp xếp ý (cảm nhận của mình) theo trật tự đúng Vốn sống của các em cònhạn chế, do đó khi diễn đạt học sinh gặp rất nhiều khó khăn Sự sắp xếp tổ chứccâu trong đoạn còn rời rạc Các câu độc lập về nội dung chưa có sự liên kết và

viên đứng lớp nhiều năm, tôi rất băn khoăn và trăn trở: Làm thế nào để giúp các

em thực hiện được mục tiêu đã đề ra? Bản thân tôi luôn cố gắng để tìm ra nhữngbiện pháp nâng cao chất lượng học tập cho học sinh

2.5 Phương pháp thực hiện:

2.5.1 Phương pháp điều tra:

Mục đích để tìm hiểu các phương pháp dạy học của giáo viên; tìm hiểutính tích cực nhận thức của học sinh

Với khuôn khổ của một Sáng kiến kinh nghiệm, tôi nghiên cứu vấn đề:

“Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng viết đoạn văn ngắn cho học sinh lớp 2 ”, trong đó làm sáng tỏ một số vấn đề nghiên cứu về việc dạy - học phân

môn Tập làm văn lớp 2 Qua đó đưa ra một số biện pháp giúp học sinh lớp 2

Trang 5

viết đoạn văn ngắn được tốt hơn Kinh nghiệm này có thể áp dụng cho việc dạyviết đoạn văn cho học sinh lớp 2 nói riêng ở Trường Tiểu học Phước Hải 3.

2 Quá trình hình thành và nội dung giải pháp:

2.1 Quá trình hình thành giải pháp:

2.1.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh:

Học sinh Tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 2, các em vừa chuyển hoạt độngchủ đạo từ vui chơi sang học tập Các em hiếu động, ham chơi, sự tập trung chohọc tập và chú ý chưa cao Tư duy của các em nặng về trực quan cụ thể, tư duytrừu tượng chưa phát triển Do đó, khi tổ chức dạy học, giáo viên phải linh hoạtsáng tạo thì mới có hiệu quả

2.1.2 Đặc điểm về chương trình, sách giáo khoa:

Như chúng ta đã biết, ở lớp 1 học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độ tập nóihoặc viết câu có nội dung theo chủ đề bài học hoặc tìm tiếng nói có âm vần vừahọc Các em được ghép tiếng và nói những câu đơn giản, riêng lẻ có nội dunggần gũi với cuộc sống của các em hoặc ở các bài tập đọc Đến lớp 2 các em đãphải viết đoạn từ 1 đến 3 câu rồi cao hơn từ 4 đến 5 câu kể về một sự việc đơngiản mình cũng chứng kiến (tham gia) hoặc tả sơ lược về người, vật xung quanhcác em Ở học kỳ I, chủ yếu các em được viết đoạn từ 3 đến 5 câu kể về ngườithân như: Cô giáo, ông, bà, anh, chị, em và rộng hơn là toàn thể gia đình Songđến học kỳ II các em được viết đoạn tả con vật (chim ), tả cảnh (biển), tả câycối, tả người (ảnh Bác Hồ) Tuần 34 và 35 học sinh được kể về những việc làm

mà bản thân chứng kiến hoặc tham gia …

Xen kẽ giữa các bài tập có yêu cầu kể (tả) nói trên có 2 dạng bài kể (tả) convật được viết đầy đủ song sáo trộn trật tự câu nhằm mục đích củng cố về liên kếtcâu, gắn kết ý …

Mở đầu ngay ở tuần 1, sách giáo khoa đã giới thiệu cách kể theo nội dungtranh sau đó viết thành đoạn Đây chính là hình thức giúp học sinh vận dụng linhhoạt kỹ năng vốn hiểu biết khi học phân môn kể chuyện vào viết đoạn văn ngắn

2.1.3 Vị trí, nhiệm vụ, nội dung của phân môn tập làm văn lớp 2:

* Vị trí:

Trang 6

Ở tiểu học nhất là lớp 2, Tập làm văn là một trong những phân môn có tầmquan trong đặc biệt ( ở lớp 1 các em chưa được học, lên lớp 2 học sinh mới bắtđầu được học, được làm quen ) Môn tập làm văn giúp học sinh có kỹ năng sửdụng Tiếng Việt được phát triển từ thấp đến cao, từ luyện đọc cho đến luyện nói,luyện viết thành bài văn theo suy nghĩ của từng cá nhân Tập cho các em ngay từnhỏ có những hiểu biết sơ đẳng đó cũng là rèn cho các em tính tự lập, tự trọng.Con người văn hóa sẽ hình thành từ các em từ những việc nhỏ nhặt, tưởng nhưkhông quan trọng đó

* Nhiệm vụ:

Làm văn có nghĩa là tạo lập văn bản Nhiệm vụ chính của phân môn Tậplàm văn là rèn luyện cho học sinh kỹ năng tạo lập văn bản Ở đây thuật ngữ “văn bản” được dùng để chỉ sản phẩm hoàn chỉnh của lời nói trong một hoàncảnh giao tiếp cụ thể Đó không nhất thiết là một bài văn gồm nhiều câu; nhiềuđoạn; cũng không nhất thiết phải ở dạng viết; càng không phải chỉ là loại văn kểchuyện hay miêu tả theo phong cách nghệ thuật Trong hoàn cảnh giao tiếp cụthể, sản phẩm lời nói mà một người tạo lập được có thể chỉ là một câu chào, mộtlời cảm ơn hay một vài dòng thăm hỏi, chúc mừng trên tấm thiếp… Đối với lớp

2, dạy Tập làm văn là trước hết là rèn luyện cho học sinh kỹ năng phục vụ họctập và giao tiếp hàng ngày, cụ thể là:

Dạy các nghi thức lời nói tối thiểu, như: chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi,yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành, Dạy một số kỹ năng phục vụ học tập

và đời sống, như :khai bản tự thuật ngắn, viết những bức thư ngắn, nhận và gọiđiện thoại, đọc và lập danh sanh sách học sinh, Cuối cùng cũng như các phânmôn và môn học khác, phân môn Tập làm văn, thông qua nội dung dạy học củamình, có nhiệm vụ trao dồi cho học sinh thái độ ứng xử có văn hóa, tinh thầntrách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh cho các em

* Nội dung:

Cũng như nội dung các bài học về Tập làm văn ở lớp 2 giúp các em thựchành rèn luyện các kỹ năng nói, viết, nghe phục vụ cho học tập và giao tiếp hàngngày, cụ thể là:

Trang 7

Thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu : chào hỏi, tự giới thiệu, cảm

ơn, xin lỗi,…

Thực hành về kỹ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày, như : viết bản

tự thuật ngắn, lặp danh sách học sinh, tra mục lục sách, Thực hành rèn kỹ năngdiễn đạt ( nói, viết ), như : kể về người thân, tả biển, tả cây cối, … Thực hànhrèn kỹ năng nghe

Với cách biên soạn này, giờ dạy Tập làm văn trở nên linh hoạt hơn, gắn với cuộcsống đời thường hơn và giúp học sinh hứng thú trong học tập

2.1.4 Về kiến thức trong sách giáo khoa:

Nói chung kiến thức trong sách giáo khoa được sắp xếp một cách hợp lí,lôgic đi từ đơn giản đến phức tạp, từ cách nhìn thực tế đến sự vận dụng vốnsống, vốn hiểu biết để viết đoạn văn Học sinh được dạy các kĩ năng kể (tả) đơngiản Song không phải kể lại hoặc tả lại câu chuyện cảnh vật theo nội dung bàitập đọc dựa vào lời kể (tả) của tác giả mà các em được kể (tả) những gì có vàdiễn ra trong cuộc sống xung quanh Điều này đã phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo của học sinh trong kĩ năng viết đoạn văn Do đó, ta có thể khẳngđịnh rằng: “ Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 đặc biệt chú trọng tới rèn kĩ năng viếtđoạn văn cho học sinh.”

2.1.5 Về những phát sinh, hạn chế khi viết đoạn văn:

Tất cả chứng ta điều biết các em học sinh lớp 2 vốn sống còn ít, vốn hiểubiết về Tiếng Việt còn rất sơ sài, chưa định rõ trong giao tiếp, viết văn câu còncụt lủn Hoặc câu có thể có đủ ý nhưng chưa có hình ảnh Các từ ngữ được dùng

về nghĩa còn chưa rõ ràng Việc trình bày, diễn đạt ý của các em có mức độ rất

sơ lược, đặc biệt là khả năng miêu tả

Học sinh có hứng thú trong giờ Tập làm văn song chủ yếu tập trung vào

các bài tập làm miệng với các yêu cầu nói lời cảm ơn, xin lỗi, đáp lại lời khẳngđịnh, phủ định… Học sinh thích thú nói về các con vật, người, quang cảnh vànhững gì diễn ra xung quanh Song vốn từ các em còn chưa nhiều, kỹ năng diễnđạt bằng ngôn ngữ viết của học sinh còn hạn chế nên đôi khi các em chưa nhận

ra được sự khác biệt giữa các ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

Trang 8

Ví dụ: Khi học bài tập làm văn tuần 10: Dựa theo lời kể bài 1 hãy viết

một đoạn văn ngắn (từ 3 đến 5 câu) kể về ông, bà hoặc người thân của em

Bài viết của học sinh :" Bà em đã lên 65 tuổi rồi Da mịn màng Tóc dàióng ả Bà cho em ăn bánh Bà rủ em đi chợ sau đó hai bà cháu lại đi chơi."

Học sinh thường viết theo ý hiểu bằng ngôn ngữ của mình cho nên câu vănchưa giàu hình ảnh, dùng từ chưa phù hợp

Ví dụ: Cũng viết đoạn văn ngắn kể về ông, bà hoặc người thân ở bài tập

làm văn nói trên có một học sinh viết: " Ông đã già, 70 tuổi Nghề là thợ xây Hômnào ông cũng đi tập thể dục vào sáng sớm."

Một số bài viết của học sinh còn lộn xộn về câu, ý, dùng từ chưa đúng vàovăn cảnh, câu rời rạc thiếu sự liên kết

Ví dụ: Đây là đoạn văn của một học sinh khi viết đoạn văn tả về một loài

chim mà em thích ( Tập làm văn tuần 21) như sau: " Những ngày đi học về emcảm thấy rất nhớ nó Mỏ nó mượt và nó hót rất hay Em rất thương nó và nó đẹp

Bộ lông nó mượt Hình dáng của con bồ câu rất thích thú"

Đôi khi học sinh viết câu dùng cụm từ so sánh để diễn tả nội dung song sự

so sánh ấy rất khập khiễng

Ví dụ: Khi viết đoạn văn kể về bà có em viết : " Da mặt bà em nhăn nheo như

quả bưởi héo" Có em lại viết“ Mỗi khi bà cười để lộ vài chiếc răng sữa trông rấtduyên.” Một lỗi nữa mà học sinh hay mắc là trả lời theo kiểu nắp đuôi cho nêncâu văn thiếu sự hấp dẫn, sinh động

Ví dụ : Khi dạy bài Tập làm văn tuần 8 để viết đoạn văn kể về cô giáo

(thầy giáo) cũ của em sách giáo khoa có mấy câu hỏi gợi ý trong đó có câu hỏi:

+ Tình cảm của cô đối với học sinh như thế nào?

+ Em nhớ nhất điều gì ở cô ( thầy)?

+ Tình cảm của em đối với thầy (cô) như thế nào?

Có em viết như sau : Tình cảm của cô đối với em rất tốt Em nhớ nhấtđiều là cô giáo rất dịu dàng và viết chữ rất đẹp Tình cảm của em đối với cô rấtkính trọng

2.1.6 Nguyên nhân của thực trạng:

Trang 9

Do học sinh chưa có kỹ năng quan sát Do tâm lý lứa tuổi, do chưa đượcrèn luyện thường xuyên nên các em chưa có cách quan sát cụ thể chi tiết Các

em chỉ quan sát thoáng qua, hời hợt, thậm chí có em còn không để ý đến đốitượng cần quan sát Thêm vào đó khả năng tưởng tượng còn hạn chế, thiếu vốnsống thực tế Do vậy khi viết đoạn văn còn có những câu văn lạc lõng không sátthực với yêu cầu của đề bài

Do học sinh chưa biết dùng từ, đặt câu Vốn từ của học sinh lớp 2 cònnghèo nàn, chưa hiểu hết nghĩa của từ , chưa hiểu nhiều về cấu tạo của câu nênkhi viết đoạn văn các em còn nhiều hạn chế Các em không biết viết thế nào,viết từ đâu để thành một đoạn văn

Do học sinh chưa có kỹ năng sắp xếp câu thành đoạn Từ chỗ nói chưathành câu, nói câu cộc lốc nên khi viết các em bị chi phối nhiều Hơn nữa các

em còn không biết viết câu nào trước, câu nào sau, viết chưa thành câu đã chấmhết câu, viết xuống dòng tùy tiện do vậy nhiều bài văn của các em viết khôngthành đoạn theo dung yêu cầu

Một phần giáo viên dạy lý thuyết chưa tốt Giáo viên chưa chuẩn bị kĩ nộidung bài trước khi lên lớp, chưa thực sự đổi mới phương pháp, chưa tự giác tựnghiên cứu trau dồi thêm chuyên môn nghiệp vụ để phục vụ công tác giảng dạy

Hoàn thành

Chưa hoàn thành

Trang 10

Nhìn vào bảng số liệu ta nhận thấy ngay rằng tỉ lệ bài viết của các emhoàn thành và chưa hoàn thành còn chiếm tỉ lệ khá cao Bởi khi viết đoạn văn kể

về cô giáo, các em thường bộc lộ các điểm yếu sau:

+ Về cách diễn đạt như: Từ bị lặp nhiều, dùng từ không chính xác Ví dụ

có em viết :" Cô giáo em tên là Lan Cô Lan có dáng người cao, cô Lan có máitóc dài, cô Lan có đôi bàn tay rất khéo viết chữ rất đẹp " Hay có em viết: Côgiáo em có đôi mắt to tròn xoe như hai hòn bi

+ Câu không rõ nghĩa, câu không đủ bộ phận, các câu trong đoạn văn cònlộn xộn, viết đoạn văn mang tính chất trả lời câu hỏi Ví dụ có em viết : "Côgiáo em dạy lớp 1 Có nụ cười tươi Em rất yêu quý cô có hàm răng trắng côgiảng dễ hiểu Em rất quý cô"

+ Có em viết đoạn văn theo cách trả lời nắp đuôi như sau: Tình cảm của

cô đối với em rất tốt

Trước thực trạng đó tôi đã tìm tòi, tham khảo nghiên cứu và đưa ra một sốgiải pháp cụ thể

2.2 Giải pháp đề xuất:

Giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 2 là vấn đề được nhiều giáo viên lưutâm vì phân môn này là phân môn mới (chưa được học ở lớp 1), bên cạnh đóviệc tìm ra biện pháp dạy học sinh lớp 2 viết một đoạn văn cũng là điều mànhiều giáo viên trăn trở, cũng có nhiều đề tài viết về vấn đề này đã đạt đượcnhững hiệu quả, song các đề tài trên đã đưa ra những biện pháp giảng dạy củamôn Tập làm văn thể loại viết đoạn văn ngắn nói chung mà chưa có những biệnpháp có những ví dụ cụ thể về một đề bài cụ thể Xuất phát từ tình hình nêu trên

và thực tế ở trường nơi tôi công tác nên tôi đã nghiên cứu tiếp về vấn đề “ Kinhnghiệm giúp học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn”

2.6 Nội dung của các giải pháp:

Giải pháp 1: Rèn các kỹ năng cơ bản cho học sinh viết đoạn văn ngắn.

Trang 11

Giáo viên cần chú trọng việc rèn viết đoạn văn ngắn cho học sinh Cần coiđây là công việc có vị trí quan trọng trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 Vì cóviết đoạn văn tốt thì học sinh mới có nền tảng vững chắc để học văn sau này.

* Tạo cho học sinh có thói quen quan sát.

Giáo viên yêu cầu học sinh có thói quen quan sát những sự vật hiện tượngxung quanh để ghi nhận lại và sử dụng khi thật cần thiết Vì qua thực tế đôi khitôi cho các em một bài tập tả về cảnh biển, có em bảo là con chưa bao giờ nhìnthấy biển Quả đúng như vậy, vì các em được sinh ra và lớn lên ở nông thôn nêncác em không nhìn thấy biển là đúng Bởi thế giáo viên cũng cần sưu tầm nhữngphim ảnh để có thể trình chiếu cho các em, cho các em quan sát về cảnh biển, …hoặc vào dịp nghỉ hà các em hay được ba mẹ cho đi tham quan tắm biển, nhân

đó, giáo viên có thể yêu cầu học sinh quan sát kỹ để có ý tưởng cho tập làm văn

tả cảnh biển

* Cung cấp vốn từ ngữ cho học sinh.

Để các em có thể làm được một bài văn tốt, các em phải có vốn từ ngữphong phú Mà vốn từ đó, có em tích lũy khá nhiều nhưng chưa biết vận dụng

Có em thì có rất ít hoặc chưa hề có Bởi vậy, giáo viên chính là người cungcấp.Mà cung cấp ở đâu? Tôi nghĩ trong các bài tập đọc có khá nhiều Mỗi chủ đềcủa môn Tiếng Việt thì môn tập đọc đều có những bài văn, bài thơ nói về chủ

để đó Trong các tiết dạy, giáo viên nên tập cho học sinh trả lời thành câu đủ ý

và chú ý đến những bài tập đọc có liên quan đến tiết tập làm văn Từ đó học

Ví dụ : qua bài Tôm Càng và Cá Con học sinh rút ra được đoạn văn tả về chú

Cá Con trong bài “ Con vật thân dẹt, trên đầu có đôi mắt tròn xoe, toàn thân phủ một lớp vẩy bạc óng ánh” Vốn từ còn có trong phân môn luyện từ và

câu Giáo viên có thể cho các em chơi trò chơi, thi đua tìm từ ngữ tả về chú cá.Các em sẽ rất hứng thú và tìm được rất nhiều từ

Để hỗ trợ cho học sinh, giáo viên cần cung cấp cho học sinh : Nhiều từngữ gợi tả, từ láy, từ tượng thanh, tượng hình … Ví dụ : Mặt biển xanh và rộng

Trang 12

thành mặt biển xanh ngắt và rộng mênh mông Nối các câu văn lại thành

những từ ngữ liên kết như : và, thì, nếu, vậy là …

Lưu ý học sinh trong đoạn văn tránh lặp lại từ nhiều lần mà phải thay

những từ ngữ lặp lại bằng từ có ý nghĩa tương tự, ví dụ: Bác Hồ thành Bác, Người… thay những từ ngữ thông thường thành những từ ngữ trau chuốt hơn.

Ví dụ: buổi sáng thành buổi sớm mai, buổi bình minh

Ví dụ: Sau khi thành lập sơ đồ, có thể các em sẽ thành lập một đoạn văn như sau : “ Nhà em có nuôi một chú gà Nó có bộ lông màu đỏ tía Nó gáy rất to.

Em rất yêu nó” Giáo viên có thể khuyến khích học sinh là “con làm đúng

nhưng chưa hay Từ những ý tưởng ban đầu của con, chúng ta sẽ hình thành một

đoạn văn hay hơn nhé : “ Chú gà trống nhà em trông mới oai vệ làm sao ! Toàn thân nó phủ một lớp lông vũ màu đỏ tía Sáng sáng, trống tía nhảy tót lên ụ rơm đầu hè mà rướn cổ gáy vang ò ó o Mỗi khi đi học về, em thường rải cho nó một ít thóc và vuốt ve cái đuôi dài, cong cong của nó” Khi đó,

học sinh sẽ thấy được vẫn là ý tưởng cũ nhưng đoạn văn đã được lột xác, thêmthắt những từ ngữ trau chuốt hơn làm cho đoạn văn đẹp hơn, nghệ thuật hơn Giáo viên có thể sưu tầm những bài văn hay và đọc cho học sinh nghe đểhọc sinh học hỏi Trưng bày những bài văn hay của các bạn trong lớp để các emnoi gương Tập ghi chép những từ hay, ý đẹp khi bắt gặp ở đâu đó vào mộtquyển từ điển riêng của mình Từ đó, vốn từ của các em sẽ ngày càng nhiều,càng phong phú

* Giúp học sinh nắm chắc bố cục của đoạn văn.

Tạo cho các em thói quen làm văn phải có bố cục 3 phần : mở bài (giớithiệu), thân bài (nội dung), kết luận (tình cảm) và lập sơ đồ trước khi làm tậplàm văn Tôi xin gợi ý một cách lập sơ đồ thông qua một trò chơi “em và chú

gà” như sau Ví dụ: Khi tả một chú gà, giáo viên cho hai em lên sắm vai, một

em là “chú gà”, một em là “người tả” Cùng lúc đó, giáo viên cho học sinh vẽ sơ

đồ trên vở nháp

chú gà”

Trang 13

Còn “chú gà” thì vừa nói vừa diễn tà: “tôi có bộ lông nhiều màu sắc Tôi có cái màu trên đầu Tôi gáy rất to …”

thường rải thóc cho gà ăn …”

Hoặc có thể tinh giảm em “người tả” chỉ cần một em sắm vai “chú gà” Sau khi nghe tả và quan sát xong các em thành lập ra một sơ đồ như sau:

cứ thể nối tiếp nhau thành lập thành đoạn văn Trong lúc đó, giáo viên có thể ghilại trên bảng, thế là đã có bốn đoạn văn mẫu Có thể câu văn lúc ấy còn lủngcủng nhưng ta có thể sửa chữa

Giải pháp 2: Trang bị cho học sinh về vốn từ và kĩ năng viết đoạn văn ngắn.

* Cung cấp vốn từ.

Mỗi đoạn văn là cả một thực tế sinh động diễn ra xung quanh các em.

Song có được đoạn văn theo yêu cầu của bài là cả một quá trình học sinh phải tưduy, phân tích, tổng hợp, sắp xếp… Giáo viên cần trang bị cho học sinh một số

từ thuộc chủ đề hoặc phù hợp với văn cảnh

Trang 14

Ví dụ: Tả nắng của mùa hè: nắng chói chang, nắng gắt gỏng, nắng như

thiêu như đốt… Tả về tiếng hót của chim: hót líu lo, hót véo von, hót vang lừng

… Tả về hình dáng người

+ Thân hình : mảnh khảnh, gầy gò, béo tròn, thon thả …

+ Nước da : đen sạm, trắng hồng, xanh xao, đỏ đắn, ngăm đen …

+ Mái tóc: đen bóng, óng mượt, bồng bềnh, loăn xoăn…

+ Khuôn mặt: Trái xoan, đầy đặn, tròn trịa, xương xương, vuông vức

Giáo viên đưa một số câu văn hay đến với học sinh một cách tự nhiênkhông gò ép

Ví dụ: Khi dạy học sinh viết đoạn văn tả cảnh biển tuần 26 giáo viên gợi

mở: Câu“ Những cánh buồm đủ màu sắc được nắng sớm chiếu vào sáng rực lên,trông xa như những đàn bướm bay lượn giữa trời xanh cùng với cánh chim hảiâu” Có thể trả lời cho câu hỏi nào? (Trên mặt biển có những gì ?)

* Kĩ năng viết đoạn văn.

Để có kĩ năng viết đoạn văn tốt giáo viên cần rèn cho học sinh kĩ năng

nói gãy gọn, trọn vẹn ý, không nói câu cụt

Ví dụ: Khi tả về con chim mà em yêu thích có học sinh nói: “ Chim chích

chòe cứ sáng sớm, trên cây dừa nhà em nó đậu rồi nó hót” Giáo viên cần phảiphân tích cho học sinh Ý của em nói: "Cứ vào thời điểm buổi sáng, ở trên câydừa nhà em có một con chim chích chòe đến và hót ” Vậy em cần nói cho gãygọn và hay hơn: “ Sáng nào cũng vậy, chim chích chòe lại bay đến đậu trên câydừa nhà em, cất tiếng hót líu lo” Hoặc khi nói về tình cảm của cô giáo với họcsinh không nên nói: "Tình cảm của cô đối với em rất tốt", mà phải nói: "Cô giáorất yêu quý chúng em "

Giáo viên nhắc nhở học sinh lưu ý giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.Khi viết đoạn văn dẫn lời nói của người khác em phải cho trong ngoặc kép

Ví dụ : Muốn kể lại lời nói của Dì trong đoạn viết về người thân của em,

cần phải viết trong ngoặc kép như: Dì em bảo: “ Cháu cứ lấy kẹo ra mà ăn ".Hoặc khi trích dẫn lời nói của chú vẹt khi viết về một loài chim mà em thích.Mỗi khi có khách đến chơi chú lại nhanh nhảu: "Có khách! Có khách !"

Trang 15

Việc rèn cho học sinh viết đoạn cần tạo điều kiện phát huy tính tích cực,chủ động của học sinh Phải làm sao cho mỗi đoạn văn là một cơ hội sáng tạocho học sinh thâm nhập, quan sát, phân tích từ thực tế.

Giáo viên cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị trước thật tốt bài học, tiết học

hôm sau

Ví dụ: Khi dạy học sinh viết 2 đến 3 câu về loài chim mà em thích Từ

hôm trước giáo viên yêu cầu mỗi học sinh quan sát kỹ con chim trong thực tế

mà mình yêu thích Cụ thể là : Các bộ phân đầu, mình, chân, hoạt động, tiếnghót… của chim

Giải pháp 3: Các bước tiến hành dạy học sinh viết đoạn văn ngắn.

Bài tập viết đoạn văn ngắn là loại bài sản sinh lời nói Học sinh tập viếtđoạn văn là tập sản sinh lời nói, văn bản Vì vậy, giáo viên cần dựa vào các bướcsau để hướng dẫn học sinh làm bài tâp

Bước 1:

- Xác định yêu cầu bài

+ Học sinh nêu yêu cầu bài tập

+ Giáo viên phân tích yêu cầu

- Định hướng học sinh viết

+ Tả (kể) về ai (cái gì) ?

+ Viết mấy câu ?

+ Viết với tình cảm như thế nào ?

+ Hướng dẫn học sinh sắp xếp ý

- Dù mới là học sinh lớp 2, bài viết chưa yêu cầu cao với bố cục một bàivăn như lớp 4 - 5, cũng chưa có khái niệm lập dàn ý Song với đoạn viết từ 3đến 5 câu với 2 đến 3 ý cũng cần sự sắp xếp ý Ở học kỳ I học sinh được kể vềnhững người thân thiết với mình như: Cô giáo, thầy giáo, ông, bà, anh, chị,em… Do đó giáo viên nên gợi ý học sinh trước tiên tự giới thiệu về người đó(Tên là gì?, mối quan hệ với bản thân?) Tiếp đó là hình dáng, tính cách, côngviệc hoặc ý thích của người kể và cuối cùng là tình cảm của học sinh đối vớingười mình kể

Ngày đăng: 24/06/2016, 11:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Văn Huệ; Giáo trình Tâm lí học Tiểu học; NXBĐHSP-HN-2003 2. Đặng Thị Lanh; SGV Tiếng Việt 2 tập 1, tập 2 ; NXBGD-HN-2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Văn Huệ; Giáo trình Tâm lí học Tiểu học; NXBĐHSP-HN-2003"2
Nhà XB: NXBĐHSP-HN-2003"2. "Đặng Thị Lanh; SGV Tiếng Việt 2 tập 1
4. Lê Thị Nguyên ,Trần Lê Thảo Linh; Tập Làm văn; NXBĐHQG-TPHCM 5. Lê Xuân Thại; Tiếng Việt trong trường Tiểu học; NXBĐHQG-HN-1999 6. Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Thỉnh; Giáo trình Tiếng Việt 2; NXBĐHSP-HN-2003 7. Lý Toàn Thắng; Ngữ pháp Tiếng Việt; NXBKHXH-HN-2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thị Nguyên ,Trần Lê Thảo Linh; Tập Làm văn; NXBĐHQG-TPHCM"5." Lê Xuân Thại; Tiếng Việt trong trường Tiểu học; NXBĐHQG-HN-1999"6." Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Thỉnh; Giáo trình Tiếng Việt 2; NXBĐHSP-HN-2003"7
Nhà XB: NXBĐHQG-TPHCM"5." Lê Xuân Thại; Tiếng Việt trong trường Tiểu học; NXBĐHQG-HN-1999"6." Đỗ Xuân Thảo
9. Nguyễn Trại; Thiết kế bài giảng Tiếng Việt 2 tập 1,tập 2; NXBHN-HN-2008 10. SGK Tiếng Việt 2 tập 1, tập 2; NXBGD-HN-2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trại; Thiết kế bài giảng Tiếng Việt 2 tập 1,tập 2; NXBHN-HN-2008"10
Nhà XB: NXBHN-HN-2008"10." SGK Tiếng Việt 2 tập 1
3. Lê Phương Nga; Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 2; NXBĐHSP- HN-2009 Khác
8. Nguyễn Minh Thuyết; Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt; NXBGD-HN Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w