BÀI 1: MÁY ẢNH CƠ BẢN BÀI 2: BỐ CỤC CĂN BẢN BÀI 3: ỐNG KÍNH BÀI 4: NGUỒN SÁNG BÀI 5: ẢNH CHÂN DUNG BÀI 6: ẢNH PHONG CẢNH BÀI 7: ẢNH SẮC ĐỘ NẶNG NHẸ BÀI 9: ĐỊNH DẠNG FILE ẢNH BÀI 8: KÍNH LỌC MÀU BÀI 10: TẠO DÁNG BÀI 11: CHỤP ẢNH TRẺ CON VÀ TRẺ SƠ SINH BÀI 12: CHỤP ẢNH ĐÁM ĐÔNG BÀI 13: CHỤP ẢNH ĐỐI TƯỢNG CHUYỂN ĐỘNG 148 BÀI 14: CHỤP ẢNH BAN ĐÊM BÀI 15: CHỤP ẢNH ĐỘNG VẬT
Trang 1GIÁO TRÌNH
KỸ THUẬT CHỤP ẢNH
(Dành cho sinh viên ngành Đồ họa)
Trang 21
MỤC LỤC
BÀI 1: MÁY ẢNH CƠ BẢN 5
1 Nhiếp ảnh là gì? 5
1.1 Định nghĩa: 5
1.2 Đặc trưng của nhiếp ảnh: 6
2 Phân loại máy ảnh 6
3 Các thuật ngữ nhiếp ảnh: 15
4 Các bộ phận chính: 15
5 Các bộ phận phụ: 16
6 Chức năng quay phim: 16
7 Bảo quản máy ảnh: 16
8 Lựa chọn máy ảnh: 16
BÀI 2: BỐ CỤC CĂN BẢN 18
1 Khái niệm về bố cục: 18
2 Phân tích bối cảnh: 19
3 Nguyên tắc 1/3 - Đường mạnh, điểm mạnh: 19
4 Vùng mạnh – vùng tựa: 22
5 Đường nét, hình dạng: 24
5.1 Bố cục cân đối 26
5.2 Bố cục không cân đối 27
5.3 Sự gợi cảm bằng đường nét 29
5.4 Một vài ví dụ minh họa: 31
6 Hướng nhìn – hướng chuyển động: 34
7 Chiều sâu không gian ảnh: 35
8 Sự tương phản: 36
9 Khung viền: 39
10 Phá bố cục 40
BÀI 3: ỐNG KÍNH 42
1 Khái niệm ống kính 42
2 Các thông số kỹ thuật 42
2.1 Hãng sản xuất 42
2.2 Tiêu cự ống kính 43
2.3 Khẩu độ 43
3 Những hằng số của ống kính 43
4 Thành phần cấu tạo 49
4.1 Cấu tạo bên trong ống kính 49
5 Phân loại 51
5.1 Ống kính tiêu cự trung bình F=50mm (Normal lens) 51
5.2 Ống kính tiêu cự ngắn F<7-35mm (widephoto lens) 52
5.3 Ống kính tiêu cự dài F>70-1000mm (telephoto lens) (32o-2o) 52
6 Các thuật ngữ thường gặp 53
6.1 Thuật ngữ - Ký hiệu trên ống Canon: 53
6.2 Thuật ngữ và ký hiệu trên ống Nikon 55
Trang 3BÀI 4: NGUỒN SÁNG 63
1 Nguồn sáng thiên nhiên 63
1.1 Khái niệm 63
1.2 Phân loại 63
1.2.1 Ánh sáng khuếch tán – nguồn sáng tản 63
1.2.2 Ánh sáng chiếu thẳng – nguồn sáng tụ 64
2 Nguồn sáng nhân tạo 65
2.1 Khái niệm 65
2.2 Phân loại 65
2.2.1 Nguồn sáng liên tục 65
3 Hướng sáng 67
3.1 Sáng thuận 67
3.2 Hướng sáng 450 (Xiên, bên, chếch) – mặt trời ở góc 45 0 68
3.3 Trái sáng (mặt trời ở sau lưng chủ đề) 69
BÀI 5: ẢNH CHÂN DUNG 71
1 Khái niệm 71
2 Yếu tố tạo ảnh 71
2.1 Kỹ thuật 71
2.2 Sắc độ ( tông màu, gam màu) 72
3 Phân loại 72
4 Các phương pháp chụp ảnh chân dung 73
5 Các phương tiện kỹ thuật trong ảnh chân dung 75
6 Các góc độ 75
7 Ánh sáng trong ảnh chân dung 76
BÀI 6: ẢNH PHONG CẢNH 81
1 Khái niệm 81
2 Phân loại 81
2.1 Ảnh phong cảnh thiên nhiên: 81
2.2 Ảnh phong cảnh kiến trúc: 82
2.3 Ảnh phong cảnh sinh hoạt 82
3 Đặc điểm 83
3.1 Loại ảnh 83
3.2 Lớp cảnh 84
4 Kỹ thuật 86
5 Phương pháp chụp 87
BÀI 7: ẢNH SẮC ĐỘ NẶNG NHẸ 89
1 Khái niệm 89
2 Ảnh sắc độ nặng (low-key lighting) 89
3 Ảnh sắc độ nhẹ (high-key lighting) 92
BÀI 8: KÍNH LỌC MÀU 95
1 Nguyên lý hoạt động 95
2 Cấu tạo 95
2.1 Filter 95
2.2 Filter cokin 96
Trang 43
3.1 UV Filter 96
3.2 ND Filter ( Neutral Density Filter ) 98
3.3 GND Filter (Graduated Neutral Density Filter ) 100
3.4 Graduated Filter: 101
3.5 Polarizers Filter: 102
3.6 Linear Polarizers Filter: 103
3.7 Circular Polarizer Filter - CPL: 104
3.8 Color Correction Filter 106
3.9 Infrared Filter 109
3.10 Effect filter - Kính lọc hiệu ứng 111
BÀI 9: ĐỊNH DẠNG FILE ẢNH 121
1 Giới thiệu 121
2 Định dạng tập tin 121
2.1 JPEG (JOIN PHOTOGRAPHIC EXPERT GROUP): 121
2.2 RAW 122
2.3 TIFF 124
BÀI 10: TẠO DÁNG 125
1 Khái niệm 125
2 Nguyên tắc cơ bản 125
3 Tư thế của chủ đề 126
3.1 Tư thế của cơ thể 126
3.2 Tư thế của đầu và gương mặt 129
4 Những điều cần lưu ý 132
4.1 Ngoại khổ 132
4.2 Thời trang 133
4.3 Thể thao 134
4.4 Áo tắm 135
BÀI 11: CHỤP ẢNH TRẺ CON VÀ TRẺ SƠ SINH 137
1 Đối tượng chụp 137
2 Nguyên tắc chung 138
BÀI 12: CHỤP ẢNH ĐÁM ĐÔNG 140
1 Kịch bản 140
2 Chọn nền 143
2.1 Phá vỡ những quy tắc chung 143
2.2 Thời gian chụp 143
2.3 Ánh sáng 144
2.4 Hậu cảnh 144
2.5 Hãy đổi góc chụp 145
BÀI 13: CHỤP ẢNH ĐỐI TƯỢNG CHUYỂN ĐỘNG 148
1 Tốc độ chụp 148
2 Phóng sự thể thao 150
2.1 Thiết bị cần mang theo 150
2.2 Chân dung hay phong cảnh 151
2.3 Hiểu biết về lĩnh vực thể thao bạn muốn chụp 151
Trang 52.5 Motion blur 153
BÀI 14: CHỤP ẢNH BAN ĐÊM 154
1 Sử dụng phim nhạy sáng 154
2 Hiệu ứng chụp đêm 154
3 Thời lượng sáng 155
BÀI 15: CHỤP ẢNH ĐỘNG VẬT 157
1 Thiết bị 157
1.1 Ống kính 157
1.2 ISO 158
1.3 Chân máy 158
2 Chọn góc 158
2.1 Tìm hiểu về loài vật 159
2.2 Âm thanh của loài vật 160
2.3 Đừng lại gần quá 160
2.4 Đừng dùng đèn flash 160
2.5 Kiên nhẫn 161
TÀI LIỆU THAM KHẢO 162
Trang 65
BÀI 1: MÁY ẢNH CƠ BẢN
Mục tiêu:
Sau khi học xong bài học này, sinh viên có khả năng:
- Trang bị kiến thức về máy ảnh
- Phân biệt các nhóm máy ảnh
“vẽ bằng ánh sáng”
- Trong nhiếp ảnh, ánh sáng “vẽ” bằng cách làm biến đổi một số yếu tố nào đó của các vật liệu nhạy cảm với ánh sáng Ánh sáng do đó chính là tác động vật lý để sáng tạo hoặc tái tạo hình ảnh và bởi vì cần phải có các chất liệu cảm quang, cả hai yếu tố này sẽ cùng tác động đến những đặc tính quan
trọng của nhiếp ảnh
- Điều quan trọng nhất trong những đặc tính ấy là sự liên tục của sắc
độ Sự liên tục của sắc độ trong nhiếp ảnh là khả năng ghi nhận những thay đổi từ nhạt đến đậm – từ trắng qua đen – mà không làm lộ bước chuyển tiếp Nói cách khác nhiếp ảnh có thể tạo ra một số hầu như vô hạn các giá trị hay sắc độ xám nhờ cách phản ừng với ánh sáng của mọi chất liệu nhiếp ảnh Giống như bản thân hình ảnh, dải sắc độ liên tục này được hình thành tức thì, trừ video ra thì không có loại phương tiện tạo hình nào có thể sánh được nhiếp ảnh ở phương diện này Hình ảnh của máy thường được tạo bằng một ống kính; ống kính này dùng để thug om và hội tụ các tia sáng Các ống kính
có thể tạo ra hình ảnh hết sức chi tiết, và các đặc tính này của máy ảnh đã đóng góp cho ngôn từ của chúng ta một thành ngữ Khi ta nói một bức tranh hay bức vẽ nào đó “giống như ảnh chụp” là chúng ta đã đề cập tới cái ấn tượng về chi tiết vô hạn Đặc tính này đương nhiên biến nhiếp ảnh trở thành
phương tiện hữu hiệu và quý giá để chuyển tải thông tin hình ảnh
- Một đặc tính quan trọng khác của nhiếp ảnh, nó phát xuất từ tính chất của tiến trình tạo hình là khả năng sao chép vô hạn Khả năng sao chép vô hạn của nhiếp ảnh là một đặc tính quan trọng đến mức nó không những đã cách mạng hóa việc truyền thông và giáo dục mà còn làm biến đổi toàn bộ nền văn hóa của chúng ta Nhà văn Pháp Andre Malraux(1901-1976) đã khẳng định rằng việc nghiên cứu lịch sử mỹ thuật trong thực tế chính là việc nghiên cứu các tác phẩm mỹ thuật có thể chụp ảnh được Andre Malraux nêu
Trang 7rõ: “ Chúng ta chẳng mấy ai có khả năng tiếp xúc với tác phẩm mỹ thuật nguyên bản, chúng ta thường biết về chúng giống như nhiều thứ khác là nhờ các phiên bản sao chép bằng phương tiện nhiếp ảnh” Tuy nhiên, mãi đến khi những cải tiến trong lĩnh vực nhiếp ảnh màu trở nên phổ biến thì người ta có thể tái hiện được đúng đắn những sắc độ tinh tế của những cửa sổ kính màu
và những tranh thảm của nền văn hóa Byzantine thế kỷ thứ IV
Nói cách khác, nhiếp ảnh là nghệ thuật cố định hình ảnh của các vật thể trên một bề mặt cảm quang như: kính, phim, giấy… bằng tác dụng của ánh sang( theo từ điển Larousse) Nhiếp ảnh dùng một thiết bị đặc biệt để ghi lại hình ảnh của vật thể thông qua ánh sáng được phản chiếu từ các vật thể lên giấy hoặc phim nhạy sáng, bằng cách căn thời gian phơi sáng Quá trình này được thực hiện bằng các thiết bị cơ học, hóa học, hay kỹ thuật số thường được gọi là máy ảnh hay máy chụp hình
1.2 Đặc trưng của nhiếp ảnh:
- Lưu giữ( ký ức): cụ thể, trực tiếp, chính xác
- Thông tin: nhanh chóng, rộng rãi, gọn gàng, phổ cập toàn cầu hóa…
- Xã hội: giúp con người dễ dàng cảm thông gần gũi, vượt qua khoảng cách địa lý
- Ngôn ngữ quốc tế: ngôn ngữ không lời
2 Phân loại máy ảnh
Nguyên lý hộp đen:
Ghi ảnh bằng hộp đen: Hộp đen là một chiếc hộp được thiết kế như một hình lập phương kín, một bề mặt đục lỗ tròn nhỏ và mặt đối diện được dán một lớp giấy kiếng mờ hoặc gắn mộ miếng kính đục Khi ánh sáng đi từ chủ đề sẽ chui qua
lỗ tròn và ảnh của chủ đề sẽ hiện trên kính mờ của mặt đối diện
Căn cứ vào cấu tạo và hoạt động của “ hệ thống khung ngắm”, máy ảnh được chia thành 4 nhóm:
A- NHÓM I - MÁY ẢNH CÓ KHUNG NGẮM THẲNG( RANGE
FINDER CAMERA):
Trang 87
Máy ảnh RangeFinder ( RF ) , nói nôm na theo tiếng Việt là máy ảnh ngắm thẳng ( khác với máy SLR ngắm phản xạ , có dùng thiết bị trắc viễn (tìm khoảng cách - RangeFinder ) để hỗ trợ việc lấy nét Điểm dễ nhận biết nhất của một máy
RF là khi chụp ảnh, bạn nhìn thấy chủ thể thẳng qua khung ngắm , không thông qua ống kính
Ngày nay, mặc dù thị trường máy ảnh đã bị thống trị bởi các dòng máy SLR, nhưngg với những ưu điểm nhất định , các dòng máy RF vẫn tồn tại, phát triển và có một số lượng nười dùng đông đảo Thương hiệu máy ảnh RF nổi tiếng nhất là Leica và các thương hiệu quen thuộc khác như Canon, Nikon , Zeiss, Voigtlander v.v
Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động chung
Máy ảnh RF đa số dùng một thiết bị trắc viễn để hỗ trợ việc lấy nét Thiết bị trắc viễn RangeFinder ( hay còn gọi là Telemeter ) này xác định khoảng cách từ máy ảnh đến chủ thể Có nhiều phương pháp để xác định khoảng cách: chủ động ( dùng sóng âm, sóng radar , laser ) hoặc thụ động ( hệ thống quang học dùng hệ thức lượng trong tam giác để tính toán khoảng cách ) Phổ biến nhất với máy ảnh
RF là thiết bị trắc viễn quang học sử dụng hệ thức lượng trong tam giác
Trang 9Sơ đồ cấu tạo hoạt động của thiết bị trắc viễn dùng trong máy RF
Beamsplitter: kính chia tách hình ảnh
Rotating mirror: gương xoay
Linkage to lens focusing: cơ cấu liên kết đến phần lấy nét của ống kính
Thiết bị trắc viễn hoạt động bằng cách kết hợp hai hình ảnh từ hai cửa sổ (khung ngắm và một ô cửa sổ phụ ) vào thành một hình ảnh bạn sẽ thấy trong khung ngắm sử dụng kính chia tách hình ảnh Thành phần gương xoay sẽ xoay khi
ta điều chỉnh thiết bị trắc viễn, làm cho hình ảnh thứ hai từ ô cửa sổ phụ di chuyển Khi chụp ảnh, bạn ngắm qua khung ngắm ( viewfinder ), bạn xoay ống kính sao cho hai ô hình nhỏ trong khung ngắm chập lại làm một
Khung ngắm của máy ảnh RF
Độ chính xác của thiết bị trắc viễn trong máy ảnh RF tương đối cao, nhất là trong khoảng 10-15m đổ lại, thường là chính xác hơn các màn ngắm có hỗ trợ lấy nét của máy SLR ( màn ngắm có nét cắt, vòng vi lăng kính… - cũng là một hình
Trang 10VD:
Máy Leica M3 có Base Length là 68.5mmm và khung ngắm có độ phóng đại 0.91x nên EBL của Leica M3 là 62.33 mm , cao nhất trong các dòng máy RF Máy Leica M6 0.72 có Base Length là 69.25mmm và khung ngắm có độ phóng đại 0.72x nên EBL của Leica M6 là 49.86 mm
Máy Cosina Voightlander Bessa R có Base Length là 37mm và khung ngắm
có độ phóng đại 0.68x nên EBL của CV R là 25.16 mm
Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy là máy Leica M3 cho độ chính xác trong lấy nét gấp hơn 2 lần so với máy Cosina Voightlander Bessa R
Ưu điểm:
Máy ảnh RF nhìn chung cho chất lượng hình ảnh tốt hơn máy SLR, đặc biệt
là với các ống kính góc rộng Đấy là bản chất tự nhiên của máy RF Vì thiết kế không có gương lật nên phần thấu kính cuối của ống kính có thể vào sát mặt film,
do đó ống kính RF vừa đẹp hơn, vừa dễ thiết kế chế tạo hơn Ống kính RF góc rộng có tiêu cự là tiêu cự thật, không phải như ống kính SLR góc rộng là ống retro-focus ( ống tele lật ngược lại ), nên chất lượng cao hơn hẳn, ít bị méo, tối 4 góc…
Thiết bị trắc viễn trên máy RF cho kết quả tốt nhất với ống kính góc rộng Lấy nét với ống kính góc rộng trên máy RF chính xác hơn máy SLR rất nhiều Lấy nét trong điều kiện thiếu sáng với máy RF dễ dàng hơn so với máy SLR, đặc biệt
là khi dùng các ống kính độ mở nhỏ hoặc sử dụng gắn chồng nhiều các filter giảm sáng trên ống kính
Do không dùng gương lật, nên máy RF không bị rung máy do lật gương Có thể chụp máy RF với tốc độ chậm mà vẫn cho ảnh nét
Do không có gương lật và lăng kính phản xạ nên máy RF nhỏ gọn hơn máy SLR Ống kính RF cũng nhỏ gọn hơn ống kính RF rất nhiều
Do không dùng gương lật nên máy RF êm hơn máy SLR nhiều Một số hoàn cảnh chỉ có thể chụp được bằng máy RF
Do không dùng gương lật nên máy RF có độ trễ khi chụp ảnh ( shutter lag ) ngắn hơn máy SLR
Trang 11Do khi chụp bạn ngắm chủ thể trực tiếp qua khung ngắm mà không thông qua cơ cấu gương phản xạ, nên bạn nhìn được toàn bộ khoảnh khắc bạn chụp - khung ngắm sẽ không bị che đi trong khoảnh khắc chụp như khung ngắm của máy SLR ( viewfinder blackout )
Bạn có thể ngắm chụp bằng cả hai mắt Với những máy ảnh RF có khung ngắm có độ phóng đại ( gần ) bằng 1 , và với đôi mắt tốt đồng đều, bạn sẽ cảm nhận được hiệu ứng “stream of consciousnes” : bạn sẽ thấy cái khung ngắm to bằng cửa sổ hiện ra trong tầm nhìn của bạn
Nhược điểm:
Bạn sẽ không nhìn được hình ảnh bạn chụp được Bạn ngắm chủ thể trực tiếp qua khung ngắm, nhưng hình ảnh lại được ghi nhận bằng ống kính Ống kính
và khung ngắm của máy RF tách biệt hoàn toàn với nhau Trong khung ngắm chỉ
có một khung viền ( frameline ) thể hiện góc nhìn tương đối của tiêu cự ống kính đang sử dụng Do ống kính nằm các khung ngắm một khoảng vài cm nên điều này
sẽ dẫn đến hiện tượng thị sai, nhất là khi chụp các chủ thể ở gần: bạn chụp 1 cái bình hoa, bạn ngắm vào bông hoa nhưng bạn lại chụp ra cái bình hoa Một số máy
RF đời mới có khung viền di chuyển theo mức độ lấy nét xa hay gần, giúp hạn chế
Với máy RF, qua khung ngắm bạn sẽ nhìn thấy cả ống kính , nhất là các ống kính lớn , có dùng loa che nắng Các ống kính này đôi khi che mất phần lớn khung ngắm Điều này thực sư gây khó chịu
Máy RF chỉ có một khung ngắm duy nhất trên máy cho tất cả các ống kính Mỗi ống kính tiêu cự khác nhau yêu cầu một khung viền ngắm khác nhau Trong khung ngắm có sẵn vài ( 3 đến 6 ) khung viền ngắm khác nhau cho các ống kính nhưng không đủ Các tiêu cự rộng hơn 28mm phải dùng đến khung ngắm gắn ngoài Hoặc máy bạn chỉ có khung viền ngắm cho ống kính 50mm mà bạn lại muốn gắn ống kính 40mm Khung viền ngắm cho ống tiêu cự dài ( >50mm ) rất nhỏ Điều này gây nhiều khó khăn trong quá trình sử dụng
Thiết bị trắc viễn kém hiệu quả với ống kính tiêu cự dài ( >50mm ) Ống kính tele dài nhất cho máy RF là 135mm và khó lấy nét chính xác Cộng với thị sai khi chụp chủ thể ở gần, máy RF không thích hợp để chụp cận cảnh hay chụp chủ thể ở xa
Do bạn không nhìn thấy được hình ảnh thu nhận qua ống kính, nên bạn không nhìn thấy được độ rõ mờ của các đối tượng trong ảnh, qua khung ngắm bạn thấy tất cả đều rõ nét nhưng hình chụp ra lại mờ Và bạn cũng không nhìn thấy được kết quả khi sử dụng các kính lọc hiệu ứng ( polariser, ND , GND … )
Đa số các máy RF là lấy nét tay, một vài dòng máy RF có hỗ trợ lấy nét tự động như Contax G1, G2 , Konica Hexar AF … nhưng độ chính xác cũng như tốc
độ lấy nét tự động của máy RF kém xa máy SLR
Trang 12B- NHÓM II – MÁY ẢNH KỸ THUẬT SỐ PHẢN XẠ ỐNG KÍNH ĐƠN (DSLR-DIGITAL SINGLE LENS REFLEX CAMERA):
Máy ảnh DSLR (tiếng Anh: Digital Single-lens reflex camera, viết tắt DSLR;
tạm dịch Máy ảnh kỹ thuật số ống kính đơn phản xạ ) là thuật ngữ để chỉ dòng máy ảnh kỹ thuật số sử dụng hệ thống gương cơ học và hệ thống gương phản xạ để đưa ánh sáng từ ống kính tới ống ngắm ở phía sau máy ảnh
Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động:
Nguyên tắc hoạt động cơ bản của DSLR là: với mục đích căn hình, gương sẽ phản
xạ ánh sáng đến từ ống kính một góc 90 độ Sau đó ánh sáng được phản xạ 2 lần bởi hệ thống phản xạ điều chỉnh sao cho mắt của người chụp ảnh có thể thấy được Trong quá trình phơi sáng, gương sẽ được nâng lên và khẩu độ đóng lại(khi khẩu được thiết lập nhỏ hơn khẩu độ tối đa của ống kính), và cửa sập mở, cho phép ánh sáng đi qua ống kính vào cảm biến ảnh Tiếp theo cửa sập sẽ đóng lại, che cảm biên, kết thúc quá trình phơi sáng, và gương hạ xuống Thời gian gương nâng lên được gọi là khoảng thời gian tối ở ống ngắm Hệ thống gương và cửa sập hoạt động nhanh được sử dụng cho việc chụp ảnh với tốc độ cao
Tất cả các quy trình trên tự động xảy ra trong khoảng thời gian của phần trăm giây, với mật độ từ 3-10 lần trên giây Các máy ảnh DSLRs thường được sử dụng bởi các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp bởi chúng cho phép ngắm khung hình trên thời gian thực và bởi DSLRs cho phép người dùng sử dụng các ống kính khác nhau Phần lớn các máy ảnh DSLRs đều có tính năng xem trước độ sâu của ảnh Các nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp chọn DSLR bởi kích thước chíp cảm biến ảnh
Trang 13biến gần với kích thước của kích thước phim của máy ảnh phim mà họ đã quen sử dụng Cho hiệu quả giống nhau về Độ sâu của ảnh và khung ảnh
Thuật ngữ DSLR thường được gọi là máy ảnh kích thước 35 mm, mặc dù một số máy ảnh có kích thước sensor lớn về mặt kỹ thuật cũng là DSLR
Nguyên tắc cấu tạo của máy DSLR
Khi ta ngắm chụp, ánh sáng phản chiếu từ vật thể sẽ đi qua ống kính (1) vào bên trong thân máy Tại đây, nó bị chắn lại bởi gương lật nằm nghiêng 1 góc 45o (2) và phản xạ lên lăng kính ngũ giác (7) phía trên theo một góc thẳng đứng, xuyên qua kính mờ (5) và thấu kính hội tụ (6) Ánh sáng tiếp tục bị phản xạ 2 lần bên trong lăng kính ngũ giác trước khi đi ra bên ngoài tại kính ngắm quang (OVF – 8) Như vậy, bất kể máy có bật hay tắt, ta luôn nhìn thấy hình ảnh phía trước ống kính qua OVF bởi nó sử dụng cơ chế phản xạ ánh sáng tự nhiên hoàn toàn thông qua các lăng kính cơ học
Khi ta bấm nút chụp, gương lật (2) được nâng lên theo chiều mũi tên trong hình, màn trập (3) cũng mở ra Ánh sáng lúc này không còn bị cản lại nữa, sẽ đi thẳng vào cảm biến (4) và ghi lại hình ảnh, OVF bị tối đi trong giây lát do không còn ánh sáng phản xạ đi qua Màn trập sau đó đóng lại, gương lật hạ xuống, tất cả chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc rất ngắn từ lúc ta bấm nút chụp cho tới khi nhả nút chụp ra
Khi chụp, động cơ đẩy nhẹ gương theo chiều mũi tên trên hình làm cho ánh sáng chiếu trực tiếp lên sensor, tạo ra tín hiệu điện, truyền qua bộ chuyển đổi A/D thành tín hiệu số, khuếch đại rồi được xử lý tại bộ xử lý hính ảnh (image processor) cuối cùng được lưu trên bộ nhớ chính.Sau đó cửa sập sẽ đóng lại, gương phản xạ trở lại góc 45 độ chờ đến lần chụp tiếp theo Xung quanh lỗ ngắm
có 1 lớp vật liệu mềm bao quanh, nhằm mục đích giảm tác động khi gương sập và ngăn không cho ánh sáng đi vào qua lỗ ngắm Một số loại máy ảnh cao cấp còn thực hiện việc gắn liền cơ cấu cửa sập với lỗ ngắm để ngăn ngừa triệt để hơn nữa ánh sáng từ lỗ ngắm
Trang 1413
Như vậy có thể thấy, gương lật đóng một vai trò rất quan trọng trong máy ảnh DSLR Nếu không có nó (và lăng kính ngũ giác), chúng ta không thể có hình ảnh trong OVF Và vì hình ảnh này truyền tới mắt ta hoàn toàn theo các định luật quang học, nên thứ ta nhìn thấy trong OVF cũng chính là thứ ta có thể nhìn thấy ở bên ngoài Ngoài ra, do hoàn toàn hoạt động dựa trên các cơ chế cơ học, nên ngắm chụp bằng OVF khiến tuổi thọ pin sau mỗi lần sạc trên DSLR thường rất cao, lên đến 4-500 kiểu Cá biệt với dòng máy chuyên nghiệp cao cấp con số này lên tới cả nghìn Rất nhiều người yêu thích DSLR một phần lớn là bởi chiếc kính ngắm quang này
Ở mặt ngược lại, gương lật chính là một trong những nguyên nhân khiến chiếc máy ảnh DSLR trở nên to béo cồng kềnh Ngoài ra, cơ chế mở ra – đóng lại màn trập sau mỗi lần chụp cũng là một chuyển động thuần túy cơ học, đòi hỏi thời gian để thực hiện và ổn định lại sau mỗi lần thực hiện (khái niệm “shutter lag” cũng từ đây cũng sinh ra), nên tốc độ chụp liên tiếp cho đến giờ vẫn là một vấn đề đối với các nhà sản xuất DSLR (ở đây ta tạm bỏ qua các nguyên nhân khác như tốc độ xử lý của bộ vi xử lý bên trong máy, tốc độ đọc ghi của thẻ nhớ) Trừ các mẫu máy chuyên chụp thể thao tốc độ cao, tốc độ chụp liên tiếp trung bình ở các mẫu DSLR phổ thông thường chỉ rơi vào khoảng 3-5 kiểu/giây Những mẫu máy chụp được trên 6 kiểu/giây đã được tung hô vô cùng Khái niệm về “tuổi thọ màn trập” cũng ra đời do những lo ngại về sự mài mòn theo thời gian của màn trập chuyển động cơ học
Máy ảnh bán chuyên nghiệp (Semi-Pro)
Máy ảnh nhà nghề (Professional Camera)
- Không quan sát được hoạt động của “đèn chớp điện tử” (Flash)
- Gương lật 450 dễ hư (trên lý thuyết phục thuộc vào tốc độ chụp nếu ta chụp liên tục ở tốc độ cao trong một khoảng thời gian dài) VD: đối với Canon 5D Mark II nhà sản xuất khuyến cáo với 350000 lần, với Canon 600D khoảng 150000 lần ( khi chụp ở tốc độ lớn hơn 1/1000s)
C- NHÓM III – MÁY ẢNH PHẢN XẠ ỐNG KINH ĐÔI(TLR – TWIN LENS REFLEX):
Trang 15TLR camera là máy ảnh gương lật ống kính đôi Ống kính đôi sử dụng hai ống kình, một để ngắm và một để cho ánh sáng lọt qua để ghi lên mặt phim Ánh sáng sẽ qua kính ngắm, phản chiếu qua gương lật để người chụp có thể nhìn thấy qua khung ngắm – View finder
Máy ảnh phản xạ ống kính đôi sử dụng film trung bình - Medium format film: 6x4.5 cm; 6x6 cm; 6x7 cm; 6x9 cm
D- NHÓM IV –VIEWER CAMERA
Viewer camera là nhóm máy ảnh ngắm trực tiếp qua kính mờ Nhược điểm của nhóm này là cồng kềnh, nặng nề và khó xoay trở Khung ngắm bằng kính mờ, lấy hình trực tiếp qua ống kính và khi ngắm nét xong phải tháo ra và lắp hộp chứa phim vào mới chụp được Thường máy phải gắn vào chân nên việc di chuyển máy rất nặng nề Dùng cho các phòng chụp chân dung nhà nghề và cá nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp chụp ảnh phong cảnh, kiến trúc, có khi cả ảnh thời sự, chính trị Chất lượng kỹ thuật của ảnh những loại máy này rất cao
Nhóm này sử dụng film cỡ lớn( Large Format Film): 10x12.5 cm đến 20x25cm
Trang 16- Các thông số khẩu đổ của ống kính
- Đèn Flash
- Chân đèn
- Lỗ gài chân máy ảnh ( tripod hole)
- Đế gắn pin tiểu AA( battery Grip)
- Bộ phận phát hiện và lấy nét tự động( AF: auto focus)
- Đĩa điều chỉnh các “chế độ thời chụp” (Mode dial)
- Bộ phận rung rũ bụi cho cảm biến(Self Cleaning Sensor)
4 Các bộ phận chính:
- Thân máy (body): mặt sau của gương 45o là film điện tử
- Ống kính (Lens)
- Nút tháo ống kính (Lens release)
- Đồng hồ chỉ số kiểu files đã chụp( Files counter dial): kiểm tra, điều tiết, số kiểu ảnh
- Đồng hồ đặt “độ nhạy” của film điện tử
ASA: America Standards Association
ISO: International Standards Organization
Trang 17- Live view: màn hình xem trước kết quả
- Nắp đậy màn hình tinh thể lỏng(Monitor cover)
- Đèn trên nóc máy ảnh( Built-in Flash)
- Lỗ ngắm(Viewfinder eyepieces) để quan sát hình ảnh
- Đồng hồ chỉnh thị lực( optical adjustment control): -2 -1 0 +1 +2…
5 Các bộ phận phụ:
- Kính bảo vệ (protect filter) che chở cho ống kính không bị trầy xước, không bám bụi Có 2 loại:
o Skylight 1A (màu trà lợt)
o Ultra violet UV (màu trắng)
- Nắp đậy ống kính( Lens cap)
- Loa che sáng (Lens hood) lắp trước kính bảo vệ ống kính, ngăn cản bớt tia sáng có hại lọt vào ống kính
- Hiệu quả của loa che sáng: cản bớt một phần các tia sáng có hại lọt vào ống kính
- Giá 3 chân đỡ máy ảnh( chụp ảnh với tốc độ phơi sáng chậm)
6 Chức năng quay phim:
- Full HD 1080 (High Definition): là một dạng hiển thị đặc biệt vượt trội về chất lượng và độ sắc nét của hình ảnh gốc ở định dạng cao
Canon 5D Mark II, 7D, 6D, 60D, 600D, 650D, 500D…
Nikon D3, D3s, D4,D90( có giáo trình hướng dẫn)
7 Bảo quản máy ảnh:
- Không đánh rơi, va chạm quá mạnh
- Không cho bất kỳ dầu nhớt nào vào máy ảnh
- Phải bảo quản máy ảnh, ống kính trong tủ đựng khô ráo, có chất hút ẩm hoặc dùng nhiệt sấy khô
- Không dán keo cho máy ảnh kỹ thuật số(KTS)
- Muốn nâng cấp phần mềm cần nhờ hãng bảo hành
- Nếu máy ảnh KTS gặp sự cố bất ngờ nên “off” máy khoảng 10s sau đó khởi động lại
- Nếu thời gian sử dụng máy ảnh và đèn flash kéo dài hơn 2 tuần nên tháo
Trang 1817
DX image circle
FX image circle
Cảm biến 24x36mm (Full Frame)
- Máy ảnh DSLR bán chuyên nghiệp ( Digital SLR Semi-Pro Camera) sử dụng film(sensor) ≤ 16x24mm:
Nikon: D300s,D300,D200,D100,D90,D80,D70s,D5200…
Canon: 650D, 600D,50D,40D,30D,20D,10D…
Sony: R1,R2…
Trang 19BÀI 2: BỐ CỤC CĂN BẢN Mục tiêu:
Sau khi học xong bài học này, sinh viên có khả năng:
- Trang bị kiến thức, nguyên tắc về bố cục
Nội dung chính:
1 Khái niệm về bố cục:
Khi nhắc tới hai từ “bố cục” trong nhiếp ảnh, rất nhiều người ngay lập tức nghĩ tới “quy tắc 1/3” Không sai khi nói rằng “quy tắc 1/3” là bố cục phổ biến và kinh điển trong nhiếp ảnh, nhưng cần lưu ý không đánh đồng hai khái niệm này
với nhau Thậm chí, nói “quy tắc 1/3” là một thể loại bố cục trong nhiếp ảnh cũng không đúng, bởi thực chất đó chỉ là một phần rất nhỏ (nhưng đơn giản,
dễ áp dụng nên trở thành phổ biến) trong bố cục về vị trí các vật thể trong khung hình mà thôi Để dễ hình dung hơn, có thể xem bảng sau:
Theo Nhiếp ảnh gia Dương Quốc Bình (Thạc sỹ Nhiếp ảnh truyền thông – Đại học Northeastern, Mỹ) thì “bố cục hình ảnh trong nhiếp ảnh là việc sắp xếp hay sắp đặt các thành tố hình ảnh trong một không gian giới hạn để thể hiện được
ý tưởng của nhiếp ảnh gia.”
Nhiều người vẫn thường cho rằng “tôi chụp hình cho vui là chính”, hoặc là
“tôi ghét bị ràng buộc trong khuôn khổ” để trốn tránh việc tìm hiểu về bố cục trong nhiếp ảnh Cũng có nhiều người hoang tưởng rằng mình là thiên tài nhiếp ảnh, nên cố vặn vẹo người sao cho ra những tư thế và góc chụp thật kỳ quặc rồi tự gán những tấm hình đó hai chữ “phá cách” Thực chất, bố cục trong nhiếp ảnh là một khái niệm quá rộng và bao gồm quá nhiều “tập con” mà không phải ai – ngay
cả các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp – có thể khẳng định rằng mình biết được hết,
Trang 20“Rốt cuộc tấm hình này có ý nghĩa gì?” Căn phòng này có gì đặc biệt, đâu là những vật dụng quan trọng được sử dụng, chúng nằm ở đâu mất rồi? Bố-cục-theo-chủ-đích khi đó là công cụ để loại bỏ những chi tiết thừa, sắp xếp lại những gì cần thiết theo một trật tự nào đó để bất kỳ một người khách nào khi mở cửa bước vào phòng cũng dễ dàng nhận ra chúng, và đoán biết được phần nào tính cách của chủ nhân căn phòng
Ngay cả với người sử dụng máy ảnh du lịch để chụp một tấm hình cho cả gia đình (hoặc nhóm bạn) khi đi du lịch, việc sắp đặt người cao đứng giữa, thấp dần về hai bên hay nam nữ xen kẽ, khuỵu gối xuống hất máy lên để lấy được cả mái nhà hay ngọn cây phía sau, cũng là một kiểu bố cục trong nhiếp ảnh Vậy có
gì là không tốt nếu chúng ta nắm được phần nào đó kiến thức về chúng và áp dụng
để có được những tấm hình đẹp hơn?
Như vậy, bố cục là giới hạn một khoảng không gian trước ống kính thông qua khung ngắm – đóng khung – sắp xếp chủ đề và bối cảnh
2 Phân tích bối cảnh:
Bối cảnh bao gồm: đề tài, chủ đề, bối cảnh
a Đề tài: là hiện tượng khách quan, chủ định, phản ánh cuộc sống
b Chủ đề( đề mục chính): là cốt lõi, nội dung của đề tài( chân dung, phong cảnh, kiến trúc…)
c Bối cảnh( đề mục phụ): là phụ họa làm rõ nghĩa và tôn vinh chủ đề…
3 Nguyên tắc 1/3 - Đường mạnh, điểm mạnh:
Bố cục trong nhiếp ảnh là một khái niệm rất rộng, bao gồm nhiều thể loại như bố cục ánh sáng, bố cục màu sắc, bố cục vị trí các vật thể trong khung hình Trong khuôn khổ có hạn của bài viết này, GenK chỉ xin được giới thiệu tới bạn đọc “quy tắc 1/3”, một “tập con” trong bố cục về vị trí các vật thể trong khung hình
Quy tắc 1/3 tạo bởi 2 đường cắt ngang và 2 đường cắt dọc, chia khung hình
ra thành 9 phần bằng nhau:
Trang 21Bố cục 1/3
Các đường cắt dọc gọi là các “đường dọc mạnh”, các đường cắt ngang gọi là các “đường ngang mạnh” hay các “đường chân trời”, chúng giao nhau tại 4 điểm (đánh dấu đỏ) gọi là các “điểm mạnh”
Một tấm hình tuân thủ tốt quy tắc 1/3 là khi người chụp đặt các điểm nhấn của chủ thể vào càng nhiều các đường mạnh và điểm mạnh càng tốt, và phần hậu cảnh nếu có đường chân trời thì đường chân trời này nằm song song hoặc trùng khớp với 1 trong 2 đường ngang mạnh
Hãy xem các hình dưới đây để hiểu rõ hơn về cách xếp đặt theo quy tắc này
Đường chân trời phía xa được đặt song song và gần sát với đường ngang mạnh phía trên Phần đầu của con thuyền được đặt tại điểm mạnh phía dưới bên trái
Trang 23Chân dung cận cảnh cũng không phải ngoại lệ Đặc biệt đôi mắt – “cửa sổ tâm hồn” là điểm nhấn thường được khai thác nhiều nhất, được ưu ái đặt trên đường ngang mạnh và điểm mạnh phía trên bên phải
Quy tắc 1/3 phổ biến và dễ áp dụng tới mức trong hầu hết mọi chiếc máy ảnh – từ du lịch tới ống kính rời, đều tích hợp sẵn thước ngắm phục vụ cho quy tắc này Cụ thể trong kính ngắm (viewfinder) của máy ảnh ống kính rời, ta sẽ thấy nhìn các đường vạch mờ chia khung hình ra làm 9 phần đúng như trên Còn ở máy ảnh du lịch, ngắm chụp qua LCD, ta có thể kích hoạt các đường vạch này bằng cách vào Menu / Camera Settings / Grid Lines: On
Quy tắc 1/3 không phải là quy tắc duy nhất trong bố cục về vật thể trong nhiếp ảnh, nhưng đó lại là quy tắc thường gặp nhất với các thể loại hình chụp mà chúng ta hay thực hiện Chỉ cần áp dụng nhuần nhuyễn quy tắc này – nhận định được đâu là điểm nhấn của chủ thể, đâu là đường chân trời, v v là bạn đã có thể nâng cao trình độ của mình lên rất nhiều rồi
Trang 2423
c) Ứng dụng vào ảnh chân dung
Nếu chụp chân dung cả người hoặc 2/3 người, ta nên đặt khuôn mặt(đầu) vào điểm mạnh hay đường mạnh phía bên trên
Với chân dung nửa người, ta nên đặt 1 hay 2 con mắt của người mẫu nằm trên đường mạnh phía bên trên, tốt hơn hết là đặt 1 con mắt của người mẫu vào đúng điểm mạnh
Cần lưu ý đến hướng nhìn của người mẫu: Hướng nhìn phải có không
gian rộng hơn phần còn lại
Trang 2625
Tùy theo tính chất và vị trí của đường nét, tùy theo những đường viền kết hợp thành nó, nên đường nét có thể làm rung cảm tâm hồn và tạo những nguồn cảm xúc khác nhau
Đường nét là căn bản xây dựng nội tâm của ảnh : thẳng, cong hay gẫy khúc,
nó có thể cho nhìn thấy hoặc cụ-thể-hóa ra, hoặc gợi ra (trong phong cảnh không
có đường nét lớn để lấy làm chính thì sự liên lạc hữu hình hoặc vô hình là đường nét chính) cho người xem
Đưòng nét có thể là ngang, là dọc, là chéo Đường nét có thể đặt theo những nhịp điệu có nhiều tương ứng với chúng ta, bởi vì nó bắt nguồn từ những sự biểu lộ tự nhiên và nó lược-đồ-hóa sức mạnh ấy tùy thuộc loại hình ảnh trình bày không thay đổi từ ngàn xưa
Như vậy người ta ghép ý nghĩa trang nghiêm với đường dọc, phẳng lặng với đường ngang, sống động với đường chéo Và đường thẳng vẫn có ý nghĩa là cứng rắn, là nghiêm khắc, đường cong diễn tả sự rung cảm và sự trọn vẹn, đường gấp diễn tả sự sống động và hỗn loạn
Trang 27Sự cân xứng của ảnh phần chính nằm trong sự tương hợp giữa những đường nét và những mảng đậm lợt Vì cân xứng không có nghĩa là cân đối nên người ta xếp bố cục bằng hai cách:
về hình thức mà những tương xứng phối hợp lại một cách đều đặn
Sự cân đối là căn bản của kiến trúc Những nghệ sĩ thời cổ thường dùng nó để khai diễn những đề tài tôn giáo, những hình thái khắt khe, cứng rắn một cách trang
Trang 2827
Đường dọc là đường chế ngự trong bố cục cân đối, và bố cục cân đối là một cách bố cục đầy đặc tính trang trọng Nó có thể giảm đi Nếu bố cục theo hình tam giác thì nó sẽ có sự linh động phần nào trong toàn thể
Bố cục cân đối đưa đến sự tẻ nhạt, ít gợi cảm, càng tránh được càng tốt Tuy nhiên có khi người ta muốn nghịch ngợm, dùng cách bố cục cân đối để nhạo cổ điển
5.2 Bố cục không cân đối
Bố cục không cân đối là nguồn cảm hứng phóng khoáng của nghệ sĩ Nó
không có luật lệ, mà luật lệ chỉ là tìm cảm hứng trong ký ức thẩm mỹ của tác giả Đối với loại bố cục này ta phải chú ý đến sự cân xứng, nó có liên hệ chặt chẽ với phép phối cảnh
Đường nét là nền tảng của bố cục nên nhờ nó mà ta tìm cảm hứng và dùng
nó làm địa bàn đi tìm trọng tâm ( cùng nghĩa là chủ điểm ) và sự cân xứng của ảnh
Nhưng nếu khai diễn sắc thái của đường nét, ta sẽ thấy bố cục của cách bố cục không cân đối Trong lãnh vực đó người nghệ sĩ sẽ để cho tùy theo tâm hồn hướng dẫn bởi vì những đường tạo ra trong lúc cảm hứng sẽ dùng làm căn bản cho sự xây dựng đề tài mà mình muốn và gợi ý ra những trạng thái nó đưa đến bố cục chót
Đường nét là yếu tố sáng tác của nghệ sĩ, nhưng khi không đạt được sự gợi cảm, thì dùng đường nét chỉ là đường nét mà không là nghệ thuật
Có nhiều cách bố cục, nhưng có một cách giản dị là bố cục theo mẫu chữ cái
Mỗi một chữ theo bản thể của nó là một bố cục đồ bản trên một diện tích trắng hay
là trong không gian Có một số chữ theo với bố cục đồ bản trội hơn những chữ khác Nhưng phần nhiều những chữ được áp dụng là những chữ giản dị trong sự không cân đối của nó : G, Z, J, C, S, U, L, I, v.v
Trang 29Trong bố cục không cân đối, nên tránh để chân trời chia ảnh ra làm hai phần bằng nhau, phần trời và phần đất đều nhau sẽ không làm cho ta chú ý đến phần nào
và mắt cứ đưa từ phần này qua phần khác (Trong một vài trường hợp cũng có thể
để chân trời ở giữa tùy theo sự suy diễn của tác giả.)
Trang 30a) Sự phù hợp giữa đường nét và tâm hồn :
Ta phải tập nhìn ra đường nét ngay lúc đóng khung cho ảnh để chụp để có thể áp dụng những quy tắc bố cục Có bốn loại đường nét thường dùng trong bố cục :
mà suy tưởng và cảm xúc
Bố cục của vũ trụ đặt căn bản trên hình thức kỷ-hà-học nên làm cho cảm giác chúng ta bị những hình thức kỷ hà ăn sâu và chi phối Ví dụ khi nói đến kim-tự-tháp Ai-Cập là ta nghĩ ngay đến hình chóp bốn góc, khi nói đến nhà thờ ta nghĩ ngay đến tháp chuông cao vút với vẻ uy nghi
Như vậy là có sự liên quan chặt chẽ giữa sự xây dựng đường nét của ảnh với
sự truyền cảm của tâm hồn Nếu ta chú ý đến sự phù hợp đó ta sẽ kiểm điểm được
bố cục của ta
b) Ngôn ngữ rung cảm của đường nét :
Ta nhận thấy những loại đường nét gợi cho trí óc chúng ta cái cảm tưởng khá
rõ ràng để nhận định cái ý nghĩa riêng biệt của nó Cũng đôi khi cái cảm tưởng đó vượt khỏi tầm phân tách của ta
Những sự phù hợp sẵn có giữa đường nét và cảm giác đã được nghiên cứu kỹ càng và được dùng cho bộ môn kiến trúc và trang trí, thì người nhiếp ảnh chúng ta cũng có thể áp dụng nó được
Như vậy ta có thể khái niệm rằng: đường thẳng có nghĩa riêng là phù hợp với
Trang 31chỉ có thể gợi cho ta ý mềm dẻo, yếu đuối và kết tụ Đường cong cũng thuận cho cách gợi ra đều đặn, quý phái mà khi ngắm đường gẫy khúc không thể có
được Đường gẫy khúc khi cứ kéo dài mãi thì với sự chập chờn và run rẩy của nó
cho ta cảm tưởng linh động
Nhưng đường nét lại còn cho ta nhiều cảm tưởng đặc biệt tùy theo vị trí của nó
và cách xếp đặt Ai lại không biết là đường ngang gợi cảm giác bình thản, buồn bã biểu lộ sự lâu dài Trái lại đường dọc gợi cho cảm giác sôi nổi và phát sinh ra cảm
tưởng trang nghiêm, cao quý
Chúng ta chợt có những cảm giác lạ khi ta ngắm đường ngang mặt biển trải rộng mênh mông hầu như vô tận trước tầm mắt chúng ta, hay khi ngắm cây tháp cao vút của ngôi giáo đường, ta thấy lân lâng lên mãi như dễ đụng tới từng mây
Những cảm giác đó tăng độ lực và phát hiện với những đường lập đi lập lại và giảm bới đi khi có những đường nghịch với nó
Góc cạnh là do sự gặp nhau của hai đường hội tụ mà thành và gợi cho những cảm giác do đường nghiêng nghiêng của cạnh
Góc cạnh càng thu hẹp thì cảm tưởng càng nhiều và giống như cảm tưởng phát sinh bởi cái ngắn của đường dọc
Góc cạnh càng mở rộng cảm giác có thể gần gũi đến lẫn lộn với cái ngắn của đường ngang
Như thế những đường của hình chóp và hình tam giác cho ta ý niệm lạ, lâu dài,, bền bỉ, vững vàng Tùy theo hình dáng cân xứng của hình tam giác mà ta sẽ thấy hợp với đường ngang hay với đường dọc: hình tam giác cạnh dưới (đáy) hẹp
và mỏng mảnh sẽ thoảng thấy như đường dọc Hình tam giác cạnh dưới (đáy) rộng
sẽ thấy như đường ngang
Hình tam giác gợi cảm giác vững chắc và sống động mà khi thêm vào đó những đường chéo sẽ cho cảm tưởng hoạt động và nhịp nhàng
Đường hội tụ cũng có thể gợi cho ta sự thoát ra, sự vô tận Tùy theo vị trí của điểm tụ mà những đường đó cho ta cảm tưởng đi lên hay cảm tưởng về chiều sâu
Trang 3231
Đường chéo gợi sự hoạt động, tốc độ Nếu bắt chéo nhau, nó biểu lộ sự lẫn lộn, sự không thăng bằng, sự hằng hà sa số Nếu nó vượt khỏi một điểm thì đó là phóng ra, là tia ra, là đụng chạm và là bạo hành Nếu nó được phân chia đều đặn,
nó cho ta cảm giác vững vàng
Đường cong cũng không có được tính chất rõ ràng như đường thẳng Ta cũng thấy những đường cong rất mỹ miều hấp dẫn như trong thế giới thảo mộc, trong thế giới động vật lúc còn nhỏ và nó mất dần đi khi cằn cỗi già nua, và cũng như thấy đường cong đậm tính chất uy nghi gần nghĩa điều hòa khi nó mô tả đạn đạo vòng cầu
Đường cong dùng để nối liền những yếu tố trong bố cục và ráp lại những phần trong bố cục Vì sự quan trọng của nó nên trong nhiều trường hợp nếu thiếu
nó thì bố cục không thành
5.4 Một vài ví dụ minh họa:
- Đường nằm ngang: Tạo cảm giác bình an, êm đềm, thanh thản; diễn tả sự bao la, mênh mông
Trang 33- Đường đứng: Tạo cảm giác sôi nổi, trang nghiêm, cao quý
- Đường chéo: Tạo cảm giác mạnh mẽ, vươn lên
Trang 3433
- Đường cong: Tạo cảm giác mềm mại, gợi cảm
- Đường đồng qui: Khi muốn tập trung vào một điểm trong khuôn hình
- Đường zic-zắc: Tạo cảm giác đa chiều, khó khan, gian nan, hiểm trở đôi khi còn là sự nhí nhảnh, vui nhộn
- Đường viễn cảnh: Tạo cảm giác xa xăm, hồi tưởng, xao xuyến
Trang 35- Đường hỗn hợp: Thể hiện sự bề bộn, rắc rối, đa dạng
6 Hướng nhìn – hướng chuyển động:
Hướng chuyển động là con đường đôi mắt của chúng ta theo khi chúng ta nhìn vào một tác phẩm nghệ thuật Mục đích của hướng nhìn – hướng chuyển động là tạo ra sự thống nhất trong các tác phẩm nghệ thuật khi dùng mắt để theo dõi Nó có thể đạt được bằng cách sử dụng sự nhịp điệu, sắp xếp , nét bút v.v… Hướng nhìn – hướng chuyển động quan hệ cộng tác với nhau bằng liên kết các thành phần khác nhau của một tác phẩm với nhau
Bằng cách sắp xếp các yếu tố thành phần theo một cách nào đó, chúng ta kiểm soát sự chuyển động của mắt của người xem trong và xung quanh các thành phần với các tác phẩm
Trang 3635
7 Chiều sâu không gian ảnh:
Một bức ảnh cần có các không gian tiền cảnh, trung cảnh, hậu cảnh
Trang 37Vận dụng các hiệu ứng viễn cận, phản chiếu, sương mù để tạo chiều sâu cho bức ảnh
8 Sự tương phản:
Một bức ảnh có nhiều thu hút nhờ tính tương phản trong nó Có thể đó là sự tương phản về màu sắc, tương phản về kích thước, tương phản về ý nghĩa, tương phản đối xứng… và còn nhiều nữa
- Tương phản đường nét
- Tương phản hình dạng
Trang 3837
- Tương phản về kích thước
- Tương phản màu sắc
Trang 39- Tương phản về ánh sáng
- Tương phản cảm xúc