1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Giáo trình Kỹ thuật chụp ảnh (Ngành: Thiết kết và quản lý website-Trung cấp) - CĐ Kinh tế Kỹ thuật TP.HCM

40 31 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Kỹ thuật chụp ảnh
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Giang
Trường học Trường Cao Đẳng Kinh Tế - Kỹ Thuật TP.HCM
Chuyên ngành Thiết kế và quản lý website
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Kỹ thuật chụp ảnh cung cấp cho người học các kiến thức: Sơ lược về nhiếp ảnh; Căn bản về nhiếp ảnh; Máy ảnh kỹ thuật số; Ống kính; Các chế độ chụp ảnh; Bố cục; Đường nét và biểu cảm trong nhiếp ảnh. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT TP.HCM

Trang 2

MỤC LỤC

1 Bài 1: Sơ lược về nhiếp ảnh 5

2 Bài 2: Căn bản về nhiếp ảnh 8

3 Bài 3: Máy ảnh kỹ thuật số 12

4 Bài 4: Ống kính 16

5 Bài 5: Các chế độ chụp ảnh 25

6 Bài 6: Bố cục 28

7 Bài 7: Đường nét và biểu cảm trong nhiếp ảnh 35

8 Tài liệu tham khảo 40

Trang 3

MỤC LỤC HÌNH ẢNH

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Nhiếp ảnh lấy từ thời gian ra một thoáng chốc và thay đổi cuộc sống bằng cách cầm giữ cái thoáng chốc ấy

DOROTHEA LANGE (1895-1965) – nữ nhiếp ảnh gia Mỹ

Dù mang hình thù, kiểu dáng nào đi nữa, máy ảnh số thực chất chỉ là một chiếc máy tính có ống kính không hơn không kém Song song với việc sở hữu dễ dàng thì công nghệ lại biến máy ảnh số thành một thứ sản phẩm phức tạp đối với nhiều người vì tích hợp trong chiếc máy là quá nhiều lựa chọn lập trình sẵn Những tiện nghi công nghệ khiến ta dễ quên rằng đằng sau chiếc máy ảnh là những gì không thể lập trình Chiếc máy ảnh không tạo được một chút khác biệt nào Tất cả những gì chúng ta làm là ghi nhận những gì ta đang nhìn thấy Nhưng ta phải NHÌN THẤY

ERNST HAAS (1921-1986) – nhiếp ảnh gia Áo

Trang 5

1.1.Nhu cầu ghi nhận và lưu trữ hình ảnh :

Từ thời tiền sử, con người đã có nhu cầu ghi nhận lại những hình ảnh mà họ thấy được trước thiên nhiên trong sinh hoạt trong các nghi lễ quan trọng, bởi họ hiểu giá trị của hình ảnh rất quan trọng cho nhu cầu thông tin lưu trữ qua nhiều thế

hệ thậm chí qua nhiều thời kỳ lịch sử

Qua đó, con người không những lưu giữ những hình ảnh hiện thực mà còn thể hiện những hình ảnh từ trí tưởng tượng và cả những ước mơ

1.2 Sự ra đời và phát triển của nhiếp ảnh :

Trước Công nguyên, người Trung Quốc và Hy Lạp đã khám phá ra những nguyên tắc cơ bản về quang học và kỹ thuật ghi nhận hình ảnh

Giữa thế kỷ XV, nhà danh họa Léonard de Vinci đã ứng dụng nguyên tắc “hộp tối” để ghi nhận hình ảnh trong quá trình thực hiện những bức tranh của ông thay cho công đoạn phác thảo

1.3 Những bước phát triển của nghệ thuật nhiếp ảnh

Cùng với thời gian, nhiếp ảnh được ứng dụng trong nhiều khía cạnh của đời sống Trong khi tính chân thật được tôn vinh trong báo chí, nhu cầu khám phá cái đẹp vốn dĩ là một thiên tướng của con người Khi những hiệu ứng về nguồn sáng, ánh sáng được khai thác khi chụp ảnh, những tiến bộ về quang học được ứng dụng

để sản xuất những ống kính với nhiều tiêu cự khác nhau thì các nhà mỹ học đã hiểu

ra rằng, nhiếp ảnh qua chiếc máy chụp là một phương

tiện tuyệt vời để thể hiện những rung cảm thông qua

nghệ thuật tạo hình, khai thác ánh sáng để hình thành

một môn nghệ thuật mới mẻ nhưng vô cùng hấp dẫn,

đó là nghệ thuật nhiếp ảnh

Trang 6

1.4 Nhiếp ảnh trong đời sống đương đại:

Ngày hôm nay,

nhiếp ảnh không thể thiếu

trong đời sống, sinh hoạt

của con người, trong chúng

ta không ít người đã từng

bồi hồi xúc động trước

những bức ảnh mà ta được

chụp từ “ngày xưa“ đầy ắp

kỷ niệm hoặc trước những

bức ảnh chụp những người

thân yêu từ xa gửi về hoặc

lâu ngày không gặp Qua

những bức ảnh những quá

khứ, con người như sống

động trở lại, làm cho “thời

gian dừng lại” đó là những

giá trị vô song của nhiếp

ảnh

Ngày nay, nếu

không có nhiếp ảnh cuộc

sống sẽ ”thiếu thốn” như

thế nào (Ví dụ một đám

cưới mà không được chụp

hình thì buồn biết bao!

Hoặc trên mặt báo bỗng

Trang 8

Trong môi trường không khí đồng

nhất, ánh sáng sẽ truyền theo đường thẳng

Một vật thể được nhìn thấy khi nó phát

ra ánh sang hoặc phản chiếu ánh sáng từ một

hay những nguồn sáng chiếu lên nó

Hộp đen là một chiếc hộp được thiết

kế như một hình lập phương kín, một bề mặt

đục lỗ tròn nhỏ và mặt đối diện được dán

một lớp giấy kiếng mờ hoặc gắn một miếng

kín đục Khi ánh sáng đi từ chủ đề sẽ chui

qua lỗ tròn và ảnh của chủ đề sẽ hiện trên

kính mờ của mặt đối diện

2.2.2.Một máy ảnh đơn giản:

Hình ảnh ghi bằng hộp đen thường

không được sắc nét hoặc tối đi (khi lỗ tròn

càng lớn ảnh càng không rõ nét) Do vậy, khi

đặt vào lỗ tròn đó một thấu kính hội tụ có thể

thay đổi độ lớn nhỏ để ảnh được rõ hơn

2.2 Máy ảnh chụp phim

2.2.1 Phân loại

2.2.1.1.Phân loại theo cách sử dụng phim:

Loại sử dụng phim 35mm Loại này nhỏ gọn thông dụng giá thành vừa phải Loại sử dụng phim cuộn khổ lớn 70mm (phim 120): loại máy lớn, chất lượng cao, nhà nghề, giá thành khá cao

Loại sử dụng phim cuộn khổ lớn 70mm (phim 120): loại máy lớn, chất lượng cao, nhà nghề, giá thành khá cao

2.2.1.2 Phân loại ứng dụng quang học:

Loại máy khung ngắm thẳng : khung ngắm trực tiếp, sáng, nhưng hệ thống lấy nét phức tạp, hình ảnh qua khung ngắm và hình ảnh nhận được trên phim ít nhiều có

độ lệch về góc nhìn (tùy theo nhà sản xuất) Hiện nay, còn rất ít hãng máy ảnh sản xuất máy ảnh loại này ngoại trừ một số máy nghiệp dư tự động lấy nét

Trang 9

Loại máy khung ngắm qua ống kính (SLR – Single Lens Reflex): hình ảnh qua khung ngắm và hình ảnh ghi lại từ ống kính hoàn toàn giống nhau, có thể thay đổi ống kính dễ dàng

2.2.2 Cấu trúc máy ảnh chụp phim loại SLR (Single Lens Reflex):

2.2.3 Thân máy:

Thân máy ảnh, được hình thành từ nguyên tắc hộp tối, ban đầu thuần túy là một hệ thống được vận hành theo những ứng dụng cơ học gồm những bộ phận lên phim (bằng tay hoặc tự động), màn trập và ổ màn trập, riêng một số máy ảnh có ống kính không tháo rời được thì màn trập và ổ màn trập có thể được thiết kế chung trên phần ống kính Sau đó, thân máy được bổ sung thêm những bộ phận quang điện tử

để thuận tiện trong việc cân chỉnh nội dung ánh sáng và độ sáng

*Tốc độ màn trập:

Để chụp ảnh tốt, chúng ta cần hiểu rõ về tốc độ màn trập Màn trập như một cánh cửa của một phòng tối và bên ngoài là trời sáng, khi mở cửa ánh sáng sẽ tràn vào và nhiều hay ít sẽ tùy thuộc vào thời gian mở cửa lâu hay mau

Trang 10

Trong máy ảnh, màn trập là miếng vải đen hay những miếng kim loại (thép, Titan) mỏng màu đen được thiết kế nằm giữa ống kính và phim Thời gian mở cửa màn trập gọi là tốc độ màn trập được thể hiện bằng những chỉ số như : B-1-2-3-8-15-30-60-125-500-1000-2000-4000…T, những chỉ số tốc độ màn trập đó biểu thị thời gian ánh sáng từ chủ đề được chụp ghi vào mặt phim

2.2.4 Phim

2.2.4.1 Cấu tạo:

Phim được cấu tạo bằng nhiều

lớp, trải trên một bề mặt bằng nhựa

trong suốt Với phim trắng đen, lớp

nhũ tương có công dụng ghi nhận

hình ảnh là một lớp dung dịch keo

chứa những hạt Nitrate Bạc, lớp

chống lóe thường có màu xanh tím

có tác dụng chống lại sự phản xạ ánh

sáng giữa các lớp Với phim màu,

gồm 3 lớp nhũ tương riêng biệt để

ghi nhận 3 màu căn bản: đỏ, xanh lá,

xanh lơ Ngoài ra, còn lớp chống lóe

và trên cùng là lớp bảo vệ hạn chế

nấm mốc và trầy xước

Trang 11

2.2.4.2 Kích cỡ:

Gồm 3 loại cơ bản là phim cuộn 35mm – phim 135 (có khung phim tiêu chuẩn

là 24mm x 36mm), phim cuộn 70mm – phim 120 (có những khung phim tiêu chuẩn

6 x 4,5cm; 6x6cm; 6x7cm; 6x9cm) Trước kia còn có những loại phim ít thông dụng như phim 16mm, phim ÁP 21mm, phim Cardrix nay không còn sản xuất

2.2.4.3 Độ nhạy

Chỉ số được dùng để xác định độ bắt sáng của phim được viết tắt phổ thông là ISO (ký hiệu ASA và DIN không còn thông dụng), chỉ số ISO càng lớn, phim có độ bắt sáng càng nhạy, những chỉ số ISO: 25-50-100-200-400-800-1600-3200 thông dụng nhất là phim có độ nhạy 100-200-400- ISO

Trang 12

cho phim nhựa truyền thống Được chế tạo bởi

một tổ hợp gồm rất nhiều các Diod cảm quang,

đa số các nhà sản xuất dung công nghệ CCD

(Charge – Coupled – Devices), một số khác

dùng công nghệ CMOS (Active pixel sensors)

Bộ cảm biến có kích thước càng lớn, dung

lượng mỗi file ảnh sẽ lớn và cho chất lượng ảnh càng cao

3.1.2 Điểm ảnh (Pixel):

Là thành phần nhỏ nhất để hiển thị hình ảnh

KTS Độ nét và dung lượng hình ảnh

3.1.3 Độ phân giải của máy ảnh:

Đó là số lượng điểm ảnh (pixel) tối đa mà máy

ảnh có thể chứa trên một file ảnh Kích thước của bộ cảm biến liên quan trực tiếp đến độ phân giải của máy ảnh, điểm ảnh hữu dụng càng

lớn khi kích thước bộ cảm biến càng lớn Thường độ phân

giải của một máy ảnh KTS được hiển thị ngay trên thân

máy

Để có hình ảnh với độ phân giải như phim truyền

thống, máy ảnh KTS cần có độ phân giải trên

18Megapixel và khi đó kích cỡ của bộ cảm biến đạt được

bằng khung phim (Full Frame) 35mm là 24mmx36mm

*Lưu ý :

Khi một máy ảnh KTS có kích thước của sensor

không bằng kích cỡ phim truyền thống (24x36mm) thì tiêu cự ống kính khi sử dụng

sẽ được tính tùy thuộc vào kích cỡ (đường chéo) của sensor

3.1.4 Dung lượng File ảnh:

Đó là số điểm ảnh (pixel) chứa trong một file ảnh, số lượng điểm ảnh càng nhiều, ảnh càng phóng lớn được hơn

- Độ phân giải của một máy ảnh KTS chính là dung lượng tối đa của một ảnh

mà máy có thể đạt tới

Trang 13

Trong máy ảnh KTS, người sử dụng có thể chọn nhiều dung lượng khác nhau cho chất lượng của file ảnh và được hiển thị bằng các ký tự S, M, L (Small, Medium, Large) hoặc kèm theo cả số điểm ảnh

- Đuôi TIFF: Đuôi ảnh đã xử lý một phần các dữ liệu, dung lượng ảnh lớn (tương đương đuôi Raw), chất lượng hình ảnh tốt

- Đuôi JPEG: Đuôi ảnh đã xử lý và nén các dữ liệu, có dung lượng từ nhỏ đến lớn (S, M, L), chất lượng hình ảnh có bị giảm thiểu một phần, tiện lợi để lưu trữ

và chuyển giao các file ảnh Đa số những máy compact thường chỉ định dạng JPEG

mà thôi

3.1.6 Cân bằng trắng (White Banlance):

Khi bộ cảm biến ghi nhận ánh sáng từ vật thể chụp, ánh sáng sẽ được xử lý thành 3 màu là : đỏ - xanh lá – xanh lơ sau đó được phối hợp lại để có màu của vật thể

* Các chế độ cân bằng trắng:

Đó là cơ chế hiệu chỉnh màu sắc mà hầu hết các máy KTS đều phải có, nó cho phép người sử dụng chọn lựa các chế độ cân bằng màu sắc (khống chế độ áp sắc do môi trường chụp) để màu sắc của hình ảnh được trung thực

Thông thường có những chế độ cân bằng như sau :

+ Cân bằng tự động : Ký hiệu AWB (Auto White Balance), hiệu quả màu sắc tốt trong trường hợp ánh sáng ngoài trời, tốt tương đối trong những trường hợp khác Đây cũng là chế độ cân bằng trắng được sử dụng phổ biến nhất

+ Chuyên dụng cho ánh sáng trời : Ký hiệu mặt trời – Dirrect Sunli

+ Chuyên dụng cho trời râm mát: Ký hiệu căn nhà có bóng râm – Shade + Chuyên dụng cho trời u ám : Ký hiệu đám mây – Cloudy

+ Chuyên dụng cho đèn flash Ký hiệu tia điện xẹt – Flash

+ Chuyên dụng cho ánh sáng đèn vàng Ký hiệu bóng đèn tròn -

Trang 14

- Không dùng phim nên

chủ nhân chiếc máy ảnh KTS

có thể tha hồ bấm máy mà

không phải bận tâm tiền mua

phim

- Có thể thay đổi độ

nhạy ISO cho mỗi lần chụp

(trong khi máy phim phải thay

Trang 15

- Có thể chỉnh sửa, xử lý hình ảnh bằng những phần mềm hỗ trợ hoặc những phần mềm chuyên dụng

- Có thể chuyển đổi một ảnh màu thành ảnh đen trắng hoặc đơn sắc

- Không sợ bụi hay trầy xước trên ảnh

- Dễ dàng lưu trữ

3.1.9.2 Khuyết điểm:

- Giá thành còn tương đối cao

- Phải cẩn thận khi lưu trữ hay xóa các file ảnh hay format thẻ nhớ

- Các thẻ thường rất nhỏ và mỏng nên dễ thất lạc

- Khi được chụp trong điều kiện ánh sáng không được tốt, thông thường những file ảnh được xem là “sản phẩm thô” cần phải chỉnh sửa lại bằng các phần mềm xử lý ảnh mới hoàn chỉnh

Trang 16

4.1.2 Một máy ảnh đơn giản :

Hình ảnh ghi bằng hộp đen thường không

được sắc nét hoặc tối đi (khi lỗ tròn càng lớn

ảnh càng không sắc nét) Do vậy, người ta đặt

vào lỗ tròn đó một thấu kính hội tụ có thể thay

đổi độ lớn nhỏ (cửa điều sáng) để ảnh được rõ

Trang 17

hơn, như vậy đã hình thành một chiếc máy ảnh đơn giản

4.2.Tiêu cự ống kính:

4.2.1 Tiêu cự ống kính:

Tiêu cự là khoảng cách nằm trên trục thấu kính được tính từ tâm thấu kính đến điểm hội tụ của nguồn sáng được chiếu từ vô cực (tia sáng song song)

- Tiêu cự trung bình (còn gọi là ống kính Normal hoặc Standar): Một ống

kính có tiêu cự trung bình khi tiêu cự đó có chiều dài tương đương với đường chéo của khung phim máy ảnh

Trang 18

hơn 45mm) Đặc biệt, những ống kính có tiêu cự cực ngắn (dưới 14mm) được gọi là kính “mắt cá” hoặc Fish eye

- Tiêu cự dài (ống kính Tê – lê hay ống kính tầm xa): Khi tiêu cự ống kính

đó dài hơn tiêu cự trung bình (dài hơn 50mm)

- Tiêu cự thay đổi (ống kính Zoom): Ống kính có tiêu cự thay đổi được Nếu

tiêu cự thay đổi trong khoảng tiêu cự ngắn được gọi là Wide Zoom, nếu tiêu cự thay đổi trong khoảng tiêu cự độ dài được gọi là Tê-lê Zoom, nếu tiêu cự thay đổi được

từ tiêu cự ngắn đến tiêu cự dài được gọi đơn giản là Zoom

4.2.2 Ý nghĩa các thông số trên ống kính DSLR:

* Tiêu cự:

Nếu máy có ống zoom, trên ống kính sẽ có vòng xoay để phóng to và thu nhỏ (thực ra là thay đổi tiêu cự xa-gần) Vòng xoay này cũng cho biết đang sử dụng tiêu cự nào Ví dụ, trên ống kính 70-200mm ở ảnh minh họa dưới đây, ta có thể thấy tiêu cự đang được chỉnh ở mức 100mm

Nếu sử dụng ống fix (cố định), ống kính sẽ không có vòng xoay chọn tiêu cự Ống kính này sẽ chỉ hiển thị tiêu cự duy nhất, ví dụ như 85mm trong bức ảnh dưới đây

4.3 Ảnh hưởng của tiêu cự trên hình ảnh chụp:

- Góc thu hình (không

gian theo tiêu cự ống kính)

- Với ống kính tiêu cự

trung bình, hình ảnh thu được

qua ống kính tưong tự như hình

Trang 19

Gọi OF là độ dài tiêu cự ống kính – D là đường kính của vòng tròn khẩu độ

Hỉ số khẩu độ là kết quả của công thức sau:

* Lưu ý : Dung lượng ánh sáng (đi vào phim) tương ứng với diện tích của

vòng tròn khẩu độ nên chỉ số khẩu độ càng lớn thì dung lượng ánh sáng (đi vào phim) càng ít

4.4.1 Khẩu độ tối đa

Khẩu độ tối đa là mức tối đa mà cửa

trập trên ống kính có thể mở tới Khẩu độ

được qui định bằng giá số f: giá số f càng

nhỏ thì khẩu độ tối đa càng lớn Các khẩu

độ lớn như f2.8 hay thậm chí lớn cỡ f1.8

thường được sử dụng vì chúng cho phép

ánh sáng vào nhiều hơn, nhờ đó bạn có thể

chụp trong điều kiện thiếu sáng tốt hơn mà

không bị mờ Thông số f càng lớn thì khẩu độ càng nhỏ

Khẩu độ tối đa trên các ống kính

thường khác nhau Khẩu độ tối đa có

thể được kí hiệu là một số duy nhất (ví

dụ như trong ống kính bên trái trong

hình bên, hoặc được kí hiệu khoảng

đầy đủ trong hình ống kính bên phải)

Bạn có thể tìm thấy khẩu độ ở cuối ống

kính, hoặc trên vòng xoay bộ lọc, hoặc

ở cả 2 vị trí này

Trang 20

Trong bức ảnh phía trên, ống fix 85mm ở phía dưới có khẩu độ tối đa được

kí hiệu là "1:1.8" Điều này có nghĩa rằng khẩu độ tối đa trên ống kính có tiêu cự không thay đổi này là f1.8

Trên ống kính Tamron 17-35mm ở bên phải, bạn có thể thấy khẩu độ được

kí hiệu là "1:2.8-4" Điều này có nghĩa rằng khi bạn xoay vòng zoom (thay đổi tiêu cự), khẩu độ sẽ thay đổi từ f2.8 đến f4 Ở góc chụp rộng nhất 17mm, khẩu độ tối đa

có thể mở đến f2.8, song ở tiêu cự 35mm khẩu độ chỉ có thể đạt tới f4

Tương tự như vậy, với các mức tiêu cự khác nhau trên các loại ống 300mm và 18-200mm, khẩu độ tối đa với từng tiêu cự sẽ khác nhau

28-4.4.2 Khoảng lấy nét

Một số ống kính có ghi chú khoảng lấy nét trên ống kính Thông thường, khoảng này được kí hiệu bởi cả 2 đơn vị foot (ft) và mét (m) Hãy tìm biểu tượng có ghi số dương ở phía bên trái và biểu tượng vô cực (∞) ở phía bên phải

Con số này sẽ cho biết khoảng cách tối thiểu mà ống kính có thể lấy nét Một vài ống kính khác có tùy chọn MACRO cho phép bạn chụp gần hơn nữa, song thực

ra đây không phải là chụp macro thực sự, do đó bạn sẽ không thể lấy nét ở khoảng cách quá gần Dù sao, tùy chọn này

cũng là khá tiện dụng nếu bạn không

muốn phải mang theo một ống kính

macro rời

Trong hình bên, có thể thấy ống

kính Canon ở bên trái có ghi khoảng

lấy nét ở phía dưới một lớp kính

bọc, trong khi ống kính Tamron ở

bên phải ghi khoảng lấy nét tối thiểu

ngay trên thân ống Các con số sẽ

được thay đổi khi bạn xoay vòng

nét

* Lưu ý rằng, trong nhiều trường hợp hãy tắt tính năng tự động lấy nét (AF) trước

khi quay vòng nét, vì quay vòng lấy nét trong khi bật AF (Auto Focus) sẽ gây hư hại cho các linh kiện bên trong ống kính, trừ một số loại ống kính cho phép bạn vừa xoay vòng vừa lấy nét tự động mà không hư hại tới phần cơ điều khiển lấy nét tự động bên trong lens

4.4.3 Đường kính ống kính/kích cỡ kính lọc:

Trên ống kính, có thể thấy kí hiệu phi

(Φ) đứng cạnh một con số Biểu tượng này

cho biết đường kính của mặt trước ống kính

và cũng chính là kích cỡ kính lọc phù hợp để

kết hợp cùng ống kính Ta có thể thấy biểu

tượng này ở cả bên dưới nắp đậy ống kính

Khi cần mua kính lọc, sẽ biết được chính xác

đường kính cần chọn là bao nhiêu

Ngày đăng: 18/05/2021, 08:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w