Sau khi học xong chương này các học sinh có khả năng: 1. Giải thích được mục đích của việc chuẩn bị bề mặt. 2. Phân biệt được các phương pháp chuẩn bị bề mặt. 3. Xác định được các vật liệu dùng trong chuẩn bị bề mặt. 4. Phân tích được tác hại của sơn đối với sức khỏe và các biện pháp an toàn trong phân xưởng sơn. 5. Giải thích được các bước trong qui trình xử lý ban đầu. 6. Giải thích được các bước trong qui trình bả matít. 7. Giải thích được các bước trong qui trình sơn lót bề mặt.
Trang 1Chương 1
CÁC PHƯƠNG PHÁP CHUẨN BỊ BỀ MẶT
Sau khi học xong chương này các học sinh có khả năng:
1 Giải thích được mục đích của việc chuẩn bị bề mặt
2 Phân biệt được các phương pháp chuẩn bị bề mặt
3 Xác định được các vật liệu dùng trong chuẩn bị bề mặt
4 Phân tích được tác hại của sơn đối với sức khỏe và các biện pháp an toàn trong phân xưởng sơn
5 Giải thích được các bước trong qui trình xử lý ban đầu
6 Giải thích được các bước trong qui trình bả matít
7 Giải thích được các bước trong qui trình sơn lót bề mặt
Trang 2I MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP CHUẨN BỊ BỀ MẶT
1 Mục đích của sự chuẩn bị bề mặt
Chuẩn bị bề mặt là một thuật ngữ chung được dùng để mô tả các hoạt động bao gồm phục hồi
hư hỏng hoặc sửa chữa các tấm vỏ xe để tạo ra một mặt nền cơ bản phù hợp cho lớp sơn trên (sơn màu)
Mục đích chính của sự chuẩn bị bề mặt như sau:
2 Các phương pháp chuẩn bị bề mặt
Phương pháp chuẩn bị bề mặt có các qui trình dưới đây:
Mục đích chính của sự
chuẩn bị bề mặt
Làm kín các bề mặt
Cải thiện tính bám dính
Phục hồi hình dạng
Bảo vệ kim loại nền Chống gỉ và rỗ bề mặt kim loại
Tăng tính bám dính giữa các lớp
Phục hồi hình dạng ban đầu bằng cách làm phẳng các vết lõm và vết xước
Tránh hấp thụ vật liệu sơn được dùng khi phun lớp sơn màu
Trang 3TẤM VỎ THÂN XE BỊ HƯ HỎNG
Lõm nặng Lõm nhẹ
Sửa chữa tấm vỏ thân xe
Mài bóc lớp sơn và mài vát mép sơn giáp mối
(Tính bám dính)
Phun sơn lót
(Chống gỉ và tạo tính bám dính)
Bả matít
(Trát đầy vết lõm)
Mài ma tít
(Phục hồi hình dạng)
Phun sơn lót bề mặt
(Điền đầy các vết lõm
Tránh hấp thụ sơn
Tạo tính bám dính)
Mài lớp sơn lót bề mặt
(Tạo tính bám dính và phục hồi hình dạng)
Bôi kheo làm kín thân xe
(Chống nước vào)
Tiến hành sơn màu
Trang 4TẤM VỎ XE ĐƯỢC THAY THẾ
II CÁC VẬT LIỆU CHUẨN BỊ BỀ MẶT
1 Sơn lót
Sơn lót có các tính chất sau:
Chống gỉ
Tăng tính bám dính giữa kim loại nền (tấm thép) với các lớp tiếp theo
Thông thường, sơn lót được phun một lớp rất mỏng và không cần mài
Sau đây là các loại sơn lót sẵn có:
Mài bề mặt
(Tạo bám dính)
Phun sơn lót bề mặt
(Tạo tính bám dính và làm kín)
Mài lớp sơn lót bề mặt
(Tạo tính bám dính và phục hồi hình dạng)
Bôi keo làm kín thân xe
(Chống nước vào)
Tiến hành sơn màu
Các vật liệu
chuẩn bị bề mặt
Sơn lót
Ma tít
Sơn lót bề mặt
Chống gỉ Tạo bám dính
Điền đầy các chỗ lõm sâu Tạo bám dính
Tạo bề mặt bằng phẳng Tránh hấp thụ sơn Tạo bám dính
Trang 52 Matít
Matít là vật liệu trát vào lớp dưới cùng để điền đầy các vết lỏm sâu và tạo ra bề mặt bằng phẳng Có các loại matit khác nhau được sử dụng tuỳ thuộc vào chiều sâu của vết lõm và vật liệu được áp dụng Thông thường, dao bả matít được dùng để trát lớp dày và điền đầy vết lõm, sau đó làm phẳng bằng cách mài
SƠN LÓT
Sơn rửa
Sơn rửa còn gọi là sơn axit, có thành phần chính là nhựa vinyl butyric và chất màu crôm kẽm chống gỉ, được bổ sung thêm chất đóng rắn làm bằng axit phôtphoric
Sơn lót được sơn trực tiếp lên kim loại nền nhằm cải thiện tính chống gỉ của bề mặt kim loại và tính bám dính của lớp tiếp theo
Có hai loại: một thành phần và hai thành phần Tuy nhiên loại hai thành phần có đặc tính chống gỉ và bám dính tốt hơn
Sơn lót l acquer (sơn dầu)
Được làm từ nhựa nitrô cenlulô và ankin
Sơn lót lacquer khô nhanh và dễ sử dụng, mặc dù dặc tính chống gỉ và bám dính không tốt bằng loại hai thành phần
Sơn lót Urêthan
Được làm từ nhựa ankin
Sơn lót Urêthan là loại sơn hai thành phần và dùng chất pôlisôxilát làm chất đóng rắn
Nó có đặc tính chống gỉ và bám dính cao
Sơn lót Epoxy
Làm bằng nhựa Epoxy
Đây là loại sơn hai thành phần và dùng amin làm chất đóng rắn
Nó có đặc tính chống gỉ và bám dính cao
Trang 63 Sơn lót bề mặt
Lớp sơn lót bề mặt là lớp thứ hai được phun trên lớp sơn lót, matít vá các tính chất khác và nó có tính chất sau:
Điền đầy các vết lõm nhẹ hay vết xước giấy
Trách hấp thụ sơn màu
Tránh bám dính giữa lớp dưới và lớp sơn màu
Khi sử dụng kết hợp với sơn lót đã nói ở trang trước, sau đây là các hướng dẫn từ các nhà sản xuất sơn tương ứng của nó
Làm bằng nhựa poliexte không bảo hoà
Là loại ma tít hai thành phần mà dùng chất peroxit hữu cơ làm chất đóng rắn, tuỳ theo việc áp dụng
Có các chất độn, matít này có thể được sử dụng để tạo ra các lớp dày và dễ mài nhưng có nhượt điểm tạo ra bề mặt xù xì
Làm bằng nhựa epoxy
Là loại matít hai thành phần mà dùng amin làm chất đóng rắn
Có tính chống gỉ vượt trội và tính bám dính tuyệt vời của nó đối với các vật liệu nền khác nhau
Thường được sử dụng để sửa chữa các chi tiết nhựa
Là một loại matít một thành phần làm bằng nitrocenlulo và một nhựa ankin hay nhựa acrylic
Chủ yếu được dùng để sửa vết xước, rỗ hay vết lõm nhẹ còn lại sau khi phun sơn lót bề mặt
Sơn lót bề mặt
Sơn lót bề mặt
Là một thành phần làm bằng nhựa nitro cenlulô, nhựa ankin hay nhựa acrylic được sử dụng rộng rãi
vì nó dễ dùng và do tính khô nhanh Tuy nhiên, đặc tính bao phủ của vật liệu này thấp hơn các sơn lót bề mặt khác
Làm bằng nhựa polyexte, acrylic và ankin, nó là loại hai thành phần và dùng polyizôcinát làm chất đóng rắn Mặt dù đặc tính bao phủ tốt hơn, nó khô chậm và cần phải làm khô cưỡng bức với nhiệt độ sấp xỉ 60o C Nhìn chung chúng ta hiểu rằng sơn lót bề mặt có đặc tính khô nhanh hơn thì đặc tính bao phủ của nó kém hơn
Đây là loại sơn lót bề mặt một thành phần làm từ nhựa melamin và ankin, nó được sử dụng làm sơn lót trước khi sơn lại những thành phần đã sấy khô hoàn toàn Cần nung ở nhiệt độ 90- 120, nhưng có đặc tính bao phủ giống như sơn xe mới
Trang 7III AN TOÀN LAO ĐỘNG
1 Vấn đề sức khỏe và an toàn trong phân xưởng sơn
Những tiêu chuẩn cao về sự giữ vệ sinh nhà xưởng là nền tảng của việc xây dựng và giữ gìn một môi trường làm việc an toàn Vì vậy, nghiêm chỉnh chú ý đến việc giữ gìn vệ sinh chung của phân xưởng sơn là điều rất quan trọng
2 Dọn dẹp nhà xưởng
Giữ trống lối đi trong xưởng Chất thải và rác cần được dọn khỏi khu vực làm việc và nhà kho ít nhất mỗi ngày một lần
Xác định tất cả các đồ đựng, thùng chứa Đừng bao giờ để dung môi và sơn vào các thùng chứa khác có nhãn không đúng với sản phẩm Điều này cần được đặc biệt chú ý
Chỉ dùng dụng cụ và thiết bị phù hợp Phải chắc chắn đúng được giữ gìn đúng cách và được bảo dưỡng trong tình trạng tốt
Không hút thuốc, ăn uống hoặc trữ thức ăn, nước uống trong xưởng sơn
Luôn giữ gìn vệ sinh cá nhân đúng cách
Rửa tay trước khi ăn, hút thuốc hoặc đi vệ sinh
Thay đồ trước khi về nhà
Không cất giữ quần áo lao động chung với quần áo khác
Chắc chắn tất cả các lối ra điều trống và có đánh dấu
3 Nguy cơ cháy nổ
Làm sao để tránh cháy nổ ?
Cấm mọi nguồn lửa
Cấm hút thuốc Cần gắn đủ bảng “Cấm Hút Thuốc“ trong xưởng sơn
Tránh mọi việc có thể làm phát sinh tia lửa
Không được hàn hoặc mài trong khu vực sơn
Dùng các mô-tơ và công tắt có thiết kế chống nổ (để tránh tia lửa điện phát sinh)
Tránh các va chạm làm phát sinh tia lửa
Thùng chứa dung môi và dụng cụ điện phải được nối đất
Không để dung môi bốt hơi
Phải chắc chắn khu vực tồn trữ và làm việc phải được thông báo thật tốt
Tuy nhiên để phòng nguy cơ cháy nổ, cần chuẩn bị đủ các loại bình chữa cháy thích hợp:
Nên để chúng ở những nơi có thể dể dàng lấy được khi cần Mỗi khu vực làm việc nên có ít nhất hai bình
Kiểm tra bình chữa cháy hàng năm để chắc chắn chúng còn làm việc Việc kiểm tra thường xuyên phải do một cơ sở chuyên môn hoặc nhà cung cấp bình tiến hành
Đánh dấu rõ ràng vị trí các bình chữa cháy
Tổ chức huấn luyện chữa cháy ít nhất mỗi năm một lần Phải chắc chắn mọi nhân viên điều được hướng dẩn đầy đủ về quy trình chống cháy
Trang 8 Thông báo rõ những số điện thoại cần thiết trong trường hợp cháy: PCCC, bệnh viện, xe cứu thương, bác sĩ, chính quyền địa phương, công ty cấp nước Các thiết bị báo cháy tự động cũng rất hữu dụng, giúp ta phản ứng nhanh hơn khi có cháy
Nên lập kết hoạch hợp tác hành động với PCCC địa phương, có cả việc xác định các sản phẩm đang sử dụng để có biện pháp phù hợp
4 Nguy hiểm đối với sức khỏe
Các khu vực phải được thông gió đúng mức Sự tập trung của bụi và các khí độc hại dưới mức tiêu chuẩn (OELs) Trong điều kiện làm việc bình thường và giữ gìn vệ sinh tốt, chỉ cần một hệ thống thông gió có thể thay đổi toàn bộ không khí nơi làm việc khoảng 05 lần/ giờ là đủ để giữ mức độ tập trung thấp hơn tiêu chuẩn OELs
Phải mặc đồ bảo hộ cá nhân
Để tránh hít phải khí độc tập trung ở những nơi không thể giữ dưới mức OELs, cần:
- Dùng khẩu trang chống bụi trước khi đánh nhám, đặc biệt khi đánh nhám những sản phẩm có chứa cromua kẽm
- Khi tẩy dầu mỡ nên dùng mặt nạ phòng độc
Cẩn thận:
Kiểm tra độ kín khít của mặt nạ phòng độc Những người có râu hoặc ria dài có thể không mang được mặt nạ này Kiểm tra thời hạn sử dụng của lọc Thông thường, lọc cần được thay thế sau 30 giờ sử dụng Khi phun sơn nên dùng mặt nạ có ống hơi Những người làm việc xung quanh cũng phải được bảo vệ như vậy Toàn bộ những sản phẩm có chứa isocyanate phải được phun trong những phòng sơn thiết kế thích hợp hoặc trong một khu vực riêng có thông gió tốt để tránh bụi sơn lan ra những khu vực kế cận
Không khí cung cấp cho mặt nạ có ống hơi cần được kiểm soát chặt chẽ về lưu lượng và phải không có dầu mở và những chất bẩn khác Nên thường xuyên bảo trì máy, kiểm tra lọc dầu và bầu lắng nước
Để tránh tiếp xúc với da và mắt, đặc biệt với chất ăn món và kích thích, nên:
- Dùng kính bảo hộ hoặc tấm che mặt
- Giày bảo hộ
- Nên dùng 3 loại găng tay như sau:
Găng tay chống dung môi
Găng tay vinyl chống hơi và bụi
Găng tay da loại bền chắc, để tránh mũi nhọn kim loại
Người làm việc phải luôn nghiêm túc giữ vệ sinh, thường xuyên rửa tay (nhất là cuối ngày làm việc) Trang bị bảo hộ cá nhân cần cất giữ đúng cách ở nơi sạch sẽ Mặt nạ phòng độc cần cất giữ trong túi kín Cần kiểm tra lổ thủng trên găng tay củ trước khi dùng lại Và đừng quên: không mang, trữ, làm thức ăn hay hút thuốc trong khu vực làm việc và tồn trữ sơn
Trang 95 Dụng cụ bảo hộ lao động
Kính bảo hộ
Kính bảo hộ bảo vệ mắt khỏi bị sơn, chất pha sơn cũng như matít
hay các hạt kim loại khi mài bắn vào mắt
Mặt nạ chống độc
Mặt nạ chống hạt độc
Mặt nạ chống hạt độc được sử dụng những nơi làm việc có hạt khí độc, như trong khi mài matít Có hai loại mặt nạ chống độc Loại đơn giản dùng một lần và loại có lọc có thể thay thế Bất cứ loại nào khi dùng cũng chú ý giời hạn thời gian sử dụng của nó
Mặt nạ chống hơi độc
Mặt nạ chống hơi độc là loại thiết bị để bảo vệ khí hữu cơ (không khí trộn lẫn với hơi của dung môi hữu cơ) khỏi bị hít vào phổi qua miệng hay mũi Có hai loại, loại có đường ống dẩn khí và một loại có lọc
Loại có đường ống dẫn khí cung cấp khí sạch trong lành vào mặt nạ qua ống dẫn khí
Loại có lọc, được trang bị một bầu lọc than hoạt tính lọc để hấp thụ khí hữu cơ.
Hình 1.2 Mặt nạ chống hơi độc
(Loại có lọc)
Hình1.3 Mặt nạ chống hơi độc (Loại dùng một lần)
Hình 1.4 Mặt nạ chống hơi độc
(Loại có đường ống dẫn khí)
Hình 1.5 Mặt nạ chống hơi độc
(Loại có lọc) Hình 1.1 Kính bảo hộ
Trang 10Đối với loại có lọc, có thể giới hạn đối với khả năng lọc của bấu lọc để có thể hấp thụ các chất độc Nếu hấp thụ đã được bảo hoà thì lọc sẽ để khói độc xuyên qua Thới gian từ điểm lọc còn mới đến khi bảo hoà được gọi là “Thời gian xuyên thủng” Thời gian xuyên thủng của bầu lọc than hoạt tính được thay đổi theo mật độ khói Điều quan trọng khi sử dụng mặt nạ chống độc là thay thế bầu lọc của nó trước khi đến hạn thời gian xuyên thủng Chú ý rằng vì không khí có độ ẩm, nên khả năng hầp thụ của bầu lọc bắt đầu thài hoá ngay khi mở bầu lọc ra Mỗi loại bầu lọc được thiết kế cho mỗi loại khí nhất định Trong việc sửa chữa ôtô, chắc chắn phải được dùng loại được thiết kế cho dung môi hữu cơ
Có một số mặt nạ chống độc khác được làm bắng vải mỏng và có các bon đã hoạt hoá, nhưng không được dùng thay cho mặt nạ chống hơi độc
Quần áo và mũ của thợ sơn:
Hơn nữa để bảo vệ cơ thể của thợ sơn khỏi bị sơn phun
vào, ngoài ra nó còn giảm thiểu những ảnh hưởng của bụi
Có một số quần áo bảo hộ được làm từ vật liệu chống tĩnh
điện
Găng tay
Găng tay bảo vệ tay của bạn khi dùng máy mài hay khi vận
chuyển các chi tiết thân xe
Hình 1.6 Khẩu trang chống độc
Hình 1.7 Quần áo và mũ của thợ sơn
Hình 1.8 Găng tay
Trang 11 Găng tay cao su
Găng tay này dùng để chống thấm các dung dịch hữu cơ vào da khi
sơn Ngoài ra găng tay cao su còn được dùng khi bôi keo làm kín
Giày bảo hộ (giày chống tĩnh điện)
Giày bảo hộ có các tấm kim loại bọc các ngón và bàn chân Còn
có một số giày bảo hộ có đặt điểm chống tĩnh điện
6 Cách sử dụng dụng cụ bảo hộ
Chuẩn bị bề mặt
Mũ
Kính bảo hộ
Quần áo bảo hộ
Găng tay
Giày bảo hộ
Tiến hành pha sơn hay chuẩn bị bề mặt (bả matít, làm sạch mở) điều chỉnh màu
Mũ
Kính bảo hộ
Mặt nạ chống độc loại có lọc
Quần áo bảo hộ
Găng tay cao su
Giày bảo hộ
Hình 1.9 Găng tay cao su
Hình 1.10 Giày bảo hộ
Hình 1.11 Dụng cụ bảo hộ khi chuẩn bị bề mặt
Trang 12 Che bề mặt
Mũ
Quần áo bảo hộ
Giày bảo hộ
Phun sơn
Mặt nạ chống độc có ống dẫn khí (loại trùm kín đầu)
Quần áo bảo hộ cho thợ sơn
Găng tay cao su
Giày bảo hộ (giày chống tĩnh điện)
Hình 1.13 Dụng cụ bảo hộ khi che bề mặt
Hình 1.14 Dụng cụ bảo hộ khi phun sơn
Trang 13IV QUI TRÌNH CHUẨN BỊ BỀ MẶT
1 Xử lý ban đầu
Bảng dưới đây chỉ ra quy trình thực hiện trước khi bả matít, khi xử lý ban đầu một tấm bị hỏng
2 Xác định sơn
Xác định sơn trên bề mặt cần sơn là cần thiết trong quá trình sửa chữa Nếu lớp sơn không xác định đúng, nó có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng khi sơn màu Ví dụ, nếu tấm mà bạn đang sửa chữa có lịch sử trước đây dùng loại sơn lacquer, chất pha sơn chứa trong sơn lót bề mặt hoặc lớp sơn màu có thể thấm vào lớp sơn lackơ đã sơn trước đó Điều này làm cho bề mặt được sơn
bị phồng rộp Để tránh vấn đề trên khỏi xảy ra, loại sơn phải được xác định đúng ngay ở thời điểm xử lý ban đầu
Phương pháp và điều kiện xác định:
Nói chung, khi nhúng giẻ vào chất pha sơn lacquer và cọ vào bề mặt sơn lại Nếu sơn không dính lên vải thì đó là loại sơn eruthan, nếu sơn bị dính lên vải thì đó là loại sơn lacquer Mặc dù eruthan và sơn khô thông thường không chịu ảnh hưởng của dung môi, chúng có thề loang màu
ra một vài loại sơn hay phai màu, nếu lớp sơn không được xử lý đúng hay nếu lớp sơn đã bị biến chất
1 Xác định sơn
2 Đánh giá phạm vi hư hỏng
3 Sửa chữa vết lõm trên bề
mặt kim loại nền
6 Làm sạch bụi và làm sạch mỡ
5 Mài vát mép sơn giáp mối
7 Sơn lót
Trang 143 Đánh giá phạm vi hư hỏng
Đánh giá phạm vi hư hỏng bằng cách nhìn bằng mắt hay sờ vào bề mặt Sau đó lập kế hoạch các bước cần thiết để sửa chữa hư hỏng
(1) Đánh giá bằng cách nhìn bằng mắt
Kiểm tra sự phản chiếu của đèn nê ông lên bề mặt
để đánh giá phạm vi hư hỏng hoặc kích thướt của
các vùng bị ảnh hưởng Điều quan trọng là kiểm tra
toàn bộ khu vực hư hỏng ở giai đoạn này Điều này
là vì rất khó đánh giá chính xác hư hỏng một lần bề
mặt kim loại khi bề mặt sơn có thể bị ảnh hưởng
Thậm chí một biến dạng rất nhỏ có thể quan sát
được bằng cách di chuyển đầu của bạn một ít tại
thời điểm quan sát tấm
(2) Đánh giá bằng cách sờ vào bề mặt
Đeo găng tay vào (tốt nhất là loại bằng cốt tông) và sờ vào bề mặt hư hỏng theo tất cả các hướng, không được ấn vào Đều này được làm bằng cách tập trung cảm giác lên bàn tay của bạn Để có thể tìm ra một cách chính xác những vùng không đồng điều của khu vực ảnh hưởng Sự di chuyển bàn tay phải rộng ra bao gồm cả khu vực không bị hư hỏng, không nên chỉ sờ vào vùng hư hỏng Tương tự, một số khu vực hư hỏng dễ cảm nhận hơn bằng cách di chuyển bàn tay theo một phương
Hình 1.16 Đánh giá phạm vi hư hỏng bằng cách nhìn bằng mắt
Hình 1.15 Phương pháp xác định sơn
Trang 15(3) Đánh giá bằng cách dùng thước thẳng
Đặt thước thẳng lên vùng không bị hư hỏng phía đối diện của thân xe và kiểm tra khe hở giữa bề mặt và thước thẳng Sau đó, đặt thước lên bề mặt hư hỏng và đánh giá sự khác nhau giữa các khe hở của bề mặt hư hỏng và không bị hư hỏng
4 Sửa chữa những chỗ lồi ra trên bề mặt tấm
Nếu tìm ra một phần của bề mặt cao hơn bề mặt bình thường khi đánh giá hư hỏng, dùng đột hay búa nhọn gõ phẳng vùng nhô lên, hay làm lỏm hơn bề mặt bình thường một chút
Chú ý:
Nếu đập lực quá mạnh thì làm bề mặt
hư hỏng rộng hơn hay biến dạng toàn bộ tấm
Hình 1.17 Đánh giá phạm vi hư hỏng bằng cách sờ vào bề mặt
Hình 1.18 Đánh giá phạm vi hư hỏng bằng cách dùng thước thẳng
Trang 165 Mài bóc lớp sơn
Mỗi khi vùng hư hỏng đã bị va chạm, rất có thể sự bám dính giữa lớp sơn và bề mặt kim loại bị ảnh hưởng Vì vậy, cần phải mài bớt lớp sơn để tránh lớp sơn bị bong ra sau này
Mài bóc lớp sơn ra khỏi vùng hư hỏng dùng loại giấy ráp
có độ ráp # 60 đến # 80 gắn lên máy mài tác động đơn Lưu ý:
Đặt máy mài như chỉ ra ở hình vẽ để mài lớp sơn
Hình 1.20 Mài bóc lớp sơn
Hình 1.21 Chú ý khi mài bóc lớp sơn
Trang 176 Mài vát mép sơn giáp mối
Lớp sơn được mài có mép dày (có bậc) Để làm cho mép sơn rộng và nhẵn, có thể mài mép sơn để tạo ra hơi dốc một chút bằng quy trình được mô tả dưới đây, được gọi là mài mép sơn giáp mối Nếu không làm điều này thì đường ranh giới sẽ xuất hiện sau khi phun lớp sơn màu
Chú ý:
Nếu có một đường gân bên cạnh, dán băng dính lên nó
để tránh nó khỏi bị hỏng và ngăn cho khu vực sửa chữa
lan rộng ra không cần thiết trong quá trình mài vát mép
sơn giáp nối
Hình 1.22 Mài vát mép sơn giáp mối
Hình 1.23 Chú ý khi mài vát mép
Trang 187 Làm sạch bụi và mở
(1) Làm sạch bụi
Dùng súng thổi bụi để thổi khí nén lên trên bề mặt để
làm sạch bụi và hạt mài ra khỏi bề mặt
(2) Làm sạch mỡ
Nhúng giẻ vào chất làm tan mỡ và đặt nó lên bề mặt để làm ướt bề mặt Khi dầu còn lại loang trên bề mặt, lau nó bằng giẻ khô và sạch Nếu còn bất cứ một ít dầu trên bề mặt kim loại, thì sau này sẽ làm sơn rộp và bong ra
8 Phun sơn lót
Phun sơn lót lên diện tích bề mặt kim loại lộ ra để ngăn cho nó khỏi bị gỉ và cải thiện độ bám dính Nhìn chung, người ta dùng loại sơn lót hai thành phần, mặc dầu sẵn có cả loại một và hai thành phần Vì có một số loại sơn lót không có tính bám dính tốt với matít, nên theo sự hướng dẫn của nhà sản xuất sơn đề áp dụng đúng
Hình 1.24 Làm sạch bụi
Hình 1.25 Làm sạch mỡ bám trên bề mặt
Hình 1.26 Phun sơn lót
Trang 199 Qui trình bả matít
Thông thường người ta áp dụng quy trình bả matít dưới đây
a Kiểm tra lượng matít poliexte cần dùng
Xác định xem cần bao nhiêu lượng matít poliexte được dùng, đánh giá lại phạm vi hư hỏng, nhưng ở thời điểm này không sờ lên bề mặt, vì vậy không được để lại bất cứ một vệt dầu nào trên bề mặt cần bả matít
Quy trình xử lý ban đầu
1 Kiểm tra lượng matít pôliexte cần dùng
2 Trộn matít pôliexte
3 Bả matít pôliexte Quy trình phun sơn lót bề
mặt
5 Mài matít pôliexte
4 Làm khô matít pôliexte
6 Mài các vết xước giấy
Trang 20b Trộn matít poltyexte
(b 1 ) Lấy matít ra
* Thường các chất thành phần của matít là
dung môi, nhựa và chất màu tách rời độc lập
trong hộp Vì matít không thể sử dụng ở trạng thái
tách rời, nó phải được trộn đều trước khi lấy ra
khỏi hộp, áp dụng tương tự đối với chất đóng rắn
Bóp ép tuýp thật đều sao cho các chất thành phần
trộn đều trước khi sử dụng
* Bôi lượng matít cần thiết lên tấm
trộn Sau đó bổ sung lượng chất đóng rắn
vừa đủ dựa trên tỷ lệ trộn tiêu chuẩn
Đừng lấy quá nhiều matít ra một lần, thậm
chí nếu bạn cần bả matít trên diện tích lớn
Lúc đầu, chỉ lấy đủ lượng matít bằng quả
trứng, sau đó bổ sung thêm nếu cần
(b 2 ) Trộn Matít
Dùng dao trộn, khi trộn cẩn thận trong động tác gạt, sao cho không có khí vào trong matít
Chú ý:
Đậy nắp matít ngay sau khi sử dụng
ngăn cho dung môi khỏi bay hơi
Nếu dung môi đã bay hơi hết và matít
đặc lại, đổ thêm dung môi vào trong
hộp
Hình 1.27 Cách trộn đều matít và chất đống rắn
Hình 1.28 Cách lấy matít và chất đóng rắùn lên tấm trộn
Trang 21Hình 1.29 Cách trộn matít
Trang 22c Bả matít polixete
(c 1 ) Cách cầm dao bả
Không có cách đặt biệt nào để cầm dao bả, hình minh hoạ dưới đây chỉ ra một cách hiệu quả để điều khiển dao bả cho người thuận tay phải
(c 2 ) Bả matít
Không bả nhiều matít ngay một lần Dựa
vào vị trí và hình dạng của vùng cần bả, tốt
nhất là bả matít qua một vài lần
1 Ở lần đầu, giữ dao bả gần như vuông
góc và miết matít ép vào bề mặt làm việc
để bả lớp matít mỏng và đảm bảo rằng matit
điền vào lỗ rỗ và thậm chí các vết xước nhỏ
nhất để tăng độ bám dính
2 Lần thứ hai và thứ ba, nghiêng dao
bả một góc khoảng 35 đến 45o và bả lượng
matít nhiều hơn mức cần thiết một ít Mở
rộng dần dần diện tích bả matít sau mỗi lần
bả Nên bả quanh các mép một lớp mỏng
hơn, để dao hơi nghiên một chút để không
tạo ra lớp dày ở mép
3 Lần bả cuối cùng, giữ dao bả gần như
áp sát xuống bề mặt làm việc và làm phẳng
bề mặt
Hình 1.30 Cách cầm dao bả
Hình 1.31 Cách bả ma tít
Trang 23(c 3 ) Bả matít trên mặt phẳng
a Bả một lớp mỏng matít lên toàn bộ diện
tích cần thiết
b Để giảm thiểu công sức trong quá trình mài
giai đoạn tiếp theo, hãy bả lớp matít thứ hai
không được tạo ra mép dày Nếu dao bả ở vị
trí như hình vẽ bên trái, tác dụng lực lên đỉnh
của dao bằng ngón tay trỏ của bạn đểâ tạo ra
lớp matít mỏng ở trên đỉnh
c Bả matít trong phần tiếp theo, phủ chồng
lên phần bả thứ nhất một ít trong bước 2 Để
bả một lớp mỏng ngay khi bắt đầu đi qua, tỳ
nhẹ dao và miết dao sát vào mặt làm việc
Sau đó, thôi tác dụng lực và trượt dao ngay
cùng thời điểm Tiếp theo, tỳ nhẹ lên dao bả
để tạo ra một lớp mỏng ở cuối đường bả
d Lặp lại bước 3 ở trên cho đến khi phủ hết
toàn bộ vùng cần bả
Hình 1.32 Bả một lớp mỏng lên toàn bộ diện tích
Hình 1.33 Bả lớp thứ hai
Hình 1.34 Độ chồng mí giữa các lượt bả
Hình 1.35 Hình dạng sau khi bả xong
Trang 24Lưu ý:
d Sấy khô matít polyexte
Matít đã bả đang ướt sẽ nóng lên thông qua nhiệt
phản ứng trong nó Vì vậy, thúc đẩy được phản ứng
làm khô Nhìn chung, có thề mài matít được sau khi
bả matít từ 20 đến 30 phút Phản ứng bên trong matít
sẽ chậm đi ở nhiệt độ thấp hay độ ẩm cao, cần một
thời gian dài hơn để làm khô matít Để tăng nhanh
quá trình làm khô matít, phải cần nhiệt bổ sung, vì
vậy phải dùng máy sấy hay đèn sấy hồng ngoại
Hình1.36 Chú ý khi bả matít
Hình 1.37 Sấy matít
Trang 25Chú ý:
Nếu dùng đèn sấy hay máy sấy để nung nóng
và sấy khô matít, chú ý phải giữ nhiệt độ bề mặt
matít dưới 50oc để ngăn cho matít khỏi bong ra hay
nứt Nếu bề mặt quá nóng không thể sờ được, thì khi
đó nhiệt đô đã quá cao
Nhiệt độ ở vùng matít mỏng có xu hướng giữ
nhiệt tương đối thấp hơn sao vối vùng matít dày
Nhiệt độ thấp này sẽ làm kìm hãm phản ứng sấy của
vùng mỏng Vì vậy, phải luôn luôn kiểm tra các phần
matít mỏng để xác định điều kiện sấy khô của matít
e Mài matít pôliexte
Sau khi phản ứng làm khô của matít xảy ra hoàn toàn, các chỗ không cần thiết được mài bỏ bằng máy mài hay dụng cụ mài tay Mặc dù, người ta vẫn có thề dùng loại máy mài tác dụng kép, nhưng trong phần này chỉ miêu tả máy mài có tác dụng quỹ đạo, là loại dùng phổ biến để mài matít
a Gắn giấy ráp có độ ráp # 80 vào máy mài và mài toàn bộ diện tích bằng cách di chuyển từ
sau ra trước, từ bên này sang bên khác và tất cả các hướng theo đường chéo
Chú ý:
Tiến hành mài ngay sau khi phản ứng
làm khô xảy ra hoàn toàn và nhiệt độ của nó
hạ xuống bằng nhiệt độ trong phòng Nếu
matít được mài trước khi chưa nguội hoàn
toàn, sẽ gây ra cong bề mặt
Để tránh việc tạo ra rãnh sâu quanh khu
vực sơn, chỉ mài những vùng có bả matít
(thực hiện theo bước 2)
Không mài hầu hết toàn bộ bề mặt một
luợt, mà phải kiểm tra bề mặt bằng cách sờ
hay dùng thước thẳng trước khi tiến hành
Không nên tập trung chỉ mài điểm lồi,
làm hình dạng xung quang sẽ bị biến dạng
Vì vậy, cách mài tốt nhất là sau khi đã mài
một vài lượt thì mài toàn bộ bề mặt một lần
Hình 1.38 Chú ý khi sấy matít
Hình 1.39 Cách mài matít bằng máy mài
Trang 26b Gắn giấy ráp loại # 120 vào dụng cụ mài
bằng tay Mài các bề mặt một cách cẩn thận
vừa mài vừa kiểm tra bề mặt bằng cách sờ
Lưu ý:
Di chuyển dụng cụ mài bằng tay nhất nhẹ
vào đầu hay đáy của dụng cụ để biết được
hiện tại bạn đang mài chỗ nào
c Gắn giấy ráp có độ ráp # 200 lên dụng cụ mài bằng tay Ở giai đoạn này, truớc hết mài một
lớp mỏng phía bên ngoài của vùng bả matít để cân bằng mức sai lệch của vùng ngoài
f Mài vết xước giấy nhám
Gắn giấy ráp loại # 300 lên dụng cụ mài tay và loại bỏ các vết xước trên toàn bộ diện tích
Lưu ý:
Làm sạch thường xuyên
Khi các hạt mài bám vào giấy ráp, làm sạch các hạt đó để duy trì điều kiện mài tốt nhất
Kiểm tra thường xuyên
Kiểm tra tình trạng bề mặt thường xuyên
Nếu bề mặt matít đã bị mài quá nhiều, các điểm trên đó thấp hơn bề mặt bình thường thì phải bổ sung thêm matít bằng cách bả lại matít, sấy khô và mài lại
Chú ý:
Hoàn thiện hình dạng cơ bản của
bề mặt làm việc ở giai đoạn này
Chú ý:
o Mài rộng hơn một chút so với diện tích mài trước đó để loại bỏ các vết xước
giấy còn lại khi dùng giấy ráp loại # 200
o Xung quanh vùng matít phải được mài vát mép
Hình 1.40 Cách mài matít bằng dụng cụ chà tay
Trang 27g Làm sạch bụi và sạch mỡ
Dùng súng khí nén để thổi sạch
bụi và các hạt mài ra khỏi bề
mặt matít Đặt súng thổi bụi
gần bề mặt matít, thổi tất cả các
mảng vỡ hay bụi, chú ý làm
sạch các hạt mài ra khỏi các lỗ
rỗ (trên mặt matít) và các kẽ
nứt khác Thực hiện qui trình
làm sạch mỡ như bình thường
h Bả lại matít poliexte
Bả thêm một lớp mỏng đều lên toàn bộ bề mặt, vì nếu chỉ bả vào những chỗ lõm thì các bề mặt bình thường khác sẽ bị hỏng khi mài
Hình 1.43 Làm sạch bụi và sạch mỡ
Hình 1.44 Bả lại matít poliexte Hình 1.41 Kiểm tra hình dạng bằng thước thẳng Hình 1.42 Kiểm tra độ nhẵn bằng tay
Trang 28V SƠN LÓT BỀ MẶT
Sau khi quá trình bả matít được hoàn tất và có một kết quả tốt, bề mặt phải trải qua quá trình sơn lót bề mặt (tạo bề mặt) Nó bao gồm hoàn thiện bề mặt, mài bỏ các vết xước, chống rỉ và làm kín đề cải thiện tính bám dính cho lớp sơn màu (trên cùng) tốt hơn
Quy trình sơn lót bề mặt
4 Pha sơn lót bề mặt
1 Làm trầy xước để cải
thiện tính bám dính
3 Che các bề mặt
2 Làm sạch bụi và mỡ
10 Tạo vết xước cho lớp sơn
màu
9 Mài lớp sơn lót bề mặt
8 Sấy khô phần ma tít vừa
sửa
7 Bả ma tít sửa chửa nhỏ
6 Sấy khô lớp sơn bề mặt
Trang 291 Mài nhám để cải thiện tính bám dính
Sơn lót bề mặt hay sơn trực tiếp lên bề mặt sơn lại, mà không cần chuẩn bị thêm, thì tình bám dính giữa các lớp sẽ rất kém, thường gây ra bong sơn khi có lực rung động và uốn Vì vậy, trước khi phun thêm bất cứ loại lớp sơn nào, các vết xước nhỏ như được tạo ra bởi giấy ráp phải được làm rõ hơn trên bề mặt hoạt động cũng như làm tăng diện tích bề mặt của nó, vì vậy cải thiện được tính bám dính Quá trình này được gọi là “làm trầy xước” và quá trình mài vát mép sơn giáp mối được thực hiện trước khi bả matít cũng là một phần của quá trình này
Gắn giấy ráp có độ ráp # 300 lên máy mài tác
động kép và mài chuẩn bị cho lớp sơn bề mặt Vì
sơn lót bề mặt sẽ được phủ lên toàn bộ vùng
matít, vùng đểà làm trầy xước nên rộng ra khoảng
100mm so với mép ngoài của vùng matít
Chú ý:
Để tránh vùng sơn lại lan rộng ra không
cần thiết, không được tạo xước dọc theo đường
nối hay đường gân, thậm chí nếu độ rộng nhỏ hơn
100mm
Chắc chắn rằng độ nhẵn bóng đã được mài
loại bỏ khỏi sơn Nếu có bất cứ vùng nào còn có
độ nhẵn bóng thì bề mặt sơn đã không bị ảnh
hưỏng bởi giấy ráp
Khi không thể dùng được máy mài thì mài
bằng tay bằng cách dùng loại giấy ráp có độ ráp #
600
Hình 1.45 Chất lượng lớp sơn khi có làm trầy và không làm trầy
Hình 1.46 Đánh nhám bề mặt bằng máy mài
Trang 302 Làm sạch bụi và mỡ
Đặc biệt chú ý khi loại bỏ các hạt ra khỏi
lỗ rỗ sơn hay các kẻ hở khác, thổi khí nén
vào bề mặt cũng như các khu vực lân cận
Dùng chất làm sạch mỡ để tiến hành theo
quy trình làm sạch mỡ bình thường
3 Che phủ
Che các khu vực để tránh phun quá sơn lót không cần thiết
4 Trộn pha sơn lót bề mặt
Tuân theo hướng dẫn của nhà sản xuất, đổ thêm chất đóng rắn vào sơn lót bề mặt Urethan và pha loãng hỗn hợp với các chất pha sơn, dùng các dụng cụ đo thích hợp
Các loại chất pha sơn được dùng theo nhiệt độ của môi trường (ví dụ)
Hình 1.48 Làm sạch bụi và mỡ bám trên bề mặt
Hình 1.49 Che phủ bề mặt
Hình 1.50 Cân và pha sơn lót
Trang 315 Phun sơn lót bề mặt
1 Khuấy hỗn hợp sơn lót bề mặt, chất đóng rắn
và chất pha sơn thật đều bằng đũa thuỷ tinh
Sau đó đổ vào súng phun sơn qua lưới lọc
2 Trước hết hãy phun lớp sơn lót bề mặt lên
toàn bộ vùng bả matít cho đến khi ướt vùng đó
Đều chỉnh lỗ phun sơn bình thường (đường kính
lỗ phun sơn 1,5mm)
o
Áp suất: 2-2.5 kg/cm2
o Khoảng cách súng phun: 10-15 cm
3 Hãy đợi một thời gian để dung môi trong lớp
sơn bề mặt bay hơi (cho đến khi giảm bớt độ
bóng)
4 Phun thêm từ hai đến ba lớp sơn lót bề mặt
nữa, dùng kỹ thuật sơn tương tự như ở bước 2
Hình 1.51 Đổ sơn vào súng và phun sơn
lên vùng bả matít
Hình 1.52 Chờ sơn bay hơi và tiếp tục sơn các
lớp tiếp theo
Trang 32Chú ý:
Mỗi lần phun sơn rộng hơn một chút lên khu vực vực
cần sơn lót
Đợi đủ khô sau mỗi lần sơn
Sẽ tạo ra mép dày nếu vùng đó phun sơn quá nhiều,
sơn lót bề mặt được phun quá nhiều lên giấy che như ở
phía bên phải của hình vẽ
Nếu có một vài chỗ bị biến dạng (vết lõm nhẹ) trên
bề mặt matít, phun lượng sơn lót bề mặt vừa đủ lên để
phủ lên chỗ lõm, nhưng không được tạo ra chảy sơn
6 Sấy khô sơn lót bề mặt
1 Để đảm bảo dung môi đã bay hơi hoàn toàn, hay theo
chỉ dẫn của nhà sản xuất để xác định thời gian lắng sơn
cụ thể khi dùng phưong pháp sấy khô sơn cưỡng bức như
dùng đèn (thời gian khô sơn phổ biến là 5 đến 15 phút ở
nhiệt độ 20 oc
2 Sấy khô bề mặt làm việc theo hướng dẫn của nhà sản
xuất ( xấp xỉ 15 đến 20 phút ở nhiệt đô 60 oc; 90 đến 120
phút ở nhiệt độ 20 oc)
7 Bả matít sửa chữa nhỏ
(1) Kiểm tra lỗ rổ và các vết xước mài
Sau khi matít khô lỗ rỗ hay các vết xước mài của bề mặt Nếu có, các khu vực ảnh hưởng được bả lại matít loại touch –up
(2) Bả matít sửa chữa nhỏ
Có hai loại matít dùng đề sửa chữa lại: Loại một thành phần và loại hai thành phần Thông thường dùng loại một thành phần đểå bả lại matít vì nó đơn giản trong sử dụng
Xúc matít touch-up và đặc lên tấm trộn Nếu lấy matít ra từ tuýp, có thể bóp matít ra trực tiếp lên mũi dao bả, như hình vẽ sau.:
Hình 1.53 Chú ý khi sơn lót bề mặt
Hình 1.54 Sấy khô sơn lót
Trang 33 Bả matít touch-up để điền vào các lỗ rỗ và các vết xước
Chú ý:
Miết matít vào lỗ rỗ và vết xước
Thường sửa bằng cách bả lớp matít mỏng, vì nó sẽ khô chậm nếu lớp dày
Có rất nhiều vết cần phải sửa lại, thì phải bả matít lên toàn bộ diện tích cần sơn lót bề mặt để tránh khỏi bỏ sót một vài chỗ
8 Sấy khô matít sửa chữa nhỏ (touch – up)
Sấy khô bề mặt làm việc theo hướng dẫn của nhà sản xuất, (thông thường xấp xỉ 30 đến 40 phút
ở nhiệt đô 20 oc và 5 đến 10 phút ở nhiệt độ 60 oc)
9 Mài lớp sơn lót bề mặt
Lớp sơn lót bề mặt có thể được mài ướt hay mài khô Lựa chọn phương pháp tốt nhất dựa vào ưu nhược điểm của từng phương pháp đó
(1) Mài khô bằng tay
Gắn giấy ráp có độ ráp # 600 lên dụng cụ mài bằng
tay và mài sơn lót bề mặt
Chú ý:
Vì giấy ráp dễ tắc, thường xuyên dùng phần ướt của
giấy ráp hay dùng chổi để làm sạch các hạt mài
Hình 1.55 Lấy ma tít ra khỏi tuýp
Hình 1.56 Mài matít sửa chữa nhỏ
Hình 1.57 Mài khô bằng tay
Trang 34(2) Mài khô bằng máy mài
Gắn giấy ráp có độ ráp # 400 vào máy mài tác
động kép và mài lớp sơn lót bề mặt
Lưu ý:
Không thực hiện mài khô bằng mày mài toàn
bộ bề mặt, vì vậy để hoàn thiện công việc
dùng dụng cụ mài bằng tay
(3) Mài ướt bằng tay
Làm ướt vùng được mài bằng miếng mút
nhúng vào nước khi mài lót bề mặt dùng dụng
cụ mài cầm tay với giấy ráp không thấm nước
có độ ráp # 600
Chú ý:
Sau khi mài hơi nước phải được lau khô hoàn
toàn
(4) Mài ướt bằng máy mài
Gắn giấy ráp không rhấm nuớc có độ ráp # 400
hauy cao hơn vào máy mài ướt và mài lớp sơn
lót bề mặt
Chú ý:
Nếu máy mài ướt không có chức năng cấp nước
tự động, thì phải làm ướt bằng miếng mút được
nhúng nước giống như cách mài ướt bằng tay
Sau khi mài phải làm khô hoàn toàn hơi ẩm
Không thể mài ướt hoàn toàn diện tích bằng
máy mài ướt, vì vậy để hoàn thiện hãy dùng
dụng cụ mài ướt cầm tay
Hình 1.58 Mài khô bằng máy mài
Hình 1.59 Mài ướt bằng tay
Hình 1.60 Mài ướt bằng máy mài
Trang 35(5) Kiểm tra bề mặt sau khi mài
Nếu bề mặt đựoc mài đồng đều, matít và lớp
kim loại nền không lói ra thì quy trình mài lớp
sơn bề mặt được coi là hoàn tất
Chú ý:
Nếu sau khi mài, bề mặt bị quá mức để lộ matit
hay loại nền, thì chất lượng bề mặt (độ ráp bề
mặt) sẽ bị ảnh hưởng do hấp thụ sơn Điều này
củng tạo ra gỉ Nếu điều này xảy ra, quay lại
giai đoạn phun sơn lót và làm lại từ đầu
10 Làm xước bề mặt để chuẩn bị cho lớp sơn màu (trên cùng)
Bước tiếp theo khi mài lớp sơn lót bề mặt là phun lớp sơn màu Tuy nhiên, diện tích đó phải được làm xước nhẹ để chuẩn bị cho sơn màu Làm xước nhẹ là bước quan trọng trong giai đoạn bả matít và phun sơn lót bề mặt vì nếu không có nó, sơn sẽ bị bong ra sau này
(1) Mài lại cả tấm
Mài toàn bộ tầm khi mài lớp sơn lót bề mặt Bề mặt được
sơn có độ nhấp nhô giống như vỏ cam Khi dùng giấy ráp
để mài phẳng bề mặt làm việc sẽ loaị bỏ được độ nhấp
nhô vỏû cam Không thể đạt được chất lượng sơn cuối
cùng tốt nếu trước hết không loại bỏ nhấp nhô dạng vỏ
cam trên bề mặt làm việc
Hình 1.61 Kiểm tra bề mặt sau khi mài
Hình 1.62 Mài lại cả tấm
Trang 36Chú ý :
Phải làm xước nhẹ đề loại bỏ được độ bóng trên
toàn bộ bề mặt Nếu có bất cứ vùng nào độ bóng
bề mặt vẫn còn, thì bề mặt chưa bị ảnh hưởng bởi
xước của giấy ráp và nhấp nhô kiểu vỏ cam chưa
được loại bỏ.
(2) Sơn lại vùng nhỏ trên tấm
Sau khi mài sơn lót bề mặt, dùng hợp chất đánh
bóng và giẻ để mài xước nhẹ rộng hơn khoảng
300mm so với vùng đã sơn lót bề mặt Làm xây
xước không làm mất độ nhấp nhô, nhưng để lại các
vết xước nhỏ trên bề mặt Vì phần góc của tấm
đậm màu sẽ được phun một lớp mỏng, kết quả
nhận được tốt nhất là nhấp nhô bề mặt được giữ lại
nguyên vẹn
Chú ý:
Trong khi mài lớp sơn lót bề mặt, không cần
thiết phải mở rộng diện tích với vết xước
11 Phun sơn lót bề mặt trên một tấm mới
Khi thay thế một tấm mới, toàn bộ tấm phải được phun lớp sơn lót bề mặt trước khi phun lớp sơn trên cùng Các bước bao gồm phun sơn lót bề mặt lên tấm mới giống như áp dụng phun sơn lót từng phần và được mô tả như sau Phương pháp phun về cơ bản là giống như phun lớp sơn trên cùng
Làm xước
nhẹ
Làm sạch bụi và mỡ
Pha sơn lót bề mặt
Phun sơn lót bề mặt
Sấy khô sơn lót bề mặt
Mài lớp sơn lót bề mặt
Hình 1.63 Chú ý khi làm xước bề mặt
Hình 1.64 Sơn lại vùng nhỏ trên tấm
Hình 1.65 Chú ý khi làm xước bề mặt
Trang 37Chương 2
SỬ DỤNG SÚNG PHUN SƠN
Sau khi học xong chương này các học sinh có khả năng:
1 Giải thích được nguyên lý hoạt động của súng phun sơn
2 Phân biệt được các loại súng phun sơn và ưu nhược điểm của từng loại
3 Giải thích được cấu tạo của súng phun sơn
4 Phân tích được các kỹ thuật khi sử dụng súng phun sơn như: Cách cầm súng, chỉnh súng,
di chuyển súng
5 Giải thích được qui trình rửa súng và bảo quản súng
Trang 38I GIỚI THIỆU SÚNG PHUN SƠN
1 Nguyên lý hoạt động và phân loại
Súng phun sơn
Súng phun sơn dùng khí nén để phun sơn dưới dạng sương mù lên bề mặt
Nguyên lý phun sơn
Nguyên lý phun sơn giống như một súng phun Khi khí nén thoát ra các lỗ khí trên nắp khí (Air Cap), áp suất âm (độ chân không) được tạo ra ở đầu họng súng (fluid tip), nó hút sơn từ cốc sơn Sau đó sơn bị hút này phun ra dưới dạng sương mù, ví có khí nén tại các lỗ trên nắp khí
Hình 2.1 Thí nghiệm về nguyên lý của súng phun sơn
Hình 2.2 Cấu tạo của đầu họng súng sơn
Trang 39 Phân loại
Súng phun sơn được chia thành 3 loại sau:
Loại sơn tự chảy
Loại hút sơn
Loại nén sơn (bằng khí nén)
Ưu nhược điểm của từng loại
Loại
sơn tự
chảy
Cốc sơn được đặt phía trên
họng của súng sơn
Sơn được cung cấp đến đầu
họng súng bằng chính trọng
lượng của sơn, cũng như lực
hút dược tạo ra ở đầu họng
súng sơn
Sự thay đổi của lượng sơn thoát ra được duy trì bé nhất, vì có sự thay đổi độ nhớt của sơn
Không phù hợp cho việc hoạt động sơn liên tục trên những vùng làm việc lớn vì dung lượng của cốc sơn nhỏ
Loại
hút
sơn
Cốc sơn được đạt ở dưới họng
của súng sơn Sơn được cung
cấp bằng lực hút được tạo ra
Phù hợp cho việc phun sơn trên những vùng làm việc lớn vì dung lượng của
Súng nặng do dung lượng của cốc sơn lớn
Hình 2.3 Các loại súng phun sơn
Trang 402 Cấu tạo
Vít điều chinh lưu lượng sơn
Điều chỉnh lượng thoát ra của sơn bằng cách điều chỉnh độ dịch chuyển của lim Nới lỏng vít điều chỉnh làm tăng lưu lượng thoát ra và xiết chặt vít làm giảm lưu lượng thoát ra
Xiết chặt hoàn toàn vít điều chỉnh sẽ bịt hoàn toàn dòng sơn
ở đầu họng súng sơn cốc sơn lớn
Loại
nén
sơn
Bình sơn và súng sơn tách rời
nhau Sơn được nén trong bình
sơn nhờ khí nén, hoặc bơm và
cung cấp đến súng phun sơn
Phù hợp cho hoạt động phun sơn liên tục trên diện rộng Nó có thể được sử dụng với loại sơn có độ nhớt cao
Không phù hợp cho việc sơn nhỏ
Hình 2.4 Cấu tạo của súng phun sơn (loại hút)
Hình 2.5 Vít điều chỉnh lưu lượng sơn