Định nghĩa Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virut dại gây ra, bệnh chủ yếu ở động vật có máu nóng chó, mèo.... Đường lây Qua da và niêm mạc: Vi rút dại có trong nước bọt của
Trang 1BÀI GIẢNG BỆNH DẠI (RABIES)
Người chỉ thu được miễn dịch sau khi tiêm vacxin đủ liều Kháng thể trung hòa tồn tại trong nước 3 tháng Nếu tiêm nhắc lại lần 2 thì kháng thể tồn tại nhiều năm.
Định nghĩa
Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virut dại gây ra, bệnh chủ yếu ở động vật có máu nóng (chó, mèo ) lây sang người qua đường da và niêm mạc Biểu hiện lâm sàng của bệnh chủ yếu là trạng thái kích thích tâm thần vận động hoặc một hội chứng liệt kiểu Landry Khi phát bệnh, tử vong là 100%
Lịch sử nghiên cứu
Bệnh dại được biết đến từ thế kỷ 23rd trước công nguyên Năm 1885 Pasteur nghiên cứu tạo miễn dịch chống bệnh dại Đến 1903, bệnh dại mới được mô tả lâm
Trang 2sàng rõ bởi Adechi Negri Nhờ test kháng thể huỳnh quang, bệnh học bệnh dại được hiểu biết năm 1958
Dịch tễ học
Theo Tổ chức y tế thế giới, hàng năm thế giới có 100.000 người chết vì bệnh dại, chủ yếu ở Châu Phi, Châu á Có khoảng 4 triệu người phải điều trị phơi nhiễm dại mỗi năm
Năm 1996, trên toàn cầu có 32.209 người bị bệnh dại (theoWHO)
Vùng dịch tễ có nguy cơ cao là các nước như: Afghanistan, Banglades, Brazil, Bolivia, Trung Quốc, Colombia, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Haiti, ấn độ, Indonesia, Mexico, Myanmar (Burma), Nepal, Pakistan, Peru, Philippines, Sri Lanka, Thái lan, Việt nam, Yemen
Mầm bệnh
Là virut dại, thuộc họ Rhabdovirus, có cấu tạo ARN và có bao ngoài
Pasteur chia vi rut dại ra làm 2 loại:
Virut dại đường phố: Có độc lực mạnh, gây bệnh dại ở súc vật và người
Trang 3Virut dại cố định: Là virut dại được nuôi cấy và thích ứng trong phòng thí nghiệm,
đã giảm, mất độc lực và không gây bệnh dại Được dùng để điều chế vacxin vì có cùng kháng nguyên với virut dại đường phố
Sức đề kháng:
Có sức đề kháng kém: Bị bất hoạt nhanh chóng bởi xà phòng, Ether, cồn Iôt, ở 600C chết trong 5 phút, ở 1000C chết trong 1 phút
Tuy vậy, ở nhiệt độ phòng: virut có thể sống được từ 1 - 2 tuần Vì vậy, đồ vật dính nước bọt chó dại, người bị dại được coi là nguy hiểm
Nguồn bệnh
Là các loài động vật hoang dại bị dại như: Chó sói, chồn, cáo, cầy, gấu trúc Mỹ
và cả loại dơi Vampire hút máu bò ở Nam Mỹ
Là gia súc bị dại: Phổ biến nhất là chó, mèo và có thể là lừa, ngựa, bò, cừu, lợn Đường lây
Qua da và niêm mạc: Vi rút dại có trong nước bọt của súc vật bị dại không bao giờ qua được da lành nhưng vi rút dại lây từ động vật này sang động vật khác và sang người qua da và niêm mạc bị tổn thương (dù rất nhỏ) do bị súc vật dại cắn, cào, liếm hoặc khi làm thịt súc vật bị dại Rất hiếm gặp mắc bệnh dại qua đồ vật trung gian bị dính nước bọt chó dại, người bị dại mà trên người lành sẵn có vết
thương
Qua đường hô hấp do hít phải không khí bị ô nhiễm vi rút dại: ở Nam Mỹ, khi người vào hang động có loài dơi mang virut dại cư trú
Ngoài ra, có một số bệnh nhân bị dại do được ghép giác mạc của người bị bệnh dại Trên động vật có thể lây qua nhau thai hoặc sữa mẹ, chưa có bằng chứng lây bằng đường này trên người
Trang 4Cơ thể cảm thụ
Sức thụ bệnh: Tất cả các loài động vật máu nóng như người, gia súc, dã thú (đặc biệt động vật ăn thịt) đều có thể bị bệnh dại
Chưa biết rõ là có miễn dịch tự nhiên ở người và động vật không, nhưng một số loài dơi ở Nam Mỹ mang vi rút dại lành tính nhưng truyền bệnh
Sau khi phát bệnh ở người tử vong 100%
Người chỉ thu được miễn dịch sau khi tiêm vacxin đủ liều Kháng thể trung hòa tồn tại trong nước 3 tháng Nếu tiêm nhắc lại lần 2 thì kháng thể tồn tại nhiều năm
Cơ chế bệnh sinh và giải phẫu bệnh lý
Cơ chế bệnh sinh
Xâm nhập vào cơ thể qua vết thương (do bị cắn, cào, liếm) virut tăng sinh tại các tế bào cơ, theo đường dây thần kinh ngoại vi lên não gây tổn thương các tế bào thần kinh trung ương, đặc biệt là vùng sừng Amon, hành não Rồi từ đây vi rút cũng theo đường dây thần kinh tới tuyến nước bọt và tản ra khắp hệ thống thần kinh Vi rút có trong nước bọt, nước tiểu, dịch não tủy, tập trung nhiều nhất ở não Vi rút có trong nước bọt chó dại 10 ngày trước khi phát bệnh
Bệnh cảnh lâm sàng là tình trạng não viêm (encephalitis) do virut dại gây nên Thời gian từ khi virut xâm nhập đến khi phát bệnh phụ thuộc vào vị trí, số lượng, tính chất vết cắn và vào sức đề kháng của người bệnh
Tổn thương giải phẫu bệnh lý
Cơ quan tổn thương chính trong bệnh dại là não, tuỷ Với tính chất não viêm từng chỗ, tổn thương cả chất xám lẫn chất trắng Vùng não hay bị tổn thương là: Sừng Amon, vỏ não, hành não
Trang 5Tổn thương vi thể: Giống như các vi rút hướng thần kinh khác, não viêm do virut dại có hiện tượng thâm nhiễm bạch cầu, hiện tượng thực bào và viêm quanh mạch máu Nhưng tổn thương đặc biệt của bệnh dại là các tiểu thể Negri nằm trong bào tương của các tế bào não (vùng sừng Anoon, hành tuỷ) Tiểu thể Negri chính là phản ứng của tế bào quanh vi rút dại, là những vi thể tròn hoặc bầu dục với sắc mầu hồng khi nhuộm bằng Giêmsa, tìm thấy trong 80% các trường hợp bị dại Lâm sàng
Phân chia thể lâm sàng
Thể hung dữ hoặc co cứng: Biểu hiện bệnh là một tình trạng kích thích tâm thần vận động là chủ yếu
Thể liệt: ít gặp hơn thể trên Thường gặp ở người bị chó dại cắn đã tiêm vacxin nhưng muộn Thường không có triệu chứng sợ nước, sợ gió
Triệu chứng học lâm sàng
Thời kỳ ủ bệnh
Từ 10 ngày đến trên 1 năm Trung bình từ 20 ngày đến 60 ngày Nếu số vết cắn nhiều, sâu và vị trí cắn ở gần thần kinh trung ương và giầu mạng lưới thần kinh (đầu, mặt, cổ, bàn tay) thì thời kỳ ủ bệnh sẽ ngắn
Trước khi phát bệnh có thể có tiền triệu: Lo lắng, thay đổi tính tình, có cảm giác ngứa, đau ở nơi bị cắn
Thời kỳ toàn phát
Có 2 thể bệnh sau:
Thể hung dữ hoặc co cứng: Biểu hiện bệnh là một tình trạng kích thích tâm thần vận động là chủ yếu
Trang 6Khi thì bệnh nhân trở nên hung tợn, điên khùng, gây gổ, đập phá lung tung và nhanh chóng tiến tới hôn mê và tử vong
Khi thì ở trạng thái kích thích vận động là chủ yếu với biểu hiện: Co cứng, run rẩy
tứ chi, co giật, co thắt họng và thanh khí quản gây triệu chứng sợ nước Khát
không dám uống, chỉ nhìn thấy hoặc nghe thấy tiếng nước chảy cũng gây tăng co thắt họng và rất đau Tình trạng co thắt này tăng lên mỗi khi có kích thích dù rất nhỏ vào các giác quan như: luồng gió nhẹ (sợ gió), mùi vị, ánh sáng.v.v Nét mặt luôn căng thẳng, hoảng hốt, mắt sáng và đỏ, tai thính, có thể có tình trạng kích thích sinh dục (dấu hiệu cánh buồm, xuất tinh tự nhiên) Có thể có ảo giác, mất định hướng, gây gổ, vùng vẫy, cắn xé Sốt tăng dần, vã mồ hôi, tăng tiết đờm dãi (khạc nhổ, sùi bọt mép), rối loạn tim mạch và hô hấp
Tất cả các triệu chứng trên xuất hiện thành từng cơn, ngày càng dầy hơn, mạnh hơn Bệnh nhân có thể có lúc tỉnh táo giữa các cơn Các triệu chứng nặng dần lên
và tử vong trung bình sau 3 đến 5 ngày do ngừng hô hấp và ngừng tim
Thể liệt: Ít gặp hơn thể trên Thường gặp ở người bị chó dại cắn đã tiêm vacxin nhưng muộn Thường không có triệu chứng sợ nước, sợ gió
Lúc đầu có thể thấy đau nhiều vùng cột sống, sau đó xuất hiện hội chứng liệt leo kiểu Landry: Đầu tiên liệt chi dưới, sau đó rối loạn cơ vòng, rồi liệt chi trên Khi tổn thương tới hành não thì xuất hiện liệt thần kinh sọ, ngừng hô hấp và tuần hoàn
Tử vong sau 4 đến 12 ngày
Xét nghiệm:
Bạch cầu thường tăng, đa nhân tăng Nước tiểu có protein, bạch cầu Dịch não tuỷ
có biểu hiện như viêm não-màng não do virut (tăng nhẹ protein, bạch cầu)
Xác định virut dại từ các bệnh phẩm: Nước mắt, nước bọt, dịch não tuỷ, mảnh sinh thiết não, da bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang Trả lời kết quả sau 2 giờ
Trang 7Phân lập virút dại từ các bệnh phẩm trên bằng phương pháp nuôi cấy tế bào Trả lời trong 24 giờ Thực tế, cả hai phương pháp trên ít được áp dụng và khó thực hiện
Nếu bệnh nhân tử vong: Tìm tiểu thể Negri trong não ở vùng sừng Amon và các tổn thương viêm não không đặc hiệu bằng kính hiển vi điện tử
Chẩn đoán xác định
Dựa vào các yếu tố sau:
Có tiền sử bị súc vật (chó, mèo ) cắn, cào, liếm hoặc làm thịt các súc vật có biểu hiện bị dại như: Chó, mèo đột ngột trở nên hung dữ không có lý do, cắn xé lung tung, cắn nhiều người hoặc thay đổi tính nết như lấm lét, ủ dột, nằm xó tối
Các triệu chứng lâm sàng của bệnh dại: Chú ý ở trẻ con thường hay bị cắn vào mặt nên thời gian ủ bệnh thường ngắn (9 - 12 ngày) Biểu hiện lâm sàng rất ít cơn co thắt nên có thể không có dấu hiệu sợ nước Trẻ vẫn bình tĩnh, chỉ thấy khó chịu, nôn oẹ, bần thần, buồn bã, có thể có một giai đoạn kích thích ngắn rồi li bì Truỵ tim mạch và tử vong
Xét nghiệm: Xác định vi rút dại từ các bệnh phẩm: Nước mắt, nước bọt, dịch não tuỷ, mảnh sinh thiết não Phân lập virút dại từ các bệnh phẩm trên bằng phương pháp nuôi cấy tế bào
Chẩn đoán phân biệt
Thể hung dữ phải chẩn đoán phân biệt
Chứng ngộ độc rượu cấp: Cũng đột ngột xuất hiện điên cùng với nhiều ảo giác Nhưng khác dại là không có co thắt họng, không rối loạn hô hấp Cơn điên cuồng liên tục chứ không từng cơn như bệnh dại Có tiền sử nghiện rượu Không có tiền
sử bị chó, mèo cẵn
Trang 8Loạn tâm thần cấp: Cũng kích động đập phá, la hét liên tục nhưng không có tiền sử
bị chó cắn Nếu bị chó cắn thì rất khó phân biệt, phải điều trị thử và theo dõi tiến triển để phân biệt
Thể co cứng có sợ nước cần chẩn đoán phân biệt
Viêm não do các virút khác: Không có tiền sử bị chó, mèo cắn, cào
Uốn ván thể sợ nước: Có dấu hiệu cứng hàm đầu tiên sau mới xuất hiện co thắt họng Co cứng toàn bộ cơ liên tục Không nhất thời như bệnh dại
Bệnh tưởng bị bệnh dại sau khi bị chó thường cắn, gặp ở người lo sợ quá mức Bệnh nhân cũng sợ nước nhưng không sợ gió Dùng thuốc an thần có thể bớt Đôi khi cũng phải theo dõi một thời gian mới phân định được
Dại thể liệt cần chẩn đoán phân biệt
Bệnh bại liệt ở trẻ em: Thường nhức đầu có sốt cao, viêm đường hô hấp Rối loạn tiêu hóa và đau cơ Khi xuất hiện liệt thì có tính chất: Không có thứ tự nhất định, liệt nhẽo, không đối xứng, thường liệt ở gốc chi - không có tiền sử bị chó cắn, mèo cào
Viêm não, tuỷ, viêm đa rễ và dây thần kinh sau tiêm vacxin, chế từ tổ chức thần kinh của súc vật đã trưởng thành (cừu, dê ) Xuất hiện liệt từ 1 đến 4 tuần sau tiêm mũi đầu Điều trị bằng Corticoid có hy vọng khỏi được
Viêm tuỷ leo thể Landry do các nguyên nhân khác
Biến chứng
Hô hấp
Khó thở, ngạt thở do thiếu oxy, co thắt
Viêm phổi, phế quản, tràn khí màng phổi
Trang 9Tuần hoàn
Loạn nhịp tim, nhịp nhanh trên thất, block nhĩ thất
Hạ huyết áp, phù phổi cấp, suy tim
Thần kinh
Tăng áp lực nội sọ do phù não
Điều trị
Hiện nay chưa có thuốc gì có thể cứu sống bệnh nhân khi đã lên cơn dại Chỉ điều trị triệu chứng: An thần, trợ tim mạch, hô hấp, để ở nơi yên tĩnh, riêng biệt
Phòng bệnh
Phòng bệnh chung
Kiểm soát súc vật nghi dại Tiêm vacxin phòng dại bắt buộc cho gia súc, đặc biệt là chó, mèo
Tránh tiếp xúc với súc vật không rõ nguồn gốc, không để bị cắn, tiêm phòng ngay khi nghi ngờ, bắt theo dõi súc vật nghi dại cắn 10 ngày
Tiêm vacxin phòng dại cho một số người có nghề nghiệp tiếp xúc nhiều với súc vật như: Thú y, chăn nuôi gia súc ( chó, mèo ) chuyên nghiệp v.v
Bệnh dại được coi là bệnh tối nguy hiểm nên khi săn sóc bệnh nhân phải mặc đầy
đủ trang bị (mũ, mạng, quần áo, găng tay, ủng), rửa tay xà phòng kỹ sau khi săn sóc rồi sát trùng bằng cồn, Ete
Các đồ vật (vải, dụng cụ riêng của bệnh nhân ) cần đốt huỷ Các đồ sắt, giường,
tủ, sàn nhà cần lau rửa bằng xà phòng và phun thuốc khử trùng
Đặc hiệu
Tại chỗ vết thương sau khi bị súc vật cắn
Trang 10Sau khi bị súc vật (chó, mèo ) cắn, cào phải rửa, dội thật kỹ vết thương bằng nước
xà phòng; sau đó rửa lại vết thương bằng nước lọc và lau khô sát trùng vết thương bằng các thuốc sẵn có như: cồn, cồn iôt, Ete Tránh khâu vết thương sớm trừ vết thương ở mặt Có thể tiêm phòng uốn ván và cho kháng sinh
Điều trị huyết thanh kháng dại (serum anti-rabies)
Chỉ dùng cho các trường hợp bị cắn nặng: Như vết cắn rộng, sâu, nhiều vết cắn, bị cắn ở đầu, mặt, cổ, tay bởi một con vật có biểu hiện dại
Yêu cầu:
Tiêm càng sơm sau khi bị cắn càng có hiệu quả tốt
Tiêm trước khi tiêm vacxin
Cách tiêm:
Có 2 loại huyết thanh kháng dại:
Huyết thanh kháng dại khác chủng lấy từ ngựa đã miễn dịch cao Tiêm miễn dịch 1 lần duy nhất 40 UI/kg nặng Có thể tiêm quanh vết cắn
Để tránh tai biến sốc phản vệ có thể tiêm theo phương pháp Besredka và dùng thuốc kháng Histamin tổng hợp và chỉ tiêm ở các trung tâm chống dại
Globulin miễn dịch, đồng chủng, đặc hiệu kháng dại Tiêm bắp, vị trí ở mông một liều duy nhất là 20 UI/kg nặng Ưu điểm: Không có tai biến, chịu đựng tốt, nhưng
có nhược điểm là giá thuốc cao
Tiêm vacxin
Chỉ định:
Trang 11Khi bị liếm, trên da có vết thương, bị cào, cắn bởi súc vật bị dại hoặc nghi ngờ bị dại mà con vật ấy đã bị giết chết (mà không có điều kiện xét nghiệm để khẳng định
bị dại hay không), hoặc đã trốn mất hoặc bị động vật hoang dã cắn
Khi bị súc vật có vẻ khỏe mạnh cắn, phải theo dõi súc vật trong vòng 10 ngày Nếu thấy có bất kỳ biểu hiện ốm hoặc thay đổi tính tình cần tiêm ngay Còn nếu vẫn khỏe thì không cần tiêm
Một số loại vacxin và cách tiêm:
Vacxin cổ điển của Pasteur: được chế từ virut cố định, nuôi cấy trong tổ chức thần kinh của súc vật đã trưởng thành được làm giảm độc (như vacxin Fermi hoặc
Hemip) hoặc đã bị giết chết (vacxin Semple) Loại này phải tiêm nhiều mũi và hay
có tai biến thần kinh, nên ngày nay rất ít được dùng
Vacxin Fuenzalida: Được chế từ vi rút cố định cấy ở não chuột nhắt trắng mới đẻ được bất hoạt bằng β Propiolacton Tiêm 6 mũi trong da cách nhau 1 ngày với liều 0,2 ml/mũi cho người lớn và 0,1 ml/1mũi cho trẻ con Đây là vaxin của Việt Nam Vacxin này có thể gây ra tai biến:
Dị ứng: Tại nơi tiêm: Sần, quầng, ngứa Toàn thân: Sốt, phát ban Điều trị bằng thuốc kháng Histamin
Tai biến thần kinh: Viêm dây thần kinh, viêm đa rễ và dây thần kinh, viêm tuỷ, viêm não tuỷ Loại tai biến này nặng nhưng ít gặp; điều trị bằng Corticoid
Vacxin của Viện Merieux (Pháp): được chế từ virut cấy trên tế bào lưỡng bội của người (tiêm rất an toàn) được bất hoạt bằng β Propiolacton Mỗi mũi tiêm: 1ml, tiêm dưới da (không được tiêm bắp) Cách tiêm:
Khi bị cắn nhẹ và vừa: Tiêm 5 mũi vào các ngày (N): N0, N3, N7, N14, N30 hoặc N0 tiêm 2 mũi ( sáng-chiều ), N7, N21 (4 mũi ngắn) hơn
Trang 12Khi bị cắn nặng: N0 tiêm huyết thanh kháng dại, sau đó tiêm vacxin N0, N3, N7, N14 và N30 ; hoặc N0x2, N7, N21
Vacxin của Viện Pasteur (Pháp): được chế từ virut cố định cấy trên tế bào thận của bào thai bò, được bất hoạt bằng b Propiolacton, tiêm rất an toàn Mỗi mũi tiêm 2
ml dưới da (không tiêm bắp) Ngày tiêm: Giống như vacxin của Merieux
Nguồn: dieutri.vn